tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28845257
Tiểu thuyết
17.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


3. DÂN NHƯ NƯỚC


       Người xưa từng xếp thứ tự sức mạnh của thiên nhiên: «Nhất thủy nhì hỏa » và ví dân khiêm nhường như nước và cũng mạnh như nước. Bình thường người dân lành hiền như củ khoai củ sắn lăn lóc khắp chốn, lặng yên như mặt nước phẳng lặng. Khi mâu thuẫn xã hội tích tụ mãi đến mức không dung hòa được, thì dân đồng loạt nổi dậy tạo sức mạnh như lũ cuốn như sóng thần, quét tất cả những gì cản trở trên đường đi qua -  Có thể ví vai trò của dân Việt Nam vào thời điểm Cách mạng Tháng 8 mạnh như như sóng thần ; Rồi tiếp đến chiến tranh vệ quốc, đã thể hiện sức mạnh như nước. Sức mạnh ấy của dân Việt được tích tụ và dồn nén cả ngàn năm, tạo ra truyền thống và bung ra thành sức mạnh không tưởng tượng nổi, mà sau khi thất bại, những kẻ ngoại xâm mới nhận ra.


*


      Đến đây kể đôi điều về vùng đất Đáp Cầu ngày ấy thật là đẹp. Từ ngàn xưa, nước sông Cầu từ thượng nguồn đổ về nước chảy lơ thơ và trong xanh biêng biếc. Có hai ngọn núi lớn song đôi đứng bên đầu cầu. Có cánh đồng rộng, vào mùa lúa chín, nhìn từ trên núi cao xuống đồng lúa tưởng như từ trời cao đang sà xuống đám mây vàng. “Đất tốt thì cò đậu”. Cả ngàn năm trước, đã lác đác có cư dân chài lưới và trồng cấy. Hai trăm năm lại đây, tổ tiên của người Đáp Cầu từ các tỉnh Thanh Hóa, Sơn Tây đến khai hoang, có cả người Hoa từ phương Bắc xuống. Đáp Cầu có đường quốc lộ, đường sắt và đường sông chạy qua, việc giao thương thuận tiện. Nhà cầm quyền Pháp đã mở mang một vài nhà máy phục vụ cho mình, như máy điện, máy giấy, máy gạch và mở trường dạy Quốc ngữ và Pháp văn đầu tiên của Kinh Bắc, thay cho dạy chữ Nho tại nơi này.


Đáp Cầu tuy đô thị hóa sớm nhất vùng Kinh Bắc, nhưng ông cha họ từ các vùng quê khác nhau đến đây vẫn đem theo, gìn giữ và duy trì những tinh hoa văn hóa cổ truyền của mỗi vùng miền. Điểm nổi bật là người Đáp Cầu coi trọng phong tục tập quán, xây dựng nếp nhà còn gọi là gia phong, bao gồm: cách ăn, nơi ở, lao động, học hành, nghỉ ngơi, vui chơi, giao du và ứng xử v.v...


Trước hết nói về ăn. Người Đáp Cầu dạy con từ bé và nhắc nhở khi con đã trưởng thành là: Tùy theo hoàn cảnh, nhiều no ít đủ, ăn cho đều kêu cho sòng; khi ăn phải biết mời người trên, ăn có chừng mực, ý tứ, nhai nhỏ nhẹ từ tốn; có ăn thì nhớ đến người thân. Người Đáp Cầu trọng sự thanh lịch, đề cao tiêu chuẩn sạch và ngon. Hàng năm đều tổ chức cho những cô gái từ mười ba tuổi trở lên thi nấu ăn nấu cỗ. Họ sáng tạo ra những món nấu cỗ “chém sáu” độc đáo, và những món chè kho, cháo con chì nổi tiếng. Những món ẩm thực trên đã trở thành đặc sản của Đáp Cầu và nổi tiếng cả vùng Kinh Bắc. Người Đáp Cầu ra nước ngoài, nhiều người vẫn nhớ và nấu những món ăn nói trên.


Người Đáp Cầu hồi đó so với nơi khác, thì số người giàu có cũng đông, trung lưu cũng lắm, nghèo túng vẫn nhiều . Họ làm lụng cần cù và có kế hoạch, biết cách sinh lợi. Họ nhớ và làm theo lời dạy của cha ông rằng: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ, chê trách nghiêm khắc những người lười nhác, làm ăn dối trá “nói như rồng leo làm như mèo mửa”; nhà nhà dạy con từ bé nhớ câu “Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa, sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày”.


Người Đáp Cầu từ xa xưa vốn có truyền thống hiếu học. Nơi đây lại sớm có ngôi trường dạy Quốc ngữ và Pháp văn, nên người Đáp Cầu từ nhỏ nhiều người đã nói thạo tiếng Pháp và đi làm ăn ở khắp nơi. Từ Sài Gòn, Tuaran, đến Nông Pênh, Ai Lao và cả một số thành phố bên Pháp đều có mặt người Đáp Cầu làm ăn buôn bán. Họ giao du rộng, lịch sự, mà vẫn giữ tính chân thật làm gốc. Có những người đi xa làm ăn giàu có hay đỗ đạt cao, nhưng khi về làng gặp các cụ già, các thầy giáo cũ, họ đều chắp tay cung kính vái chào. Do đi nhiều, biết nhiều, người Đáp Cầu nắm bắt thông tin thời cuộc nhạy bén, và nhanh chóng thích nghi với môi trường và hoàn cảnh mới.


 Chính từ môi trường ấy, đã khiến cho đất Đáp Cầu mau chóng hình thành các nghề thủ công, rồi một số nhà máy, xuất hiện các nhà kinh doanh, trong đó có các nhà thầu khoán lớn ; Từ  đây cũng mau chóng hình thành vùng địa chính trị và kinh tế, có phong trào công nhân và quần chúng cách mạng chống lại nhà cầm quyền.


Thời bấy giờ, cùng với nhiều nơi khác, phu khuân vác ở nhà máy giấy Đáp Cầu đã nổi lên đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ. Thanh niên Đáp Cầu thành lập những đội Sơcút (hướng đạo sinh) tập hợp lớp trẻ tổ chức đá bóng, chạy thi để tuyên truyền cách mạng. Trong giới nhân sĩ trí thức xuất hiện những nhà thầu khoán có uy tín đứng ra kêu gọi lớp người giàu ủng hộ cách mạng. Hai từ cách mạng lúc này đã trở thành thiêng liêng, là ước vọng ngàn đời của người dân mong được sống trong độc lập tự do. Ở chợ, trường học và đình chùa, nơi nào bấy giờ cũng đã xuất hiện nhiều truyền đơn chống phát xít và kêu gọi quần chúng đấu tranh.


 Mọi nơi, ở đâu có vài người ngồi nói chuyện, là thế nào cũng bàn tán về cách mạng. Giới thanh niên thì ngưỡng mộ một người trẻ tuổi họ Hạ Bá, sau khi tốt nghiệp trường tiểu học Đáp Cầu, đã vào học trường kỹ nghệ Hải Phòng, anh đã tham gia phong trào cách mạng, đi vô sản hoá, vào làm công nhân hầm mỏ, rồi vào tù ra tội, bị Pháp tra tấn thọt chân, vẫn kiên cường hoạt động cách mạng. Người thanh niên ấy, nghe nói bây giờ là thượng cấp của Cộng sản, đang hoạt động bí mật, nay vùng này mai vùng khác.


Còn một vài nhà kinh doanh và điền chủ như chánh Cò thì lo lắng thực sự. Họ truyền tai nhau lời người Tây bảo: Cộng sản là “ Cộng vợ cộng chồng”, là tước đoạt tài sản của những người giàu có.


   Một hôm, chánh Cò cùng với các vị Chánh tổng toàn huyện, được gọi về Việt Yên để nghe cấp trên thông báo tình hình và ban bố chủ trương. Tại cuộc họp này, quan huyện giới thiệu: Ông Giăng Pie Chánh mật thám liên tỉnh Bắc Ninh -  Bắc Giang. Pie đứng ra nói rằng: Vừa qua, có tin Trung ương đảng Cộng sản đã nhóm họp ở làng Đình Bảng. Bị vây bắt, họ chạy thoát, lên tụ tập tại Hiệp Hòa. Hiện nay Nhà nước bảo hộ đang cùng lính An Nam tiến hành bao vây, truy lùng bọn chúng một cách ráo riết tại khu vực này. Dự đoán, chúng sẽ tản mát về các làng xã huyện Việt Yên hoặc chạy lên Thái Nguyên. Yêu cầu các ông Chánh tổng, phải tổ chức canh phòng ngày đêm cẩn mật, có gì lạ thì báo ngay. Nơi nào có Cộng sản mà không báo lên trên, thì Chánh tổng và Lý trưởng ở đó bị bãi chức hoặc bi quy vào tội bao che cho Cộng sản...


Nghe Pie nói vậy, các ông Chánh tổng ngơ ngác nhìn nhau. Có ông lo rúm người lại. Ông thì nghĩ nếu làm mạnh, không khéo bị Cộng sản thịt trước, để mặc Cộng sản hoạt động thì cũng chết với cấp trên. Riêng chánh Cò thì tự nhủ: Lần này phải cho dò xem mấy thằng ngang bướng ở làng tổng định làm gì ?


Về đến nhà, Chánh Cò triệu tập ngay các lý trưởng, trương tuần và các gia nhân thân tín, phổ biến tình hình và ra lệnh làm những việc gấp để đối phó với Cộng sản. Bọn họ bàn nhau nhiều việc.


Chánh Cò giao cho Năm Sành đứng ra tổ chức “ngũ gia liên bảo” cứ năm hộ cử một người đứng đầu, tổ chức tuần tra, thấy người lạ đến gõ xoong nồi báo ngay. Các lý trưởng và trương tuần rà soát lại danh sách những kẻ “cứng đầu”, cho người thường xuyên theo dõi, bẩm báo.


Ở làng này, có anh tên là Nguyễn Văn Cầu. Anh ta tuy ít tuổi, nhưng là anh họ của chánh Cò. Mỗi khi có nông dân nào bị ức hiếp hoặc bị đánh đập, thì anh thường giúp họ làm đơn hoặc cung cấp tin cho các tờ báo nhật trình ở Hà Nội. Chánh Cò biết mà không làm gì được. Lâu nay, nhà Văn Cầu là nơi hay tụ tập một vài người, mà tuần đinh gọi là bọn “cứng đầu”; đôi lúc có người lạ ở nơi khác đến, khả nghi lắm. Từ hôm bọn nha dịch hay nhòm ngó, thì nhà của Văn Cầu không thấy ai lai vãng nữa.


 Một đêm, mưa rét, tuần đinh rút về ngồi sưởi lửa ở điếm canh; thì có tiếng chim cuốc kêu, vài bóng người lặng lờ từ trong làng ra và từ nơi khác đến, họ lẩn vào chân đê rồi xuống ruộng dâu. Bảy tám cái đầu chụm vào nhau thì thầm. Một người thấp lùn, chân tập tễnh, che kín mặt chỉ hở vầng trán rộng, đôi mắt nhỏ và sáng được giới thiệu là người của Thượng cấp. Ông nói: «Phát xít Đức tấn công Nga Xô. Bọn phát xít Nhật đã vào nước ta. Thực dân Pháp và phát xít Nhật đang tạm thời bắt tay nhau hòa hoãn để bóc lột và đàn áp dân chúng. Bọn tay sai đang ráo riết lùng bắt người Cách mệnh. Đoàn thể cấp trên chủ trương rằng: Các cơ sở tạm thời rút vào bí mật, vừa hoạt động vừa bảo toàn lực lượng. Đồng chí nào bị lộ, có nguy cơ bị địch bắt giam, thì điều ngay lên chiến khu, sung vào đội võ trang tuyên truyền, luyện tập quân sự, chờ thời cơ. Liên bang Xô viết là thành trì cách mệnh của thế giới, có lực lượng vô cùng hùng hậu, lại được phong trào Cách mệnh và nhân dân thế giới ủng hộ, thì nhất định đánh bại chủ nghĩa phát xít. Không lâu nữa chủ nghĩa phát xít sẽ thất bại. Phát xít Nhật sắp tới sẽ hất cẳng thực dân Pháp. Thời cơ ngàn năm có một sẽ đến. Chúng ta phải tích cực tuyên truyền mở rộng lực lượng Cách mệnh... chờ lệnh Tổng khởi nghĩa đánh đổ chính quyền Nhật -  Pháp, giành chính quyền về tay nhân dân».


Không khí cách mạng sôi sục tăng lên từng ngày ở khắp nơi nơi, trong đó có tổng Giang Cầu và làng Đáp Cầu.


*


      Trở lại chuyện nhà cầm quyền Pháp bắt Cả Nhẫn. Anh bị giam giữ ở trại tạm giam Bắc Ninh một thời gian. Qua hàng chục lần xét hỏi, đánh đập và điều tra đối chứng, mật thám Pháp vẫn không khai thác được gì hơn, ngoài việc cả Nhẫn khai là: nhặt được một tờ truyền đơn, thấy lạ, tò mò mang về đọc. Qua thẩm tra danh sách những đảng viên Cộng sản trong tỉnh mà chúng nắm được, thì không thấy có người đảng viên Cộng sản nào tên là Nguyễn Văn Nhẫn, hay cả Nhẫn hoặc Đồ Nhẫn.


Vì không có đủ chứng cứ nào khác, tạm giam mãi cũng dở, người Pháp đưa Nguyễn Văn Nhẫn đầy ra Côn Lôn. Chúng cho thế là đắc sách, vì: Không đủ chứng cứ mà đưa ra Tòa, Luật sư biện hộ thì khó bề buộc tội và kết tội.


Nhẫn bị đưa gấp đi đày ở Côn Lôn, không có cách nào báo cho gia đình biết sự tình. Anh bị đưa đi đày trong lúc gần như chưa biết Cộng sản là gì, mà phải chịu cảnh lao tù, biết bao giờ mới được về với vợ với con! Anh thương mẹ già như ngọn đèn trước gió, vì lo cho anh mà mẹ có thể mất sớm! Anh không còn hy vọng khi ra tù gặp lại mẹ già. Anh thương vợ có chồng mà phải sống như người goá bụa. Còn con anh, cu Tý lại quá bé bỏng. Không có bố ở gần để bảo ban dạy dỗ, con anh có bị hư hỏng không ?


Là một người dân cần mẫn làm ăn, căm ghét thực dân Pháp, nhưng không muốn có hành động phản kháng . Vào tù anh được sống chung với những đảng viên Cộng sản bằng xương bằng thịt. Qua nghe chuyện họ kể và quan sát họ, anh vô cùng cảm phục. Dần dần, anh được họ tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Anh hiểu rằng chỉ có sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, dân ta mới có thể làm cách mạng lật đổ chế độ nô lệ, giành tự do độc lập cho đất nước. Anh cảm phục những bậc tiền bối cùng quê với anh đã hy sinh anh dũng. Đang ở tù anh được kết nạp vào đảng Cộng sản, anh đã giơ tay thề suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng. Thế là anh cũng như nhiều người dân bình thường khác, bị thực dân Pháp bắt vào nhà tù, thì họ đã được giác ngộ thành người Cộng sản. Họ trở thành lực lượng tự giác cách mạng, càng kiên quyết chống lại chế độ thực dân mạnh mẽ hơn. Đúng là Cộng sản đã biến nhà tù thành trường học, giác ngộ cách mạng, đào tạo những người sẽ làm sứ mệnh của lịch sử là chôn vùi chế độ thực dân.


Mọi người trong gia đình anh vẫn không biết anh đã bị đày ra Côn Lôn. Cô Hai, thương anh Cả, nhiều lần giục chồng đi gặp người Pháp xin tha cho anh. Cô Ba cũng nhắc chồng đi gặp quan Tây. Chánh Cò đã làm đơn xin tha cho anh Nhẫn, không được trả lời. Lần này, ông mang đồ lễ đến tận nhà riêng của quan Chánh mật thám Giăng Pie, ông ta đã tiếp. Chánh Cò khúm núm chắp hai tay cúi chào quan Chánh mật thám bằng tiếng Pháp, nói rằng:


-  Thưa ngài, tôi có người anh vợ tên là Nguyễn Văn Nhẫn ở Phủ Từ Sơn, dại dột cất giữ truyền đơn Cộng sản trong nhà, bị nhà chức trách bắt giữ. Tôi xin ngài nương tay, “ giơ cao đánh khẽ”.


Pie nhìn chánh Cò bằng đôi mắt mèo xanh biếc, y nói bằng giọng bỡn cợt:


-  Ông Chánh tổng đang làm phận sự của Nhà nước bảo hộ giao cho đấy à ?


-  Không dám, không dám...


Pie cười ngạo và nói:


-  Không sao, không sao. Người An Nam các ông vẫn có câu “ một giọt máu đào hơn ao nước lã” mà.


-  Thưa ngài, tôi chỉ muốn thưa với ngài rằng Nguyễn Văn Nhẫn là một ông đồ hủ nho, không phải là Cộng sản.


-  Đúng thế. Ông Chánh đã đọc truyện Tam quốc rồi chứ ? Ông có nhớ câu nói của TàoTháo là: “Ta thà phụ người, không để người phụ ta”. Nay ta phải chấp nhận “Thà bắt oan, còn hơn để lọt”. Ông Chánh nghĩ sao?


-  Thưa ngài, tôi chỉ muốn ngài...


Pie cắt lời chánh Cò:


-  Ông có nói nữa cũng vô ích thôi, tôi đã tống khứ thằng Nhẫn ra đảo Côn Lôn từ hơn một năm nay rồi. Ông Chánh hãy về đi mà lo đối phó với Cộng sản vùng sông Cầu.


Chánh Cò ớ ra, khi nghe Pie nói cả Nhẫn đã bị đày ra đảo Côn Lôn.


Pie giơ bàn tay phải to bè xoè ra đầy lông lá, miệng mím chặt, rồi nắm bàn tay như muốn bóp ai đó. Y đi đi lại lại trước mặt chánh Cò, nói như diễn thuyết:


-  Mấy năm trước, do sức ép của Chính phủ Bình dân bên Pháp, chúng ta đã buộc phải thả hàng trăm chính trị phạm là Cộng sản. Bọn chúng đã toả về khắp nơi để hoạt động chống phá, gần đây như Đào Xuyên, Hoàng Vân, Lục Ngạn và phủ Lạng Thương... đâu đâu cũng có mặt chúng. Bây giờ Chính phủ Bình dân bên Pháp không còn nữa, bọn Cộng sản An Nam mất chỗ dựa, đã nhanh chóng lui vào bóng tối, nhưng chúng vẫn hoạt động. Ông không chống nó, thì nó chống ông, không để ông yên. Ta phải làm mạnh tay... ông Chánh biết chứ ?


-  Dạ, vâng thưa ngài.


Đến lúc này, chánh Cò biết có nói thêm, Pie cũng để ngoài tai. Hắn cúi đầu, vái chào từ biệt quan Chánh mật thám, rồi lủi thủi ra về.


                            *


 Sự đời, thật chẳng ngờ có lúc An- Be (viên quan cao nhất của người Pháp cai trị vùng sông Cầu và là cấp trên của chánh mật thám Pie) lại phải nhờ cạy Chánh Cò cứu nạn.


 Giữa lúc đại chiến Thế giới thứ hai gần đến hồi chót, lực lượng cách mạng Việt Nam phát triển mạnh. Pháp và Nhật, trước đó tạm hòa hoãn để đàn áp và bóc lột dân ta. Người Pháp ở Việt Nam rất sợ Nhật, biết rằng Đồng minh thắng thế, Nhật sẽ lật lại thế cờ ra tay trước.


 Những ngày này An- be lo lắng lắm. Hàng ngày các nơi báo tin về: Nhật dục dịch khởi sự, rồi Cộng sản kích động dân chúng đang bị đói nổi dạy khắp nơi…


 Ba ngày trước, cấp trên của An -  Be thông báo cho biết một hai ngày tới quân Nhật sẽ đảo chính Pháp. Suốt hôm qua chiếc xe quân sự chở lính Nhật lố nhố từ Hà Nội sang Bắc Ninh, lên núi pháo đài Đáp Cầu thì đổ quân, xong rồi xe bịt kín, quay đi. Lát sau lại một xe nữa chở quân lên núi pháo đài, rồi lại bịt kín quay đi, cứ thế lặp đi lặp lại. Sau này người ta mới biết đây là chiêu lừa nghi binh của người Nhật. Vẫn chỉ có vài chục tên lính, chúng đưa đi, rồi cho bọn này ở yên trong xe bịt kín đưa về, rồi lại chở lũ lính này lố nhố trên xe... Người Pháp không biết được đây là trò nghi binh của lính Nhật. Thấy bọn Nhật suốt ngày điều quân đến đây, thì cả An- be và lính Pháp đều sợ mất vía.


 Ngay từ chập tối hôm qua, nhận được điện của Pie báo cáo: Quân Nhật đã có lệnh đảo chính. An- be vội vã, lẳng lặng ra khỏi nhiệm sở, bỏ cả vợ con, trốn vào nhà săm của gái điếm.


Quan sát thấy quân Nhật bắt đầu chiếm giữ các các ngả đường, An- be vội vàng chuồn ra cổng sau nhà săm, đi xuống cánh đồng. Quay đầu nhìn lại, An- be đã thấy lính Nhật bao vây trại lính Pháp chiếu đèn loang loáng mà không thấy quân Pháp bắn một phát súng nào để chống cự.


An- be cứ đi, đi mãi, trên những bờ ruộng mấp mô, có lúc tụt cả xuống ruộng lầy, mất cả giày. Đến gần chợ Nội Doi, hắn thấy một căn nhà mái rạ, trơ vơ giữa cánh đồng. Hắn lẻn vào, bước qua bờ rào là hàng cây lúp xúp. Hắn nhìn thấy cánh cửa ghép bằng những nan tre đóng kín, bên ngoài hàng hiên phơi một bộ váy áo và chiếc khăn vuông. Hắn vội khẽ khàng gỡ xuống mang ra ngoài mặc, giả làm bà nông dân. Trước khi đi tiếp, hắn không quên quấn bộ comple vo tròn dúi xuống ao bèo cạnh đó. Lát sau hắn ra đến bờ sông, ở đó có một chiếc thuyền nhỏ neo đậu, không có ai trông nom. Hắn vội lên thuyền kéo neo, đẩy thuyền ra xa và dùng mái chèo đưa thuyền sang sông. Cẩn trọng đẩy thuyền xuôi về hạ lưu, An- be lên bờ, tìm đường đến trang trại nhà chánh Cò.


 


    Trời về đêm, tối như mực. Chiếc khăn vuông đen kéo xuống che gần kín mặt, một người đàn bà cao to, mặc áo nâu, váy đụp ngắn cũn cỡn, đi chân đất dò dẫm đến cổng sau nhà chánh Cò. Bà ta nhìn trước nhìn sau, rụt rè giơ nắm đấm nện mạnh vào cánh cổng. Thấy động, đàn chó to gần như những con bê, lao ra phía cổng sau, đồng loạt sủa ông ổng. Ngay lập tức đám gia nhân đốt đuốc chạy ra xem xét. Họ quát hỏi, không ai trả lời. Nhìn qua khe cổng thấy một bóng người lù lù như con gấu, mắt xanh lè họ tưởng là ma, giật mình vội vàng lùi lại. Ông Chánh tay lăm lăm cầm khẩu súng hai nòng tiến ra cổng. Phía ngoài có giọng nói xì xồ... ông Chánh cho mở cổng, tự mình dắt tay người đàn bà kia đi thẳng lên nhà trên. Cánh cổng đóng kín lại.


Vào đến sảnh, người đàn bà lột chiếc khăn vuông đen và cởi cái áo nâu bó sát người. Lúc này hiện ra một ông Tây ngực đầy lông lá, phần dưới che bằng chiếc váy cộc lấm bùn đất. Chánh Cò sửng sốt:


-  Trời ơi, ông là An- be ?


-  Chào ông Chánh, tôi là An - be đang bị truy đuổi, bọn Nhật đêm nay đảo chính Pháp.


Ông Chánh vội khoát tay bảo gia nhân ra ngoài canh gác cẩn mật, cho người dẫn ông An- be vào... buồng tắm và sai nhà bếp chuẩn bị cơm khách.


Lát sau, An- be mặc bộ quần áo cánh trắng. Ông Chánh đoán biết An- be lúc này đói mệt, mời ông xuống nhà ăn. Nhìn thấy mâm cơm có một con gà luộc vàng ươm, món ăn bốc hơi nghi ngút, mùi thơm tỏa ra kích thích khứu giác, ông Tây này nuốt nước bọt ừng ực. Suốt từ chiều hôm qua cho đến gần hết đêm nay đi đường vất vả ông ta chưa được ăn thứ gì vào bụng.


Sau khi ăn xong bữa cơm, An- be ngỏ ý nhờ chánh Cò cho người đưa hắn đi ngay đêm nay sang Tàu. Chánh Cò nói nhỏ với Cóc vài câu rồi lên gặp bà lớn, bẩm rằng: Có thể ngày mai, lính Nhật sẽ đến lục soát nhà ta. An- be phải đi ngay đêm nay, nếu chậm sẽ gây nguy hiểm cho cả khách lẫn chủ nhà. Đuổi hắn đi ra đường thì không nỡ. Biết đâu có ngày người Pháp quay lại, ta cần họ giúp đỡ. Con xin phép mẹ cho gia nhân đưa ông ta đi luôn đêm nay, mẹ thấy có nên không ạ?


Bà lớn hỏi:


-  Thế anh Chánh định sai bảo ai đưa ông ấy đi?


-  Con đã bảo thằng Cóc chuẩn bị đưa ông ta đi.


Bà lớn ngần ngừ chưa kịp nói gì, thì chuông nhà thờ làng bên đã điểm canh ba, chánh Cò vội vàng quay ra.


Sau khi được ăn no, lại uống thêm gần hết chai rượu làng Vân, khiến cho ông Tây này lấy lại được sinh khí. An -  be bệ vệ trong bộ quần trắng áo the đen, đầu đội khăn xếp, đeo kính đen, chân đi giày Khải Định, tay cầm chiếc ô.


Nhìn từ xa ai cũng tưởng là ông Chánh nào đó. Cóc tóc đỏ, vai khoác chiếc tay đẫy lớn mang theo thức ăn, nước uống và quần áo. An -  be nắm chặt hai bàn tay Chánh Cò lắc lắc tỏ lời cảm ơn. Cậu Cò Đỏ lấp ló bên cánh cửa buồng, trố mắt nhìn ra. An- be lại gần Cò Đỏ xoa xoa đầu cậu, rồi tháo sợi dây bạc có cái thập ác từ cổ mình, đeo vào cổ của Cò Đỏ, miệng ông lắp bắp câu tiếng Việt không dấu: “Hy vong co ngay gap lai”.


Lát sau, An- be đi theo Cóc tóc đỏ, lẩn vào bóng đêm. Hai người mải miết đi lên hướng bắc. Trời bắt đầu mưa nhỏ, hai người càng đi, mưa càng nặng hạt.


Từ lúc An- be đến nhà rồi khi Cóc dẫn y đi, bà lớn thao thức không sao ngủ được. Bà thương cho Na cháu bà, chồng nó phải đưa người Tây sang Tàu, đường xa, rừng núi hiểm trở, giữa thời loạn này, Cóc đi bao giờ trở về và có về được không ?! Khi nghe chánh Cò nói sai Cóc đi sang Tàu, bà đã phân vân suy nghĩ, chưa kịp nói sao thì chuông nhà thờ đã điểm canh ba, bọn chúng phải đi trước khi trời sáng. Nay Cóc đi rồi. Bà nghĩ đến Na như thấy mình mắc lỗi, mà chẳng biết sửa thế nào!


Lại nói về Cóc tóc đỏ. Anh đang sống những ngày vui vẻ nhất cùng vợ con. Cô Na, sau khi sinh con, béo trắng và tươi vui hơn trước. Hàng ngày cô âu yếm chăm nom cả hai bố con. Bé May bây giờ đã biết và thích chơi ô ăn quan; luôn miệng gọi bố, gọi mẹ. Bỗng nhiên đêm nay, ông Tây này đến đây, đã làm thay đổi cuộc đời của Cóc. Theo lệnh của ông Chánh, Cóc phải đưa ông Tây sang đến bên Tàu mới được quay lại. Mà đường đi từ đây sang Tàu đâu có gần, phải tránh đi đường quốc lộ, đi theo đường rừng, đầy bất trắc. Cóc lo không biết khi nào mới có thể về với vợ con? Trước khi đi anh chỉ kịp chạy về nhà, báo cho vợ biết tin này, ôm nhanh bé May vào lòng, rồi quơ mấy cái áo quần, chạy lại nhà ông Chánh. Anh đi lầm lũi trong mưa, cúi đầu suy nghĩ. Ông An- be bám theo sau Cóc, bước đi lạch bạch, chốc chốc lại “vồ ếch”.


Bà lớn nhìn thấy Na đôi mắt đỏ hoe, tay dắt bé May, tay khác dắt thằng Bần, lôi thôi lếch thếch. Thời buổi này, chồng đi xa, một nách hai đứa con dại, nó vất vả lắm đây -  Nghĩ vậy bà lớn bảo với bà Hai cho Na thêm một tạ thóc. Lát sau bà Hai cho người mang đến nhà Na một tạ thóc, một yến ngô và mấy cái quần áo Cò Vàng mặc đã chật, để bé May mặc.


*


    Ngay buổi sáng, sau khi giải giáp xong quân Phăp, từng tốp lính Nhật xộc vào phố Đáp Cầu bắt tất cả các vị chức sắc, phú hào và các ông chủ lớn về trại lính. Nhiều vị chưa kịp thức giấc đã bị lính Nhật lôi tuột ra khỏi giường, bắt đi bộ trong bộ quần áo ngủ. Vị nào chậm chân thì bị báng súng thúc vào đít, kèm theo chửi rủa bằng tiếng Nhật. Cả lũ bị lính Nhật dồn vào căn nhà mái tôn giữa ngày trời oi bức. Các vị này chưa bao giờ bị rơi vào tình cảnh ấy. Họ thấy sợ hãi, nhục nhã và pha chút căm hờn, rồi chẳng bíêt rồi đây sẽ ra sao?!


Mãi đến hơn mười giờ sáng, phần thì đói phần thì mệt, nhiều vị ngủ gà ngủ gật. Bỗng cánh cửa bật ra kêu đánh ầm một tiếng rất to. Các vị giật bắn người. Một viên sĩ quan Nhật lùn tịt, đeo thanh gươm dài quét đất, bước vào. Y đưa mắt lướt nhanh một lượt điểm mặt từng vị. Bàn tay phải của y nắm chặt, giơ lên như sắp thụi ai, rồi xòe ra như ve vãn. Y nói một thôi một hồi, rồi đột ngột dừng lại, nhìn viên thông ngôn mặt quắt. Tên này dịch đại ý như sau: Đêm qua quân đội Hoàng gia Nhật đã bắt toàn bộ quân Pháp trên lãnh thổ nước An Nam. Tuân theo Nhật hoàng, người Nhật đến đây giải phóng cho người An Nam khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Người Nhật sẽ đem lại hoà bình cho An Nam, đưa An Nam vào khối Đại Đông Á giàu sang và thịnh vượng... Các vị là những người danh giá ở trong làng phố, nói thì dân nghe theo. Các vị có trách nhiệm ủng hộ chính quyền Nhật. Các vị không được hùa theo bọn phiến loạn. Các vị phải nộp thóc vào kho của chính quyền mới. Hạn trong vòng ba ngày, mỗi vị có mặt ở đây phải giao nộp mười tạ thóc, tất cả vị chi là hai trăm tạ thóc.


Nghe dịch xong, viên sĩ quan Nhật rướn đôi mắt trắng dã long lên sòng sọc nhìn quét qua một lần nữa những khuôn mặt trắng bệch. Hắn phóng ra những tia nham hiểm từ hõm sâu của hai mắt ti hí nằm dưới cặp lông mày rậm rịt màu hung, giống như hai con sâu róm ngọ nguậy. Cuối cùng y nói tiếp: Mọi người phải tuân lệnh, nếu ai không chấp hành coi như chống lại Nhật hoàng, sẽ bị hành quyết. Nói xong, y đột ngột tuốt lưỡi kiếm dài chém đứt một góc bàn trước mặt, rồi ra hiệu cho mọi người về làm phận sự. Y đi ra cũng đột ngột như khi y vào. Các vị có mặt run như cầy sấy, rồi mạnh ai nấy bỏ chạy khỏi căn nhà mái tôn để về nhà. Ra đến đường đã thấy hàng chục quý bà cùng con trẻ chạy ùa đến mừng rỡ khóc lóc ầm ĩ.


Đoàn thể cấp trên đã cho chủ trương chống việc Nhật cướp thóc lúa, Quang Vũ sau khi biết sự việc, đã đi lẩn vào đám người nhà của các vị mới ra khỏi nhà tôn. Anh đi sát vào ghé tai ông Ngô Đức nói: Thưa chú, đoàn thể đề nghị chú phải làm sao để bọn Nhật không thu được thóc của dân. Ngô Đức khẽ gật đầu. Nói xong Vũ lẩn ra sau, dìu cha là nhà giáo Hạ bá Toàn . Bà vợ ông Ngô Đức không nghe rõ Vũ nói gì, nét mặt không hài lòng .


Mọi người về đến trước cổng nhà ông Ngô Đức, ông mời các vị vào uống nước, nhân tiện họp bàn xem giải quyết yêu sách của Nhật ra sao. Mọi người đồng ý và vào theo ông. Ông Đức sai gia nhân rót rượu mời các vị uống để lấy lại khí thế.


Ông Đức mở đầu:


-  Thưa các bậc tôn quý, thời cuộc bây giờ thật rối ren. Người Nhật bắt ta nộp thóc, tính sao đây ?


-  Lấy thóc đâu mà nộp, mọi người đều không nộp, nó chẳng làm gì được -  Các vị nhìn, nhận ra tiếng nói của ông giáo Toàn, họ Hạ Bá .


Cụ Lý già nói:


-  Bọn nó ác, là quỷ dữ, là phát xít, không nộp nó bắn, nó chém, nó bắt giam thì làm sao ?


-  Cụ Lý nói vậy, nhưng khốn nỗi người có thóc nộp thì ít, người không có thóc thì nhiều, lấy đâu mà nộp? Vả lại được đằng chân lân đằng đầu, lần sau nó lại bắt nộp tiếp thì lấy gì mà nộp đây ?


-  Khó thật, khó thật -  Mọi người đều thốt lên kêu khó. Không khí im lặng bao trùm. Lát sau ông Đức nói:


-  Nhật mới hất cẳng Pháp, thế đứng chưa vững, đang phải đối phó với đồng minh hùng mạnh. Nga Xô lại đang phản công dồn dập. Trên các mặt trận quân Đức -  Ý -  Nhật liên tục rút chạy. Ở nước ta, Nhật chưa đủ sức điều hành bộ máy chính quyền cũ của Pháp dựng lên. Việt Minh hoạt động mạnh. Dân chúng nhiều nơi bắt đầu đói và nổi dậy. Tình hình chưa biết ra sao. Chúng ta phải cất giữ thóc gạo phòng xa. Vì vậy lúc này phải tìm cách trì hoãn việc nộp thóc cho Nhật càng lâu càng tốt.


-  Phải trì hoãn, đồng ý phải trì hoãn -  Mọi người nhất tề hưởng ứng và khen ông Đức nói phải.


Ông Nghị thủng thẳng, nói:


-  Tôi có cách này để trì hoãn được không ? -  Mọi người mời ông Nghị cứ cho biết.


-  Để trì hoãn việc này phải có ai quen tiếp xúc với ngài Karataro giúp đỡ. Karataro là chỉ huy cao nhất của người Nhật ở Bắc Ninh. Tôi biết mụ Xoan hiện là nhân tình của Karataro, trước mụ là me Tây, nay là me Nhật. Mụ vẫn bị người làng ta tẩy chay. Nay ta cử người có vai vế đến tâng bốc và nói nhỏ với mụ. Mụ sẽ lấy làm hãnh diện và nhận lời giúp ta, nói nhỏ với Karataro, thì kế hoãn nộp thóc này có thể thực hiện được.


-  Ông Nghị thật là cao kiến -  Nhiều người khen và đồng tình.


Tối hôm ấy, buông màn để ông Đức nghỉ sớm, bà sang buồng con gái. Mai nói với mẹ:


-  Mẹ chưa đi nghỉ ạ! Ngày hôm nay mẹ phải lo lắng vất vả nhiều, mẹ nên đi nghỉ sớm, giữ sức.


-  Mẹ yên tâm ngủ làm sao được hở con?


-  Việc đã qua rồi mẹ lo làm gì?


-  Hôm nay mẹ thấy thằng Vũ ghé tai nói với ba con điều gì đó. Mẹ ngại lắm, cậu này tuy ngoan nhưng nghe nói nó hay đàn đúm với Cộng sản, e nó làm vạ lây cho nhà mình.


Nghe mẹ nhắc đến tên Quang Vũ, Xuân Mai nóng bừng đôi má. Cô nhớ, năm học lớp nhất Trường con gái, mới mười ba tuổi. Một lần trên đường đi học về, cô bị một anh chàng chặn đường trêu chọc. Cô bỏ chạy, thì cậu kia giằng cặp sách không trả, cô không biết làm sao cứ đứng khóc. Đang khi ấy, có một thanh niên, dáng khoẻ mạnh đi qua, nhìn thấy sự việc. Anh ta lấy lại chiếc cặp sách trả cho cô, cậu kia sợ hăi bỏ đi. Cô nhận ra Quang Vũ đã lấy lại cặp cho mình. Cô cám ơn anh. Từ bé hai đứa đã chơi với nhau. Mấy năm nay Vũ ra Hà Nội học, anh ít được gặp cô, mà nay cô đã lớn, nên chưa nhận ra Mai. Những dịp hè, làng phố tổ chức các trò chơi, thi lấy giải, như bơi qua sông Cầu, chạy thi, v.v... Trong đám đông người dự thi, cô nhận ngay ra Quang Vũ. Anh có thân hình đẹp như lực sĩ, có bắp chân tay nổi cuộn, ngực nở, bụng thon, hiện rõ từng múi, còn bộ mặt lại trông rất thư sinh, nổi bật là Vũ có đôi mắt sáng hồn hậu. Từ đó, mỗi lần làng tổ chức hội thi, là cô lại nhớ đến anh ấy và mong sớm được gặp. Gần đây, thời cuộc không yên, cô thấy Vũ từ Hà Nội về, lập ra đội Sơcút. Thỉnh thoảng vẫn nghe ông Ðức, ba của cô nhắc đến tên Quang Vũ.


Bà Đức, nói chuyện với con gái, mà tưởng như cô đang nghĩ đến chuyện gì ở đâu đâu, bà hỏi:


-  Con đang nghĩ gì thế?


-  Không, không... con không nghĩ gì đâu ạ. Sáng nay cô Ba, vợ ông Chánh đến tìm mẹ đấy -  Cô nói lảng sang chuyện khác.


                                


   Vỡ đê... đói ! Đói !


   Phát xít Nhật sau khi hất cẳng Pháp, thực hiện chính sách thu gom lương thực và buộc nông dân nhổ lúa để trồng đay phục vụ cho cuộc chiến thế giới. Nhà cầm quyền từ Pháp đến Nhật không chăm lo tu bổ đê điều. Hậu quả là đê sông Cái bị vỡ, kéo theo hàng trăm quãng đê khác bị vỡ theo, nước ngập đến tận mái nhà. Hai tỉnh Thái Bình, Nam Định và nhiều tỉnh khác không ít nơi bị chìm trong nước. Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đã xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ.


Đói! đói! Đói! Đâu đâu cũng đói ! Dọc theo quốc lộ số một, từng đám, từng đám người lê bước, theo nhau đi, không dứt. Họ rách rưới, gầy giơ xương, có kẻ trần như nhộng, chỉ còn cái khung xương di động và đôi mắt sâu hoắm hoang dại .Họ cứ đi mà không biết đi về đâu, chỉ mong sao đến nơi nào có cái ăn để mà sống. Nhưng dọc đường, đến đâu cũng thấy người đói, không chỉ một số người đói, mà hàng vạn người đói! Họ cứ đi, nối tiếp vào nhau mà đi. Người chống gậy, kẻ lê bước, lê không nổi thì bò. Chốc chốc, dọc đường lại thấy người ngã gục. Họ kiệt sức vì đói, chết với đủ mọi tư thế, chết nằm còng queo, chết ngồi gục đầu xuống đất và cả chết khi đứng dựa vào hõm cửa nhà bên đường!


Ở vùng đê vỡ, nước ngập dài ngày, chỉ còn ông bà già, đàn bà và trẻ nhỏ không đi đâu được, họ đành dỡ mái nhà nhịn đói, đưa nhau lên nóc và lên ngọn cây, hy vọng nước rút sớm. Người sống kể rằng: Trên mái nhà tranh, có bà mẹ nuôi con sơ sinh, dưới chân thì nước lụt, trên đầu thì nắng gắt. Bà bị đói nhiều ngày không có gì ăn, đứa con bú bầu sữa của mẹ đã cạn kiệt, bà ôm con rồi chết. Đứa bé vẫn ngậm đầu vú thâm đen và răn reo của mẹ, rồi mút mút mãi không thấy sữa thì khóc thét lên cho đến khi không còn khóc được nữa, lịm đi rồi cũng chết theo mẹ !


Giữa lúc này, khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh đưa ra “Phá kho thóc của Nhật, chia cho dân nghèo”. Khẩu hiệu này ban ra đúng lúc, đã lan toả nhanh, thúc giục hàng ngàn, hàng vạn nông dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tay dao, tay gậy và thúng mủng rùng rùng kéo nhau đi phá kho thóc, lấy thóc của Nhật cứu đói.


Họ kéo nhau đi từng đoàn, có tổ chức, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo phát xít Nhật”, “Đả đảo phát xít Nhật”. Tiến lên !


Bỗng trong đoàn có người cất tiếng hát mọi người hát theo: “Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn/ Nào ngục tù, nào trại giam/ Biết bao nhiêu nhục hình./ Đồng bào tuốt gươm vùng lên !”


Tin tức lan nhanh như tên bay, làng nọ bắt chước làng kia, huyện nọ theo huyện kia, tỉnh nọ theo tỉnh kia cả vùng đồng bằng sông Hồng, nhân dân vùng lên theo nhau cướp phá kho thóc của giặc Nhật để cứu đói.


Những ngày này, bà lớn và chánh Cò lo sốt vó. Chốc chốc lại có tin báo kho thóc nơi này nơi kia bị phá lấy hết. Các kho ở Dâu, Quả Cảm, Khánh Giàng, Lục Liễu, Cẩm Lý... đã thuộc về dân nghèo. Bà lớn nói với chánh Cò:


-  Bây giờ đâu đâu cũng đói, không khéo vì đói mà có lúc họ kéo đến phá lấy hết kho thóc nhà ta. Chi bằng bây giờ, ta bớt ra một phần phát chẩn cứu đói cho họ, để tránh tai hoạ lớn.


Sau hôm ấy, bà Hai cùng gia nhân đứng ra xúc thóc cấp cho mỗi hộ nông dân trong làng năm đấu, rồi nấu những thùng cháo lớn phát cho những người đói từ nơi khác đến.


Tỉnh Bắc Ninh cũng bị vỡ đê ngập lụt. Đáp Cầu chìm trong nước, dân phải ngồi bè mảng lên núi tránh lụt. Vài hôm sau nước rút, xác người đói từ nơi khác trôi đến và xác động vật chết trong nước rải rác khắp nơi, bốc mùi hôi thối. Ông Ngô Đức đại diện cho tầng lớp nhân sĩ trong làng thuyết phục lý trưởng, cùng đứng ra bàn giải quyết việc này. Anh Mõ được lệnh đi rao khắp làng: Cốc, cốc -  cốc cốc/ Dân làng nghe rõ,/ Đói, đói, khắp nơi/ Thày Lý có nhời/ Mời bà con/ Ra đình họp.


Tại cuộc họp này, mọi người nhất trí giao cho ông Ngô Đức đứng ra vận động những người giàu có và các vị có bát ăn bát để, thương người như thể thương thân, “Lá lành đùm lá rách”, mỗi người bỏ ra một ít thóc hoặc tiền để cứu đói. Giao cho bà Ba vợ chánh Cò cùng các bà các cô nấu cháo phát chẩn. Giao cho Quang Vũ cùng đội thanh niên Sơcút vận động các trai gái làng dọn dẹp vệ sinh, tẩy uế. Những việc chưa từng thấy này đã được triển khai rầm rộ, bà con hưởng ứng, đem lại hiệu quả rõ rệt.


 Hôm ấy, Quang Vũ phân công các bạn đến từng nhà vận động các chàng trai, cô gái mang thùng chổi tre ra đường làm vệ sinh. Xuân Mai cũng được bố mẹ cho đi cùng bạn. Cả làng ra đường với khí thế sôi động. Đâu đâu cũng có tiếng chổi quét, tiếng xẻng xúc và những bước chân chạy thình thịch xách thùng rác đổ ra bãi. Vũ mặc chiếc quần soóc lửng, cởi trần đẩy chiếc xe cút kít đầy rác, rồi quay lại xúc tiếp. Dọc đường, cậu thấy một cô gái tóc búi ngược, buộc chiếc nơ đỏ, hai tay xách hai xô rác, xem chừng nặng so với sức cô, hai má cô hồng lên như hai trái bồ quân. Vũ nhìn như quen quen.


-  Anh Quang Vũ! -  Tiếng gọi như reo.


Vũ dừng lại, nhìn cô gái rất đẹp, thấy ngờ ngợ.


-  Em là Xuân Mai con chú Ngô Đức đây mà.


-  À, anh nhớ rồi, em lớn nhanh, càng ngày càng xinh đấy.


Vũ khen, Mai vui lắm nhưng hơi thẹn. Trước khi xách rác đi đổ tiếp, cô nhắn với lại:


-  Hôm nào làng tổ chức văn nghệ anh bảo chúng em nhé.


Vũ gật đầu, nhìn theo dáng đi của Mai khuất dần trong đám đông.


Sau trận lụt, nước rút đi, những người đói từ nơi khác kéo về Đáp Cầu ngày càng nhiều. Bà Ba cùng các bà nấu cháo, phát chẩn luôn tay mà không kịp. Bà tìm gặp Quang Vũ, đề nghị anh cử thêm cho một số cô gái trợ giúp.


Quang Vũ đi tìm gặp Xuân Mai và nói:


-  Tổ nấu cháo phát chẩn cho người đói làm tích cực mà không xuể, bà Ba đang cần người đến giúp. Em hãy chọn mấy bạn gái đến ngay giúp cho họ, được không?


Mai thấy Vũ nhờ mình thì thích lắm, cô gật đầu đồng ý ngay và quay ra gọi mấy bạn đến gặp bà Ba để trợ giúp tổ phát chẩn.


Các cô trao đổi với nhau rất nhanh, rồi họ tỏa ra về nhà mang gạo, bát to bát nhỏ, mang những nồi đồng cỡ đại ra chùa. Họ vo gạo, đổ vào nồi cùng với nước sạch, cho thêm dúm muối, nổi lửa lên nấu cháo.


Nghe tin thanh niên phát chẩn cháo cứu đói, hàng dãy người đói theo nhau tập tễnh lê bước vào chùa. Từng bát, từng bát cháo còn nóng được múc ra trao cho mỗi người đói. Họ không kịp nói gì, vồ lấy bát cháo nóng, húp vội nghe sùm sụp. Vài người đói lâu ngày, kiệt sức, nghe biết tin có cháo, họ muốn đi đến nơi, mà không ngồi dậy nổi. Vũ cùng mấy bạn xốc nách đưa những người này đến nơi phát cháo.


*


   Khi Nhật đảo chính Pháp, đảng Cộng sản đã ra chỉ thị “Nhật -  Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.


Chỉ thị này đã mau chóng truyền đến các cơ sở quần chúng cách mạng ở hai tỉnh Bắc Ninh -  Bắc Giang. Nhiều nơi chuẩn bị võ trang, tiến tới cuộc tổng khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa từng phần bắt đầu mở ra. Tại Xuân Biểu có gần trăm tự vệ và gần một ngàn quần chúng đã thị uy phá kho thóc đồn điền Vát, bọn Nhật không dám can thiệp. Du kích Yên Thế đột nhập vào huyện lỵ, bắt sống tri phủ, thu nhiều súng đạn; rồi tràn về đánh chiếm các huyện lỵ khác.


 Việt Yên, tri huyện bỏ cả ấn triện mà chạy. Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày hôm trước, thì ngày hôm sau lực lượng Việt Minh và quần chúng cách mạng đã chiếm dinh tỉnh trưởng Bắc Ninh, toàn bộ Bảo an phải đầu hàng, bọn Nhật phải để Việt Minh hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 toàn quốc tổng khởi nghĩa. Hà Nội đã giành được chính quyền từ tay quân Nhật. Ngày hôm sau hàng ngàn người dân Đáp Cầu cùng nhân dân quanh vùng đổ ra đường vác cờ đỏ sao vàng hô vang Việt Nam độc lập muôn năm, dẫn đầu là các chiên sĩ Việt Minh trong đó có ông Ngô Đức và Quang Vũ. Bọn Nhật ở núi pháo đài Đáp Cầu treo cờ trắng đầu hàng.


Tại trang trại của chánh Cò, những ngày này cổng đóng im ỉm. Một số gia nhân là nam giới đi theo dân làng biểu tình kéo về huyện lỵ Việt Yên. Mẹ con Chánh Cò ngồi nhìn nhau lo lắng, không biết thời cuộc rồi sẽ ra sao.


Ngay từ sáng sớm ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, ngày lễ độc lập của cả nước, hàng ngàn người dân Đáp Cầu đã kéo nhau ra sân vận động, cùng nhân dân ở các làng khác dự lễ, qua đài nghe Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Không biết chuẩn bị từ khi nào, hàng đoàn thanh niên do Quang Vũ dẫn đầu đã xếp hàng tề chỉnh, tiếng trống ếch rộn ràng. Đội múa lân có sư tử, ông địa và các võ sĩ của làng Đáp Cầu biểu diễn trong tiếng trống thùng, thùng -  thùng, thùng vang khắp dọc đường. Đến nơi, người ta treo một cái khung ảnh lớn cao chót vót trên một cái giá bằng tre. Sư tử nhảy lên vai võ sĩ, người nọ đứng chồng lên người kia. Cuối cùng sư tử đã đứng cao đến tận khung ảnh, nó dâng và gắn ảnh cụ Hồ vào cái khung treo cao -  tiếng vỗ tay và reo hò không ngớt.


Xuân Mai cùng mấy bạn gái đứng cổ vũ cho đội sư tử của làng. Các cô không biết người múa sư tử là ai. Con sư tử nhảy xuống đất. Người múa sư tử nhấc đầu sư tử ra. Mai và các bạn reo: Anh Quang Vũ ! Quang Vũ !


 Cuộc mít tinh bắt đầu. Đài thu thanh được mở ra, truyền qua những chiếc loa lớn, mọi người nghe rõ tiếng nói của cụ Hồ:


“Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng... có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” -  Tiếng hoan hô vang lên.


“Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa đón rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích... càng cực khổ, nghèo nàn... Nhật đầu hàng Đồng minh, thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” -  Tiếng hò reo lại vang lên không ngớt.


“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập (vỗ tay kéo dài). Vì các lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải giữ vững nền tự do, độc lập ấy” -  Đến đây hàng vạn người reo hò nhảy múa cùng tiếng trống vang động cả một vùng. Kết thúc mít tinh, đoàn người nối đuôi nhau đi diễu hành trong niềm vui bất tận.


Đứng lẫn trong đám đông, chánh Cò mặc quần áo nâu sồng. Ông đến đây là do tò mò, muốn biết cụ Hồ nói gì và thái độ của dân chúng ra sao. Ông nhận thấy cụ nói đến đôc lập, tự do và bình đẳng về quyền lợi. Cụ bênh vực cả người tư sản Việt Nam. Cụ đề cao tuyên ngôn độc lập của nước tư bản Mỹ. Vậy thì cụ Hồ đâu phải là người cộng vợ cộng chồng hay tước đoạt tài sản của người giàu, như một số kẻ đã nói? Chánh Cò ra về thấy yên tâm hơn. Ông vui vẻ kể cho bà mẹ nghe những gì đã diễn ra ở đây. Hai mẹ con ông căn dặn gia nhân từ nay trở đi gọi bà lớn là cụ Mận, gọi ông chánh là ông Cò.


 


   Trên đường dự mít tinh ngày lễ độc lập ra về, sau khi đoàn người giải tán, Xuân Mai để ý nhìn không thấy Quang Vũ. Cô vừa đi vừa nghĩ đến anh: Có một lần, nghe tiếng gà gáy, trời chưa sáng hẳn, Mai đã thức giấc. Như những lần khác, ý nghĩ đầu tiên sau khi thức dậy là cô nghĩ đến Quang Vũ. Anh dạo này hơi gầy, suốt ngày hoạt động chưa hết việc này đã đến việc kia. Có lần anh đã cùng đại diện Hội Phụ nữ là bà Ba đến thăm nơi học bình dân. Mai cũng là giáo viên ở đấy. Hôm ấy, bốn mắt đã nhìn nhau, anh ấy nhìn cô sao mà tình cảm thế! Trời bắt đầu sáng, cô mở cửa sổ ngóng chờ đội Sơcút của anh chạy thể dục qua cửa nhà. Cô nhìn ra bờ sông, nghe tiếng hò kéo gỗ dô ta, dô huầy vang lên. Dưới sông, tiếng gõ lách cách vào mạn thuyền của người đánh cá. Đang nhớ chuyện cũ và nghĩ lan man, cô chợt nghe từ đằng sau có tiếng gọi:


-  Xuân Mai, em đấy à ?


Nghe tiếng gọi, chưa cần nhìn thấy người, Mai đã biết ngay người gọi mình là anh Vũ. Cô mừng quýnh, quay phắt người và reo lên:


-  Anh Quang Vũ !


 Hai người đi sánh vai nhau. Mai định kể cho anh nghe chuyện nọ chuyện kia, chưa biết bắt đầu từ chuyện gì. Còn Vũ, từ trong sâu thẳm của lòng mình, anh biết mình đã có một chỗ dành cho Mai, dù còn nhỏ nhoi hơn những phần còn lại là sự nghiệp hiến dâng cho Đoàn thể. Trời về chiều, gió từ sông Cầu thổi lên mát dịu. Không ai bảo ai, đôi chân đưa họ rẽ ra bờ đê dạo chơi. Hai người ngồi sóng đôi bên nhau trên phiến đá màu xanh, ba mươi hai bậc. Nhìn xuống sông Cầu, dòng sông vẫn lặng lờ trôi, bên kia sông, dưới rặng tre, vang lên tiếng hát của cô thôn nữ như nhắn nhủ “người ơi, người ở đừng về”. Quang Vũ cao hứng ngâm nga khe khẽ câu ca dao xưa:


       Sông Cầu nước chảy lơ thơ,


   Đôi ta thương nhớ, bao giờ cho nguôi !


Mai nhìn anh đắm đuối. Từ lúc nào, Mai đã đặt bàn tay mình nằm gọn trong lòng bàn tay to khoẻ của Vũ. Hơi ấm từ bàn tay ấy truyền sang cô. Cô cảm nhận được sự yêu thương và tin cậy biết nhường nào. Cô ước ao thời cuộc được yên bình, hai người được mãi ngồi bên nhau, rồi ngày nào đó cưới nhau, cho nhau những đứa con xinh đẹp và ngoan ngoãn, nối tiếp sống mãi trên vùng đất này.


-  Sắp tới em định làm gì ? -  Vũ hỏi Mai.


-  Em muốn sang Hà Nội học sư phạm, rồi về làng dạy các em nhỏ học.


-  Hà Nội bây giờ tình hình căng thẳng lắm. Thực dân Pháp không lâu nữa sẽ quay trở lại Hà Nội. Bọn phản động ở đó đang ráo riết phá hoại. Sớm muộn thế nào cũng xảy ra chiến tranh.


Mai nhìn anh lo lắng:


-  Em không muốn, chiến tranh, em sợ lắm -  Nói đến đây, Mai tựa mình vào Vũ. Vũ ôm Mai vỗ về. Hai người im lặng, cùng nghĩ về chiến tranh...


Vũ cũng như Mai, anh ao ước nước nhà nay đã được độc lập, cần có cuộc sống hòa bình. Anh sẽ đi học tiếp lấy bằng kỹ sư cầu đường để xây dựng cho đất nước. Nhưng kẻ thù buộc ta phải cầm súng, trai thời loạn không thể nào khác được. Hơn nữa anh đang là người của Đoàn thể, Đoàn thể cần mình đi đâu, anh phải sẵn sàng đi đấy.


-  Nếu chiến tranh xảy ra, anh định thế nào ? -  Mai đột ngột hỏi. Vũ chậm rãi trả lời:


-  Chắc là anh sẽ đi tòng quân đánh giặc em ạ !


-  Thế thì em phải xa anh sao? Rồi biết bao giờ mới được gặp lại ? Đạn bom nó vô tình lắm... ôi anh ơi! Em sợ, em sợ... phải xa anh -  Nói đến đây đầu cô gục xuống, khóc rưng rức.


Vũ cầm khăn lau nước mắt cho Mai, rồi nhẹ nhàng vuốt mái tóc đen nhánh dài như suối, chảy xuống vai Mai và buông xòe trên phiến đá xanh.


Trước mắt họ, chiếc tàu hỏa móc nhiều toa dài dằng dặc kéo còi, ậm ạch chạy qua chiếc cầu cũ kỹ, những mặt người nhô ra, trầm lặng nhìn dòng sông nước đang chảy lơ thơ. Con tàu vẫn vô tình mải miết chạy xình xịch, xình xịch. Mai tưởng như con tàu kia, một hôm nào đó sẽ mang Vũ của cô đi. Cô oà khóc to hơn.


                             


Ngày sinh nhật ông nghị ở tuổi năm mươi. Ông Cò cùng bà Ba đến chúc mừng. Hôm ấy rất đông các vị có “máu mặt” trong làng. Họ đến đây chủ yếu là nghe và bàn luận xem thế sự ra sao. Trong lòng họ lo lắng chưa yên. Khởi đầu là sự chúc tụng theo truyền thống diễn ra rất nhanh, tiếp đó là những vướng mắc, hỏi nhau ồn ào chẳng khác gì cái chợ. Lát sau, ông Nghị đứng lên cảm ơn các vị có lòng đến chúc thọ ông. Ông Ngô Đức, được ông Nghị mời ra nói đôi lời. Ông Đức nói rằng:


-  Chiến tranh thế giới đã kết thúc. Đồng minh và Nga Xô đã đánh tan lực lượng phát xít. Việt Nam đã giành được độc lập, tự do. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được thành lập, bao gồm những người của mặt trận Việt Minh, có cả nhân sĩ trí thức, những người tư sản, điền chủ và cả những người đã làm quan trong chế độ cũ. Người dân được tự do kinh doanh...


Ông Đức nói xong, gọi Quang Vũ mang một chồng báo nhật trình ra đọc cho mọi người cùng nghe. Vũ lọc ra các tin tức sau:


 Vua Bảo Đại, một người từng tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”, nay ông đã được cụ Hồ mời ra làm cố vấn.


Ông Phan Kế Toại từng là trọng thần của triều đình nhà Nguyễn và ông Lê Hữu Từ là giám mục cũng  đuợc Chính phủ mời cộng tác.


Chính phủ biểu dương nhà tư sản nổi tiếng ở Hà Nội là ông Trịnh Văn Bô đã ủng hộ chính phủ hàng trăm cây vàng để xây dựng đất nước.


Hồ Chủ tịch đã gửi thư đến các địa phương yêu cầu phát hiện người có tài đức để Chính phủ trọng dụng.


Cuối cùng là tin quân Pháp xâm lược trở lại Nam Bộ. Cụ Hồ kêu gọi toàn dân chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc dốt.


Sau khi nghe những thông tin trên, những nếp nhăn trên trán của nhiều vị đã dần dần dãn ra, họ đua nhau bình luận:


-  Cụ Hồ kêu gọi toàn dân, kể cả người giàu có cùng đoàn kết cộng tác với chính phủ, xây dựng và bảo vệ đất nước. Cụ nói thế là đúng, là nói thật và làm thật.


-  Nếu trước đây có tội lỗi, thì những người ở làng ta thì chẳng ai có tội sánh bì với ông Vĩnh Thuỵ và ông Phan Kế Toại, vậy mà cụ Hồ vẫn mời họ ra giúp nước đấy thôi.


-  Cụ Hồ lên án thực dân Pháp không cho những nhà tư sản Việt Nam ngóc đầu dậy, thật là chí lí. Cụ lại khuyến khích và bảo vệ nhà tư sản Việt Nam. Bây giờ tầng lớp trên có thể an tâm tin tưởng ở chính phủ mới.


Cuối cùng ông Ngô Đức nói:


-  Dân Đáp Cầu chúng ta, hãy ủng hộ Chính phủ chống ngoại xâm, chống giặc đói và giặc dốt.


Sau ngày Tổng tuyển cử toàn quốc, chính quyền mới và mặt trận Việt Minh của tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang đều được bổ sung thêm nhiều vị nhân sĩ. Ông Ngô Đức đã được bầu làm đại biểu quốc hội. Ông Nghị được bổ nhiệm làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến tỉnh Bắc Ninh. Ông Cò cũng được cử làm thành viên mặt trận Việt Minh của huyện... Bất cứ ai, không kể quá khứ, nếu thật thà yêu nước đều có chỗ đứng và được giao vị trí xứng đáng để làm ích nước lợi nhà.         


*


  Giặc lại tràn vào !


    Đến đây, kể về âm mưu của bọn đế quốc muốn giúp thực dân Pháp tái chiếm lại Việt Nam . Lần này các nước Đồng minh sau khi đánh thắng phát xít với khẩu hiệu giải phóng các dân tộc, thì trớ trêu thay lại xúm vào giúp thực dân Pháp quay lại xâm lược nước Ta (!). Ở Nam Bộ, núp dưới bóng quân Anh thuộc Đồng minh vào giải giáp bọn Nhật, thực dân Pháp đã đổ bộ vào Sài Gòn. Chúng sẽ tăng cường lực lượng và tìm cớ đưa quân ra Hà Nội. Ở miền Bắc, hai mươi vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa giống như quân Anh và đã bắt đầu vào. Đằng sau quân Tưởng là bọn Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam núp bóng theo đuôi.


Dọc đường quốc lộ số một, từ Lạng Sơn về Đáp Cầu mau chóng xuất hiện những toán quân Tưởng Giới Thạch vào Miền Bắc nước ta với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Người dân Đáp Cầu không thể tưởng tượng nổi, một đạo quân với danh nghĩa của Đồng minh và chiến thắng, lại thê thảm như bọn này. Chúng rách rưới, nhếch nhác bẩn thỉu, phần đông hành quân đi bộ không hàng không ngũ. Một số lính ốm yếu theo sau, nhiều kẻ chống gậy lê những cái chân bị sâu quảng, băng bó lâu ngày không thay, đen nhẻm thối hoăng hoắc. Chúng đói, cởi đổi quần áo, quân trang lấy cái ăn dọc đường. Thậm chí có tên bán đổi cả súng đạn để được ăn no mà không phải mang vác nặng. Trẻ con dọc đường thấy vậy, chạy theo vừa xem, vừa hát câu bọn chúng hát nhái: «Đoàn quân Tàu ô đi,/ Sao mà ốm thế ?/ Bước chân buồn lang thang trên đường Việt Nam!»


Tiêu Văn, viên tướng chỉ huy quân Tưởng khi mới bắt đầu vào Việt Nam, y tưởng quân Nhật vẫn còn thế lực thay Pháp nắm được chính quyền, y muốn bắt Nhật giao chính quyền đó cho mình. Nhưng hắn đã lỡ nhịp. Quân Tưởng vào đến Việt Nam, thì toàn dân Việt Nam đã đi trước một bước, tổng khởi nghĩa giành xong chính quyền từ tay giặc Nhật. Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ra đời và trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng Việt Nam đã độc lập tự do!


Bọn Tàu Tưởng tức tối, không đạt được mục đích mong muốn. Chúng một mặt đành tiếp xúc với chính phủ Việt Nam, mặt khác chúng sử dụng bọn Việt gian bán nước Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam cùng tay sai lôi kéo những người nhẹ dạ để tranh chấp chính quyền với chính phủ Việt Nam. Ngày đó, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới giành được độc lập, thế giới hầu như chưa nghe đến tên ấy và chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận. Hồ Chủ tịch đã thực hiện sách lược mềm dẻo để thế giới biết đến ta và có thời gian cho quân đội và nhân dân cả nước chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài khi giặc Pháp quay lại .Trước mắt để hoà dịu với quân Tưởng, Quốc hội phải giành bảy mươi ghế không qua bầu cử, cho tay chân của Tàu Tưởng, và Chính phủ cũng chấp nhận cho Nguyễn Tường Tam giữ chức phó Chủ tịch. Hôm ra mắt trước một số người, Nguyễn Hải Thần tự nhận mình là người Việt Nam yêu nước. Nhưng hắn không nói sõi tiếng mẹ đẻ. Khi mở đầu cuộc nói chuyện, hắn nói: “Sưa tồng pào”. Lúc không tìm được từ diễn đạt nội dung định nói, hắn chửi thề: “Tửu nà ma!”. Những người họp mặt cười ồ (!) Tham vọng của chúng không dừng ở đó. Chúng lập ra các lực lượng phản động có trụ sở ở nhiều tỉnh miền Bắc, trong đó có Đáp Cầu. Hàng ngày, chúng cho tay sai đi lôi kéo những người ở tầng lớp trên làm việc cho chúng, chờ cơ hội lật đổ chính quyền mới.


Một hôm, đại diện của bọn Việt Cách báo tin sẽ đến gặp ông Cò. Cụ Mận nói ngay:


-  Con ơi, xem ra bọn này chẳng tử tế gì, nó theo chân quân Tàu vào nước ta, để “theo đóm ăn tàn”. Nay mai hết hạn, quân Tàu về nước, bọn tay sai nó sẽ cút theo thôi.


Quả nhiên, thời gian sau, quân Tưởng buộc rút về nước, thì bọn Việt gian kia cũng mất tăm luôn. Trước khi quân Tưởng về nước chúng đã tạo đà cho thực dân Pháp quay trở lại Hà Nội nhằm xâm lược nước ta một lần nữa.


Giặc Pháp muốn nhanh chóng thôn tính nước Việt Nam một lần nữa. Để thực hiện kế hoạch hòa hoãn. Chính phủ Việt Nam phải cùng đại diện chính phủ Pháp ký hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946. Hồ Chủ tịch đã đến Pari. Quốc kỳ Việt Nam lần đầu tiên đã tung bay tại thủ đô nước Pháp. Thế giới lần đầu tiên đã biết đến nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ! Trong khi Hồ Chủ Tịch đấu tranh ngoại giao tại Pa ri, Mặt trận Việt Minh cùng nhân dân cả nước tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kì.


                          *


    Cả Nhẫn là một người, giống như tên anh, quen lấy chữ nhẫn làm đầu, chấp nhận sống yên phận. Nhưng giặc Pháp đâu có để cho anh yên. Những năm tháng tù đày vô cùng cực khổ, thay vào đó anh được học hỏi rèn luyện, thử thách khắc nghiệt… nên đã trở thành một người Cộng sản thực thụ. Đoàn thể giao cho anh làm công tác tuyên huấn trong nhà tù. Nhờ có sự thông minh bẩm sinh và trí nhớ đặc biệt, chỉ cần lướt qua đọc một lượt, là anh đã nắm bắt được những vấn đề cốt lõi của các tài liệu mật đưa vào trong tù, kể cả chỉ thị “Nhật -  Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Anh nhớ nhiều bài thơ tràn đầy khí phách hào hùng và tinh thần yêu nước của cụ Phan Bội Châu, Hoàng Văn Thụ và Tố Hữu. Rồi anh truyền đạt cho chi bộ trong lao, hoặc đọc lại cho các bạn tù cùng nghe.


Cả Nhẫn, bây giờ anh em Nam Bộ gọi là Hai Nhẫn là người trực tiếp phụ trách tờ báo trong tù, viết bằng vôi trên sàn nhà tù. Đêm đêm, anh cùng đồng chí của mình dọn dẹp một khoảng trống, lau sạch, biến thành “tờ giấy” khổng lồ. Họ chia ô, chia cột, viết những tin ngắn, những đoạn văn luận chiến vạch mặt kẻ thù và biểu dương tinh thần cách mạng. Các tù nhân lần lượt đến đây “đọc báo”, rồi truyền tin đi khắp trại này trại khác. Sáng ra “ tờ báo” này đã bị xóa dấu vết. Nhờ “tờ báo” trên, mà Đảng ủy nhà tù đã “biến nhà tù thành trường học”. Những tin tức đầy khích lệ đã được đưa lên mặt “báo nền nhà” như: Hồng quân Liên Xô ào ào tấn công, phá vỡ chiến tuyến của phát xít Đức, tiến vào tận sào huyệt của Hitle, đã giải phóng Bá Linh! Tin Nhật hoàng đã tuyên bố đầu hàng… làm nức lòng người trong tù. Họ âm thầm, nhưng sôi sục chuẩn bị, chờ thời cơ vượt ngục trở về tham gia tổng khởi nghĩa.


 Nhưng rồi, “tờ báo” mới ra được đến tin Nhật đầu hàng thì bọn tay chân cai ngục đã mật báo cho chúng biết. Chúng huy động lực lượng xông vào lục soát, rồi bắt Hai Nhẫn đánh đập và tra hỏi. Không khai thác được gì, bọn chúng nhốt anh vào xà lim chuồng cọp.


Ông già Nam Bộ tên là Sáu Huỳnh, người mà các đảng viên cộng sản ở tù đã bầu ông là bí thư Đảng ủy. Một hôm, ông nhận được tin động trời! Vốn là người trầm tính, bỗng hôm nay ông nhảy tâng tâng và reo lên. Ông vẫy tay gọi những người tù lại gần. Ông nói công khai, tiếng sang sảng: Tôi báo cho các đồng chí và anh chị em hay rằng: Ngày 19 tháng 8 năm 1945 vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân cả nước ta đã nhất tề tổng khởi nghĩa. Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Tuaran và hầu hết các tỉnh, cách mạng đã giành được chính quyền từ tay Nhật! Hiện nay bọn Nhật, giám thị, ma tà và lính kín ở nhà tù này đã trốn biệt. Một lát nữa nhân dân trên đảo sẽ kéo đến đây!


Ông Sáu vừa dứt lời, cả trại tù chính trị số một vang lên như sấm rền. Hàng loạt tiếng hô Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm ! Tiếng hô lan ra từ trại này sang trại khác, kể cả các trại tù thường phạm. Tiếng hô khẩu hiệu và tiếng reo nối tiếp nhau như những đợt sóng liên tiếp trào dâng. Khẩu lệnh phá ngục được ban ra. Mọi cánh cổng trại tù trong nhà lao Côn Đảo phút chốc đều bị phá bật tung. Các chính trị phạm ùa ra, dưới mặt trời chói chang, họ gặp hàng đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng hô vang khẩu hiệu đi tới. Họ ôm nhau, cười trong nước mắt. Họ hát vang bài ca quốc tế, hát bài chòi, hát chèo, hát câu hò Nam Bộ. Họ dắt tay nhau nhảy múa, hồn nhiên như những trẻ thơ.


Côn Đảo đã được giải phóng !


Tiếp đến có tin từ đất liền: Trưa mai, sẽ có tàu ra đón tất cả anh chị em chính trị phạm về đất liền. Hàng ngàn nhà cách mạng bị giam cầm tràn ra bờ biển, nhìn về đất liền reo hò và đón đợi ! Họ rủ nhau thăm viếng và thắp hương trên những ngôi mộ liệt sĩ bị địch bắn hoặc bị tra tấn dã man đến chết, chôn ở nơi này ! Nghĩa địa Hàng Dương hôm nay, trong tâm tưởng của họ, không còn héo hắt, u uất như những lần thăm trước. Hàng cây hôm nay đu đưa theo gió, phát ra tiếng vi vu, vi vu như hát.


Hai Nhẫn cùng anh em rời Hàng Dương, trở ra ngồi bên bờ biển nhìn về đất liền. Ở phía tây xa xa, mặt trời đỏ rực từ từ lặn sau làn nước biển -  Ở đó có quê nhà! Anh nghĩ đến mẹ, không biết mẹ có còn sống đến khi anh về? Anh nhớ vợ, nghĩ đến cu Tý, chắc bây giờ nó đã lớn nhiều và vợ anh đã già ?!


   Cả Nhẫn cùng tất cả những người tù chính trị ở Côn Đảo, sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đã được Chính phủ cho tàu ra đón về đất liền. Đây là lực lượng cách mạng nòng cốt lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ.


Sáng hôm sau, Hai Nhẫn thức dậy sớm, ra bờ biển hóng mát và đón mặt trời lên. Anh tập thể dục xong, chạy bộ trên bãi cát vàng, vừa chạy vừa ngắm mặt trời đỏ rực chui lên từ biển xanh. Chiều hôm ấy, anh và các đồng chí của mình đã đặt chân lên đất Sài Gòn. Hàng ngàn người đứng trên cầu cảng giơ cờ hoa vẫy vẫy. Những người mẹ, người vợ và những đứa con ôm chầm lấy người thân khóc khóc, cười cười! Một số chính trị phạm xin phép được về sum họp với gia đình ít ngày. Hai Nhẫn và một số anh em ở xa, được Thành ủy cho xe đưa về cơ quan. Anh trông chờ để gặp được cấp trên, xin phép về thăm gia đình.


    Chờ mãi, chờ mãi, từng giờ, từng ngày Hai Nhẫn vẫn chưa được cấp trên gọi. Ngày thứ ba ở đây, anh thấy người đi vô đi ra nhộn nhịp, ai ai cũng khẩn trương. Hỏi ra, anh biết là quân Pháp núp bóng theo chân quân Anh đang rục rịch vào Sài Gòn. Một số thanh niên cao to mặc áo bà ba đen, cổ khoác khăn rằn, lưng đeo súng ngắn, đi theo một ông già Nam Bộ vào phòng họp. Anh nhìn kỹ, ngỡ ngàng gọi to: Chú Sáu ! Ông già quay lại nhìn, cũng reo lên: Hai Nhẫn ! Hai người ôm nhau tưởng như đã lâu lắm rồi mới gặp lại. Ông Sáu nói:


-  Gặp mày ở đây thì tốt rồi, tao đang muốn tìm gặp có việc quan trọng đây. Đi với bọn mình, vào gặp anh Tư Bắc Kỳ.


Nhẫn theo chân ông Sáu Huỳnh và mọi người vào phòng họp. Anh trông thấy một người ngồi bàn giữa, trạc bốn chục tuổi, mặt vuông, trán cao, đôi mắt nhỏ nhưng rất sáng, có hàng râu con kiến trên chiếc miệng cười tươi. Ông Sáu dắt tay Nhẫn, giới thiệu: Đây là anh Tư ở Trung ương mới vô, còn đây là Hai Nhẫn, người Bắc mà tôi đã báo cáo với anh, kia là những cán bộ quân sự anh đã biết.


Ông Tư giơ tay nắm chặt tay Hai Nhẫn, chỉ ghế mời mọi người cùng ngồi. Cuộc họp bắt đầu. Ông nói vắn tắt tình hình thế giới và trong nước. Ông nhấn mạnh đến việc thực dân Pháp núp bóng quân Anh, đưa quân vào Sài Gòn nhằm tái chiến Nam Bộ và sẽ đưa quân ra Bắc… Ông nói: Ngay từ lúc này ta phải khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài. Hôm nay tôi mời các đồng chí đến đây để nhận chỉ thị thành lập tiểu đoàn Vệ quốc quân đầu tiên của Nam Bộ. Anh Sáu Huỳnh chính trị viên trưởng, Hai Nhẫn là chính trị viên phó; còn chỉ huy trưởng tiểu đoàn là anh Long Vân. Nói đến đây, ông Tư mời một thanh niên đứng lên, anh ta đứng phắt dậy, dập chân đánh rụp, giơ tay chào và nói: Báo cáo, tôi Long Vân, xin chỉ thị đồng chí. Mọi người nhìn anh cười vui vẻ.


Ra khỏi cuộc họp, Hai Nhẫn ngỡ ngàng, vừa vui, vừa tiếc chưa thể về thăm nhà. Ông Sáu thấy Hai Nhẫn nét mặt suy tư, nói liền:


-  Mày lại nhớ vợ con, mong được về thăm chứ gì?


-  Vâng, thưa chú.


-  Bây giờ tình hình khẩn trương lắm, giặc Pháp sắp đánh đến nơi. Mày đi lâu không được. Giữ mày không cho về, tao không đang tâm. Thôi cho mày về nửa tháng, chiều nay có xe anh Tư ra Bắc, đi theo liền.


-  Thưa chú Sáu, tôi đang nhận nhiệm vụ…


-  Không sao, tao sẽ báo cáo xin anh Tư cho mày về phép. Công việc ở đây tao sẽ thay mày. Khi mày vô có thể sẽ thay tao…


Ngay chiều tối hôm ấy, Hai Nhẫn được chú Sáu đưa cho mặc bộ quần áo bà ba và chiếc mũ tai bèo, hẹn ra ngồi đợi ở ghế đá trước cửa phòng họp cơ quan, chờ anh Tư Bắc kỳ họp xong thì đi liền. Khoảng 11 giờ đêm, từ phòng họp vẳng ra tiếng nói tiếng cười xen lẫn tiếng bước chân hối hả. Hai Nhẫn nhìn thấy anh Tư bước ra trước, theo sau là một người dong dỏng cao có cái mồm cười chúm chím dáng vẻ trí thức. Bỗng có tiếng gọi từ phía sau:


-  Trần Văn Giầu quay lại gặp anh Hai Hùng -  Người dong dỏng cao đi vào.


Sáu Huỳnh cùng người vừa nói đi về phía Hai Nhẫn, rồi bảo:


Hai nè, đây là anh Mười Linh, anh Tư đang đợi mày đấy-  Hai Nhẫn cúi chào, ông Mười nắm tay Nhẫn và nói:


-  Hai ra xe về Bắc đi, kẻo anh Tư chờ. Hôm nào vô Nam anh em mình sẽ gặp nhau chuyện trò dài dài.


-  Vâng, chào các thủ trưởng -  Nói xong Hai Nhẫn chạy nhanh ra xe. Chiếc xe ô tô nổ máy ra đường quốc lộ số 1, bon bon về hướng Bắc.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 11.08.2019
Tắt lửa lòng - Nguyễn Công Hoan 11.08.2019
xem thêm »