tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28889417
Tiểu thuyết
18.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ

 


Toán diễn viên đi qua rừng thông, đến một làng có rặng tre xanh tốt, ló lên một mái đình cong cong, ngói đã thâm màu. Nhìn bề ngoài, không ai nhận ra nơi này là bệnh viện. Vào bên trong rặng tre, các diễn viên được chào đón nồng nhiệt. Hàng chục, hàng trăm người cả thương binh, hộ lý và bác sĩ từ các ngõ ngách ùa ra vẫy tay, vẫy mũ; có những người băng đầu, băng chân, chống nạng tập tễnh ra vẫy chào đoàn Văn công. Các thương binh, cán bộ ở đây từ lâu không được xem Văn công. Ngay từ sáng, họ được tin tối nay sẽ có đoàn Văn công đến biểu diễn phục vụ bệnh viện, thì ai ai cũng làm việc cho xong sớm, ăn cơm trước để tối được đón xem Văn công.


Nơi biểu diễn là một quả đồi thấp giữa làng. Đỉnh đồi được tạo dựng tạm một sân khấu bằng các cây tre, mặt bằng sân khấu lát những tấm phên chắc chắn. Cả ba phía sân khấu đều để trống, phía sau sân khấu che vải làm nơi các diễn viên chuẩn bị và ra biểu diễn. Dưới ánh đèn măng sông rực sáng, soi tỏ một khoảng trống rộng lớn bao quanh ba mặt sân khấu là hàng ngàn người, họ ngồi trên những chiếc dép lốp rất trật tự; những người đứng phía sau cũng không chen lấn gì. Trong số người đến xem, có cả trẻ em, thanh niên và cụ già từ các xóm lân cận nghe tin cũng đến xem. Ban tổ chức cho đóng cọc treo vài chiếc võng và đặt ghế tựa để mấy thương binh nặng nằm ngồi gần sân khấu, xem cho tiện.


Mở đầu, ông Trưởng đoàn văn công lên nói:


 Chúng tôi lấy làm sung sướng và vinh dự được đến phục vụ thương binh và các thầy thuốc trong đó có những chiến sĩ anh hùng đã góp phần bắn chìm tàu địch trên dòng Lô giang! Tiếng reo hò đáp lại vang lên như sấm. Cuộc biểu diễn bắt đầu.


Mở màn là bài đồng ca Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Bài hát thật là hào hùng: Hà Nội cháy, khỏi lửa ngập trời/ Hà Nội hồng, hồng ầm ầm rung /Hà Nội vùng đứng lên!/Hà Nội vùng đứng lên!/ Sông Hồng reo, Hà Nội vùng đứng lên!/ Trong kháng chiến, Hà Nội vùng đứng lên!


      Các thương binh nặng cố nhổm dậy để nghe hát. Phần đông các thương binh này đều đã từng là chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô. Họ lắng chìm trong tiếng hát: Hà Nội đẹp sao/ Đây nước Hồ gươm xanh thắm dưới trời/ Đây Tháp rùa kia in bóng đời đời… Họ nhớ về: Đây Hồ gươm, Hồng Hà, Hồ Tây/ Đây lắng hồn núi sông ngàn năm/ Đây Thăng Long, đây Đông Đô/ Đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu!... Họ mơ một ngày không xa trở về lại thủ đô: Một ngày thu non sông chiến khu về/ Hà Nội say mê chen đón cha về/ Ngày ấy chiến thắng vinh quang/ Hà Nội, Hà Nội mến yêu!


 Dàn đồng ca vừa dứt, tiếng reo hò xen lẫn tiếng gõ xoong nồi vang lên như sấm!


Tiếp đó là các tiết mục đơn ca, kịch ngắn vui vui ca ngợi các anh nuôi. Rồi một người đứng ra giới thiệu ca sĩ Thu Ba và Hà My hát bài dân ca .


Hà My vẽ râu con kiến trên cái miệng cười rất tươi, mặc bộ quân phục nam giới bằng vải ka ki vừa vặn và rất đẹp, cô mượn cậu Minh chiếc mũ ca lô đội hất về phía sau, trông hóm . Mở đầu, Hà My lững thững bước ra sân khấu, nhìn quanh như muốn kiếm vật gì… rồi hát: Hôm qua tát nước bên đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ Ai nhặt được thì cho anh xin,/ Hay là em để làm tin trong nhà?


Mọi người lúc đầu cứ tưởng người hát là anh con trai. Nay thấy giọng nữ trong veo cất lên hay quá, thì cười như nắc nẻ. Vài cậu lính trẻ tò mò, chen lên nhìn tận mặt Hà My, cười khúc khích.


Thu Ba từ phía trong đi ra, uyển chuyển cùng bộ váy áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, tay cầm chiếc nón quai thao. Thu Ba hát: Áo anh sứt chỉ đường tà,/ Vợ anh chưa có,/ Mẹ già chưa khâu./ Áo anh sứt chỉ đã lâu/ Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng!


Hai diễn viên cứ thế hát đối. Sóng người tự nhiên như trào lên phía sân khấu, họ muốn được đứng gần, nhìn kỹ người hát. Hai mẹ con Hà My hát xong, cúi chào. Hàng trăm người đứng cả dậy, vỗ tay yêu cầu hát lại.


Hát lại xong, trong tiếng vỗ tay ran, Thu Ba bước theo Hà My xuống sân khấu, ra phía sau, rút khăn tay chấm chấm những giọt nước mắt vui sướng và cảm động. Bỗng bà nghe thấy một giọng nói quen quen cất lên:


-  Chào nghệ sĩ Thu Ba!


Bà Ba ngước lên nhìn thấy một anh bộ đội hai tay chống nạng đôi mắt sáng như cười, đầu quấn băng, bụng cũng quấn băng, khoác trên mình chiếc áo  blu dông Mỹ, hở ngực. Thu Ba reo lên:


-  Quang Vũ! Ôi Quang Vũ! Chị không ngờ đấy!


   Kể từ ngày Vũ bị thương cho đến hôm chuyển đến bệnh viện tuyến cao, anh đã nằm viện gần bốn tháng, di chuyển qua ba bệnh viện, mổ ổ bụng hai lần mà đến nay vết thương vẫn chưa lành hẳn. Riêng vết thương ở sọ não, vẫn đau buốt, có lúc khiến anh ngất xỉu và đang có hiện tượng liệt nửa người. Giáo sư, bác sĩ hội chẩn kết luận: Anh phải mổ não sớm, để chậm có nguy cơ vĩnh viễn không đi lại được! Mỗi khi bị sốt, hôn mê, Vũ thường hô những mệnh lệnh chiến đấu hoặc gọi tên Xuân Mai! Nhưng khi tỉnh, anh cố ngồi dậy, đi lại, chuyện trò với những thương binh nằm kề bên. Lúc cao hứng, anh mượn chiếc đàn ghi ta, gảy bập bùng khúc nhạc, miệng he khẽ hát: “Suối mơ bên rừng thu vắng…”. Hôm nay, lâu lắm rồi Vũ mới được xem văn công biểu diễn, lại găp được người quen. Anh nói:


   -  Khi nghe giới thiệu ca sĩ Thu Ba hát, em cứ tưởng ai, hóa ra là… bà Ba.


-  Cậu lại trêu chị rồi, mình là Nguyễn Thị Ba, chẳng lẽ lên sân khấu giới thiệu là ca sĩ Thị Ba à? Nên phải đổi là Thu Ba đấy. Bây giờ mình không muốn ai gọi bằng bà nữa, hãy gọi mình là Thu Ba hoặc chị Ba.


-  Hai mẹ con chị hát hay quá. Nhất là giọng hát dân ca của chị sao mặn mà đằm thắm đến thế! Chị làm em nhớ về quê mình quá!


-  Quê mình cậu nhớ, chắc nhớ nhất là Xuân Mai chứ gì?


-  Chị có biết Xuân Mai bây giờ ra sao và ở đâu? -  Quang Vũ nhìn chị Ba, cặp mắt xa xăm.


-  Cậu còn ở viện này bao lâu nữa? Tôi sẽ tìm Xuân Mai cho cậu.


-  Theo bác sĩ, em phải điều trị khoảng hai tháng nữa, sau đó đi an dưỡng, mới tiếp tục chiến đấu được.


Giữa lúc ấy, cậu Minh đi tới, mang hai chiếc ghế mời Thu Ba và Quang Vũ ngồi, rồi nói:


-  Cháu nghĩ không sai mà, ca sĩ Thu Ba hát quan họ quá hay, thủ trưởng của cháu lại thích nghe quan họ, hai người cùng quê biết nhau là chắc.


-  Quang Vũ là thủ trưởng của cháu đấy à?


-  Vâng -  Minh trả lời hãnh diện, cậu quay đi nói rất nhanh:


-  Cháu đi tìm Hà My đây.


   Vũ và Thu Ba ngồi nói chuyện say sưa, quên cả xem tiếp các tiết mục. Buổi biểu diễn văn công tan lúc trời khuya. Mọi người lục tục ra về. Gần chỗ hai người ngồi, một anh bộ đội nói với bạn gái:


-  Lâu lâu mới được xem Văn công biểu diễn một buổi hay đến thế! Nhất là bài “Người Hà Nội.”


Cô gái ngồi cạnh nói:


-  Tiết mục nào cũng hay. Em thích nhất bài dân ca . Hát đã hay, nhưng thật buồn cười vì anh con trai lại là cô gái trẻ đóng, mà cô gái hát đáp phải là cô trẻ, thì lại là bà đứng tuổi. Cả hai người đều hát thật hay.


-  Cậu Minh đi đón Văn công về kể rằng: Hai người ấy là mẹ con đấy.


-  Thật à? Vui quá anh nhỉ?


Thu Ba mắt ánh lên nhìn Vũ. Trước khi chia tay chị hứa sẽ tìm bằng được Xuân Mai đưa đến đây cho Vũ. Hai người bắt tay nhau, tạm biệt!


Giữa lúc đó tiếng kẻng báo động máy bay địch đến, đèn măng sông phụt tắt. Một thương binh chống gậy quơ quơ lên nói:


May quá, Văn công biểu diễn xong, máy bay bọn nó mới kéo đến. Mặc cho “con đầm già” cánh vuông nó nhòm ngó, về ngủ đi anh em ơ ơ ơi!


5. CUỘC CHIẾN, TÌNH YÊU VÀ GIAI CẤP NGÀY ẤY


    Lại kể về Xuân Mai. Cô theo bố mẹ tản cư lên Lạng Giang. Ông Ngô Đức mua một quả đồi nho nhỏ bên cạnh suối nước, dựng một căn nhà nhỏ lợp lá, gia đình sum họp tại đây. Cả một khu vườn trồng cam, trồng bưởi rộng mênh mông. Thời gian sau, ông thường ở lại cơ quan làm việc, thỉnh thoảng mới về nhà. Xuân Mai, ở nhà giúp mẹ chăm sóc vườn cây trái. Một năm sau, cô được ông Đức giới thiệu cho theo học chương trình Sư phạm Văn, học xong cô được phân công về dạy văn tại trường trung học gần nhà.


Cô không thể liên lạc được với Quang Vũ. Thời chiến, bộ đội nay đây mai đó. Và Vũ cũng không biết được địa chỉ của cô. Mỗi khi bộ đội qua làng, cô vẫn hỏi thăm Quang Vũ, nhưng chẳng ai biết anh ở đâu. Cô xác định cho mình yên tâm chờ đợi, ngày chiến thắng anh về! Nhưng rồi chiến tranh tàn khốc, nay cô nghe tin máy bay giặc oanh tạc thả bom chết người; mai cô thấy tận mắt thương binh chống nạng đi qua đường; có lúc học sinh của cô có em đầu chít khăn tang, mếu máo kể rằng bố nó hy sinh, gia đình nó nhận được giấy báo tử!


Ngày ngày cô lấy việc dạy học làm nguồn vui. Cô hào hứng giảng cho học sinh những áng thơ văn yêu nước bất hủ và những tác phẩm nói lên nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh. Cô đọc cho các em nghe bài thơ “Đợi anh về” của nhà thơ Nga Ximônốp và những đoạn thơ não lòng trong Chinh phụ ngâm. Đêm đêm cô thao thức nghĩ đến Quang Vũ và sống với những kỷ niệm đẹp của hai người ngày xưa: ngồi bên nhau tâm sự trên ba mươi hai bậc đá ở bờ sông Cầu, rồi cùng tham gia công tác chống lụt, chống đói, dạy bình dân học vụ, đi mít tinh biểu tình ngày Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập… Cô sống với quá khứ và tưởng tượng đến tương lai: Khi kháng chiến thành công, anh sẽ về đi học tiếp làm kỹ sư xây cầu làm đường, còn mình tiếp tục dạy học ở quê hương. Hai đứa sẽ sinh cho nhau một cậu con trai thông minh, mạnh mẽ như bố nó, và một cô con gái giống mẹ. Cô và anh sẽ bế chúng tắm nước dòng sông Cầu, nước sẽ ôm ấp vợ chồng cô và các con của cô. Cô nhớ đến cảnh đẹp của quê hương Đáp Cầu, mong chóng đến ngày về. Nhưng ngày hòa bình ấy bao giờ mới tới? Cô đi đâu cũng thấy khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến”, tất nhiên là có đuôi sau của khẩu hiệu là “nhất định thắng lợi”. Cô cũng tin là như vậy, nhưng cô thấy lâu quá!


    Còn chuyện của Quang Vũ: Bộ đội ta thu được một số khẩu pháo của địch. Đơn vị của Quang Vũ chuyển t bộ binh thành lập đơn vị pháo binh. Trận đầu tiên quân ta đánh địch bằng pháo trên sông Lô.


    Năm 1947, giặc Pháp mở chiến dịch đánh lên Việt Bắc bằng nhiều mũi tiến quân. Khi trận đánh địch ở sông Lô diễn ra, tầu địch chuyển một cánh quân tiến ngược theo dòng sông . Pháo binh của ta lần đầu thuỷ chiến, bắn trượt. Lần th hai, tầu địch nghênh ngang tiến gia sông. Trên bầu trời có máy bay yểm trợ.


    Trước đó, tại vị trí chỉ huy của tiểu đoàn, Quang Vũ ra mệnh lệnh kéo pháo xuống mép nước, ngụy trang kĩ, ngắm qua nòng pháo bắn thẳng vào tầu địch. Máy bay địch gầm rú trên đầu, pháo địch từ tàu chiến bắn lên vung vãi khắp hai bên bờ sông. Quang Vũ ra lệnh cho bốn khẩu trung liên bắn chéo vào sàn tàu địch, bắn kiềm chế máy bay và ra lệnh cho nổ mìn khói trên núi nghi binh thu hút hỏa lực địch, để pháo của ta có điều kiện tiếp cận bắn thẳng vào tàu địch.


Ngay sau đó, một trái bom rơi cạnh hầm chỉ huy tiểu đoàn. Bom nổ, làm bay những cành cây có lá xanh ngụy trang trên nóc hầm chữ A nửa nổi nửa chìm. Mảnh bom bay rào rào, cắm phầm phập vào những cây gỗ che hầm. Một mảnh bom chui hẳn vào trong hầm phá nát ổ bụng của Quang Vũ và một mảnh nhỏ như hạt gạo cắm vào đầu Vũ. Vũ ngã lăn ra bất tỉnh. Chiến sĩ liên lạc Văn Minh băng đến ôm lấy người chỉ huy, miệng gọi lớn cấp cứu! Cấp cứu!


Giữa lúc ấy, từ trận địa bờ sông, pháo của ta đã bắn cháy một chiếc tàu địch, nó quay quay, bốc cháy và chìm dần xuống dòng Lô, nhấn chìm hàng trăm tên giặc cùng rất nhiều vũ khí đạn dược. Mặc cho trên đầu máy bay địch gầm rú các chiến sĩ nhảy lên reo hò dưới lòng chiến hào.


Sau khi y tá sơ cứu, đặt người tiểu đoàn trưởng lên cáng, hai chiến sĩ khênh Vũ theo giao thông hào, đưa đến bệnh viện quân y tiền phương. Ngay đêm hôm đó, dưới ánh đèn măng sông ở hầm sâu, các bác sĩ đưa Vũ lên bàn mổ. Họ cắt những đoạn ruột bị nát nối lại; cắt bỏ phần thịt bụng bị giập, rửa sạch ổ bụng, rồi khâu lại. Toàn bộ công việc trên, các bác sĩ, y tá phải làm trong điều kiện thiếu thốn thuốc kháng sinh và phương tiện kỹ thuật hạn chế, nên vết mổ bị nhiễm trùng. Vũ bị sốt, phải chuyển tiếp về viện quân y hậu phương. Tại đây các bác sĩ lại phải mổ lần hai vết thương ở bụng của Vũ. Sau đó lại chuyển Vũ lên bệnh viện tuyến trên, điều trị tiếp cho anh vết mổ ở bụng và xử lý vết thương ở đầu.


      Sau khi gặp Quang Vũ, Thu Ba gửi thư đến khắp nơi hỏi thăm xem có ai biết cô Xuân Mai ở đâu? Mãi vẫn không có tin hồi âm. Một hôm chị chợt nghĩ, tại sao mình không đến Ty Giáo dục Bắc Giang để hỏi nhỉ? Vì Mai là cô giáo mà. Chị phải đi hai ngày đường qua đèo lội suối mới tìm ra nơi sơ tán của Ty Giáo dục Bắc Giang. Chị đến nơi cũng vừa hết giờ làm việc, bụng thì đói, chân thì mỏi, chưa biết giải quyết thế nào. May sao, chị nhìn thấy thầy giáo cũ của mình. Cụ nay đã già, đeo cặp kính cận dày, trông hom hem, dáng đi gù gù, đang từ cơ quan bước ra. Chị reo lên: Em chào thầy ạ!


Cụ giáo Quỳnh nhìn lại, lục lại trí nhớ… Thu Ba thưa rằng:


-  Con tên là Ba, con gái cụ Tú ở làng Bình, Nội Duệ -  Cầu Lim đây, thầy còn nhớ con không?


-  À, à, nói đến cụ Tú thì tôi không quên, còn em bây giờ khác quá, chẳng nhận ra.


Cụ giáo quay lại phòng làm việc, ra hiệu cho chị Ba đi theo. Hai người ngồi nói chuyện. Chị Ba kể cho cụ về chuyện Quang Vũ chiến đấu thế nào, nay bị thương đang nằm bệnh viện ra sao… Chị muốn gặp người yêu của anh tên là cô giáo Xuân Mai, báo tin cho cô biết. Cụ giáo nghe kể về Vũ, cụ xúc động gọi đó là người anh hùng, cần phải được giúp đỡ. Cụ bảo chị Ba ngồi uống nước chờ. Cụ mở tủ, lấy ra một cuốn sách dày và to gần bằng nửa cái bàn, cụ lật đi lật lại tra cứu tìm tên Ngô Xuân Mai. Đầu cụ cúi sát vào cuốn sách, lưng gù gù, ngón tay trỏ lần từng hàng… mất hơn cả tiếng đồng hồ vẫn không tra ra cái tên cần tìm. Hai bên thái dương cụ lấm tấm giọt mồ hôi, cụ thừ người nghĩ rồi chợt hỏi:


-  Cô Xuân Mai có ai là người nhà công tác ở tỉnh hoặc là người nổi tiếng?


-  Thưa thầy, cô ấy là con gái ông Ngô Đức đại biểu Quốc hội.


-  May quá, thế thì tôi biết rồi. Ông Ngô Đức đang ở đồi Ngọc Đại, huyện Lạng Giang. Có thể là cô ấy đang dạy học ở trường trung học mang tên Ngô Gia Tự, mà Ty chưa kịp ghi tên vào đây.


-  Ôi thế thì mừng quá! Thầy bảo em bây giờ nên tìm đến trường hay đến nhà ạ?


-  Theo tôi thì cô nên đến thẳng trường thì tốt hơn. Tôi sẽ viết mấy chữ nhờ bà Hiệu trưởng giúp đỡ.


 Hai người nói chuyện đến đây thì trời đã tối. Cụ giáo gọi người thường trực trông coi cơ quan đến, nhờ bà lo cho Thu Ba nơi ăn ngủ, để sáng mai lên đường tìm cô giáo Mai. Bà thường trực nói:


-  Cụ cứ an tâm, việc đó con sẽ lo, bây giờ trời tối, đường đồi khấp khểnh khó đi, con gọi trẻ nhà con đốt đèn đưa cụ về kẻo ngã thì khổ.


Cụ giáo gật gật, nói lời cảm ơn. Lát sau một cậu bé chừng mười tuổi, chong đèn dắt cụ giáo về. Chị Ba đưa tiễn và cảm ơn cụ giáo. Rồi chị quay vào đi theo bà thường trực. Sau khi được ăn một bữa cơm rau muống luộc hái từ vườn sau, uống bát nước giấm me ngon quá; chị Ba đánh một giấc ngủ đến sáng. Khi tỉnh dậy chị có cảm giác rất yên bình. Chị nghĩ cuộc kháng chiến này kỳ lạ thật: Gian khổ, đau thương và hy sinh là thế, mà sao đi đến đâu cũng gặp những con người yêu thương, gắn bó và sẵn sàng giúp đỡ nhau, không có sự tính toán vị kỷ. Chị nghĩ đến chánh Cò. Ông ta đối xử với chị không có gì đến mức quá đáng. Nhưng ông là người muốn người khác lệ thuộc vào mình, còn chị lại thích tự do. Ông gây cho bao nhiêu người những khổ đau, mà chị biết được trong thời gian về tản cư ở đó. Chị cũng nghe tin sau khi Tây thả ông ấy về ở làng, xảy ra chuyện Tây bắt bớ cán bộ gì đó. Chẳng biết ông ấy có dính vào chuyện này? Chỉ lo ông ấy sa đà theo giặc thì nguy hiểm lắm!


Cuộc kháng chiến đã làm thay đổi con người, chị Ba cũng có sự thay đổi. Nếu trước kia chị ước mong được thành bà chủ lớn, lên xe, xuống ngựa, dự các tiệc tùng được ngang hàng với giới thượng lưu. Thì nay chị lại tìm thấy nguồn vui, làm cho mọi người vui khi nghe chị hát. Chị vui sướng khi thấy Hà My ngày một lớn, xinh đẹp, có suy nghĩ cũng giông giống như mẹ. Chị ước ao, khi có điều kiện cho Hà My đi học đào tạo thành cô giáo hoặc bác sĩ, rồi nó tìm lấy một người chồng giỏi giang, một vợ một chồng, thật sự thương yêu nhau, không phải chịu cảnh lẽ mọn như chị và trớ trêu như chị Hai của chị.


Mãi đến gần hết chiều hôm sau, chị Ba mới đi bộ đến được trường nơi Xuân Mai đang dạy học. Sau khi đọc lá thư của cụ giáo trên sở Giáo dục gửi về, bà hiệu trưởng cho gọi cô giáo Mai và vui vẻ nói với chị Ba:


-  Tôi cũng là học trò của cụ giáo Quỳnh như chị. Qua thư này, cụ giáo muốn tôi tạo điều kiện cho cô giáo Mai nghỉ dạy học một thời gian để chăm sóc thương binh là người yêu của cô. Tôi cũng là phụ nữ có chồng đi chiến đấu, tôi thông cảm với Mai, sẽ tạo điều kiện cho Mai nghỉ, chị Ba thấy thế nào?


-  Trời ơi! Chị giải quyết như thế thì tình lý vẹn toàn quá rồi. Chắc Mai sẽ cảm động và biết ơn Hiệu trưởng lắm.


Sau tiết dạy buổi chiều Mai nhận được tin lên gặp Hiệu trưởng. Cô hồi hộp lo lắng không biết có chuyện gì đây? Liên quan đến Vũ chăng? Anh có làm sao không? Nếu xảy ra chuyện không may mình sẽ sống thế nào?


 Mai bước vào. Cô reo lên:


-  Ôi cô Ba! Cháu có nằm mơ không đây? -  Rồi cô cúi chào bà Hiệu trưởng và bà Thu Ba.


Thu Ba và Mai ôm chầm lấy nhau. Cả hai rơm rớm nước mắt. Bà hiệu trưởng bảo Mai mời chị Ba về nhà nói chuyện và hẹn sáng mai Xuân Mai đến gặp bà. Tối hôm ấy, trong căn nhà lộng gió giữa vùng đồi Lạng Giang, chị Ba cùng ông Đức, bà Đức và Xuân Mai kể lại cho nhau nghe những chuyện xảy ra từ ngày tản cư đến giờ… Chị Ba kể lại chuyện đã gặp Quang Vũ sau ngày chiến đấu ở Hà Nội và trước khi đi đánh Pháp ở nam phần Bắc Ninh… Chị kể lại bằng giọng cảm động khi đến hát phục vụ thương binh tại bệnh viện Quân y, đã tình cờ gặp Vũ thế nào… Cả hai lần gặp Vũ, Vũ đã hỏi về Mai và ông bà Đức ra sao… Chị nói: Ước mong của Vũ gặp Mai thật nồng nhiệt và thiêng liêng, phải được đáp ứng. Chị kể đã đi bao nhiêu đoạn đường tìm Mai cho Vũ và gặp biết bao nhiêu người giúp đỡ nhiệt tình ra sao… Và nay bà Hiệu trưởng của Mai đã có ý kiến như thế nào…


Đêm ấy, thật là một đêm Mai nhớ suốt đời. Càng nghe cô Ba kể, Mai như đang trong mơ: Niềm vui sẽ được gặp Vũ! Tin này đến đột ngột khiến Mai choáng ngợp. Mai nghe tin anh bị thương nặng vào đầu và bụng thì hết hồn. Cô hỏi vết thương của anh có nặng lắm không? Anh ăn ngủ có được không? v.v… Rồi cô khóc, cười và suốt đêm không ngủ. Bà Đức vừa thương vừa mừng cho con gái, hai mẹ con ôm nhau cũng vừa khóc vừa cười. Còn ông Đức thì khen Quang Vũ hết lời. Ông bảo Mai: «Kháng chiến còn lâu dài hai con nếu yêu nhau thật sự không còn băn khoăn gì thì cuối năm cũng nên cưới đi! Sáng mai con xin phép nhà trường cho nghỉ để đi đến bệnh viện chăm nuôi thương binh Quang Vũ».


Mai sung sướng mắt long lanh, như có ý cảm ơn bố mẹ, cô Ba và bà Hiệu trưởng, đã đem đến cho cô niềm vui, giữa lúc cô ngày đêm đang mong đợi.


*


Tìm gọi người yêu nơi xa thẳm.


   Xuân Mai nhờ ca sĩ Thu Ba báo tin, cô đã tìm đến bệnh viện Quân y, nơi Quang Vũ đang điều trị. Cô hồi hộp bước vào phòng y vụ. Một cô y tá chừng tuổi đôi mươi, mặc áo blu và đội chiếc mũ trắng ra tiếp Mai. Khi biết Xuân Mai đến tìm Quang Vũ, thì cô nói như reo:


-  Ôi! Chị Xuân Mai, hôm nay em mới được gặp chị, nhưng em đã nghe tên chị từ lâu rồi, chị đẹp quá!


Mai nhìn cô y tá, ngạc nhiên dò hỏi:


-  Sao em biết tên chị?


-  Bọn em ở đây cùng với các thương binh như một gia đình. Tuy anh Vũ không nói với bọn em, nhưng bọn em biết người yêu của anh ấy tên là Xuân Mai vì khi mê sảng anh ấy vẫn gọi tên chị!


Xuân Mai xúc động. Cô đề nghị cho được gặp anh. Y tá nói:


-  Bây giờ, chị chưa gặp được anh Vũ đâu. Bác sĩ đang mổ tiếp cho anh vết thương ở đầu, để gắp mảnh bom ra.


Mai cuống lên, trào nước mắt, vội vàng hỏi ngay:


-  Anh ấy bị hai vết thương ở bụng và ở đầu. Thương tích của anh ấy có nguy hiểm lắm không em?!


-  Chị yên tâm đi. Đây là Bệnh viện Quân y ở tuyến cao có đủ điều kiện và phương tiện kỹ thuật điều trị vào bậc nhất ở Việt Bắc. Có các giáo sư bác sĩ nổi tiếng từ Hà Nội ra chữa chạy cho các thương binh.


Nói đến đây cô y tá rót nước mời Mai uống, rồi ngồi xuống cạnh Mai, kể cho cô nghe về Quang Vũ, cô nói: Anh Quang Vũ của chị thật là đẹp trai. Một tiểu đoàn trưởng trẻ, chỉ huy bắn chìm tàu giặc trên sông Lô! Ở đây ai cũng coi anh như người anh hùng! Nói thì chị đừng cười nhé, bọn con gái chúng em ở đây đứa nào cũng quý anh ấy. Giá như anh Vũ chưa có người yêu, thì bọn em khối đứa “ xung phong” ghi tên. Cô y tá kể đến đây, hai chị em cùng cười. Cô kể tiếp: Anh Vũ bị thương rất nặng, mổ lần này là lần thứ ba, mà không thấy anh rên rỉ. Đáng lẽ chúng em phải động viên anh ấy, nhưng chính anh ấy nhiều lúc lại động viên chúng em, an ủi các thương binh khác. Những buổi tối liên hoan văn nghệ, anh ấy vẫn hát cùng chúng em. Nghe cô y tá say sưa kể về người yêu của mình, Xuân Mai nở từng khúc ruột, vui sướng tự hào về anh. Nhưng cô vẫn lo việc mổ não của Quang Vũ.


Sau năm tiếng đồng hồ nằm trên bàn mổ, Quang Vũ được đưa ra phòng hậu phẫu. Mai nhìn thấy anh đầu quấn băng trắng toát, gầy guộc, nước da xanh tái, nằm bất động trên chiếc giường đệm bằng rơm phủ miếng vải trắng. Thân hình anh trước kia to lớn là thế, nay nằm dán lên chiếc giường đệm gỗ mộc. Cô xót xa, nước mắt chảy dài trên má. Suốt ngày cô đứng lên ngồi xuống: kiểm tra chiếc bình treo đầu giường đang tiếp nước thuốc cho anh; cô sờ tay lên trán anh xem anh có sốt không? Cô dùng hai bàn tay nắn bóp nhè nhẹ cẳng tay, cẳng chân để máu lưu thông…Cô mong anh sớm tỉnh dậy. Nhưng ngày thứ nhất, ngày thứ hai rồi tiếp theo nhiều ngày sau và hơn một tháng sau vẫn không thấy anh hồi tỉnh! Các giáo sư, bác sĩ lại hội chẩn lần nữa, họ lo rằng di hại của mảnh bom để lại có thể khiến anh trở nên người thực vật! Họ nói với Mai, chỉ còn hy vọng cuối cùng vào tình yêu và sự chăm sóc chuyện trò giữa Mai và Vũ. Ngày ngày, đêm đêm, cô độc thoại với hồn anh nơi xa thẳm!


Giáo sư đề nghị Mai mỗi ngày nên trò chuyện vài lần với Vũ và gọi Vũ, hy vọng anh tỉnh lại. Mai lo lắng, quỳ thụp xuống cạnh giường, ngả hẳn nửa người và cúi mặt sát vào mặt anh, hai tay ôm anh, nước mắt lã chã rơi lên má anh. Cô gọi anh trong tiếng nấc: Anh ơi! Ới anh ơi! Anh hãy tỉnh lại đi, em là Xuân Mai của anh đây mà! Cứ thế cô gọi và lắc nhẹ anh. Rồi cô kể cho anh nghe, để anh nhớ lại khi hai đứa ngồi bên nhau trên nền đá ba mươi hai bậc nhìn xuống dòng sông quê hương! Cô kể về ngày lễ độc lập, anh múa sư tử, đứng trên vai các võ sĩ, rồi chồng người lên tít trên cao, gắn ảnh Bác Hồ vào chiếc khung tre, trong tiếng hò reo của hàng ngàn người. Cô kể say sưa, nhắc lại với anh những kỷ niệm đẹp… mong anh nghe thấy tiếng gọi và tỉnh lại! Cứ thế Xuân Mai gọi và kể chuyện cho anh nghe bằng giọng nói thiết tha và đều đều không ngừng nghỉ. Cô là người độc thoại không biết mệt, qua một ngày, một đêm, rồi nhiều ngày nhiều đêm tiếp theo, cô vẫn gọi Vũ, và kể chuyện cùng Vũ…


Giữa lúc Xuân Mai đang mải miết gọi Vũ, thì bất chợt có ba người trong đó có hai anh Vệ quốc Đoàn, đội mũ sao vàng, đeo súng ngắn, trang phục ka ki chỉnh tề, cưỡi hai con ngựa hồng lao thẳng vào bệnh viện. Con ngựa thứ hai có hai người cưỡi, trong đó có một người da trắng mặc áo vét đen, cao to, mắt xanh mũi lõ, đeo kính trắng và bên hông có chiếc sà cột. Cả bệnh viện ngac nhiên đổ xô ra nhìn, tiếng nói tiếng cười hồ hởi; Xuân mai cũng ra cửa phòng quan sát. Hai anh Vệ Quốc dừng ngựa tại cửa phòng Thủ trưởng bệnh viện, một anh nhẩy xuống trước, thận trọng đỡ người da trắng xuống ngựa, dìu vào phòng, anh ta đi tập tễnh. Thủ trưởng bệnh viện bước ra đón, hai bên chào hỏi bằng tiếng Anh. Xuân Mai nghe bập bõm:


-  Chào ngài, tôi đã nhận được điện báo là ngài đi đường rừng bị ngã gẫy xương chân, đến đây để điều trị.


-  Vâng, cảm ơn Bác sĩ Viện trưởng, trong cái rủi, như các bạn nói, lại có cái may lớn là tôi tận mắt thấy được cuộc kháng chiến thần thánh của Việt Nam anh hùng và hi sinh gian khổ biết nhường nào!-  Nói rồi, mọi người cùng vào phòng.


Lát sau, người da trắng được đưa đến phòng chuyên khoa bó bột chân trái, rồi nằm trên cáng, đưa về phòng điều trị. Một anh Vệ Quốc trẻ đứng gác ngoài cửa phòng, anh Vệ Quốc đứng tuổi đeo kính trắng thì luôn túc trực bên cạnh người da trắng, hai bên chuyện trò bằng tiếng Anh.


Anh Vệ quốc nói:


- Ngài cố gắng chịu đau, ngủ đi một giấc, chiều dạy ăn uống, đêm tổi chúng tôi sẽ cáng đưa ngài vào vùng người Pháp tạm chiếm. Khi đó sẽ có người của chúng tôi đưa xe đến đón chở ngài vào Hà Nội, ngày mai ngài sẽ ra sân bay về Luân Đôn. Chúc ngài thượng lộ bình an -  Nói xong, anh Vệ Quốc định quay lưng, thì người da trắng giơ tay ra hiệu và nói:


   -  Tôi muốn chuyện trò cùng bạn. Bạn có biết không, chuyến đi lịch sử này của tôi, một phóng viên phương Tây, tiếp nhận đầy kỉ niệm và cảm xúc, tôi muốn cảm ơn về những gì bạn đã giúp tôi những ngày qua và tôi muốn chia sẻ với bạn trước lúc chia tay, nếu không nói ra lúc này thì không còn dịp nào để gặp nhau nói nữa -  Anh Vệ Quốc như dỏng tai lắng nghe:


   -  Có lẽ suốt đời tôi không quên được lần phỏng vấn Bác Hồ của các bạn vừa rồi: Một ông già thoạt nhìn khoác áo chàm, tưởng một cụ ké già người Tày. Chỉ một thoáng nhận ra cụ già ấy, với chòm râu dài, vầng trán cao, mắt sáng nhìn tôi âu yếm như người cha và nói tiếng Anh giọng chuẩn, rất thân mật. Bác Hồ nói:


   -  Bạn trẻ thân mến, thời trẻ tôi có lần từ Pháp sang Luân Đôn, đã đến một nhà trọ tại một ngõ hẻm ở phố mà như bạn kể thì gần nhà của bạn ở bây giờ -  Nói xong Bác Hồ kể vanh vách những tên con phố gần nhà tôi và nhận xét rằng: Người Anh thông minh và hóm hỉnh; họ rất yêu tự do, mong các bạn cũng tôn trọng nguyện vọng Độc lập tự do của nhân dân Việt Nam chúng tôi. Câu chuyện tiếp tục qua lại theo chiều hướng tâm sự và hồi ức của cả hai bên... Bỗng nhiên, là một phóng viên tôi trở nên lúng túng. Ban đầu tôi định bụng dành chủ động phỏng vấn Chủ Tịch nhiều vấn đề, nhưng rồi qua câu chuyện thân tình, ngườì bị phỏng vấn lại chủ động dẫn dắt, mà thời gian thỏa thuận đã gần hết. Thư kí của Chủ Tịch nhìn tôi như nhắc khéo. Tôi vội quay lại câu hỏi chính:


    -  Thưa Chủ Tịch, vì lí do gì mà sau trận tấn công của người Pháp lên Việt Bắc trong đó có sông Lô vừa qua, Chính phủ của Ngài lại phong hàm cấp tướng cấp tá cho quân đội Việt Nam nhiều làm vậy? -  Chủ tịch cười cười, lộ hàm răng trắng giữa bộ râu dài đen nhánh, nhìn tôi bằng đôi mắt hóm hỉnh và nói:


    -  Đại tướng đánh thắng đại tướng. Đại tá đánh thắng đại tá. Đấy là lí do Việt Nam chọn thời điểm này để phong hàm cho nhiều sĩ quan lên cấp tướng cấp tá, nhà báo có công nhận như thế không?


   Lâu nay người ta thường coi tôi là nhà báo nổi tiếng có tay nghề cao, lần này tôi lại gặp một Nhà báo lão thành cực kì giỏi nghề, thông minh hóm hỉnh, từ người bị hỏi, Chủ tịch trả lời nhanh gọn và xúc tích; đồng thời phỏng vấn ngược lại, khiến tôi chỉ còn biết lắng nghe và cúi đầu tỏ ý đồng tình -  Anh Vệ quốc giơ hai tay nắm chặt hai bàn tay to khỏe của anh bạn Phóng viên nước ngoài, lắc lắc!


  


   Một điều kỳ diệu đã xảy ra!


Từ trong sâu thẳm của vô thức, Vũ tưởng mình như đang lạc vào một vùng sương khói mờ mờ hư ảo, chẳng thấy trời, không thấy đất, quanh anh chẳng có một sự sống nào. Anh cứ lang thang lúc đi, lúc chạy, mà không biết mình đi đâu và chạy về đâu. Bỗng nhiên anh nghe văng vẳng từ đâu đó tiếng khóc và tiếng gọi tên anh. Giọng của người gọi nghe sao mà quen đến thế! Anh cố nhớ, hàng ngàn tế bào trong óc anh vận động chắp nối… cuối cùng anh nhận ra tiếng gọi từ nơi xa thẳm kia là của Xuân Mai, người yêu của anh! Ngón tay anh khẽ động đậy trong lòng bàn tay của Mai! Mai sướng run lên hét to:


-  Anh Vũ của em tỉnh rồi! Bác sĩ ơi!


Nhiều người mặc áo bờ lu trắng chạy ùa đến. Họ thấy Mai ôm chầm lấy Vũ, nước mắt cô ướt đầm trên má, trên cổ anh. Anh từ từ mở mắt, ngơ ngác nhìn, lát sau nhận ra Mai, môi anh hơi mấp máy!


Cả bệnh viện quân y này, mọi người mau chóng truyền tin cho nhau là Quang Vũ đã tỉnh! Từ giáo sư đến các bác sĩ đều ngỡ ngàng vui sướng, họ đến thăm, nhìn anh bằng đôi mắt sửng sốt, chúc mừng Quang Vũ và Xuân Mai. Họ bảo với nhau là trường hợp của Quang Vũ tỉnh lại cũng là hiếm, chỉ nhờ sự kỳ diệu của tình yêu mới có được! Thủ trưởng bệnh viện xuống thăm nói vui với Mai:


-  Rất mừng là bệnh viện đã có một “ thầy thuốc” như Mai.


Mai tươi cười, cảm ơn thủ trưởng và các thầy thuốc. Cô được phép đặt một chiếc giường con bên cạnh giường bệnh của Vũ. Từ hôm ấy, suốt đêm ngày Xuân Mai không lúc nào rời anh. Cô phụ giúp y tá hộ lý trong việc đo nhiệt độ, cho anh uống thuốc, bón cháo và vệ sinh lau rửa cho anh hàng ngày… Anh còn yếu, chưa nói được gì nhiều, nhưng chỉ nhìn vào đôi mắt anh, Mai thấy ở đó chan chứa yêu thương, sự biết ơn và nghị lực sắt đá của anh.


Quang Vũ nằm như người thực vật suốt gần hai tháng trời. Người yêu gọi đã giúp cho Quang Vũ tỉnh lại. Tin này lan truyền trong bệnh viện, rồi như có cánh, nó bay ra các nơi mà người ở bệnh viện này tiếp xúc. Câu chuyện đến mỗi nơi lại kể có chút thêm thắt riêng, ly kỳ và hấp dẫn. Rồi một hôm Thu Ba nghe được câu chuyện trên đã vội vã đến thăm Mai -  Vũ. Chị bước chân vào bệnh viện, người gác cổng đã nhận ra ca sĩ Thu Ba, giơ tay mời chị vào và gọi đồng nghiệp dẫn chị đi đến căn phòng nơi Quang Vũ đang nằm điều trị. Mai và Vũ thấy chị Ba đến thăm thì vô cùng mừng rỡ. Vũ ra hiệu cho Mai đỡ mình ngồi dậy. Cô đặt chiếc gối nơi thành giường, hai người cùng đỡ Vũ ngồi tựa vào chiếc gối. Mai kể cho chị Ba nghe những ngày cô ở bệnh viện cùng Vũ. Cô xúc động kể có đoạn khóc có đoạn lại cười. Ba người cùng nhau ôn lại những ngày ở quê hương Đáp Cầu. Rồi bao nhiêu chuyện cứ như dòng suối trong mát chảy ra không dứt. Người gác cổng đưa tin về ca sĩ Thu Ba. Chẳng mấy chốc trước cửa phòng Quang Vũ đã đông kín người. Họ nhao nhao hỏi thăm ca sĩ Thu Ba, xin chữ ký của chị, họ mong lại được nghe chị hát. Mấy cậu lính trẻ thì hỏi thăm Hà My và hỏi sao Hà My không đến chơi? Họ mong được gặp Hà My và nghe Hà My hát. Tin Thu Ba đến thăm Quang Vũ đến tai thủ trưởng bệnh viện. Vừa được một người bạn đi săn bắn được con gà rừng đem tặng, ông cho người mời ca sĩ Thu Ba sau khi xong việc ở đây, cùng Mai và Vũ dùng bữa cơm thân mật với ông.


Lát sau, Quang Vũ được hai chiến sĩ to khỏe nhấc vào cáng rồi khênh lên phòng thủ trưởng. Thu Ba cùng Xuân Mai đi theo sau. Họ đặt chiếc ghế tựa và chiếc gối dày để Vũ ngồi tựa. Thủ trưởng bệnh viện chỉ Vũ, giới thiệu với Mai và Thu Ba là ông và Quang Vũ đã là bạn với nhau từ thời kỳ hoạt động trong phong trào thanh niên Sơcút ở Hà Nội. Ông rất mừng là Quang Vũ đã dần hồi phục sức khỏe và trí nhớ. Ông cảm ơn Xuân Mai đã giúp bệnh viện để Vũ có thể tỉnh lại và bình phục như bây giờ. Ông cũng nói nhờ ca sĩ Thu Ba chuyển lời của các thầy thuốc và thương binh cảm ơn đoàn Văn công hôm trước đã đến biểu diễn phục vụ. Mọi người đều khen các diễn viên hát và diễn kịch rất hay. Mong được gặp lại lần sau. Trong bữa cơm thân mật, Thu Ba hỏi thăm gia đình của thủ trưởng bệnh viện. Ông kể rằng vợ ông cũng là bác sĩ dân y tỉnh này. Ông có một cậu con trai, học năm đầu trung học. Ông hỏi thăm Thu Ba và Hà My. Thu Ba cho biết Hà My vừa học xong trung học, chị muốn con gái học tiếp, nhưng Hà My lại muốn đi công tác ngay hoặc học một nghề nào đó. Ông cho biết bệnh viện vừa nhận được một công văn chiêu sinh của Bộ Giáo dục tuyển các cán bộ chiến sĩ; hoặc con em cán bộ học xong trung học, được xét nhận vào học lớp sơ cấp y -  dược. Nếu Hà My thích, thì ông có thể giới thiệu. Nghe được tin này, Thu Ba rất mừng, chị nói:


-  Chắc là Hà My sẽ rất thích, từ lâu nó ước ao tương lai trở thành bác sĩ. Còn tôi sẽ rất biết ơn thủ trưởng bệnh viện sẽ giúp đỡ mẹ con tôi về việc này.


Hai người, quay ra nói chuyện với Quang Vũ và Xuân Mai. Thu Ba nói:


-  Hai cô cậu yêu nhau đã lâu lắm rồi. Khi nào Vũ ra viện, thì cô cậu cưới nhau đi! Bọn tôi sẽ tổ chức cho .


Mai liếc nhìn Vũ, cả hai nhìn nhau tủm tỉm cười. Thủ trưởng bệnh viện đứng dậy rót thêm rượu mời mọi người rồi cười rất to và nói:


-  Các bạn chỉ cần nói một tiếng ừ, là mình và Thu Ba sẽ lo cho mọi việc.


Vũ nhìn Mai nói:


-  Mình thì đồng ý cả hai tay, chỉ chờ ý kiến của Mai thôi!


Mai nhìn anh, lườm yêu và nói:


 - Hãy cứ điều trị cho khỏi bệnh đi rồi hãy hay, “ông nỡm ạ! Mọi người cười vui vẻ.


  Vài hôm sau, Bác sĩ Giám đốc bệnh viện hóm hỉnh tủm tỉm cười, liếc nhìn Mai và nói với Vũ:                


-          Ngày mai tôi kí “lệnh tạm tha” Quang Vũ, cho về nhà an dưỡng, rồi hai người tổ chức cưới, nhớ báo cho biết nhé, chẳng rõ Xuân Mai có ưng không?                                     


 Mai và Vũ vui sướng không gì tả nổi. Họ nghĩ và tưởng tượng về cái ngày hạnh phúc ấy… Hai người nhanh chóng bàn nhau xin được phép về nhà Xuân Mai nghỉ an dưỡng, sau đó thì làm lễ cưới! Vũ báo cáo ý trên với thủ trưởng bệnh viện. Ông nói:


-  Khi nào hai bạn tổ chức lễ cưới thì báo tin cho bọn mình đến dự và tặng quà.


Cả hai người đêm ấy gần như thức trắng, họ bàn tính mọi chuyện, chuẩn bị cho tương lai… Trời mờ sáng, Vũ đã thấy Mai thức dậy, luôn chân luôn tay dọn dẹp, vừa làm vừa khe khẽ hát. Cô vuốt phẳng và gấp lại những bộ quần áo của Vũ, xếp vào ba lô; chọn ra bộ quân phục còn mới cho Vũ mặc để ra mắt bố mẹ mình. Lát sau, anh thấy Mai sung sính trong bộ quần áo mới, chiếc quần láng đen, áo cánh lụa mầu xanh da trời; Khuôn mặt dạng ngời, mái tóc rẽ ngôi bên trái và chải bồng lên phía phải; Đôi mắt lúng liếng nhìn người yêu như muốn nói: Anh hãy nhìn em đi, hôm nay em thấy mình thật hạnh phúc!


Giữa lúc cả hai khoác ba lô, ra viện, bỗng nhiên liên lạc viên Văn Minh cưỡi con ngựa chạy thẳng vào bệnh viện. Văn Minh dừng ngựa ngay trước của phòng, nhẩy xuống, đứng nghiêm rập chân đánh rộp, giơ tay chào, báo cáo:


-  Tôi chiến sĩ Văn Minh, thừa lệnh của chính trị viên tiểu đoàn Phạm Bê, xin trình lên tiểu đoàn trưởng bức thư khẩn.


Quang Vũ đỡ lấy bức thư, bóc ra chăm chú đọc:


“Quang Vũ thân mến,


Tôi nghe tin anh sắp ra Viện, xin chúc mừng anh. Tôi cũng báo để anh biết: Quân ta sắp mở chiến dịch, trận này đánh to đấy! Đơn vị mình được lệnh chuẩn bị hành quân đi tham gia trận đánh này.


Nếu anh thấy sức khỏe đã hồi phục thì mời về đơn vị gấp để chỉ huy tiểu đoàn lập công lớn trong chiến dịch này.


T.B: Sau đánh thắng trận sông Lô, các cán bộ chiến sĩ xuất sắc đều đã được cấp trên khen thưởng, riêng Quang Vũ được thưởng huân chương chiến công hạng nhất, xin báo để anh mừng.


Ngày… tháng… năm… Ký tên. Phạm Bê (Chính trị viên tiểu đoàn)”.


Quang Vũ nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ. Mai nhìn anh hỏi: Có gì đấy anh? Vũ chậm rãi đưa bức thư cho Mai đọc. Mai đọc bức thư, chữ viết to, như chữ của người học lớp bình dân, Mai đọc trong nước mắt, cứ thấy chữ nhòe, phải đọc đi đọc lại mấy lần mới tin là có một sự thực phũ phàng là cô sắp phải xa anh! Trong lúc cả hai đều tràn đầy hy vọng về tương lai ngày mới!


Hai người im lặng, Văn Minh bỏ ra ngoài. Lát sau Vũ mới lên tiếng.


-  Anh đành phải xin lỗi em, hai đứa không thể thực hiện được kế hoạch như đã bàn.


Mai không nói gì chỉ ôm mặt khóc. Vũ lại gần nơi Mai ngồi, đứng ôm đầu Mai, vuốt vuốt những đám tóc đen nhánh lòa xòa trên trán. Anh rút khăn tay chùi nước mắt cho Mai. Vũ cứ lặng im ôm đầu Mai như thế, mà chẳng biết nói gì, có nói thì cũng không thể diễn tả nổi cảm xúc của anh lúc này. Lâu lâu sau, Mai đứng dậy ôm chặt lấy anh, day day mặt cô vào mặt anh, nước mắt giàn giụa. Rồi trong tiếng nấc Mai nói với anh:


-  Thôi, anh đi đi, không cần nói gì với em nữa, em hiểu anh không thể làm khác được!


Quang Vũ hôn lên hai má ướt nước mắt và cặp môi mọng của Mai, thì thầm: Anh rất biết ơn em, anh rất yêu em, hẹn ngày chiến dịch đánh thắng, anh về hai chúng ta cưới nhau!


Mai buông anh ra nói:


-  Em và anh đã đọc nhật ký của nhau. Bây giờ em muốn anh ghi vào nhật ký của em và em ghi vào nhật ký của anh một đoạn cô đúc nhất nói về tình yêu của đôi ta.


Vũ trao cuốn nhật ký của mình cho Mai, Mai đưa cuốn nhật ký của cô cho Vũ, hai người ngồi ra hai góc giường suy nghĩ và viết.


Quang Vũ viết:


“Tình yêu giữa anh và em, không bút nào tả hết…Anh yêu em như yêu Tổ quốc Việt Nam. Tổ quốc đau thương, anh dũng, quật cường! Hẹn ngày chiến thắng trở về, ta sẽ mãi mãi bên nhau! Ngày… tháng…năm… Trước khi đi chiến dịch. Ký tên: Quang Vũ”.


Xuân Mai viết:


“ Anh yêu của em ơi!


Em muốn nói: Em yêu anh như yêu dòng sông Cầu quê mình, đã ôm ấp đôi ta, nhưng lại sợ dòng sông trôi mãi không ngừng nghỉ, mang bóng hình anh và em trôi nổi, xa nhau!


Em muốn nói: Em yêu anh như yêu đất nước mình, khi có giặc, phận làm trai anh phải đi chiến đấu bảo vệ đất nước, em lo chẳng may… nói dại thôi!


Cuối cùng em chỉ mong muốn tình yêu đôi ta mãi mãi bên nhau trong cuộc sống hòa bình!


Ngày… tháng… năm…


            Ky tên Xuân Mai


*


                                              Sau hơn bốn năm chiến đấu từ Hà Nội, đồng bằng lên Trung du, lần này Quang Vũ tạm biệt Xuân Mai và chia tay với bệnh viện. Anh cùng chiến sĩ liên lạc Văn Minh đi ngược Trung du lên rừng núi. Lâu lắm rồi mới được cưỡi con ngựa quen thuộc của mình. Nó thấy chủ cũ đến ôm đầu nó rồi vỗ nhè nhẹ vào mồm nó, nó giậm giậm bốn vó như reo vui rồi hý lên những tiếng mừng rỡ. Vũ lên ngựa, bước đi thong thả, Văn Minh rảo bước đi bên cạnh. Trời mùa hè trong veo, những áng mây xanh bay cao tít. Hai bên đường hoa sim tím nở đầy, mấy cô gái Thổ đội khăn thêu, đeo gùi lững thững ngược đường với Vũ. Dọc đường cứ cách vài ba cây số lại gặp một “phố mới” những hàng xén, hàng cơm, hàng giải khát, hiệu ảnh… Chỉ nhìn cũng biết chủ nhân của nó là người dưới xuôi lên. Vũ dừng ngựa, hai anh em vào quán uống nước. Sau đấy Minh xin phép Vũ cho chụp chung với cậu một kiểu ảnh làm kỷ niệm. Vũ đồng ý và nhủ thầm, khi nào về gặp Mai hai đứa phải chụp chung với nhau bức ảnh kỷ niệm mới được.


Đi đoạn đường khá xa, Vũ thấy Văn Minh có lúc chưa theo kịp, anh dừng ngựa, bảo cậu lên cầm cương ngựa thay mình, Vũ ngồi sau. Hai người vừa đi vừa nói chuyện.


-  Minh dạo này lớn cao gần bằng mình rồi đấy -  Vũ giơ bàn tay đo ngang giữa đầu mình với đầu Minh.


Minh cười khoe với Vũ:


-  Hội thao quân sự vừa rồi ở đơn vị, môn chạy có vũ trang em giành được giải nhì đấy ạ!


Vũ đập nhẹ vào vai Minh nói: Nhớ hôm nào vượt sông Hồng ra chiến khu, em còn thấp đến lưng ngựa mà nay đã lớn thế rồi! Vũ hỏi thăm anh em ở đơn vị, Minh kể:


- Tiểu đoàn mình bây giờ đang đóng quân ở vùng Võ Nhai, nơi đây có rừng rậm núi cao. Các cán bộ chiến sĩ đang tập luyện đánh giặc đường rừng. Anh em mọi người đều mong thủ trưởng mau về chỉ huy chiến đấu. Chú Bốn, quê quán ở nam phần Bắc Ninh phụ trách tổ anh nuôi đang nhốt sẵn trong lồng một con gà sống thiến to. Từ lâu lắm rồi đi đâu bố cũng bắt lính mang theo con gà này; bố bảo: Chờ khi nào Thủ trưởng tiểu đoàn về thì làm thịt ăn mừng!


Vũ nhớ đến Bốn,người du kích dũng cảm có vợ và con bị địch giết ở nam phần Bắc Ninh, nay là anh nuôi của tiểu đoàn bộ. Từ khi Bốn làm anh nuôi, Bốn đã gánh nồi xoong chảo... theo đơn vị hành quân hàng ngàn dặm đường. Khi bộ đội nghỉ chân, anh nổi lửa đun nước rót vào bi đông cho các anh em uống, nấu cơm cho anh em ăn. Vào trận đánh địch dài ngày, bom đạn ác liệt, máy bay đầm già do thám suốt ngày suốt đêm. Anh đào hầm nấu cơm theo kiểu bếp tránh khói, rồi nắm cơm thành từng nắm kèm theo dúm muối, bò dọc theo chiến hào đưa cơm đến cho từng người.


Các chiến sĩ những lúc rảnh rỗi, buổi tối liên hoan văn nghệ, họ thường thích nghe Bốn kể chuyện lạ ở quê mình. Những chàng lính trẻ gọi Bốn là chú Bốn hoặc gọi là bố Bốn! Tối tối vào giờ sinh hoạt văn nghệ chú Bốn là người hay đóng vai chú Tễu, lại được cánh lính trẻ mời đứng lên kể chuyện làng quê. Hôm ấy, chú kể chuyện hội Chen . Chuyện kể rằng:


Không rõ từ bao giờ, xuất hiện tục lệ hội Chen ở làng Ngà xứ Kinh Bắc. Nghe các cụ kể, cách gần trăm năm ngược về trước, năm nào làng Ngà cũng mở Hội chen. Tổ tiên truyền miệng: Bà tướng của Hai Bà Trưng đánh một trận thắng lớn, trở về đóng quân tại làng Ngà, tế Thần và mở hội ăn mừng. Bà cho phép sau lễ tế thần, khi mở hội vui chơi, gái trai được ngang quyền chen nhau.


Chuyện kể rằng:


   Hàng năm, tại miếu thờ Linh Sơn -  Mỵ Nương, dân làng tổ chức cuộc tế. Lễ tế xong, trai tráng và các ông già chạy xô đến chen lấn các cô gái và bà già. Khi chen lấn, lấy vai mình đẩy vào người kia, không được dùng tay dùng chân để đẩy. Chen nhau xong mọi người cười cười nói nói vui vẻ rồi vây quanh đám tế cầu xin “già mạnh khỏe, trẻ dẻo dai”. Tiếp đó đám rước đi quanh làng. Lần này các bà các cô theo lệ được chen lại đàn ông. Họ đổ xô vào chen các trai làng và chen cả ông già. Trai làng và các ông già không được chen lại. Các cô, các bà chen các chàng trai và những ông già bật ra khỏi đám rước. Các cô gái trẻ chọn những anh chàng đẹp trai, xúm lại chen, xô anh ta xuống ruộng. Có anh đầu đội khăn xếp mặc áo lương, quần trắng bốp bị chen ngã xuống ao, ướt lướt thướt. Mọi người cười reo vui vẻ. Cậu nào, ông nào không muốn bị chen, chỉ còn cách trèo lên ngọn cây. Còn nếu trốn vào nhà dọc đường thì các cô cũng không tha. Năm bảy cô gái vào nhà xin phép chủ nhà, chen bật khách từ nhà ra đường. Rồi cả đám đông con gái xô vào chen anh ta, đến khi ngã ra, vẫn bị dựng dậy để chen tiếp. Đến khi chàng trai mệt lử, đành chắp tay vái xin thua, các cô mới buông tha.


Cả năm mới có một lần hội chen. Mỗi khi nhớ lại, mọi người được một trận cười vui vẻ.


 Quang Vũ đang nhớ đến những con người đáng yêu ở đơn vị của mình, thì Văn Minh chợt hỏi, làm ngắt dòng suy nghĩ của Vũ:


-  Thủ trưởng có biết ca sĩ Thu Ba dạo này thế nào?


-  Sao, cậu biết chị ấy à?


-  Vâng, em biết cô Thu Ba và Hà My con gái cô ấy, My là bạn với em đấy!


-  Bạn từ bao giờ và sao mà giỏi làm quen thế?


-  Em biết bạn ấy từ hôm thấy hai mẹ con cô Ba hát bài dân ca quan họ Bắc Ninh ở bệnh viện. Em chủ động hỏi chuyện, thế là bọn em quen nhau, và... viết thư cho nhau!


-  Viết thư cơ à, đơn vị nay đây mai đó sao mà nhận được thư của nhau?


-  Địa chỉ của cô Ba là đoàn Văn công thì ổn rồi, còn địa chỉ của em, thì mượn hòm thư là nhà bà Thanh Tú mở hiệu cà phê tại ngã ba Thái Nguyên đi Đại Từ. Thủ trưởng còn nhớ bà Thanh Tú chứ ạ?


-  À, à ra vậy.


Văn Minh kéo chiếc xắc cốt ra trước bụng, lấy một phong bì thư giơ ra nói với giọng hãnh diện: Thư của Hà My gửi cho em đây. Thủ trưởng xem đi.


-  Ai lại đọc thư của bạn gái người khác bao giờ? Cậu có thể thì kể cho tớ nghe trong thư nói gì đi.


 Minh nói vâng ạ, rồi rút lá thư từ trong chiếc phong bì ra, đã nhàu nát, chứng tỏ cậu này đã lấy ra đọc và cho vào phong bì nhiều lần. Minh định đọc, Vũ bảo:


-  Không phải đọc đâu, mà cậu thấy gì có thể kể được thì kể?


Văn Minh kể rằng: Hà My đã học lớp dược tá ở Trường Đào tạo cán bộ Y tế Việt Bắc. Bạn ấy dự định sau khi học xong sẽ xung phong đi bộ đội phục vụ các chiến sĩ…


-  Hà My là một thiếu nữ đẹp, hát hay lại có bản lĩnh thế, thì cậu đừng để mất cô ấy đấy nhé.


-  Vâng, cảm ơn Thủ trưởng, em sẽ chấp hành -  Minh cất cao giọng, rồi chuyển tay cương ngựa sang tay trái, dập hai chân, giơ tay phải lên mũ chào. Con ngựa tưởng như Minh thúc đi nhanh nó giơ cao hai vó trước, bay vút lên. Cả hai cười vui vẻ. Khi đi, tiết trời còn oi ả, càng ngược lên khí hậu cao nguyên càng mỗi lúc trong trẻo, tươi mát.


 


Chiều hôm ấy, Vũ và Minh về đến đơn vị. Các chiến sĩ ùa ra vây quanh, họ xúm nhau nhấc bổng Tiểu đoàn trưởng của mình từ trên lưng ngựa đặt xuống đất. Vũ vào đến lán, gặp chính trị viên Phạm Bê, hai người ôm chầm lấy nhau và Vũ nắm chặt tay các chiến hữu đứng quanh. Anh nuôi Bốn cùng các chiến sĩ bê lên một nồi nước giấm gà nấu với rau rừng và con gà sống thiến lớn đã luộc chín, béo vàng ngậy, bốc hơi nghi ngút, thơm lừng, thêm một chai rượu cuốc lủi để ăn mừng Tiểu đoàn trưởng đã khỏe mạnh trở về!.


     Hàng ngày Quang Vũ mải miết kiểm tra bộ đội sẵn sàng chiến đấu và bắt tay lập phương án tác chiến, cùng Phạm Bê đưa ra Tiểu đoàn ủy, tiếp đến là cuộc họp cán bộ toàn tiểu đoàn dân chủ thảo luận và quán triệt kế hoạch tác chiến.


    Lần này tiểu đoàn được lệnh hành quân lên đường số Bốn đoạn nối giữa Lạng Sơn -  Cao Bằng. Nhiệm vụ của đơn vị là phối hợp với tiểu đoàn bộ binh phục kích trên đường từ Lạng Sơn đi Cao Bằng.


    Hôm ấy đoàn xe địch hơn một trăm chiếc lọt vào trận địa phục kích. Pháo ta đã đo đạc căn sẵn, Vũ ra lệnh bắn dồn dập vào đoàn xe, rồi đột ngột dừng lại quay súng bắn kiềm chế các vị trí địch ở xung quanh. Nhanh như cắt, khi thấy pháo chuyển hướng lực lượng phục kích của đơn vị bộ binh đồng loạt xung phong đánh giáp lá cà. Địch hốt hoảng vừa chống đỡ vừa bỏ chạy. Hơn trăm quân địch phần lớn là lính Âu Phi bị chết, bị thương và bị bắt. Ta phá hơn năm mươi xe và hơn năm trăm thùng xăng, thu hàng trăm súng các loại.


Sau trận đánh trên, hàng loạt đồn bốt địch phải rút bỏ. Đường số Bốn trở thành “ con đường chết” đối với địch. Con đường này địch dùng làm nhiệm vụ tiếp tế và cũng là đường duy nhất có tầm quan trọng chiến lược của địch ở vùng Đông Bắc đã bị tê liệt.


Tiếp đến tiểu đoàn của Quang Vũ được lệnh phối hợp với các đơn vị bạn đánh vào các cứ điểm có công sự vững chắc. Năm trước, tại đồn Phủ Giàng có một đại đội lính lê dương và một trung đội trợ chiến. Lực lượng quân ta đánh vào suốt ba giờ đồng hồ, chiến sĩ ta dũng cảm xông lên dùng bộc phá và lựu đạn tiếp cận chỉ đánh chiếm được ba lô cốt. Đến khi đánh vào lô cốt thứ tư, địch cố thủ chống trả quyết liệt, mà trời gần sáng, bộ đội ta đành phải rút ra. Rút kinh nghiệm trận trước, lần này đánh công kiên cứ điểm Bản Thái có sự phối hợp của pháo binh. Các chiến sĩ tiểu đoàn pháo binh của Quang Vũ tháo rời bốn khẩu sơn pháo, khênh vác vai, luồn rừng vào gần đồn địch chiếm lĩnh và lắp đặt pháo ngắm sẵn vào bốn lô cốt mẹ ở bốn góc cứ điểm. Họ sẵn sàng nổ súng, mà địch không hay biết.


 Đúng giờ G, để thu hút và phát hiện hỏa lực địch, các chiến sĩ lấy vải tẩm dầu ném vào hàng rào địch đốt cháy sáng, soi rõ từng lớp thép gai. Địch từ lỗ châu mai cứ nhằm vào nơi phát sáng mà bắn. Các pháo thủ của ta ở xa, từ trong bóng đêm đưa nòng pháo ngắm thẳng vào lỗ châu mai đang bắn ra những chùm lửa, mà giật cò, cả bốn lô cốt phút chốc bị phá tung, còn tên địch nào sống sót thì không dám ngóc đầu dậy. Các chiến sĩ bộ binh áp sát hàng rào thép gai dùng bộc phá mở cửa, bộ đội ào ào xông lên! Chỉ sau ba mươi phút toàn bộ quân địch tại cứ điểm Bản Thái đã bị tiêu diệt hoàn toàn!


Qua hơn một tháng chiến đấu, bộ đội ta trong đó có đơn vị của Quang Vũ mở nhiều mũi tiến công đã hoàn toàn giải phóng hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn.


Sau 5 năm chiến đấu, lần đầu tiên cuộc kháng chiến của ta đã mở ra nhiều vùng hậu phương rộng lớn. Tại Việt Bắc, một vùng tự do liên thông từ các tỉnh Thái Nguyên, lên Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng tiếp giáp với Trung Quốc. Miền Trung, từ lâu ta đã có vùng tự do Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ở khu Năm vùng tự do bốn tỉnh Nam -  Ngãi -  Bình -  Phú gần hai triệu dân đã làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến đánh địch những trận đi vào lịch sử. Tại Nam Bộ tỉnh nào huyện nào cũng có những hậu phương của ta, vùng địch chiếm lại là tiền phương của bộ đội.


Ngay từ năm thứ hai của cuộc kháng chiến, ta đã chuẩn bị cho lớp cán bộ có văn hóa có trình độ khoa học kỹ thuật cho tương lai. Một loạt trường Phổ thông được mở ra, tiếp đến mở cả Trường Đại học y khoa, lớp dự bị Đại học về văn khoa, dự bị Đại học về toán. Phong trào tăng gia sản xuất tự cung tự cấp lương thực được bảo đảm. Với phương châm phòng bệnh là chính, các thôn xã vùng tự do đều có phong trào ba sạch “ăn sạch, uống sạch, ở sạch”. Một hệ thống bệnh viện và trạm xá đã được lập ra để chữa bệnh, chữa thương cho các chiến sĩ và đồng bào. Các văn nghệ sĩ đi thực tế và sáng tác kịp thời nhiều bài thơ, bài hát xúc động lòng người, động viên thôi thúc cuộc kháng chiến. Nhạc sĩ Văn Cao đã tiên lường ngày chiến thắng trở về Hà Nội: Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về/… Năm cửa ô đón mừng/ Đoàn quân tiến về/ Hà Nội vang tiếng quân ca!


Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, quân đội Việt Nam đã có quan hệ mật thiết với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sau khi mở thông biên giới, một số đơn vị bộ đội đã phối hợp với giải phóng quân Trung Quốc trong chiến dịch đánh quân Tưởng ở mặt trận Điền Quế và Long Châu thuộc địa phận Trung Quốc. Cả một vùng biên giới Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam đã được giải phóng. Tiếp sau đó nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Dần dần, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, nối liền với hậu phương lớn rộng mênh mông, có tiềm lực quân sự và kinh tế hùng mạnh của cả phe Xã hội chủ nghĩa.


Sau chiến thắng của quân đội Việt Nam ở các chiến trường nói trên, đặc biệt là chiến thắng Cao Bằng, Bắc Kạn, mở liên thông với Trung Quốc, tình thế ấy đã gây cho giới cầm quyền Pháp nhiều rối ren, mâu thuẫn gay gắt. Chính phủ Pháp không thể tiếp tục giải quyết những khó khăn về kinh tế tài chính chi phí quân sự tốn kém cho cuộc chiến Việt Nam. Từ đầu họ muốn “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng đến nay qua gần năm năm người Pháp đã mất hoàn toàn quyền chủ động trên chiến trường, luôn luôn bị động chống đỡ mà không xong. Chính phủ Pháp buộc phải cử tướng Rơve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp sang nghiên cứu tại chỗ. Qua hơn một tháng, ông ta đi nhiều nơi, trao đổi ý kiến với những người có trách nhiệm trực tiếp về quân sự và dân sự, ông ta đã đi đến kết luận: Không thể có một giải pháp quân sự nào và cũng không còn hy vọng lật lại tình thế để đạt những điều kiện có lợi trong cuộc điều đình. Rơve đã nhận định rằng quân Pháp không còn khả năng giành thắng lợi trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng người cầm đầu nước Pháp hồi đó vẫn hy vọng cuộc chiến tranh này có thể giành được thắng lợi ở trận đánh quyết chiến chiến lược. Rơve là người đầu tiên đưa ra lối thoát cho cuộc chiến này là “đưa cuộc chiến tranh Đông Dương vào kế hoạch chiến lược của Mỹ”. Điều này cũng có nghĩa là quân Pháp gần như “hết hơi” bước đầu Pháp tính đến việc chuyển giao cuộc chiến tranh cho Mỹ. Từ đây đế quốc Mỹ bắt đầu dính líu vào cuộc chiến tranh này.


 


    Sau khi tham gia với các đơn vị bạn, giải phóng hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn, tiểu đoàn do Quang Vũ chỉ huy được rút về Đại Từ để củng cố lực lượng, chỉnh huấn và luyện quân chờ vào trận chiến đấu mới.


Quang Vũ nhớ đến Xuân Mai. Anh nhớ đến lời ước hẹn sau khi điều trị khỏi vết thương thì về an dưỡng tại nhà Mai và hai đứa sẽ tổ chức lễ cưới! Nhưng kế hoạch phải thay đổi. Đến nay chiến dịch đã kết thúc thắng lợi, anh muốn về thực hiện lời hẹn ước với Mai. Theo tiền lệ của đoàn thể, đảng viên Cộng sản trước khi cưới vợ phải báo cáo với tổ chức. Sau khi nghĩ đi tính lại, anh đề nghị được chính thức báo cáo “việc riêng” xin ý kiến của bí thư Tiểu đoàn ủy.


Phạm Bê là bí thư Tiểu đoàn ủy kiêm chính trị viên tiểu đoàn. Anh lớn tuổi hơn Vũ. Anh sinh ra trong một gia đình nông dân. Cha anh cũng được học một chút chữ nghĩa thánh hiền, gia đình anh là cơ sở hoạt động đi lại của cán bộ Cộng sản. Mỗi lần có cán bộ về, Bê thường được bố giao cho đứng lảng vảng ngoài ngõ để canh chừng bọn hào lý lùng sục. Dần dần lớn lên anh được tiếp xúc với cán bộ Cộng sản, được nghe tuyên truyền và giáo dục cách mạng, anh căm ghét thực dân Pháp. Trước khi Tổng khởi nghĩa, anh đã được giao tập hợp một số trai làng chuẩn bị tham gia cướp chính quyền. Ngày bùng nổ Cách mạng Tháng Tám ở quê, anh cầm cờ dẫn đầu đoàn người tay dao, tay mác xông vào đánh chiếm trụ sở huyện quan. Tiếp đó anh được kết nạp vào đảng Cộng sản, tham gia huyện ủy, rồi được điều động vào quân đội, lúc đầu làm Chính trị viên đại đội, nay là Chính trị viên tiểu đoàn, Bí thư đảng ủy. Bê cùng Quang Vũ đã sát cánh bên nhau chiến đấu hàng trăm trận, vào sinh ra tử có nhau. Anh mến Vũ và phục Vũ về tài chỉ huy quân sự, biết cách biến hóa và quyết đoán giành thắng lợi trong những tình huống khó khăn phức tạp. Nhưng anh không hợp tính Vũ, cái tính mà hồi đó người ta gọi là “ tạch tạch sè” có nghĩa là tiểu tư sản. Những lúc rảnh rỗi, không mấy khi anh ngồi tâm tình với Vũ; anh thường xuống đơn vị ngồi chơi, hút thuốc lào, chuyện trò cùng các chiến sĩ xuất thân từ nông dân.


Phạm Bê nghe họ kể về chuyện cày bừa, gieo hạt và cấy hái; anh động viên an ủi và gợi ý giúp đỡ khi có vướng mắc chuyện gì đó trong tư tưởng. Họ rất quý mến anh và coi anh như anh cả của tiểu đoàn, mỗi khi anh nói thì họ tin tưởng và làm theo. Với Quang Vũ, lúc rảnh rỗi anh lại thích đọc sách, trong ba lô anh bao giờ cũng có vài cuốn sách, sau này anh có cuốn dịch “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Nga. Lúc buồn buồn nhớ đến Mai, anh lại cầm chiếc đàn ghi ta gõ bập bùng.


Hôm nay, Phạm Bê lần đầu tiên nghe  thấy Vũ nói xin gặp anh báo cáo về “chuyện riêng” anh đã linh cảm được vài phần. Tuy trước, chưa có lần nào anh nghe Vũ thổ lộ, nhưng qua đôi ba người kể lại anh biết Vũ đã yêu cô Xuân Mai. Anh cũng đã cho người bí mật tìm hiểu về gia đình Xuân Mai. Anh thừa nhận Mai là cô giáo tốt, được giác ngộ và hiểu biết về cách mạng, có thể tin cậy được. Nhưng bố Mai là ông Ngô Đức tuy là cán bộ kháng chiến đã hiến điền trả ruộng cho nông dân nhưng anh vẫn nhìn nhận ông là địa chủ.


Theo Bê hiểu: Một khi là địa chủ thì ít nhiều cũng đã có bóc lột, Ngô Đức là địa chủ kiêm tư sản lớn, thì không tránh được đã có sự bóc lột lớn. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản là xóa bỏ bóc lột. Anh nghĩ: Ruộng đất tuy không còn, nhưng tư tưởng bóc lột đâu có dễ bỏ. Nhiệm vụ của người làm công tác chính trị ở tiểu đoàn này là phải bảo vệ cán bộ, bảo vệ đảng viên, ngăn chặn tư tưởng bóc lột xâm nhập vào lực lượng võ trang. Vì vậy từ lâu Bê vẫn không muốn Vũ yêu một cô gái con cái địa chủ, dù là địa chủ kháng chiến.


Thực ra, khi bắt đầu khamgs chiến , những người làm công tác chính trị trong quân đội như Bê  chưa mang nặng ý thức giai cấp như sau khi đi học ở Trung Quốc về.


Tuy Quang Vũ là phó Bí thư tiểu đoàn ủy, nhưng anh không có quyền qua mặt người lãnh đạo Đảng cao nhất của tiểu đoàn. Anh trình bày quá trình yêu Mai ra sao, Mai là người thế nào, gia đình của Mai quá khứ và cũng như hiện tại… Cuối cùng anh đề nghị tổ chức Đảng chấp nhận cho anh cưới Xuân Mai, anh xin nghỉ phép để tổ chức cưới.


Phạm Bê ngồi yên lặng nghe Vũ báo cáo, nét mặt anh không biểu lộ đồng tình hay phản đối, anh không hỏi và cũng không ngắt lời Vũ, cứ để cho Vũ nói. Cuối cùng anh nêu với Vũ rằng:


 Một là: Tôi không phản đối tình yêu, nhưng xin đồng chí nhớ cho đây là tình yêu của một chiến sĩ Cộng sản, hơn nữa của một phó Bí thư tiểu đoàn ủy và là Tiểu đoàn trưởng của quân đội nhân dân Việt Nam.


Hai là: Khi vào Đảng, đồng chí và tôi đã thề suốt đời phấn đấu hy sinh cho chủ nghĩa Cộng sản. Mà chủ nghĩa Cộng sản coi bóc lột là kẻ thù phải xóa bỏ. Nói gì thì nói cha của Xuân Mai vẫn là địa chủ tư sản, dù là địa chủ kháng chiến cũng bóc lột "quạ nào chẳng đen". Xóa bỏ bóc lột, tước ruộng đất thì dễ, nhưng đấu tranh gạt bỏ tư tưởng bóc lột thì không dễ chút nào. Chẳng lẽ một đảng viên Cộng sản lại lấy vợ là con gái của kẻ thù giai cấp hay sao?


Ba là: Vì lẽ trên tôi chỉ khuyên đồng chí, nên cân nhắc xem chọn con đường của mình đang đi, hay lấy vợ là con địa chủ? Hôm trước, tôi đã hay tin đồng chí sắp ra viện và định cùng Xuân Mai làm lễ cưới, tôi vội « giải vây » cho đồng chí bằng lá thư gọi về đi chiến dịch…


Vũ khó chịu, biến sắc mặt, nhưng cố im lặng. Cuộc gặp gỡ đến đây thì dừng lại. Vũ mệt mỏi uể oải đứng dậy. Qua cuộc gặp, Vũ nhận ra người đại diện đoàn thể ở đơn vị đã áp đặt cho anh phải chọn một trong hai con đường: là đảng viên thì không được phép lấy con địa chủ, hoặc nếu cố ý lấy Mai thì phải ra khỏi Đảng. Anh không nói một lời nào bác bỏ hay đồng tình với ý kiến của người đại diện đoàn thể. Trong thâm tâm anh, vẫn cho rằng: Xuân Mai là người đáng yêu nhất trên đời này, anh không thể quên được Mai. Nhưng anh không thể bỏ đoàn thể, vì đoàn thể đã là lẽ sống của anh. Nhưng đôi lúc anh vẫn băn khoăn: Vào Đảng và chiến đấu để làm gì? Nếu không phải là Đảng ta cũng như toàn dân tộc Việt Nam ta và mọi người đang đi tìm hiện thực của những ước mơ sao? Ước mơ của dân tộc là độc lập tự do, trong đó có tình yêu tự do cho mỗi con người ; Vì sao lúc này ông ấy lại cố tình tạo ra sự đối lập giữa lý tưởng và tình yêu chứ?! Nói gì thì nói,Vũ biết bây giờ không phải lúc đưa ra với đoàn thể chuyện cưới Mai. Đành chờ dịp khác vậy.


Từ sau ngày Quang Vũ gặp Phạm Bê, anh như thấy từ trong sâu thẳm tâm trí mình có cái gì day dứt không yên, đôi lúc anh bần thần ngồi thừ người. Phạm Bê nhận ra trước đây chưa thấy Vũ như vậy. Bê báo cáo sự việc lên cấp trên. Một tháng sau, Quang Vũ nhận được quyết định đi Trung Quốc học cách sử dụng và tiếp nhận súng cao xạ của Nga viện trợ. Bây giờ ngành Buu điện đã tổ chức được mạng lưới đưa thư đến các làng xóm ở Việt Bắc. Trước khi đi, anh viết thư cho Mai. Lá thư có đoạn:


 “ Xuân Mai yêu quý!


… Một lần nữa anh lại lỡ hẹn với em!


        Anh rất nhớ em, mong được gặp em để tổ chức ngày cưới hạnh phúc của đôi ta. Nhưng lúc này quyền lợi riêng phải nhường cho lợi ích đất nước. Nay vì nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu anh phải đi sang nước bạn một thời gian để làm nhiệm vụ. Lần thứ hai đành lỡ hẹn cùng em. Hy vọng khi xong đợt công tác này, anh về, chúng ta sẽ thực hiện điều mà cả hai ta ước hẹn.


Anh của em.


Ký tên: Quang Vũ”.


Nửa tháng sau, Mai nhận được thư của Vũ. Đọc xong cô gấp lại, ngồi thừ người suy nghĩ. Mẹ cô nhìn con, thấy hai mắt Mai đỏ hoe, vội hỏi:


-  Vũ nó bảo gì thế con?


-  Dạ, không có gì đâu ạ!


-  Kháng chiến thì trường kỳ, đánh giặc cũng lâu dài, có ai cấm lấy vợ sinh con đâu; mà có sinh con thì mới có người kế tiếp chiến đấu giành độc lập chứ? Thằng Vũ đã gần ba chục tuổi rồi, mà con cũng đã hai mươi tư, hai mươi lăm tuổi, còn chờ gì nữa?


-  Thôi, con xin mẹ để yên cho chúng con!


Bà Đức bỏ ra ngoài. Mai nằm vật xuống giường, vùi mặt vào gối, khóc nức nở.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »