tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28889336
Tiểu thuyết
18.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ

 


 Lại kể về chuyện bà Nhẫn và cu Tý ở quê nhà.


   Mấy năm về trước, chờ mong mãi không thấy chồng về, cụ Tú thì ốm nặng, hai cô em đã đi lấy chồng. Mẹ con cu Tý bàn nhau trả lại nhà thuê ở phủ Từ Sơn đưa nhau về làm ruộng ở làng để chăm sóc mẹ chồng . Cụ Tú tuy tạm an lòng về hai cô gái, nhưng thương con trai đang bị đi đày, nghe nói ở giữa biển, xa lắm. Cụ thương hai mẹ con cu Tý vất vả phải trông nom cụ. Nhưng bệnh của cụ ngày càng trầm trọng, tuổi lại cao, thầy thuốc cũng phải bó tay. Cụ mất khi con trai đi tù được hơn ba năm.


Từ ngày cách mạng thành công, bà Nhẫn như trẻ lại. Hai mẹ con cười cười nói nói, chẳng bù cho khi trước. Nhưng chờ mãi đến nay vẫn không thấy ông Nhẫn về, và cũng chẳng có tin tức gì, mẹ con cu Tý sốt ruột ngóng trông từng ngày.


Rồi một hôm, cu Tý đi cuốc ruộng, mẹ đi vớt bèo cạnh đó, hai mẹ con chợt nghe tiếng gọi í ới. Ba, bốn người trẻ tất tả chạy ra, vừa nói vừa thở không ra hơi:


-  Bà ơi, Tý ơi... mau mau mà về ngay đi, có… có ông to lắm, đi xe ô tô từ Hà Nội về… hỏi thăm đấy !


Hai mẹ con cu Tý bỏ dở việc, vội rửa tay chân qua loa rồi chạy về nhà xem sao. Bà và cu Tý rất hồi hộp, không dám nghĩ đó là ông Nhẫn về. Ông ấy đi tù, nếu có về thì làm gì có chuyện xe ô tô đưa đón, chắc là nhầm thôi?


Hai mẹ con về đến cổng nhà, nhìn vào đã thấy từ ngoài sân trở vào đến trong nhà đông nghịt những người và người. Họ chen chúc nhau, xúm xít quanh một ông khách, rồi tranh nhau nói nói cười cười. Nhìn thấy mẹ cu Tý về, họ dãn ra nhường lối vào. Cu Tý chạy trước nhìn thấy rõ một ông tóc bạc trắng, da mai mái, gầy quắt queo, đang nói chuyện với người xung quanh. Nó ngờ ngợ không nhận ra là ai. Mẹ cu Tý đi sau nhìn thấy chồng vội nói:


-  Cu Tý ơi, bố mày về rồi! Ới ông ơi, ông còn sống trở về! -  Nói đến đây bà lao vào ôm chầm lấy chồng khóc nức nở. Cu Tý cứ ngẩn ra nhìn bố. Mọi người cười vui, thi nhau kể cho Cả Nhẫn nghe chuyện ở nhà:


-  Khi ông Nhẫn bị Tây bắt đi, thằng bé này còn bé tí, nay đã biết cuốc ruộng giúp mẹ rồi đấy  nhợ.


-  Bà Nhẫn vất vả nuôi con, chờ chồng giỏi thật. Bà ở hiền gặp lành, chồng đã về nhợ !


-  Cụ Tú khi còn sống, ngày nào cũng nhắc đến con trai. Cụ mất đi không chờ được đến ngày này để mừng con được về, thật tiếc nhợ !


-  Mà kể cũng lạ, sao ông ra tù từ Côn Đảo mà có xe ở Hà Nội đưa về nhà là làm sao nhợ?


Hai Nhẫn cười cười, nhìn vợ, nhìn con, nhìn mọi người rồi nói:


-  Tôi vào tù được giác ngộ lý tưởng Cộng sản, có tham gia một số hoạt động. Chính phủ cho tàu ra đón tất cả chính trị phạm về đất liền. Tôi gặp may, nhờ một cán bộ thượng cấp cho đi nhờ xe từ Sài Gòn ra Hà Nội, lại được ông ấy cho xe về nhà.


-  Thật là quý hóa quá! Thượng cấp mà thương anh em cấp dưới thế thì đúng là thượng cấp của ta rồi nhợ!


Ngày hôm sau Hai Nhẫn cùng vợ con mang hương hoa ra viếng mộ mẹ và mộ cha. Cả ba người đều khóc trên nấm mộ cụ Tú, cỏ đã mọc dày! Hai Nhẫn ở nhà được một tuần lễ. Ông cùng con đi thăm hết những người trong họ ngoài làng, đến chào Ủy ban Hành chính kháng chiến xã . Ông nói với vợ con:


-  Bây giờ nước nhà đã giành được độc lập. Nhưng thực dân Pháp vẫn cố tình trở lại một lần nữa xâm chiếm nước ta. Sắp tới sẽ xảy ra chiến tranh. Nhân dân ta mọi người phải đánh giặc. Tôi nay là người của đoàn thể, chỉ được nghỉ về thăm nhà có nửa tháng, lại phải trở vô Nam Bộ. Khi nào kháng chiến thành công, vợ chồng cha con ta mới sum họp được .


-  Ông lại đi ư ? Vợ con ông đã khóc cạn khô nước mắt, mong ông được về. May sao ông sống trở về. Là người của đoàn thể, ông đi lo việc nước, tôi chẳng dám ngăn. Chỉ mong ông giữ sức khỏe, lâu lâu gửi cái giấy về cho mẹ con tôi biết ông ra sao, có được khỏe không -  Nói đến đây bà kéo gấu áo lên chùi chùi nước mắt.


-  Con muốn đi giống như bố. Bọn con đứa nào cũng muốn nghỉ học đi bộ đội đánh giặc, có đứa bị chê là bé, có đứa chỉ cao như con, nó cứ nằng nặc đi theo, các chú ấy đành nhận nó vào làm liên lạc đấy.


Ông nhìn con cười cười. Còn bà thì bảo:


-  Cu Tý còn bé, ở nhà với mẹ, bố đi là được rồi nhợ?


Cu Tý nguây nguẩy nói:


-  Ứ ừ, con chẳng chịu đâu, con không còn bé nữa. Mẹ vẫn khỏe, tự lo được mà.


Hôm sau, ông báo cho vợ con biết là mình lên thăm cô Hai và cô Ba ở trên sông Cầu.


Đến thị xã Bắc Ninh, ông nhớ đến người bạn tù cùng quê, nghe tin bây giờ anh đã về phụ trách quân sự tại tỉnh nhà. Ông hỏi thăm đường . Ðến nơi, nghe báo có bạn cũ ở Côn Ðảo tên là Hai Nhẫn ghé thãm, ông Vãn Ðông đang chủ trì cuộc họp, bảo tạm ngừng ra tiếp bạn. Hai bên mừng rỡ ôm nhau, ôn lại kỷ niệm Côn Ðảo, hỏi thăm tình hình vợ con của nhau. Ông Nhẫn kể: Mẹ mình mất rồi, vợ mình may vẫn khỏe, thằng con mới mười hai tuổi nó cứ nằng nặc đòi đi đánh giặc. Ông Đông nói:


-  Lớp trẻ bây giờ là thế, đứa con tôi kém con cậu hai tuổi, nó cũng nằng nặc đòi đi theo bộ đội làm liên lạc, tôi phải cho nó vào học trường Thiếu sinh quân. Nếu con cậu thích thì cho nó đi luôn, đang còn hạn tuyển mà.


Khi cô Ba lấy chồng, thì cả Nhẫn không có nhà. Ông đến thẳng trang trại nhà ông Cò. Nghe tin ông Cả đã ra tù và đến thăm, bà Hai khóc òa lên, chạy ra đón ông anh, mừng mừng tủi tủi. Cụ Mận và ông Cò cũng ra gặp chào ông Nhẫn. Lúc lâu sau được tin, cô Ba cũng về trang trại gặp ông anh. Ba anh em kể chuyện hàn huyên, cùng nhau nhắc đến cụ Tú, thương cụ vất vả cả một đời, khi mất, con trai trưởng không có nhà. Cả Nhẫn bùi ngùi nhớ đến mẹ.


Trong câu chuyện, ông Cò biết ông Nhẫn bây giờ là cán bộ Cộng sản, được cả ông Trung ương cho xe đưa đón thì nghĩ, ông anh vợ này phải là nhân vật quan trọng. Ông ta cũng khoe cho cả Nhẫn biết giờ mình đang là Ủy viên Mặt trận Việt Minh của huyện, vận động được nhiều người trong tầng lớp trên ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Ông Nhẫn nói: Rất mừng là chú giác ngộ mau chóng như vậy.


Ông Nhẫn hỏi thăm đến các cháu. Bà Ba khoe cháu Hà My đã chín tuổi xinh lắm. Bà Hai kể cho ông anh nghe: Thằng lớn là Cò Vàng bây giờ đã hơn mười tuổi rồi, nó to và cao lắm, thằng thứ hai là Cò Đỏ chín tuổi cũng khỏe mạnh, còn Cò Xanh năm nay mới được một tuổi. Rồi bà cho gọi các con ra chào ông bác. Cò Vàng ra đứng đầu, Cò Đỏ ra xếp hàng ngang đứng thứ hai, vú nuôi bế Cò Xanh đứng thứ ba. Ông Nhẫn khen các cháu khỏe mạnh, đẹp trai. Ông nhìn ngắm Cò Vàng, nó cao chẳng kém gì cu Tý, dáng đứng nghiêm trang, mắt nhìn thẳng, ngực ưỡn, chân chụm lại giống như anh lính. Ông nói:


-  Tý nhà bác hơn cháu Cò Vàng hai tuổi mà cũng cao vậy thôi và gầy, thế mà cu cậu cũng đòi đi theo bộ đội đấy.


-  Cháu cũng thích đi bộ đội bác ạ -  Cò Vàng nói . Ông bà Cò nhìn Vàng kinh ngạc. Bà Hai nói:


-  Con còn bé phải đi học đã chứ.


Ông Nhẫn cũng nói:


-  Đúng thế, cháu còn bé nên học cho tốt. Cu Tý nhà bác, nếu thích thì bác cũng cho nó đi học trường Thiếu sinh quân.


-  Cháu cũng muốn học trường Thiếu sinh quân, bác nhờ người ta cho cháu đi đi.


Bà Hai nhìn con, nhìn chồng không nói gì. Ông Cò chợt nảy ra ý nghĩ, cho thằng Vàng vào học trường Thiếu sinh quân, sau này nó học xong đi theo đường quan chức Cộng sản cũng hay, biết đâu bố mẹ được nhờ. Nghĩ vậy ông ta nói:


-  Nếu con thích đi học Thiếu sinh quân, thì nhờ bác giới thiệu cho.


Bà Hai kinh ngạc nhìn chồng, không dám phản đối, chỉ nói:


Cháu thích vậy và nhà em chấp thuận, thì nhờ bác xin cho nó đi học Thiếu sinh quân với anh Tý cho vui.


Sau cuộc gặp gỡ này, Cò Vàng và cu Tý đều được nhận vào học trường Thiếu sinh quân. Cuộc viếng thăm của ông, đã mở ra một lối rẽ cho Cò Vàng, tạo phúc cho gia đình cô em. Nhưng gia đình này cũng khó tránh được bi kịch...


4. “ CÁC EM QUYẾT TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH”


  Sau khi giặc Pháp đưa quân trở lại Hà Nội đã đóng chốt trong Thành cổ và dần lấn ra các phố. Ngày mười 16 tháng 12 năm 1946, Mooclie chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc Đông Dương gửi liền hai tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam và tuyên bố “ quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm trị an tại Hà Nội, chậm nhất là sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946”.


    Các tầng lớp nhân dân cả giàu lẫn nghèo đều bừng bừng khí thế chống ngoại xâm. Đường phố lập chiến lũy chặn giặc bằng các thứ như tủ chè, sập gụ, giường nằm, bàn ghế cùng đất cát. Đội tự vệ thành đeo sao vuông, mau chóng tập hợp đủ cả lớp người: Từ trẻ em bảy tuổi đến các nữ sinh và các ông già còn khỏe, người mặc áo xanh, kẻ mặc áo nâu, người khoác áo vét và cả những nghệ sĩ ôm đàn cũng đều có mặt. Một số người già yếu và trẻ nhỏ kéo nhau đi tản cư ra ngoại thành. Một thành phố nhìn ngoài đường thấy vắng tanh vắng ngắt như một thành phố chết. Nhưng lại vô cùng sôi động ở bên trong. Các nhà đều đục tường thông. Mọi người đi đi lại lại từ nhà này sang nhà khác, từ phố này sang phố khác đều qua những mảng tường đục sẵn nham nhở. Cả Hà Nội đã sẵn sàng chiến đấu !


Quang Vũ đã gia nhập Vệ quốc đoàn trước ba tháng, khi Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến . Hôm nay, sáng ngày 19 tháng 12, anh nhận được lệnh cùng đại đội Vệ quốc đoàn của mình chi viện gấp cho Hà Nội.


Vũ nhắn Mai ra gặp anh tại nơi hôm trước. Anh về nhà chào ba mẹ, cho mấy bộ quần áo vào ba lô, rồi khoác lên vai đi ra nơi có ba mươi hai bậc đá xanh ở bờ sông. Mai nhận được tin nhắn của Vũ, linh tính báo cho cô biết sẽ có việc chẳng lành. Cô mặc chiếc áo dài trắng quen thuộc vội ra gặp Vũ. Mai đến nơi thì vừa lúc Vũ đi tới. Hai người ôm chầm lấy nhau. Một lát, buông tay ra, cô ngắm Vũ: Hôm nay anh mặc bộ quân phục ka ki màu vàng, hai vai có ngù vải, sao vàng lấp lánh trên mũ, vai đeo ba lô, trông rất oai hùng. Mắt anh trong sáng và toát lên mạnh mẽ làm sao. Cô biết ngày mà cô phải xa anh đã đến! Trái tim cô như muốn thắt lại, nhưng lý trí đã mách bảo cô phải mạnh mẽ lên trước mặt anh, để anh yên tâm lên đường. Cô lo thời gian anh bên cô không nhiều, cô hỏi: Bao giờ anh đi? Anh cho cô biết: Sẽ ngồi bên cô chuyện trò một canh giờ nữa rồi lên tàu.


Xuân Mai ngồi xích lại gần anh. Cả hai cùng nhìn xuống sông Cầu, nước vẫn trôi, dòng sông vẫn trong xanh biêng biếc. Mai nói:


-  Anh đi chắc vẫn nhớ dòng sông quê mình ?


-  Anh nhớ em trước, nhớ dòng sông sau.


-  Em chỉ muốn anh nhớ em trong dòng sông thôi.


Vũ nhìn Mai như muốn hỏi. Mai kể cho anh nghe: Hồi còn bé, em hay được bố mẹ bế ra tắm sông. Anh có nhớ không, có lần hai bà mẹ cùng bế anh và em ra sông tắm vào ngày tết “giết sâu bọ” ?


-  Anh vẫn nhớ, hai đứa mình đã té nước vào nhau, cùng cười tít mắt.


-  Nghĩ lại em thấy buồn cười thật. Em nhớ tuy anh có cao hơn em, còn em hồi đó chỉ nhỉnh hơn chiếc ba lô của anh, không mặc quần áo, nằm sấp trên hai tay của mỗi bà mẹ, ngâm mình dưới nước sông chỉ để hở từ cằm lên. Sông ôm em và ôm anh vào lòng nước, những con cá mương be bé sao mà nhiều thế, nó cứ lượn đi lượn lại bơi quanh hai đứa, nó còn chui cả qua nách em đấy, nước trong văn vắt nhìn rất rõ. Chúng mình thích quá, đập hai chân hai tay làm nước bắn tung tóe lên nhau.


-  Nghe em nhắc lại kỷ niệm xưa, khiến anh nhớ và yêu sông Cầu của mình quá ! Bây giờ anh nhắm mắt lại này, thấy rồi, anh thấy hai đứa mình đang tắm dưới sông, sông ôm ấp đôi ta. Anh đi chắc sẽ nhớ em trong dòng sông! -  Mai nhìn, thấy anh đang lim dim đôi mắt.


-  Anh ơi, dòng sông có khi nào “chết” không anh ? Ôi, em xin lỗi! Lại buột miệng nói gở rồi !


 -  Anh nghĩ là thiên nhiên yêu thương con người như người mẹ yêu con. Chỉ khi nào những đứa con đối xử bạc bẽo thì dòng sông mới “chết”. May sao, những kẻ bạc bẽo thì ít, người tốt thì nhiều. Dòng sông Cầu quê ta sẽ không bao giờ “chết” đâu em ạ !


-  Cả hai nhìn nhau âu yếm, kể cho nhau nghe hết chuyện nọ chuyện kia. Thời gian trôi nhanh. Vũ giơ tay xem đồng hồ:


-  Đến giờ anh phải đi rồi em ạ !


-  Sao, đã đến giờ rồi hở anh? Em chỉ muốn ngồi mãi cùng anh trên bậc đá này để cùng anh ngắm dòng sông.


-  Nhưng thôi, anh hãy đi đi, em đâu có dám giữ người chiến sĩ ra trận ? Anh đi chiến đấu rồi trở về, em đợi anh ! -  Mai nói và quay đi che giọt nước mắt lăn trên má.


Vũ đứng lên đeo ba lô, liếc nhìn quanh rất nhanh, anh ôm chầm lấy Mai. Hai đứa hôn nhau -  Tạm biệt.


 


Đoàn tàu chở quân từ các tỉnh phía Bắc chi viện cho mặt trận Hà Nội . Cứ đến mỗi ga là dừng lại đón quân. Vũ ngó nhìn qua cửa sổ tàu, dưới ánh sáng mờ mờ thấy những bóng người vun vút nhảy lên tàu . Đến ga Phủ Từ, có cả những chú thiếu niên Đình Bảng đội mũ ca lô, và những chàng trai Nội Duệ cuối câu hay nói thêm hai tiếng nhợ nhợ.


    Chập tối hôm ấy, đoàn tàu chở Vệ quốc quân từ đất Kinh Bắc chi viện cho mặt trận Hà Nội, đã đến nơi. Quang Vũ nhảy xuống trước, huýt còi, bộ đội tập hợp. Bây giờ anh đã là đại đội trưởng, dẫn đầu đoàn quân ra khỏi ga, tiến về Hà Nội trong đêm tối mờ mờ. Vũ đang đi, bỗng có tiếng gọi Quang Vũ! Anh nhìn thấy vợ chồng Phán Lâm, mỗi người một tay dắt con, vai đeo túi đựng quần áo đang đi ngược lại, lẫn trong đoàn người từ Hà Nội đi tản cư. Phán Lâm, có người em trước kia học cùng lớp với Vũ ở trường Bưởi, nay gặp lại anh vui vẻ nói:


-  Moa cùng madam đưa các con tản cư về sông Cầu. Hà Nội đang chờ các chiến sĩ, hãy tiến lên!


 Quang Vũ cùng các chiến sĩ tươi cười giơ tay vẫy vẫy. Đoàn người tản cư reo vang:


-  Ngày mai chiến thắng ta sẽ về lại thủ đô !


Đại đội của Quang Vũ nhanh chóng, lặng lẽ chiếm lĩnh những căn nhà trên một đoạn phố dài thuộc liên khu một quận Hoàn Kiếm. Quang Vũ được báo mở đài thu thanh, đặt sát máy nghe vào tai chờ lệnh.


Bỗng tiếng Bác Hồ cất lên đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.


 Lời kêu gọi như lời hịch của núi sông, vang vọng từ ngàn đời:


“… Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.


Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.


Hỡi đồng bào !


Chúng ta phải đứng lên !”


    Lời kêu gọi hào hùng vừa dứt, đèn Hà Nội vụt tắt, cả thành phố chìm trong bóng đêm. Pháo đài Láng gầm lên bắn những phát đại bác đầu tiên vào trại giặc, các chiến sĩ toàn thành phố nổ rền vang tiếng súng -  Cuộc chiến bảo vệ thủ đô bắt đầu !


Quân ta được lệnh tiết kiệm đạn, chỉ bắn vào mục tiêu trước đó đã quan sát thấy. Quân địch bị đêm tối che mắt, chúng bắn lung tung như vãi đạn. Bộ đội của Vũ ngay khi đạn đại bác phát nổ, các chiến sĩ đã diệt gọn một ổ chiến đấu lẻ của một tiểu đội lính Pháp. Toàn thành phố, các ổ chiến đấu canh gác của địch đều bị tiêu diệt ngay từ phút đầu.


Nửa giờ sau, quân Pháp mở đợt phản công ra đường Hàng Đậu và Tràng Thi, chiếm bốt Công an Hàng Trống. Sáng hôm sau giặc Pháp cho xe tăng mở đường tiến vào Nhà hát Lớn, Bắc Bộ phủ và Bưu điện. Pháo binh của ta đã đo đạc căn sẵn mục tiêu, cứ thế phát nổ, khiến quân địch chạy tán loạn. Đại đội của Vũ được lệnh phân tán chiếm lĩnh các nóc nhà cao, các góc phố có lợi thế nhất. Quân địch hành quân dưới đường bị bắn từ trên xuống. Chúng tập hợp lực lượng xông vào nơi bắn xuống, lại gặp các ổ đề kháng quanh đó bắn chặn lại, khi vào được chỉ thấy ngôi nhà trống vắng. Chúng quay ra, lại bị lựu đạn và bắn tỉa từ một nóc nhà khác. Địch chết và bị thương, khiêng nhau rút chạy. Đến trưa máy bay địch lượn trên bầu trời Hà Nội bắn phá một số nơi chúng nghi ngờ. Súng cao xạ của ta từ dưới bắn lên để lại trên cao những đám khói trắng. Cuộc chiến đấu tại Bắc Bộ phủ đang gay go quyết liệt. Đại đội trưởng Quang Vũ và chính trị viên Lê Cường được lệnh dẫn một trung đội chi viện cho Bắc Bộ phủ. Trung đội đóng chốt một góc tòa nhà. Hai bên bắn nhau dữ dội suốt nửa ngày. Cuối cùng quân ta gần hết đạn. Quân địch đông, hỏa lực mạnh ào ạt tiến vào. Chính trị viên Lê Cường yêu cầu Quang Vũ dẫn bộ đội rút sang nhà bên, củng cố lực lượng, tăng thêm đạn dược chuẩn bị đánh tiếp, còn mình thì ở lại với một trái bom. Vũ đề nghị ở lại thay chính trị viên. Lê Cường nói: Tôi là Bí thư chi bộ Cộng sản chỉ thị cho đồng chí, là đảng viên phải chấp hành, đi đi, địch sắp đến rồi. Trung đội vừa rút sang nhà bên, thì địch tràn vào Bắc Bộ phủ. Lê Cường giật bom dể tiêu diệt toán quân Pháp đầu tiên xông vào gần, nhưng bom tự tạo không nổ, anh đã anh dũng hy sinh !


Đêm hôm ấy, Quang Vũ cùng các chiến sĩ làm lễ truy điệu mặc niệm liệt sĩ Lê Cường và các đồng đội đã hy sinh anh dũng. Toàn thể bộ đội xin thề noi gương đồng chí chính trị viên của mình và các đồng đội đã hy sinh chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ Thủ đô.


Cứ thế, suốt hai tháng sau, đơn vị phân tán từng tổ ba người một, trụ trên các nóc nhà các góc phố bám sát địch, tiêu diệt địch. Địch và ta ở quá gần. Có lúc tưởng như chỉ ho một tiếng là địch nghe thấy. Chốc chốc lại một tên Pháp bị ngã lăn ra vì một viên đạn bắn tỉa từ một nơi rất khó phát hiện. Có khi một chiếc xe tăng bị khựng lại tung xích vì một trái bom ba càng, người chiến sĩ ấy cũng hy sinh luôn với trái bom !


Giữa hai trận đánh, địch rút, các chiến sĩ cử người cảnh giới còn lại thì nằm ngửa nhìn lên bầu trời, qua những mái nhà bị sập, có anh hát nghêu ngao. Quang Vũ nhìn ngắm các chiến sĩ của mình, anh thấy thật lạ. Những chàng trai cô gái kia, cách đây vài ngày họ còn cầm cày, cầm cuốc trên thửa ruộng của mình hoặc hí hoáy bên chiếc máy đầy dầu mỡ, mà nay đã chiến đấu thoắt ẩn thoắt hiện, bắn chết hết tên lính Pháp này đến tên lính Pháp khác như những chiến binh thực thụ. Có những em nhỏ chỉ tám chín tuổi và những cô gái mới lớn, tưởng như họ trước đây vài ngày ở nhà, đêm đến còn sợ “ma” không dám ra ngoài. Thì hôm nay họ băng mình trong đêm làm liên lạc, xông ra giữa làn đạn giặc để băng bó cho thương binh, chẳng có chút sợ hãi gì. Họ xung phong giết giặc và xông vào cái chết tự nhiên như hàng ngày họ đến trường học, họ đi cày hay đến xưởng máy. Cái gì đã làm nên những điều lạ đó? -  Phải chăng sự dũng cảm ấy bắt nguồn từ truyền thống yêu nước đánh giặc và tư tưởng độc lập tự do từ ngàn đời cha ông đã truyền trong máu họ, tạo nên sự dũng cảm vô song !


Cứ thế, các chiến sĩ, dân quân tự vệ thủ đô đã chiến đấu bao vây, chặn giặc. Địch đối phó bị động, tiến đằng trước bị đánh đằng sau, quay lại đằng sau bị đánh bên phải hoặc bên trái, không biết đâu mà lần. Sau này một nhà báo Pháp đã viết “chỉ 5 kilômét, nhưng quân Pháp đã đi mất 27 ngày, với tốc độ bình quân 200 mét một ngày”.


Quang Vũ cùng các chiến sĩ đã chiến đấu và ăn cái Tết Đinh Hợi giữa vòng vây địch. Các cô thiếu nữ thủ đô mang đến cho các chiến sĩ đủ cả bánh chưng, giò, chả…Địch đến gần, họ vừa nhai, vừa bắn địch. Địch rút bỗng vút lên tiếng đàn phong cầm của một nhạc sĨ chiến sỹ nào đó đã cất lên từ trong căn nhà có đống gạch đổ nát. Giặc Pháp đóng quân quanh Hồ Gươm, nhưng sáng mùng một Tết chúng ngạc nhiên thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên tháp rùa. Chiến sĩ và nhân dân Hà Nội truyền tin đó cho nhau, vô cùng phấn chấn.


Trong thư gửi các chiến sĩ quyết tử quân thủ đô Bác Hồ viết: “Các em ăn tết thế nào ?... Tôi và Chính phủ nhớ các em không ai nỡ ăn tết… Đồng bào ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.


Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh… Các em hăng hái tiến lên. Già Hồ cùng toàn thể đồng bào, luôn luôn ở bên cạnh các em...”.


Cuộc chiến đấu cầm chân địch ở Hà Nội để hậu phương có thời gian chuẩn bị kháng chiến dự kiến trong vòng một tháng. Các chiến sĩ quyết tử Thủ đô đã giữ được Hà Nội trong hai tháng chưa rơi vào tay địch. Họ còn muốn tiếp tục ở lại Thủ đô chiến đấu nữa. Nhưng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh cho họ rút ra, củng cố lực lượng để đánh địch những trận mạnh hơn, to lớn hơn. Khi quân dân ta bắt đầu nổ súng chiến đấu tại Hà Nội, chỉ có những đơn vị tân binh Vệ quốc đoàn nhỏ lẻ, cùng các lực lượng dân quân tự vệ gồm nam phụ lão ấu. Họ chưa một lần tập luyện quân sự tại trường lớp, đây là lần đầu tiên họ đánh trận. Ấy mà khi kết thúc chiến đấu tại Hà Nội, họ đã trở thành những chiến sĩ trong Trung đoàn Thủ đô, gan góc, dạn dày khói súng. Sau này Trung đoàn Thủ đô vừa đánh giặc vừa phát triển lớn mạnh cùng một số đơn vị bạn tập trung trở thành Sư đoàn Quân tiên phong, mà mỗi khi nghe tiếng Sư đoàn ở đâu là thực dân Pháp bạt vía kinh hồn.


    


    Trên đường rút quân ra Việt Bắc, Quang Vũ đã chứng kiến bao hình ảnh người Kinh Bắc lập chiến lũy cản giặc. Đơn vị đi qua bao làng quê đã rào làng chiến đấu. Những hầm hố và giao thông hào được đào sẵn. Những lò rèn nông cụ đã mau chóng biến thành công binh xưởng nhỏ để rèn đúc vũ khí thô sơ. Những đoạn đường quốc lộ và đường nhánh bị đào bới, đường sắt bị bóc thanh ray… tất cả để ngăn chặn địch. Những cô gái nông thôn trước đây vốn rụt rè, nay thắt bao đạn ngang lưng, tay cầm súng, cùng các anh du kích hiên ngang đứng gác sẵn sàng chờ địch đến là đánh. Một điều lạ là không khí chiến tranh như vậy, mà trên lưng mỗi bà mẹ đi cấy, trên ngực mỗi ông bố đi cày, họ vẫn đeo cái mẹt ghi chữ A, B, C…. để mọi người trông thấy học ghép vần.


Tại Đáp Cầu, công cuộc chuẩn bị kháng chiến diễn ra chưa từng thấy. Ông Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến là nhà giáo người họ Nguyễn, sau khi đứng ra kêu gọi bà con dân phố phá hoại nhà cửa, thì ông tự tay cho nổ mìn đổ sập căn nhà của mình. Cả một dãy phố dài, trước đó là nhà cao cửa rộng, chỉ vài ngày sau dân chúng đã tự tay biến thành những đống gạch đổ nát. Dân làng Đáp Cầu coi đó là hành động yêu nước, tiêu thổ kháng chiến, làm theo cách ông cha xưa tạo vườn không nhà trống để đánh giặc. Trên mặt đường phố cũng học theo cách của Hà Nội, lập nhiều chiến lũy bằng những bao cát, bằng tủ chè, sập gụ, bàn ghế, giường, phản, từ các nhà dân mang ra. Người dân tản cư, để lại sau lưng đường phố hoang tàn. Các nhà máy điện, máy gạch bị phá hỏng. Công nhân nhà máy giấy Đáp Cầu, bằng trí lực và sức cơ bắp của mình đã tháo máy, khênh đi hàng ngàn tấn máy móc đưa lên Việt Bắc, lắp ráp thành nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, cung cấp đủ giấy cho vùng chiến khu Việt Bắc. Đầu năm 1947, giặc Pháp đến Đáp Cầu chỉ thấy “đường phố chết”, chúng không dám ở lại lâu, mãi sau này mới dám đóng quân ở đây.


Lại kể về nhà ông Cò. Hồi này gia đình bà Ba cùng Hà My, vợ chồng con cái nhà Phán Lâm đã tản cư về đây. Lũ trẻ gặp nhau đông vui, tha hồ chơi đùa. Tưởng như chiến tranh ở đâu xa lắm. Vùng quê này thanh niên vẫn tổ chức những cuộc vui chơi trò kéo co, đánh vật để chuẩn bị sức khỏe đánh giặc. Cò Vàng, Cò Đỏ cùng Hà My và hai con của bà Loan cũng chia nhau kéo co, vật nhau. Có lúc con gái thắng vật con trai và ngược lại. Ai bị thua thì cho Cò Xanh bé nhất được cưỡi lên lưng làm ngựa nhong nhong. Một vài đơn vị Vệ quốc đoàn lần lượt về đóng quân ở làng này. Bộ đội đến đâu mang tiếng hát đến đó. Bà Ba cùng bà Loan dẫn một số bà trong Hội Mẹ chiến sĩ mang những tấm áo do các chị các mẹ đan tặng các chiến sĩ. Đến nơi, bà Ba chợt nhận ra người đại đội trưởng là Quang Vũ, bà Loan cũng nhận ra người quen. Họ nói chuyện vui vẻ lắm. Qua câu chuyện bà Ba có nhắc đến Xuân Mai. Vũ hỏi thăm, bà cho biết cô Mai đã theo ông Đức tản cư lên Lạng Giang rồi, nghe nói cô ấy đang đi học một lớp sư phạm dạy văn, sẽ về dạy học ở vùng tự do. Bà Ba và bà Loan về kể cho ông Cò biết tin Quang Vũ đang ở đây. Họ nói với ông Cò nên mời bộ đội về nhà mình để chăm sóc bồi dưỡng cho họ, vì bộ đội vừa rời mặt trận về trông ai cũng xanh xao. Cụ Mận và ông Cò cùng bà Hai đều vui vẻ nhận lời và giao cho bà Ba đến mời bộ đội. Hôm sau Vũ dẫn đơn vị đến đóng quân tại căn nhà rộng ở phía sau nhà kính, nơi đó có cái sân rộng mênh mông tha hồ tập tành. Hàng ngày bà Ba đôn đốc gia nhân nấu những món ăn ngon đưa đến cho bộ đội ăn. Bộ đội ở đây được ba ngày, thì có lệnh hành quân vượt qua sông Đuống đánh địch càn quét.


                              


   Lần này bộ đội về nam phần Bắc Ninh có cả một tiểu đoàn gồm ba đại đội, mỗi đại đội chốt ở một xã chờ địch đến là đánh. Hôm ấy, do thám của quân Pháp nắm được tin tức, biết được nơi bộ đội ta phục kích, chúng cho máy bay đến bắn phá ác liệt, tiếp đó là nã pháo dữ dội, rồi dùng cơ giới lội nước băng qua những cánh đồng chiêm trũng đầy nước, bộ binh theo sau tiến vào. Trận càn này địch huy động quân đông gấp ba lần quân ta, lại thêm pháo binh và cơ giới bao vây bốn mặt. Thấy tương quan lực lượng bất lợi, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh cho bộ đội rút lui. Hai đại đội vừa đánh vừa rút ra khỏi vòng vây, bị thương vong khá nhiều. Còn đại đội của Quang Vũ mất hẳn liên lạc vì người mang lệnh rút bị thương. Sau đó chỉ huy tiểu đoàn cho trinh sát tìm kiếm mãi không thấy đại đội của Quang Vũ đâu, đã báo cáo lên trên là đại đội này bị mất tích!


Sau trận càn, cả một vùng nam phần Bắc Ninh xơ xác, hàng trăm người dân bị địch giết chết. Nhiều chị em bị giặc thay nhau hãm hiếp đến chết, phơi thây ngoài đồng. Những em nhỏ bị chúng quẳng vào đống lửa. Đâu đâu cũng trắng khăn tang ! Nhân dân ngùn ngụt căm thù. Trong bài thơ Bên kia sông Đuống nhà thơ Hoàng Cầm đã viết:


Quê hương ta từ ngày khủng khiếp


Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn.


Một thời gian sau bỗng có tin báo cáo về Bộ Chỉ huy là: Tại Nam phần Bắc Ninh gần đây xuất hiện những trận đánh tiêu diệt những toán quân địch hành quân nhỏ lẻ. Quân Pháp bị phục kích đánh nhiều lần, cộng lại hàng trăm tên chết và bị thương. Chúng quyết tìm diệt bằng được đơn vị này. Nhưng địch không thể tìm nổi, vì lực lượng này chia nhỏ ra sống lẫn với dân, được dân nuôi, dân bao bọc. Nay bộ đội đánh chỗ này, mai tập kích ở chỗ kia cướp súng đạn của giặc, đánh giặc, khiến địch không biết đâu mà lường. Cấp trên lúc đầu không biết được những trận đánh phục kích đó từ đâu. Sau đấy đã liên lạc được với đơn vị này.


 Hóa ra đơn vị đánh địch xuất quỷ nhập thần ấy lại là đại đội của Quang Vũ! Lần bị địch vây bọc đầu tiên, không liên lạc được với Ban chỉ huy Tiểu đoàn, Quang Vũ đã cùng các chiến sĩ mở đường rút ra và phân tán trong dân. Tại nơi đây Vũ không bao giờ quên hình ảnh người du kích quê quán ở vùng đó tên là Bốn. Khi đơn vị bị địch bao vây bốn mặt, Bốn đã dẫn đường hẻm cho cả Đại đội thoát khỏi vòng vây về lại làng của mình, nơi địch vừa mới tràn qua. Về đến nơi thì cả xóm đã bị đốt cháy tan hoang . Vợ anh và cu Dần con trai duy nhất của Bốn đã bị giặc bắn chết quăng xác vào đống lửa lẫn với tro tàn. Bà con xóm làng nhà nào cũng trắng khăn tang! Anh ôm vợ ôm con khóc, rồi tự tay đào huyệt chôn vợ chôn con! Xong việc, anh gạt nước mắt báo cáo với đại đội trưởng Quang Vũ cho anh được tòng quân giết giặc trả thù cho vợ con. Quang Vũ nhận lời. Vũ chọn ra những du kích khỏe mạnh và thông thạo đường đi lối lại, dẫn đường cho từng tiểu đội thâm nhập vào dân và chuẩn bị phục kích đánh địch khi chúng rút. Vũ nghĩ trên giao cho đơn vị mình về nam phần Bắc Ninh để đánh giặc, chưa có lệnh rút hoặc chuyển quân thì vẫn phải bám trụ chiến đấu. Vũ và chính trị viên lấy tội ác có thật do địch gây ra để giáo dục các chiến sĩ lòng căm thù nâng cao quyết tâm tiêu diệt địch. Anh chia đại đội phân tán lẫn trong dân, mỗi trung đội chốt một xã, mỗi tiểu đội phục ở một thôn. Đơn vị của anh mặc quần áo như dân, làm đồng cùng dân, địch đến là đánh. Khi có thời cơ thì tập trung quân tập kích tiêu diệt từng nhóm địch nhỏ lẻ. Quân ta thoắt ẩn thoắt hiện, khiến cho địch bị tiêu hao sinh lực, mà không biết Việt Minh ở đâu mà tập trung binh lực để tìm diệt. Trong những ngày này, đại đội trưởng Quang Vũ luôn luôn cùng đơn vị cơ động và chỉ đạo chú liên lạc viên Văn Minh cùng tân binh Bốn chia nhau lội đồng như con thoi đến hết xóm này đến xóm khác truyền đạt mệnh lệnh tác chiến . Sau đợt chiến đấu này anh Bốn đã lập được một số chiến công ngay trên mảnh đất quê hương của mình.


 Khi nghe báo cáo về thành tích chiến đấu của đại đội Quang Vũ, cấp trên đã cử người đến tận nơi nghiên cứu rút kinh nghiệm. Chẳng bao lâu sau, phương thức tác chiến hiệu quả được rút kinh nghiệm khởi nguồn từ bộ đội ở nam phần Bắc Ninh, cùng cách đánh “ lấy yếu đánh mạnh” ở nhiều nơi khác đã được Bộ tổng đúc kết thành chủ trương chiến thuật “ Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Phương thức này chỉ đạo toàn quân, phát triển ở khắp nơi từ miền Bắc đến miền Trung và đồng bằng Nam Bộ, khiến cho địch bị động chống giữ. Các “đại đội độc lập” này hỗ trợ cho dân quân du kích phát triển cách đánh du kích, xây dựng làng chiến đấu ở khắp nơi nơi. Khi có thời cơ thì tập trung cả tiểu đoàn tiêu diệt từng đại đội địch. Nhờ vậy chiến tranh du kích phát triển ở nhiều nơi khá nhanh ; Bộ đội chủ lực có điều kiện tập trung đánh những trận lớn.


                             


 Dọc đê sông Cầu.


Sau khi càn quét nam phần, địch quay sang Bắc phần tỉnh Bắc Ninh và phía Nam Bắc Giang, chúng liên tục càn quét dọc sông Cầu. Lần này đi đôi với càn quét bắn giết và bắt bớ, giặc Pháp dùng chiêu mua chuộc, lập hội tề. Nhiều làng xuất hiện lý trưởng mới. Phần đông là tề hai mang, ban ngày giao dịch với địch, tối đến liên lạc với ta.


Trong một trận càn, ông Cò bị địch bắt đưa lên nhốt ở chân núi Đáp Cầu. Được một ngày, có một tên lính Pháp đến đưa ông đi. Ông sợ hãi hết hồn, tưởng phen này thì chắc chết đến nơi. Lát sau, chúng đưa ông đến căn phòng rộng rãi lịch sự. Một người Pháp đứng tuổi, mặc thường phục, bệ vệ bước ra chào và giơ tay bắt. Ông Cò nhìn kỹ, vội thốt lên:


-  Ngài là An-  be?


-  Đúng rồi, quả đất tròn mà, tôi đã gặp lại được ông Chánh. Cảm ơn ông Chánh về việc năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm đã cứu tôi, khi Nhật đảo chính Pháp.


-  Sao các ngài lại bắt tôi?


-  Không, không. Xin lỗi ông Chánh, đây chỉ là “bùa phép” thôi. Ông sẽ nghỉ ở cái phòng sang trọng này, có người phục vụ, cơm bưng nước rót. Chúng ta cùng uống Sâm -  banh và bàn tính nước cờ sắp tới, xem ông sẽ cộng tác với tôi như thế nào để có lợi cho ông và có lợi cả cho tôi ?


Thời gian này giặc càn liên miên, mẹ con Hà My đưa nhau tản cư lên Hiệp Hòa, Bắc Giang. Còn vợ chồng con cái Phán Lâm thì dắt nhau sang chợ Phủ. Khi giặc càn đến nơi, gia đình Phán Lâm lại tản cư lên Đại Từ- Thái Nguyên. Cò Đỏ, Cò Xanh không còn người để đùa, nhớ Hà My và các con cô Phán Lâm suốt mấy ngày. Trông chúng hơi ỉu xìu.


Hơn một tháng trôi qua, ông Cò “được Tây tha về”. Ông nói với mọi người là ông bị Pháp bắt là vì đã cộng tác với Việt Minh. Ông vẫn giữ mối liên hệ với Mặt trận Việt Minh huyện, cho người gánh thóc ra khu du kích ủng hộ kháng chiến. Rồi một đêm, ông gọi Năm Sành đến giao cho y đứng ra làm Lý trưởng hội tề nói là “hai mang”. Nhưng mọi việc phải báo cáo với ông để ông chỉ đạo. Ông rút túi đưa cho Năm Sành một bọc tiền Đông Dương dùng làm chi phí.


Trang trại ông Cò nằm xa đồn bốt giặc, lại tiếp giáp với khu du kích. Đêm đêm người kháng chiến vẫn hoạt động, thỉnh thoảng bộ đội vẫn qua lại. Cò cho người theo dõi sát. Rồi một đêm tối trời, cán bộ huyện về họp bí mật với các cán bộ Việt Minh ở tổng Giang Cầu tại một căn nhà hẻo lánh giữa đồng. Đột nhiên quân Pháp và quân ngụy đến vây chặt. Hầu hết những người dự họp hôm đó đều bị địch bắt đưa về giam giữ tại chân núi Đáp Cầu. Riêng ông Văn Cầu chạy thoát. Ông Cầu vốn biết rõ về hành tung của tổng Cò. Ông cho người bám sát theo dõi việc làm mờ ám của Cò, đã khiến Tổng Cò nhiều lúc lo mất ăn mất ngủ. Lần này Cò quyết bắt bằng được ông Cầu. Y sai Năm Sành theo dõi nhiều đêm và đã bắt được ông Cầu. Chúng bí mật đưa ông Cầu về giam tại hầm nhà của Cò. Y không ra mặt, sai Năm Sành tra tấn bằng cách bơm nước đầy bụng dận mạnh cho nước trào ra, rồi lại bơm nước, lại dận mạnh… Cứ thế chúng đòi phải khai ra xem ở Giang Cầu này còn ai là Việt Minh? Văn Cầu không chịu khai ra đồng đội. Nhưng nghi ai, chúng vẫn bắt tiếp. Dân tình hoang mang lo sợ. Lực lượng võ trang huyện hạ quyết tâm tìm cho ra kẻ nào làm tay sai cho địch phá nát cơ sở cách mạng ở Giang Cầu.


Tổng Cò dạo này thận trọng hơn. Mỗi khi giữa đám đông, hắn “đóng kịch” tỏ vẻ bất mãn với Pháp về việc bắt y. Hắn vẫn giữ mối liên hệ với Mặt trận Việt Minh huyện và thường xuyên ủng hộ lương thực cho kháng chiến. Nhưng y cũng hiểu rằng mình đang là đối tượng nghi vấn của Việt Minh. Ngày đêm hắn suy nghĩ cách “thoát hiểm”. Trước hết, hắn sai Năm Sành bí mật giao Văn Cầu cho người Pháp, đồng thời xóa sạch các dấu vết ở nhà hầm. Tiếp đến hắn bí mật đề nghị An - Be cho loan tin nửa kín nửa hở về việc khen thưởng Năm Sành có công “xóa sổ” Việt Minh tại Giang Cầu. Cuối cùng y cho người đầu độc Năm Sành, rồi tung tin Năm Sành bị cảm mạo trúng gió chết. Làm xong các việc trên, Cò hí hửng nghĩ là đã bịt được đầu mối, để thoát hiểm. An -  be đánh giá cao công lao của Cò và nhắc Cò “nằm im” một thời gian.


Tất cả những việc làm như trên của Cò đều không qua mắt được bà mẹ. Cụ Mận gọi Cò đến bảo:


-  Từ ngày con đi gặp bọn Tây về, làm nhiều việc thất đức quá. Đừng làm vạ lây đến cả nhà. Hãy chấm dứt đi, không thì chết lúc nào không biết đấy con ạ !


Cò chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện. Y biết là bà mẹ lo cũng không quá. Nhưng y biết mình tay đã trót “nhúng chàm” rồi, “đâm lao phải theo lao” không thể dừng lại được. Dừng lại bọn Pháp sẽ chẳng tha, mà làm tiếp thì Việt Minh cũng chẳng để yên . Chỉ còn cách là dung hòa cả hai bên, che đậy cho khéo. Biết đâu sau này Pháp thắng thì tổng Cò này sẽ hiển vinh. Nếu Việt Minh thắng, thì Tổng Cò cũng được tiếng ủng hộ cách mạng và Cò Vàng con ông cũng đã đi kháng chiến cơ mà.


Cả An- be và Cò đều nhầm. Lực lượng cách mạng ở Giang Cầu không mất hẳn. Một lớp cán bộ Việt Minh trẻ, là con em của những người bị địch bắt địch giết, đã tập hợp lại hoạt động chống Pháp hăng hái hơn. Họ cảnh giác với Cò, nhưng vẫn sử dụng Cò làm những việc có lợi cho kháng chiến.


Về phần bà Hai, bà vốn là người được bố mẹ là cụ Tú, một gia đình gia giáo đã giáo dục từ nhỏ là: Thương người như thể thương thân, kính trên nhường dưới, vợ chồng phải yêu thương nể trọng nhau… Nhưng càng ngày bà càng thất vọng về ông chồng. Từ lâu ông không mấy quan tâm đến vợ con. Từ ngày đi lên đồn Tây về thay đổi tính nết, chỉ nghĩ chuyện bắt bớ, tra khảo người, kể cả tra khảo ông Văn Cầu là anh em họ của Cò. Suốt ngày Cò say xỉn, quát nạt ầm ĩ. Tệ bạc nữa là y công khai ăn nằm với cô Na, trong lúc chồng cô đi đưa người Tây sang Tàu, chưa về. Có lúc Na khóc với bà Hai, nói là ông Cò chẳng mấy ngày là thôi hành hạ thân xác cô, cô rất khổ tâm, mà không làm gì thoát nổi. Bà Hai buồn chán. Những lúc này bà lại càng nhớ đến Cò Vàng, chẳng biết bây giờ nó ở đâu! Gần đây bà bắt đầu bị chứng mất ngủ, mỗi khi chợp mắt thì mơ những cơn ác mộng. Trông bà dạo này có lúc như người mất hồn.


Về phần bà Ba. Kháng chiến bùng nổ, cũng như mọi gia đình khác, bà cũng tự tay phá bỏ nhà của mình để tạo vườn không nhà trống đánh giặc. Trước đó bà đã tham gia các hoạt động xã hội như cứu đói, chống giặc dốt ở làng. Bà thấy tổng Cò càng ngày càng xa bà. Ông không ưa những việc làm của bà, mà ông cho rằng quá ư tự do và trái với ý ông. Vợ chồng bà ít khi gặp nhau, mà có gặp thì cũng không biết nói gì với nhau. Khi hai mẹ con bà tản cư về làng Dưới, bà đă chứng kiến cảnh tổng Cò hành hạ thân xác cô Na, chứng kiến sự lạnh nhạt và gần như đày đọa vợ cả là chị Hai của bà, rồi chửi bới đánh đập các gia nhân. Khi giặc càn đến nơi, bà cùng Hà My đi tản cư, vừa là chạy giặc, vừa tránh khỏi cái cảnh phải chứng kiến sự chướng tai gai mắt.


Từ ngày giặc Pháp quay trở lại Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, gây đau thương tang tóc cho toàn dân tộc Việt, giặc Pháp gây nỗi đau cho mọi gia đình, kể cả gia đình giàu có cũng gặp những bi kịch, khi có người theo giặc, như gia đình bà Hai.


Hàng ngày, hàng đêm, giặc Pháp vẫn tiếp tục càn quét giết chóc. Nhân dân chất chứa hờn căm. Các chiến sĩ bộ đội, cùng lực lượng dân quân biến căm thù thành sức mạnh, dồn lên mũi súng, đường lê, cây chông… Đâu đâu cũng có phong trào giết giặc lập công.


*


    Lại kể về Hai Nhẫn. Anh vào lại Sài Gòn giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam Bộ bùng nổ. Giặc Pháp liên tục đánh nống ra, đi đến đâu là bắn là giết, nhằm khủng bố tinh thần người Nam Bộ. Nhưng giặc Pháp đã lầm to. Chúng càng tàn sát thì quân dân Nam Bộ càng căm thù, vùng dậy, tiêu diệt chúng. Người Pháp tuy đã xâm lược dưới nhãn hiệu đô hộ An Nam cả gần trăm năm, nhưng chúng vẫn không hiểu con người và văn hóa Việt Nam; cũng như không hiểu con người và văn hóa cùng lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ. Từ gần một ngàn năm trước, tổ tiên họ đã từ Bắc vô Nam “ Mang gươm đi mở cõi” . Họ là những người can trường và dũng cảm trong số những người dũng cảm nhất trên trái đất này. Họ là những người trọng nghĩa khí, sống hòa cùng thiên nhiên, vui vẻ thoải mái với cộng đồng, ít ai bì. Những người đàn bà mạnh mẽ và chân thật, ít tự tI hơn các vùng khác. Những người đàn ông quanh năm chỉ mặc chiếc quần xà lỏn, da đen trùi trũi, khai phá đất hoang tạo ra vùng Đồng Tháp Mười mênh mông . Chỉ bằng đôi tay, trong nháy mắt họ túm chặt đuôi con trăn gió dài vài mét, quay tít, rồi cho vào rọ; Họ nắm đầu con rắn hổ cực độc chỉ bằng cái khoát tay, xả thịt chúng ra, nổi lửa trên đồng cỏ nướng thịt, xúm nhau vào ăn nhậu; rồi ca những khúc ca vọng cổ mùi mẫn và nghe những nghệ nhân dân gian đờn ca tài tử. Họ yêu cuộc sống yên bình. Nhưng đâu đó gặp chuyện bất bình, người yếu bị kẻ mạnh ức hiếp thì họ không tha. Thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất; người Nam Bộ mặc cho triều đình nhà Nguyễn có vị vua hàng giặc, vẫn tụ tập nhau lại theo ngọn cờ chống giặc của cụ Trương Công Định và Nguyễn Trung Trực. Chỉ bằng vũ khí thô sơ, họ dám đánh “ tàu đồng tàu sắt” của quân Pháp trên sông Cửu Long Giang. Lực lượng đánh giặc bao gồm cả đàn ông đàn bà và trẻ nhỏ. Họ phát huy truyền thống Việt Nam: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Họ phát huy tinh thần ấy, “Còn một lai quần cũng đánh”, đánh, đánh giặc, nhào dzô “liều mình như chẳng có” !


    Điều mà xa xưa người Nam Bộ chưa có là thiếu một tổ chức lãnh đạo phát huy đầy đủ sức mạnh của họ. Đầu năm 1930 vùng đất này đã có một tổ chức đó là Đảng Cộng Sản. Năm 1940, người Nam Bộ đã làm nên cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Năm năm sau, người Nam Bộ đã cùng cả nước bằng gậy tầm vông và giáo mác đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành chính quyền từ tay Nhật.


Nay giặc Pháp trở lại đất này lần thứ hai. Chúng càng bắn giết thì người Nam Bộ càng sục sôi giết giặc. Trên tuyến đường sắt xuyên Việt, liên tục ngày đêm các đoàn tàu nối đuôi nhau chở các chiến sĩ từ Bắc vô cùng đồng bào miền Nam đánh giặc’. Thời gian sau, giặc tràn đến, đâu đâu, ấp xóm nào cũng rào làng, đào hào, lập ra đội du kích, “lột sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm” và vạt nhọn gậy tầm vông, diệt giặc. Trai gái Sài Gòn lũ lượt bỏ thành phố tiện nghi vào bưng biền chiến đấu, họ đi đánh giặc mà như rủ nhau đi hội. Cả Nam Bộ, “lửa kháng chiến” bốc cao ngùn ngùn.


Trong số các chiến sĩ quê miền Bắc, có Hai Nhẫn; anh được Đoàn thể giao làm Chính trị viên thay ông Sáu Huỳnh đi làm Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp. Rồi một hôm, bên bìa rừng Đồng Tháp, tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy làm lễ xuất quân. Từng đại đội, trung đội, tiểu đội hàng ngũ chỉnh tề. Các chiến sĩ đồng loạt đội mũ tai bèo, quần áo bà ba đen, lưng thắt khăn rằn, đi dép lốp. Người cầm súng dài, kẻ tay mác, mã tấu hoặc gậy tầm vông vạt nhọn. Vũ khí còn thô sơ, nhưng ý chí chiến đấu của họ thì ngút trời. Hôm nay Long Vân và Hai Nhẫn đứng trước hàng quân. Sau khi cả đơn vị chào lá quốc kỳ, Long Vân đi dọc hàng quân giơ tay chào, duyệt đội ngũ, rồi mời Hai Nhẫn đọc lời thề:


-  Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam!


-  Đã đánh là thắng!


Tất cả các chiến sĩ trong hàng quân, sau mỗi câu Hai Nhẫn đọc, thì mọi người giơ cao những thứ có trong tay, đồng thanh hô lớn: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam! Ðã đánh là thắng!”


Trong những năm đầu kháng chiến và cho đến suốt chín năm, tiểu đoàn này đã làm trọn lời thề của mình. Họ vừa đánh giặc vừa phát triển, bổ sung cốt cán thành lập nhiều tiểu đoàn, trung đoàn bộ đội Nam Bộ. Tiểu đoàn đã gây bất ngờ cho người Pháp, ngay những trận đánh đầu tiên, bằng vũ khí thô sơ họ đã lập công lớn qua hai trận đánh nổi tiếng ở Mộc Hóa và La Vang, tiêu diệt và bắt sống lính Pháp nhiều hơn cả quân số của mình. Họ nhanh chóng trưởng thành, tiến đánh những trận phục kích trận địa chiến, cùng các đơn vị bạn đánh những trận lớn như Tầm Vu, La Ngà, Cổ Cò (Sa Đéc), Long Mỹ (Rạch Giá)… Phá hủy hàng trăm xe giặc, bắt sống tên quan năm Đờ Xêrinhe chỉ huy lữ đoàn lính Lê dương thứ mười ba, bắn chết cả tên quan năm Paruyt tổng tham mưu phó quân viễn chinh Pháp, thu được nhiều vũ khí địch, kể cả pháo 105 ly và 75 ly. Khi giặc Pháp mở chiến dịch bao vây Việt Bắc, thì tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy cùng quân dân Nam Bộ chia lửa bằng cách đồng loạt tập kích tất cả các vị trí của Pháp ở ven Sài Gòn. Tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy cùng các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung khác đã hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển, các huyện các tỉnh phía sau lưng đều có những căn cứ liên hoàn, có hàng ngàn ấp làng kháng chiến. Trong thời gian này, quân Pháp, ngụy quân và ngụy quyền cứ nghe đến tiếng tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy ở đâu là run lên sợ hãi.


Nhân dân tham gia kháng chiến bằng nhiều cách. Nhiều quãng đường bị đâm nát, cầu cống bị phá hủy, cơ sở hậu cần bị đốt cháy. Nhân dân đứng ra dựng những kè trên sông rạch, ngăn tàu chiến địch. Ở miền Đông những cánh rừng cao su của địch bị đốt cháy. Công nhân Sài Gòn đốt nhà máy xay, không cho địch vơ vét thóc gạo. Học sinh bãi khóa. Tiểu thương bãi thị phản đối Pháp xâm lược.


Một hôm Hai Nhẫn gặp được nhà thơ đồng hương Bắc Kỳ, một nhà thơ rất nổi tiếng về nhiều sáng tác trong đó có bài thơ “Lỡ bước sang ngang”. Ông tên là Nguyễn Bính, quê ở Nam Định, vào Sài Gòn từ trước Cách mạng Tháng Tám. Khi cuộc kháng chiến Nam Bộ bùng nổ, ông ra bưng biền viết báo làm thơ. Hôm ấy hai người tri kỷ, đã cùng uống rượu, rồi nằm gác chân lên nhau ở một chiếc lán giữa rừng. Họ kể cho nhau nghe chuyện về quê hương Bắc, về những trận đánh của tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy. Ngay đêm đó, nhà thơ không ngủ, một tứ thơ bật dậy trong ông. Ông đi dưới hàng cây rừng, ánh trăng chiếu xuống loang loáng qua các kẽ lá. Đêm đó ông đã sáng tác bài thơ Tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy. Bài thơ sau đã được phổ nhạc, mau chóng truyền đi khắp nơi. Hồi ấy, đi đến đâu cũng được nghe bài hát này. Các chiến sĩ hát, dân quân du kích hát và những người làm ruộng làm vườn cũng hát: Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang/ Cửu Long Giang sông trào nước xoáy/ Ai đã từng nghe tiếng tiểu đoàn/ Tiếng tiểu đoàn ba trăm le bảy/ Le báy, ba le bấy/ Tiểu đoàn đánh đâu được đấy/ Tiểu đoàn le bây…


Tiếng hát trên lan ra từ bưng biền đến vùng địch chiếm, đến nỗi bọn Pháp, ngụy quân, ngụy quyền cũng nghe thấy bài hát đó và run sợ.


 


   Sau mỗi trận đánh thắng lợi, đơn vị bộ đội của Hai Nhẫn lại rút về một địa điểm an toàn ngoài bưng biền. Quân dân lại liên hoan mừng chiến thắng. Bài hát Tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy lại vang lên, cùng những câu ca vọng cổ. Các má các chị Nam Bộ kéo đến thăm hỏi, vá quần vá áo cho các chiến sĩ, thay cho các chiến sĩ những bộ quần áo cũ rách nát, bằng những bộ quần áo bà ba mới. Các má đặc biệt quan tâm đến các chiến sĩ quê ở miền Bắc. Có lần khi vá áo cho Hai Nhẫn, một má già hỏi:


-  Hai nè, ở Bắc mày có vợ con chưa?


-  Thưa má, con có vợ và một đứa con rồi ạ.


-  Mày chắc nhớ vợ con lắm hử?


-  Vâng, thưa má, hết giặc con sẽ về với vợ con.


-  Kháng chiến còn dài, ủa mày đầu đã bạc, khi ấy già rồi tính sao đây ?


Hai Nhẫn nhìn má cười cười. Má nói tiếp:


-  Ta hỏi thiệt, mày nhìn đám con gái ấp này, ưng con nào cứ bảo, ta làm mai cho.


-  Ấy chết, má nói vậy, con đâu dám. Má xem đứa nào chưa vợ thì làm mai cho nó. Còn con thì khi nào kháng chiến thành công sẽ về Bắc.


Bao giờ kháng chiến thành công? Lắm lúc Hai Nhẫn ngồi một mình chợt nhớ đến vợ con ở quê nhà: Chồng ra đi biền biệt. Còn cu Tý chắc bây giờ cũng học xong, đến tuổi vào bộ đội rồi, nó sẽ chiến đấu ở mặt trận nào, có khỏe không? Vợ ông cũng gần bốn chục tuổi rồi, một mình còm cõi sống và đợi chồng con trở về! Ông mong đến ngày đó. Cứ lao vào hành quân, chiến đấu, rồi lại luyện quân, chỉnh huấn rồi chiến đấu tiếp… thì cảm thấy thời gian đi quá nhanh, kháng chiến đã qua một ngàn ngày, không nghỉ. Khi nghĩ đến vợ con ở quê, Hai Nhẫn lại thấy thời gian sao mà chậm chạp thế ! Anh nén tình riêng, lo đến nhiệm vụ đánh giặc…


Hai Nhẫn một lần được đọc tài liệu về lời dạy của Bác Hồ đối với người chỉ huy quân sự. Anh ghi lại trong cuốn sổ tay, ngày ngày đọc, tâm niệm và phấn đấu làm bằng được. Bác nói: Người chỉ huy phải Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Đối với binh sĩ cả trong chiến đấu và lúc chưa chiến đấu thì từ suy nghĩ của họ, từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, tới cái ăn cái mặc, nhất thiết phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với chiến sĩ thì dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi. Khi bảo đánh, họ sẽ hăng hái đánh… Đối với dân, bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi…


Các chiến sĩ trong tiểu đoàn đều yêu quý Hai Nhẫn, những lính trẻ gọi ông bằng chú Hai hoặc gọi bằng Ba (bố) Nhẫn. Có chuyện gì vướng mắc, họ thường tâm sự cùng ông, xin ông cho ý kiến. Ông như người bạn, người cha của cả tiểu đoàn. Long Vân coi Hai Nhẫn như người anh. Mọi việc phải giải quyết về chính trị tư tưởng và tổ chức Long Vân đều nhờ nơi Hai Nhẫn. Anh chỉ lo một việc duy nhất là tổ chức đánh địch sao cho có hiệu quả cao.


   Một hôm, có anh cán bộ huyện đến gặp Hai Nhẫn báo cáo: Chủ tịch huyện đề nghị ban chỉ huy tiểu đoàn cho anh em đến mang vịt về ăn, dọn dẹp, để chậm e thiu thối.


Hai Nhẫn hỏi:


-  Chủ tịch tặng vịt cho bộ đội, trước hết tôi thay mặt các chiến sĩ cảm ơn Chủ tịch và các anh bên Ủy ban. Xin cho biết chúng tôi được nhận bao nhiêu con để cử người đi nhận cho đủ?


-  Khoảng hàng nghìn con vịt !


-  Sao lại nhiều vịt thế ? Vịt ở đâu ra vậy?


-  Vịt này do dân họ lẳng lặng ban đêm mang đến chất đầy cổng nhà của Chủ tịch. Sáng ra Chủ tịch đi công tác sớm mở cổng bị vướng mới biết là có vịt !


-  Ủa sao vậy ? Dân cho thì hay quá ta ? Tại sao dân cho mà khi cho lại phải lẳng lặng bí mật và không có ai nhận sao?


-  Dân họ ném vịt vào cổng nhà Chủ tịch để phản đối việc Ủy ban huyện không cho dân mang vịt vào vùng địch bán. Chủ tịch thì bảo làm thế là bao vây kinh tế địch, còn dân họ bảo không cho mang vịt vào vùng địch bán thì lấy tiền đâu để dân mua thuốc men và quần áo cho chiến sĩ?


-  Càng nghe càng thấy chuyện lạ quá ta ! Vịt thì kêu quàng quạc, vài ba con kêu thì đã vỡ nhà, hàng ngàn con kêu, sao Chủ tịch ngủ vẫn không biết là vì sao ? Còn lực lượng bảo vệ phải biết chớ?


      Anh cán bộ huyện cười cười kể tiếp:


-  Hàng ngàn con vịt bị chặt đầu vứt đó làm sao mà kêu được ! Cán bộ bảo vệ biết, nhưng ngại Chủ tịch thức giấc, định sáng ra mới báo Chủ tịch. Ai dè Chủ tịch mở cổng đi công tác sớm.


-  Ủa vậy sao ? Chẳng trách lúc đầu anh nói Chủ tịch bảo bọn tôi lấy vịt, phải dọn dẹp, phải lấy nhanh, không đươc lấy chậm sợ lo thiu thối là vậy!


Nói đến đây, Hai Nhẫn và các chiến sĩ cùng ông cán bộ huyện ôm nhau phá lên cười về chuyện vịt.


Hôm ấy các chiến sĩ tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy và mấy cơ quan quanh huyện cùng nhân dân nơi đóng quân được liên hoan một bữa thịt vịt “ thả phanh”. Còn ông Chủ tịch huyện sau đó bị cấp trên phê bình về việc tự ý ngăn sông cấm chợ vịt, cho đây là việc làm không thực tế và không được dân đồng tình. Ông bị kiểm điểm và buộc phải xin lỗi dân. Còn các chiến sĩ cùng Hai Nhẫn, hôm ấy được bữa ăn no thịt vịt, lại được một trận cười vui vẻ. Cứ thế chuyện “con vịt” lan ra xa, lâu dần trở thành chuyện “ tiếu lâm” trong dân gian và lan truyền đến các đơn vị bộ đội miền Tây Nam Bộ. Có anh bộ đội vài chục năm sau tập kết ra Bắc, vẫn nhớ chuyện “con vịt” kể cho người Bắc nghe. Qua nghe chuyện “con vịt”, mỗi người bình luận theo cách riêng. Có lần, một ông lãnh đạo cấp cao nói rằng: Tính cách người Nam Bộ là thế, họ mạnh mẽ, ít chịu ảnh hưởng tư tưởng phong kiến; trái ý là họ đấu tranh liền; nếu cán bộ biết lắng nghe thì điều ấy có ích cho việc phát huy quyền dân chủ trong chiến đấu và xây dựng đất nước.


 


*


 Người Quan họ đi kháng chiến.


 Giặc Pháp lần lượt chiếm tỉnh Bắc Ninh. Người dân tham gia kháng chiến bằng nhiều cách: Không ở lại với giặc kéo nhau đi tản cư, một số đi dân công hoặc tình nguyện vào bộ đội… Cuộc chiến càng ngày càng kéo dài, quân Pháp chiếm được một phần đất, nhưng không chiếm được lòng dân.


  Bây giờ kể về những người ở vùng sông Cầu tản cư lên chiến khu Việt Bắc. Giặc Pháp càng càn quét mạnh, thì người tản cư ngày càng nhiều. Vợ chồng Phán Lâm cùng hai con đi khỏi Hà Nội, mỗi người chỉ có một túi xách tay và một ít tư trang. Họ nghĩ chẳng bao lâu sẽ trở về. Nhưng chiến tranh cứ tiếp diễn. Lúc đầu họ đến ở nhà ông anh là tổng Cò. Những ngày ở đây với lũ trẻ như một thiên đường. Chúng được sống và vui chơi, ăn uống no đủ tại một vùng quê đẹp và mới lạ. Khi thực dân Pháp càn quét đến nơi, họ phải dắt díu nhau chạy qua sông về phía chợ Phủ. Chợ Phủ trước đây là một chợ nhỏ. Khi xảy ra chiến tranh, chợ Phủ trở thành trung tâm giao lưu kinh tế giữa nam phần Bắc Ninh lên bắc phần Bắc Ninh rồi theo đường núi qua Yên Dũng lên vùng tự do. Vợ chồng Phán Lâm làm một cái lều nhỏ ở chợ bán nước giải khát để sống.


Khi địch càn quét đến vùng này, vợ chồng Phán Lâm cùng với nhiều người dân tản cư khác lại dắt díu nhau chạy lên ở nhờ nhà dân quanh chợ Đồn. Cuộc kháng chiến đã hòa mọi tầng lớp nhân dân thành một khối. Những người giàu tản cư về nông thôn sống chung với người nông dân nghèo khổ, họ được đối xử như những người thân, đi tới đâu cũng được mở rộng cửa đón tiếp với tình cảm đầm ấm.


Tại đây, toàn là đồi núi thâm thấp. Hai vợ chồng Phán Lâm hàng ngày đi kiếm củi đun nấu, tối đến ngồi tính lại thấy mấy thứ tư trang mang theo đã bán gần hết, thì lo lắng. Một hôm Phán Lâm đi thăm thú quanh vùng về, khoe với vợ là đã tìm được cách kiếm tiền để sống rồi! Ông kể rằng đã gặp được người quản gia cũ của bố mẹ mình, ông ta làm nghề bán thuốc rong. Qua câu chuyện, ông ta mách bảo Phán Lâm một số bài thuốc nam gồm lá lẩu làm thuốc chữa đau bụng, cảm mạo, công thức điều chế thuốc ghẻ lở và chống chấy rận. Từ hôm đó, Phán Lâm lên rừng hái cây thuốc và đi tìm mua những thứ cần thiết để điều chế. Suốt ngày hai vợ chồng kỳ cạch băm lá và giã thuốc. Bà Loan nói vui với chồng: Dạo này ông Phán thành lang băm rồi đấy! Cả hai cười vui vẻ. Có được ba thứ thuốc trên, vợ chồng Phán Lâm chia nhau đi các chợ Đồn Áp, chợ Thắng để bán. Tối về họ mừng rỡ thu được một số tiền, nhiều hơn dự kiến. Thuốc ghẻ và thuốc chống chấy rận bán được nhiều hơn cả vì khi ấy số người mắc bệnh này tăng nhanh. Vợ chồng bàn nhau cho hai con là Thúy Hường và Lâm Sơn đi học tiếp ở trường gần đó.


Nhưng rồi, giặc Pháp lại đến ném bom chợ Thắng. Vợ Phán Lâm hôm đó có mặt bán thuốc tại đấy. Phán Lâm lo lắng nhìn từ xa những chiếc máy bay khu trục bổ nhào cắt bom, tiếp theo là những tiếng nổ và khói lửa bốc cao… Ông cắm đầu cắm cổ chạy xuống chợ Thắng xem thế nào ? Gần đến nơi, máy bay địch đã bay xa. Nhiều người chạy đến tìm người thân. Họ nhìn thấy những người khênh cáng đi ngược lại. Ông Lâm tìm vợ, ghé nhìn từng mặt người nằm trên cáng máu thấm đẫm áo quần. Tìm mãi, tìm mãi, ông nhận được ra vợ mình bị sức ép của bom, văng xuống một hố sâu bên cạnh chợ. Ông kêu lên, ôm lấy vợ khóc. Bà Loan tỉnh lại chỉ nói được một câu: Em chết mất anh ơi! Rồi thiếp đi. Vào thời gian này, giặc Pháp dùng máy bay ném bom khủng bố dân chúng nhằm tạo ra sự hoang mang, để kéo dân chúng về tề. Khi bà Loan tạm hồi phục sức khỏe, hai vợ chồng bàn nhau đành tìm đường về lại Hà Nội vậy. Phán Lâm nói với vợ: “Mọi người đi kháng chiến, còn gia đình mình lại “dinh tê” anh cũng không vui, nhưng biết làm sao được, em gặp nạn sức khỏe suy giảm. Gia đình ta đành về tề, nhưng không làm gì cho Pháp là được”.


 


Về phần bà Ba, vợ bé của ông Cò, bà và Hà My tản cư ra Hoàng Vân, Bắc Giang. Sau vài ngày thăm thú, bà chọn đoạn đường ngã ba rẽ vào chợ Thắng, thuê dựng một cái nhà tạm, mở quán cà phê giải khát. Nơi đây, nhiều khách buôn từ trong Tề ra, từ Thái Nguyên về, lại thêm có những cán bộ dân chính và quân đội hay ghé qua để hỏi thăm người thân ở vùng địch hậu. Thêm nữa hai mẹ con chủ quán lại đều xinh đẹp, tiếp khách lịch sự. Nhờ thế quán cà phê giải khát này lúc nào cũng đông khách, kinh tế dư dật. Sau khi giặc Pháp ném bom chợ Thắng, khách qua đây vắng hẳn. Bà Ba bàn với Hà My có nên quay về tề hay đi tham gia kháng chiến? Cả hai đều không muốn “dinh tê” cho là việc về sống với địch không có tự do; thêm nữa nhà ở Đáp Cầu đã tiêu thổ kháng chiến rồi, về quê ở với ông Cò thì vợ nọ con kia chẳng ra sao.


Bà Ba, vợ bé của tổng Cò, từ ngày vào đoàn Văn công, thường xuyên đi biểu diễn phục vụ Bộ đội. Hà My mang gen cao lớn của bố, càng lớn cô càng xinh giống mẹ. Hàng ngày cô vẫn đi học văn hóa, tối tối theo mẹ đi hát phục vụ các đơn vị, cơ quan và nhân dân trong vùng. Một hôm ông trưởng đoàn Văn công gọi mọi người đến và nói:


-  Có một Bệnh viện quân y cách ta khoảng mười cây số. Tại đây có một số chiến sĩ bị thương nặng sau trận đánh diệt tàu địch ở sông Lô. Đoàn ta sẽ đến đó biểu diễn phục vụ thương binh -  Mọi người nghe xong, vỗ tay hoan hô. Họ tản ra chuẩn bị tiết mục biểu diễn.


 Cuối buổi chiều hôm ấy, một liên lạc viên xuất hiện tại lán Văn công. Cậu liên lạc này chỉ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, hai má còn lún phún lông măng. Trông cậu ta dường như muốn chứng tỏ mình là người lớn: Chiếc mũ ca lô đội lệch, áo ka ki rộng thùng thình (như áo mượn) hai tay áo dài gấp lên, lưng đeo một chiếc dây da to bản, vai khoác chéo một chiếc xà cột bằng vải dày, phần dưới mặc chiếc quần nâu buộc túm gấu, chân đi đôi dép cao su. Khi đến gần các diễn viên, cậu đi chậm lại, bước dài, hai tay vung vẩy, rồi dừng lại đạp chân đánh rộp, giơ tay lên mũ chào:


-  Báo cáo, các cô các chú và anh chị diễn viên, tôi Nguyễn Văn Minh, chiến sĩ liên lạc, chịu trách nhiệm dẫn đường đi đến nơi biểu diễn tối nay.


Mọi người nhìn cậu cười ồ lên vui vẻ. Trời bắt đầu về chiều. Các diễn viên đi theo Minh thành hàng dọc, lên lên, xuống xuống những quả đồi miền trung du, gió lồng lộng thổi mát rười rượi. Ði được chừng hai canh giờ, đến một khu rừng thông có những cây cao vút, quả thông rơi đầy dưới gốc, gió thổi vào những cành thông kêu vi vu, vi vu. Minh quay lại và nói:


-  Mời các cô, các chú và các anh chị đến bờ suối kia tạm nghỉ, chỉ còn chừng một cây số nữa là tới.


      Các diễn viên nam nữ chạy ùa ra bờ suối. Họ cởi ba lô, nhấc đàn phong cầm, cởi trống và nhị… ra khỏi vai, đặt xuống đất, rồi ra mép suối, vốc lên mặt, lên cổ những giọt nước trong xanh mát mẻ. Minh xắn cao quần, lội hẳn xuống giữa dòng suối, mở chiếc xắc cốt, cất chiếc mũ ca lô và lấy ra chiếc khăn bông trắng nhờ nhờ vắt lên vai, kéo chiếc xắc cốt ra phía sau lưng. Cậu cúi xuống ngâm cả đầu và gần hết mặt xuống dòng nước. Hai tay cậu gãi gãi mái tóc và kỳ cọ mặt, mũi, tai và cổ. Xong xuôi, cậu đứng thẳng người, lắc mạnh cổ sang phải sang trái, nước từ tóc cậu bắn ra tung tóe. Cậu lấy chiếc khăn trên vai lau đầu lau mặt.


      Từ nãy đến giờ, Hà My quan sát những động tác của Minh, cô tự so sánh: Cậu ta chỉ nhỉnh hơn mình và Cò Đỏ một hai tuổi, Cò Đỏ phải nhờ vú em tắm rửa, còn cậu tự làm mọi việc như một người đàn ông. Lát sau, Minh lên bờ suối, chọn một phiến đá lớn và nhẵn ngồi nghỉ. Mọi người cũng rửa ráy xong, ngồi quanh cậu liên lạc. Ông trưởng đoàn văn công, tóc bạc trắng, đến gần Minh, vỗ vai hỏi:


-  “ Đồng chí cháu” bao nhiêu tuổi rồi, quê ở đâu?


-  Dạ, cháu quê ở Hà Nội, năm nay mười bốn tuổi rưỡi rồi ạ.


-  Cháu đi bộ đội bao lâu và đã có lần nào ra trận?


-  Cháu tham gia đánh trận suốt hai tháng ở đơn vị quyết tử quân giữ thủ đô Hà Nội, vừa rồi tham gia đánh tàu địch trên sông Lô.


-  Sông Lô à ? -  Mọi người ngạc nhiên nhắc lại. Hàng chục con mắt đều đổ dồn nhìn Minh, vô cùng thán phục. Hà My nhìn Minh như một thần tượng của mình. Cô chợt nhớ đến bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu, được cô giáo giảng dạy ở trường và khe khẽ ngâm nga:


Ca lô đội lệch,


Mồm huýt sáo vang


Như con chim chích


Nhảy trên đường vàng!


Bà Ba ngồi cạnh con, nghe con gái đọc thơ, bà thầm nghĩ: “Con chim chích” bé bỏng này đã “bay qua” lửa đạn, mà sao nó hồn nhiên thế? Bà nhìn Minh âu yếm hỏi:


-  Hiện giờ cháu là chiến sĩ của đơn vị nào, ai cử cháu đi đón Văn công ?


-  Tiểu đoàn trưởng của cháu bị thương trong trận đánh chìm tàu địch ở sông Lô. Cháu đến bệnh viện thăm ông và báo tin cho ông biết có đoàn Văn công đóng ở gần đây. Thủ trưởng của cháu là người Bắc Ninh, đã học và chiến đấu ở Hà Nội. Ông thích nghe hát quan họ. Ông đã đề nghị thủ trưởng bệnh viện gửi giấy mời. Thủ trưởng bệnh viện đồng ý và chỉ định cháu đi đón các cô chú và anh chị đấy ạ.


-  Thủ trưởng của cháu, người Bắc Ninh à ? Thích nghe hát quan họ à ? Cô cũng người Bắc Ninh đây ! -  Bà Ba nói như reo và nghĩ: Đi kháng chiến mà gặp đồng hương thì quý thật, chốc nữa phải gặp anh ta nói chuyện xem sao.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »