tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28890268
Tiểu thuyết
16.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


2. CẬU CÒ


   Trên đường về nhà, cậu chủ cũng không nói gì, mặc cho ngựa đi từng bước ; lòng cô Hai trĩu nặng.


Từ sau hôm lễ lại mặt, trở về trang trại, cậu chủ và cô Hai đều sống trong tâm trạng chìm lắng. Cậu chủ cho dọn sang ở tại phòng kế bên, ban ngày đóng cửa ngồi uống rượu một mình, đêm cũng ngủ một mình. Còn cô Hai, tuy vẫn săn sóc chồng như hôm trước, nhưng không sao nói được những suy nghĩ của lòng mình; cô thương chồng, thương em nhiều hơn nghĩ đến nỗi trớ trêu của riêng mình. Cô Hai gầy đi trông thấy.


Bà chủ nhìn con trai và con dâu như vậy, thì lo lắng. Bà vỗ về khuyên giải con trai, an ủi con dâu, không có tác dụng gì. Bà lên chùa, biện lễ giải hạn, vẫn cũng chưa có kết quả. Bà gọi con gái từ Hà Nội về. Vợ chồng Phán Lâm mời và đón anh sang chơi nhà ở Hà Nội. Vợ chồng cô em chiều chuộng ông anh, cho xe đưa đi chơi các danh lam thắng cảnh quanh vùng. Đi chơi mãi cũng chán.


 Một hôm cậu Cò cùng Phán Lâm đến phố Khâm Thiên hát ả đào. Sau một thời gian vui thú với hát ca trù, rồi cặp tình với một cô ả đào xinh đẹp và hát hay, bỗng nhiên cậu thấy mình sốt kéo dài. Vợ chồng Phán Lâm mời đốc tờ đến khám cho cậu, phát hiện cậu bị đổ bệnh giang mai. Cậu chủ hoảng hốt, lo sợ, phải ở lại Hà Nội chạy chữa và dặn em gái không được cho mẹ biết.


Cậu chủ nằm một mình trên giường bệnh, trong một phòng riêng. Suốt ngày hết tiêm kháng sinh lại uống thuốc, môi Cò nứt nẻ, bệnh tình thuyên giảm chậm. Cậu nghĩ: Sự đời chẳng mấy khi được trọn vẹn như ý muốn, đạt được niềm vui giải khuây thì mang bệnh giang mai! Có được cô vợ hay lam hay làm thì không được hưởng sắc đẹp và lời ca hay từ vợ mình! Suy cho cùng ý bà mẹ cũng phải, gia tài lớn lao của nhà mình sao duy trì được khi trao vào tay một nàng dâu chỉ có sắc đẹp và hát hay? Nhưng với ta, thì không sao quên được cô Ba. Mẹ cưới cô Hai cho ta, ta cũng đành lòng vậy, cầm lòng vậy. Nhưng khi nào có dịp ta vẫn phải cưới nốt cô Ba. Các cụ xưa đã từng dạy “ hoa thơm đánh cả cụm” đó sao ?


                             


    Sự đời, rủi hoặc may nhiều khi chẳng biết đâu mà tính trước. Khi cậu chủ mắc bệnh còn đang ở Hà Nội, thì cả trang trại bỗng bừng lên một tin vui: Mợ chủ đã có thai ! Bà chủ vô cùng vui sướng. Bà mời thầy lang kê đơn, bốc thuốc bổ dưỡng thai nhi. Bà dặn gia nhân săn sóc mợ chủ chu đáo và không để mợ chủ làm bất cứ việc gì.


Khi cậu chủ khỏi bệnh trở về cũng là lúc biết tin vợ có thai. Cậu nhảy tâng tâng, cười cười, nói nói. Cậu có phần ân hận tự trách mình vừa qua ít quan tâm đến vợ. Như một người được lột xác, cậu chủ đổi khác. Cậu trở nên nhanh nhẹn và vui vẻ. Cậu quan tâm đến vợ và hay bàn với bà chủ việc nọ việc kia ở trang trại. Hàng ngày dù đi đâu, làm việc gì, cậu vẫn dành thời gian về phòng hỏi han, trò truyện vui vẻ với vợ. Cậu nhìn, cậu ngắm, cậu xoa xoa khe khẽ cái bụng vợ và thấy ngày ngày nó to lên, trông lùm lùm như quả bòng.


 Về phần cô Hai, từ hôm biết mình có thai, lại được chồng và mẹ chồng yêu thương chăm sóc, thì an lòng hơn. Đôi lúc cô vẫn nhớ đến mẹ, thương em gái. Cô muốn về thăm nhà, nhưng bụng mang dạ chửa, chồng và mẹ chồng không muốn để cô đi xa. Ở mãi trong buồng một mình, hết ngồi lại nằm, cô muốn có việc gì làm cho vui. Cô bảo gia nhân mang đến cho mình thúng đựng lụa, vải, và đồ khâu. Cô cắt và khâu những chiếc áo lọt lòng cho con, khâu cái mũ nho nhỏ có cái chỏm bằng len xinh xinh, rồi đan đôi tất nhỏ xíu nhiều màu. Một hôm, cô lững thững đi dạo quanh trang trại, rồi xuống bếp cùng nhặt rau và trò chuyện với bà già. Cô hỏi thăm bà:


-  Bà đến làm ở nhà cháu bao lâu rồi ạ ?


-  Tôi làm ở đây gần hai chục năm rồi, từ thời bế ẵm cậu chủ và cô Loan khi còn mới sinh.


-  Thế gia đình bà, ông ấy, các chị các anh con bà ở đâu, mà cháu không thấy bà về thăm?


Nghe đến đây, bà già ngừng nhặt rau, tay cầm cái bao thắt lưng đen nhẻm chùi chùi lên hai mắt ướt nhèm, rồi kể: Tôi quê tận Thái Bình, xa lắm mợ ạ. Chồng tôi chết trên luống cày ! Sau tôi mới biết ông ấy chết là vì đi cày khi chưa có hột cơm nào vào bụng mà trời thì nắng gắt giữa tháng năm, nên bị đói và cảm chết -  thương lắm mợ ạ! Tôi có ba đứa con, khi ấy lít nhít sáu, tám và mười tuổi. Quê tôi đất phèn, thời tiết thay đổi là mất mùa, nghèo lắm, năm nào cũng thiếu ăn. Tôi phải gửi con cho mẹ chồng, xin bà cho đi làm lấy tiền gửi về nuôi con. Các con tôi bây giờ chúng đều đã lấy chồng lấy vợ và đã có con rồi. Hàng năm chúng vẫn lên thăm tôi, xin mẹ tiền về góp thêm vào nuôi các con của chúng. Bà chủ thương tình vẫn cho chúng khi vài đấu gạo lúc yến ngô. Cô nhìn mặt bà, hàng trăm nếp nhăn, cũng móm mém gần như mẹ mình ở nhà, vậy mà bà vẫn phải xa các con đi làm kiếm sống để lấy tiền cho con nuôi cháu?


Cô Hai có thai sắp đến tháng đẻ, chẳng đi đâu xa. Nhưng cô vẫn nghe loáng thoáng thấy mấy người đầy tớ to nhỏ kể chuyện bên ngoài rằng: Ông Dần chậm nộp tô bị gia nhân xô ngã gãy chân, chị Mọt sắp đến ngày sinh con thứ ba, nhà không còn gạo ăn, phải ăn cháo… Cô Hai nghe chuyện thì thở ngắn than dài rằng: Sao đời vẫn có người ác và nhiều người khổ đến thế ?! Cô vào kho mở chĩnh gạo xúc chục bơ gạo, giao cho bà già, bảo bà giấu kín đưa ra cho mẹ con chị Mọt và ông Dần.


*


Một hôm, cậu chủ nhận được giấy từ huyện quan sức về, mời cậu lên gặp mặt. Bà chủ và cậu chủ đều nửa mừng nửa lo, chưa biết có chuyện gì? Từ xưa đến nay, chỉ có những lần chồng bà khi còn sống lên lễ lạt quan Tây và quan ta. Sau khi chồng chết bà cũng đi chúc tết và vài lần mang lễ vật đến hiếu hỷ nhà các quan trên. Nhưng hôm nay, quan trên lại đích thân mời gọi. Bà đoán là có việc hệ trọng.


Bà sửa soạn cho cậu chủ lễ vật đáng giá, trong đó không quên đưa thêm tặng bà huyện quan chiếc vòng ngọc quý. Hôm ấy, cậu chủ ăn mặc chỉnh tề, cưỡi con ngựa hồng, lên huyện. Cóc tóc đỏ kéo một chiếc xe chất đầy đồ lễ đi theo chân cậu chủ.


Vào đến cửa công đường, đích thân huyện quan ra đón. Cậu chủ cung kính vái chào huyện quan và cho gia nhân lễ mễ khiêng những hòm tặng vật theo vào. Huyện quan chỉ tay mời cậu chủ ngồi chiếc ghế ở bàn đối diện. Sau một hồi nâng cốc chúc mừng và nói tốt về nhau, huyện quan đưa ra một cuộn giấy, mở ra giống như một sắc phong. Huyện quan nói:


-  Chắc cậu còn nhớ lời ông An -  be nói với tôi về cậu hôm đám cưới của cậu ?


-  Thưa vâng, có ạ!


Vậy thì hôm nay cậu nhận lấy giấy bổ nhiệm này với chức Chánh tổng mới thay cho cụ Chánh tổng cũ đã già. Từ nay cậu là ông Chánh tổng của Tổng Giang Cầu -  Huyện quan giao cho cậu chủ giấy bổ nhiệm. Cậu chủ cung kính giơ tay đỡ lấy.


Ba ngày sau, trang trại nhà ông Chánh Cò làm lễ ăn khao. Các quan Tây, quan ta từ cấp trên về dự, các giới chức sắc hàng huyện, hàng tổng có mặt đông đủ. Họ hàng, thân hữu gần xa kéo đến đông nghịt. Đồ lễ vật, mang đến kìn kìn. Các thầy lý trưởng và các chức dịch, các tuần đinh và các vị có “máu mặt” trong tổng, đội khăn xếp, áo quần tề chỉnh đứng thành hàng đón khách. Bà chủ, bây giờ là phụ mẫu của ông Chánh tổng. Bà được người ta gọi là bà lớn. Hôm ấy bà mặc áo dài gấm xanh đứng ra chào khách. Mặt bà ánh lên niềm vui cùng sự hãnh diện. Bà chỉ tiếc cho ông chồng không còn sống đến ngày này để hưởng phúc cùng bà.


Sau khi nhận chức Chánh tổng, những việc đầu tiên Chánh Cò làm là: giao cho những gia nhân thân tín nhất thay thế vài ba Lý trưởng cũ không còn năng lực phù hợp; lập ra đội canh phòng gồm những kẻ trung thành với mình, được trang bị giáo mác; chọn người làm thủ quỹ công của Tổng tin cậy và sẵn sàng làm theo lệnh của mình. Chánh Cò mỗi khi đi đến đâu đều cưỡi ngựa oai phong, có gia nhân đi trước dẹp đường, ai không kịp nhường lối thì chúng lấy gậy nện vào đầu. Cả cái tổng này, ai ai nghe tiếng Chánh Cò đều nể sợ. Việc nộp tô hàng năm vào các mùa vụ đều tuân theo răm rắp. Ai chậm chạp thì bị người của ông Chánh đến gõ cửa, không nộp thì xông vào buồng lấy thóc mang đi, phản ứng lại thì bị nhốt coi đó là chống đối. Dân tình ta thán, oán giận.


Mấy năm rồi, có tin từ Hà Nội về là: mặt trận Bình dân bên Pháp thắng thế, các quan chức thuộc địa ở Việt Nam có phần nới tay hơn. Nhiều tờ báo nhật trình lên án công khai những việc làm ức hiếp dân chúng. Có tờ báo nêu cả những chuyện ngang ngược của chánh tổng Cò ở đất Giang Cầu. Vợ chồng Phán Lâm đọc báo rồi kể lại cho bà lớn nghe và nói với mẹ nên khuyên anh Chánh nới tay một chút.


Bà lớn nói với Chánh Cò:


-  Mẹ nghĩ con cũng nên nghe lời khuyên của em gái, nới tay một chút, không chừng “già néo đứt dây”.


-  Mẹ biết đấy, bây giờ đâu đâu cũng có đứa cứng đầu, cứng cổ; mấy tờ nhật trình do Cộng sản giật dây thì lớn tiếng đòi dân sinh dân chủ. Nếu Nhà nước bảo hộ và các người đứng đầu tổng huyện không ra tay thì bọn “khố rách áo ôm” ấy nổi lên chống đối, làm sao cai trị được ?


Nghe chánh Cò nói vậy, bà lớn bảo:


   - Mẹ chẳng hiểu biết gì về chính sự, chỉ e dân người ta khổ thì “tức nước vỡ bờ” thôi.


 


   Đêm hôm ấy, trời mưa và rất rét. Chánh Cò đang ngồi hút thuốc lào trên chiếc tràng kỷ, một gia nhân vào bẩm có Năm Sành phụ trách tuần canh đến thưa chuyện gấp. Chánh Cò cho vào. Năm Sành thưa:


-  Bẩm ông Chánh, theo tin của người cài cắm bên trong bọn cướp núi Neo, thì đêm nay chúng sẽ đi cướp ở trại Nam Mộc.


Chánh Cò, nghe nói, bật dậy, hỏi han cụ thể, rồi cho gọi thêm Trương tuần và Lý trưởng ở Nam Mộc đến bàn. Bốn người bàn bạc, lát sau họ đứng dậy, Chánh Cò dặn với: Cứ thế, cứ thế mà làm nha.


Năm Sành vốn xuất thân từ một tay ma cô, chuyên dẫn gái đến các săm nhà chứa. Mặt hắn dài như cái lưỡi cày, mắt xếch, trán ngắn, lơ huơ mấy sợi tóc trên đầu. Hắn học được mấy miếng võ của một thầy Tàu. Đến đâu hắn cũng ra oai ra tướng dọa nạt người khác, dần dần hắn đứng đầu dân “anh chị” nhà săm và sòng bạc. Chánh Cò khi nhận chức đã nghĩ ngay đến Năm Sành, đưa y về phụ trách tuần đinh tổng Giang Cầu. Từ ngày hắn về đây chỉ một thời gian không dài, các trương tuần và những kẻ yêng hùng đều nem nép sợ hãi. Hắn đi đến đâu là các nhà nông dân và tá điền đều xanh mặt, không ai dám cưỡng lại. Hắn vừa dọa vừa mua chuộc để cài cắm người ở các xóm trong tổng, có tin gì thì báo cho hắn biết. Bọn cướp đêm nay sẽ cướp phá trại Nam Mộc. Tin tức này cũng do tay chân của Năm Sành báo cho Tổng Cò biết.


Lại nói về toán cướp. Ở vùng núi này có một người đứng đầu bọn cướp, tên là Tám Xồm, anh ta có bộ râu quai nón với cái mặt to, cằm vuông, nhưng đầu cạo trọc lóc. Đồng bọn gọi Tám Xồm là «Lỗ Trí Thâm ». Tám Xồm là một tay giang hồ hảo hán, chuyên làm những vụ chặn đường hẻm yếu để cướp. Khi cần thì Tám gọi mấy tay đồng bọn, tập trung lại đêm hôm đi trộm cướp những nhà “ có máu mặt”. Thu được cái gì thì chia cho nhau, nên Tám Xồm được đồng bọn nể phục. Trong đám ấy lần này có thêm một anh trai làng tên là Đồ Ba tham gia. Anh ta dạy chữ Nho và cả Quốc ngữ cho trẻ trong làng. Anh vốn là người trọng nghĩa khinh tài, thương người nghèo cùng cảnh với mình, ghét kẻ giàu tham lam và tàn ác. Đồ Ba giao du với Tám Xồm vì tìm thấy ở nhau chữ “nghĩa khí”. Nhưng Đồ Ba lại không cho việc đi trộm cướp là nên làm. Mấy lần Tám Xồm rủ đi, anh đều từ chối. Về phần Tám Xồm mỗi lần đi về có được thứ gì thì chia một ít cho Đồ Ba. Lúc đầu Đồ Ba từ chối không nhận. Sau vì nhà nghèo không có ăn đành nhận vậy. Lần này, mẹ Đồ Ba ốm nặng, nhà thì hết thóc, không có tiền mua thuốc cho mẹ, thấy Tám Xồm rủ mãi thì nhận lời, coi như thử một lần xem sao. Tám Xồm và Đồ Ba chọn mục tiêu lần này là nhà của Lý trưởng trại Nam Mộc, nơi có nhiều thóc và canh phòng sơ hở. Bọn chúng cho rằng nếu giữ kín kế hoạch đến phút chót và làm nhanh gọn thì lực lượng lính lệ, tuần đinh có đến thì cũng muộn. Nhưng toàn bộ kế hoạch cướp phá này đã bị lộ, có kẻ đã mật báo. Chánh Cò, một mặt huy động lực lượng tại chỗ, mặt khác cho người báo lên huyện, xin lính về phối hợp.


Canh hai đêm ấy, trời vẫn mưa tầm tã. Tám Xồm dẫn đầu những tay chân xông xáo nhất cầm mã tấu tiếp cận bao vây trại Nam Mộc. Bọn cướp đến gần thấy bên trong vẫn im ắng, chúng mừng thầm hy vọng sẽ xong chuyện. Đồ Ba dẫn đầu một số người già yếu và đàn bà, đi sau, họ mang theo quang gánh và thúng mủng sẵn sàng chờ lệnh từ bên trong, nếu mở được cửa thì xông vào. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tám Xồm giơ tay phát lệnh xông lên. Bốn người tuần đinh, canh giữ bốn góc trang trại, lập tức bị quật ngã mà không phát ra một tiếng động nào. Đám cướp lao vào cửa, kẻ giáo mác cùng với một số người khênh những khúc gỗ dài cùng hô dô ta thúc mạnh làm tung cánh cổng lớn bằng gỗ lim. Tám Xồm nhảy vào trước tiên, lập tức bị những tiếng súng nổ inh tai, bắn từ trong ra, y khựng lại, ôm bụng lảo đảo ngã xuống. Bọn lính lệ phục sẵn ở bên trong bắn ra liên tiếp. Toán cướp thấy người cầm đầu đã ngã xuống, đạn lại bắn đỏ rực, chiu chíu bay quanh thì mạnh ai nấy chạy thục mạng. Trong nháy mắt chúng đã biến mất vào màn đêm, bỏ mặc cho lũ đàn bà và ông già đang ôm thúng mủng chờ bên ngoài. Giữa lúc Đồ Ba cùng mọi người chưa kịp hiểu sự thể ra sao, thì lực lượng do Chánh Cò chỉ huy, bất đồ xuất hiện vây chặt. Chúng nhất tề xông lên, kẻ dao, người súng bắn đạn ghém toé lửa như ma trơi. Những người đi theo trong đó có Đồ Ba bị bắt sống và bị trói gô lại. Sau khi đốt đuốc tìm kiếm, bọn tuần đinh bắt được Tám Xồm đang chui rúc trong đống rơm ôm bụng đầy máu. Ngay đêm ấy, cả bọn bị đưa về giam giữ tại tầng hầm nhà lớn của chánh Cò.


Những gia nhân làm thuê cho nhà Chánh Cò, quê ở chân núi Neo, kéo nhau ra xem mặt bọn cướp bị bắt đưa về. Họ hốt hoảng nhìn thấy trong số bị bắt có người là bố, là mẹ và anh em của họ. Họ khóc rống lên thảm thiết, kinh động đến bà lớn. Sau khi nghe Chánh Cò kể lại, bà lớn sai đốt đèn sáng nhà hầm để bà vào xem sao. Bà nhìn thấy một đám người già và đàn bà ốm yếu, tiều tuỵ rách rưới. Mắt họ đều đờ dại, sợ sệt nhìn bà cầu xin tha. Bà để ý đến một anh chàng dáng thư sinh, cúi đầu, đứng lẫn vào đám này. Bà chỉ tay về phía anh ta hỏi:


-  Anh tên là gì, vì sao lại đi ăn cướp?


   -  Thưa bà lớn, con tên là Ba, làm nghề dạy trẻ, vì nhà nghèo, bị thu nộp tô hết thóc, mẹ con lại đang lâm bệnh nặng, không có tiền mua thuốc chữa, nên con trót đi cướp. Đây là lần đầu. Kính mong bà lớn đoái thương tha cho.


Bà lớn quay ra, thấy một người đàn bà đúng tuổi là gia nhân đi theo khóc lóc van xin tha Đồ Ba, mẹ nó đang ốm . Bà bước lên nhà lớn, ngồi giữa sập, sai gia nhân gọi Chánh tổng lên gặp. Bà hỏi  Chánh định làm gì với đám người dưới kia?


Chánh Cò nói:


-  Thưa mẹ, đây là bọn đầu trộm đuôi cướp nguy hiểm lắm. Lần này may có quan trên cho lính về phối hợp bắt được cả đám, trong đó có tên tướng cướp Tám Xồm. Tên này khét tiếng từ lâu, quan trên đã rao tin sẽ thưởng cho ai bắt được nó. Con định vào sáng mai sẽ cho dẫn giải lũ này lên trình huyện quan, để nhận thưởng.


-  Con cho dẫn giải thằng Tám Xồm lên huyện thì cứ làm, còn những người già, đàn bà ốm yếu và đói rách kia, nên tha cho họ để làm phúc con ạ.


-  Mẹ định làm gì với thằng Đồ Ba, chẳng lẽ cũng thả hay sao ?


-  Nó có người dì em mẹ nó đang làm cho nhà ta. Qua hỏi dì nó và hỏi nó, mẹ thấy nó là người có hiếu với mẹ đẻ lại biết chữ nghĩa thánh hiền, được bà con ở trong núi nể phục. Qua nghĩ ngợi, mẹ chợt nảy ra một ý nên tha nó rồi dùng nó.


-  Mẹ nói sao cơ ạ?


-  Mẹ nói tha cho nó rồi cho nó giúp việc cho con. Các cụ đã dạy “ cởi oán lấy ân”. Nhà mình đang thiếu gia nhân biết chữ nghĩa để làm cái việc giấy tờ và cũng cần có người nói thì dân đất nghịch ở trong núi kia tin và nghe theo.


Sáng hôm sau Chánh Cò sai người trói chặt, nhốt vào rọ, khênh giải tên Tám Xồm lên huyện, có ba gia nhân lăm lăm tay súng và mã tấu đi kèm. Đám còn lại sau khi được bà Hai cho mỗi người ăn ba bát cháo nóng, thì cửa hầm mở ra, họ được về nhà. Họ chắp tay lạy và cảm ơn rối rít. Còn riêng Đồ Ba lên gặp bà lớn.


Lên hết chín bậc nhà cao, Đồ Ba chợt thấy bà lớn ngồi uy nghiêm trên chiếc sập, hắn đứng sững lại, hai tay vái, đầu cúi như chờ lệnh. Bà lớn nhìn hắn và vẫy tay gọi, một người đàn bà đứng tuổi từ bên trái đi ra. Bà hỏi:


-  Anh kia có biết người này?


Đồ Ba, nhìn mặt chợt nhận ra và thốt lên gọi “dì Bảy”. Hai người chạy đến gần nhau như muốn ôm lấy nhau và cùng khóc.


Bà lớn thấy vậy nói:


-  Thôi ta biết cả rồi. Anh chỉ còn một mẹ đang ốm ở nhà phải không?


-  Vâng, thưa bà lớn, đúng vậy ạ.


-  Ta nghĩ, anh cũng không phải người xấu, nhất thời do hoàn cảnh xui khiến mà đi làm cướp. Ta muốn cả hai mẹ con ngươi ở lại đây làm việc cho ta, “ cơm ba bát áo ba manh” đủ sống được. Ta sẽ cho thầy lang chữa chạy cho mẹ anh. Anh thấy thế nào?


-  Thưa bà lớn, nếu được thế thì còn gì bằng. Mẹ con chúng con đội ơn bà lớn lắm lắm.


 Hôm sau, Chánh Cò hỏi bà lớn:


-  Trong lúc giáp hạt khó khăn này sao mẹ lại nhận nuôi cả cái bà già đang đau ốm?


 -  Con nghĩ cho kỹ đi. Đồ Ba là người con có hiếu, nếu ta quan tâm đến mẹ nó, thì nó sẽ trung thành với ta. Bà ta là một con tin ta giữ trong tay. Nó muốn làm phản cũng không dễ.


Chánh Cò một lần nữa công nhận mẹ mình là người cao kiến, biết tính xa.


Đồ Ba từ hôm ấy được giao làm sổ sách ghi chép mọi việc trong nhà Chánh Cò. Mẹ anh cũng được thầy lang cắt thuốc chữa khỏi bệnh viêm phế quản. Bà mẹ được giao giữ chân nuôi tằm. Từ ngày đó đám dân ở vùng đất nghịch trong núi Neo không có lần nào đến cướp ở tổng Giang Cầu.


Sau ngày bắt được tên cầm đầu toán cướp, những người có máu mặt trong vùng thán phục, họ cho Chánh Cò còn trẻ mà giỏi. Quan trên có lệnh ban thưởng cho chánh Cò. Có tờ báo nhật trình ở Hà Nội cũng đăng tin chánh Cò bắt cướp và khoan hồng cho mấy ông già và đàn bà đi theo cướp. Có tờ báo lại kể những việc làm ác độc trước kia của Chánh Cò và nói lần này chỉ là thủ đoạn làm cái viêc giương cao thanh thế và mua chuộc dân đen mà thôi. Về phần Chánh Cò, lấy làm hể hả lắm và nghĩ chưa biết chừng cứ đà này có lúc ta được quan trên cất nhắc lên nữa. Từ hôm ấy, chánh Cò đi đâu cũng thấy các chức dịch dưới quyền từ xa đã đứng vái thán phục. Ông ta thì tỏ sự vênh vang lộ rõ trên nét mặt. Từ ngày lên chức Chánh tổng, người ta gọi cậu Cò là ông Chánh, gọi cô Hai là bà Hai hoặc bà Chánh.


*


Chẳng bao lâu, bà Hai vợ ông Chánh đã đến kỳ sinh nở. Một hôm bà trở dạ, người nhà cho gọi bà đỡ đến gấp. Lát sau từ trong buồng vang lên tiếng trẻ khóc oa oa. Bà đỡ vui mừng cất tiếng: Bà chủ sinh quý tử rồi! Gia nhân trong trang trại truyền cho nhau từ nhà nọ sang nhà kia rằng: Bà chủ sinh con trai. Họ nói bà chủ tốt bụng, ở hiền gặp lành. Bà lớn và ông Chánh thì vui mừng không kể xiết. Hai người cho phép gia nhân trong nhà mổ lợn ăn mừng.


Bà lớn ôm cậu cháu đích tôn của mình trên tay đu đưa nhè nhẹ và nựng: Cha mày, sao giống bố mày ngày bé thế, chỉ có đôi mắt là giống mẹ. Rồi bà lớn hỏi:


-  Ông Chánh định đặt tên con là gì đây ?


      Chánh Cò giơ tay ra đón con từ tay bà lớn. Ông nhìn ngắm con trai còn đang đỏ hỏn, trông mãi không chán. Rồi như nảy ra một ý hay, ông reo lên:


   -  Đặt tên cho cậu chủ nhỏ là Cò Vàng.


      Ông giải thích: Vàng là kim loại quý, gắn với tên bố là Cò, thành Cò Vàng.


Bà lớn vui vẻ nói:


-  Tên đặt hay đấy. Vàng đi liền với Cò, còn là con cò vàng, đẹp lắm.


 Bà Hai ôm con vào lòng, nựng nựng: Con Cò Vàng yêu, Cò Vàng quý của mẹ đây!


    Mọi người đang hoan hỷ về việc cậu chủ nhỏ được sinh ra và đặt tên là Cò Vàng, thì một gia nhân vào bẩm: Có bà Cả và cô Ba con cụ Tú từ làng Bình lên chơi.


 Lại kể đến gia đình cụ Tú. Xong lễ lại mặt, cô dâu và chú rể về trang trại. Cô Ba được thầy lang bắt mạch, cho uống thuốc dưỡng tâm, cô đã đỡ nhiều. Hàng ngày cụ Tú khuyên giải, lại được các bạn gái đến chơi trò chuyện, chẳng bao lâu cô Ba đã hồi phục. Hàng ngày cô thay chị Hai quay tơ dệt lụa. Thỉnh thoảng cô vẫn nhớ đến chuyện cũ mà lòng buồn rười rượi. Cô nghe nói cậu chủ bây giờ đã là ông Chánh tổng rồi. Cô nghĩ chắc cậu không còn nhớ gì đến cô nữa, nhưng cô vẫn tức. Cô định bụng khi nào gặp lại “người ấy” thì phải mắng cho bõ ghét, đàn ông gì mà “ sớm nắng chiều mưa”, thay đổi nhanh chóng làm vậy?


Gia đình cả Nhẫn mới đây gặp một tai họa lớn: Có kẻ chỉ điểm, mật thám Pháp đã đột nhập vào nhà cả Nhẫn, khám xét tìm thấy tờ truyền đơn Cộng sản. Chúng xích tay, rồi lôi anh ra xe ô tô bịt kín đưa về giam giữ tại thành Bắc Ninh. Hai mẹ con cu Tý khóc lóc thảm thiết. Mẹ cu Tý chạy theo xe giơ hai tay chới với.


 Cụ Tú hay tin con trai bị Tây bắt thì loạng choạng ngã ngồi trên nền nhà. Hồi lâu lâu bình tĩnh lại, cụ bảo vợ cả Nhẫn: Con phải lên nhờ thầy Chánh chồng con Hai, nó quen người Tây, xin giúp cho. Chị Cả cũng đã định như vậy nhưng nghi ngại… nay nghe lời cụ Tú nói, chị thưa:


-  Mẹ dạy con xin vâng theo. Nhưng đi một mình con ngại lắm, mẹ cho cô Ba đi cùng, được không ạ?


Cụ Tú ngần ngừ chưa quyết thì cô Ba nói vào:


-  Đã lâu lắm rồi con chưa gặp chị Hai, mẹ cho con đi cùng chị Cả để thăm chị Hai. Mẹ đừng nghi ngại gì.


Cụ Tú nghe vậy, đành để hai người cùng đi.


Khi hai chị em đến nơi, gia nhân nhà ông Chánh dẫn họ vào ngồi chờ ở nhà kính, rồi lên bẩm báo. Hai chị em nhìn ra sân thấy nhiều người đi qua đi lại, cười cười nói nói. Chị Cả hỏi một người đang đi qua:


-  Hôm nay, nhà ta có việc gì mà vui vậy?


-  Bà và cô chưa biết à, bà Chánh nhà chúng tôi sinh hạ được một cậu con trai đấy ! Hôm nay là ngày “đầy tháng” cả nhà đều vui!


Chị Cả vừa mừng vừa băn khoăn, nhìn cô Ba nói:


-  Hai chị em mình lên đây hôm nay gặp chuyện vui, nhưng chẳng đúng lúc rồi. Mọi người đang vui, thì mình lại mang chuyện buồn tới. Biết trước, thì ít hôm nữa hãy lên và mang theo đồ mừng nhiều hơn những thứ mang đi hôm nay.


-  Chẳng sao đâu chị ạ, ta cứ vui mừng với việc chị Hai sinh cháu. Còn việc của anh Cả thì cố gắng đợi, trước khi về hãy nói.


-  Ờ, đành vậy biết làm sao -  Chị Cả chép miệng.


Cho đến hôm nay, chị Cả và cô Ba đã ở chơi đây được hai ngày. Sau khi chào hỏi bà lớn và ông Chánh, hai chị em xúm vào xem mặt và bế cháu Cò Vàng, rồi chuyện trò cùng cô Hai. Họ hỏi han và kể cho nhau nghe về cụ Tú và bà con họ hàng, làng xóm. Hai hôm ở đây ngày nào chị Cả cũng tắm rửa cho Cò Vàng. Tắm cho trẻ sơ sinh khó lắm, vì nó quá bé bỏng. Chị Cả có đôi tay mềm mại và khéo léo lật đi lật lại cậu bé tí xíu, giội nước ấm, xoa xoa nhè nhẹ lên khắp mình cậu; xem chừng cậu thích thú lắm, không khóc. Tắm xong, cô Ba quấn tã ủ ấm cho cháu rồi bế nựng đi quanh phòng. Cô Ba và chánh Cò đã giáp mặt nhau từ hôm đầu mới đến. Bốn mắt vừa giao nhau, thì cô vội quay đi, chớp chớp. Chị Hai gặp em, hai người mừng mừng tủi tủi, không ai nhắc gì đến chuyện đã qua. Sáng nay sau khi tắm cho Cò Vàng xong, chị Hai dẫn chị Cả xuống nhà xem gia nhân kéo tơ. Cô Ba ở trong phòng trống vắng, bế cháu ra phòng ngoài ngó nghiêng. Cô lên sảnh lớn không thấy ai ở đó, cô ôm cháu đứng trên bậc thềm cao, nhìn xuống sân, ngó thấy hai con chim công đang múa đẹp quá. Hai con công xòe đuôi và xòe cánh vờn nhau, khiến cô nhìn không chán mắt. Bỗng nhiên, một bàn tay đặt nhẹ lên vai cô. Quay đầu lại, cô thấy chánh Cò đang đứng đó vẫn đôi mắt ấy nhìn cô như hôm nào. Thẹn thùng, cô cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Trước khi đi đến đây, cô định bụng khi gặp thì mắng cho “người ấy”, nhưng nay gặp thì cô chẳng còn nhớ được gì. Chánh Cò nói:


-  Ta muốn lấy em, nhưng mẹ ta lại cưới cho ta cô Hai. Ta thề với em là trước khi cưới, ta không biết được sự thể lại thế này.


-  Bây giờ chắc cậu Chánh quên em rồi nhỉ?-  Cô Ba cố lấy hơi bình tĩnh cật vấn chánh Cò.


-  Không, không, ta không khi nào quên em. Ta vẫn muốn lấy em. Em hãy chờ đấy, đợi ta.


Hai người đang nói chuyện bất chợt nghe tiếng dép loẹt quẹt của bà lớn bước lên bậc thềm. Cô Ba vội cúi đầu chào “người ấy”, rồi bước nhanh về phòng.


Sau khi cô Hai đưa chị Cả xem xong nơi kéo tơ, ra đến hành lang, cô hỏi:


-  Em trông chị như đang có điều gì không vui, hãy nói cho em biết đi.


Chị Cả chỉ chờ cô Hai hỏi vậy, không nén được nữa, chị oà lên khóc và nói:


-  Cô Hai ơi anh Cả cô bị Tây nó bắt rồi!


Cô Hai sửng sốt nhìn chị và hỏi gấp:


-  Sự việc ra sao hả chị, bây giờ anh Cả ở đâu chị có biết?


Chị Cả kể đầu đuôi câu chuyện cho cô Hai nghe, rồi nói:


-  Anh Cả đang bị giam ở thành Bắc Ninh. Mẹ bảo chị và cô Ba lên đây nhờ cậy ông Chánh nhà cô quen biết người Tây, nói giúp cho.


-  Sao chị không nói sớm. Em sẽ nói ngay với chồng em, chị đừng quá lo .


Nghe vợ kể, chánh Cò gặp chị Cả và nói:


-  Việc của anh Cả, tôi đã nghe kể. Chuyện này bị coi là trọng tội. Tôi không dám hứa trước, nhưng sẽ tìm mọi cách để anh Cả được giảm nhẹ.


-  Trăm sự trông cậy vào ông Chánh. Vợ chồng tôi không dám quên ơn ông.


Trên đường hai chị em ra về: Chị Cả trong lòng đã bớt lo, đang nuôi hy vọng. Còn cô Ba thì hôm nay vui hơn khi mới đến. Cô đã gặp được “người ấy”. Cô đi qua con đê hai bên sườn cỏ non xanh mơn mởn, bãi dâu trải dài theo dọc sông Cầu. Cô đi qua chiếc cầu sắt lớn, dưới chân cầu tàu thuyền tấp nập. Bên kia bờ là phố xá nhộn nhịp những người mặc đẹp đi ngựa đi xe. Còn dinh cơ của cậu chủ, nhà cao cửa rộng, đi mãi cũng không hết, chỗ nào cũng đẹp cũng sạch, lại có đôi chim công múa lượn trông yêu yêu là. Như một giấc mơ đẹp. Cô Ba ao ước bao giờ mình được sống ở nơi như thế này. Cô nghĩ đến lời cậu Chánh đã nói với cô rằng: “ Ta vẫn muốn lấy em, hãy chờ đấy, đợi ta”.


Cô Ba là người hay mơ mộng và luôn tìm mọi cách để ước mơ của mình thành sự thật. Nhưng ước mơ này của cô có viển vông quá không và kết cục sẽ ra sao? Khi mà cô chỉ là “người thứ ba” đang đứng ngoài ngưỡng cửa nhà Chánh Cò?


*


    Đường tình lắm nỗi truân chuyên.


Sau khi chị Cả và cô Ba ra về, Cò Vàng quấy khóc suốt đêm. Bà Hai lo lắng. Bà lớn thấy vậy nói:


-  Trẻ con ươn người quấy khóc là thường. Nay cần tìm một người bế ẵm nó.


Ngày hôm sau, bà lớn nhắn gọi bà Năm là em họ ở làng bên. Bà bảo:


-  Con Na nhà dì năm nay đã lớn chưa?


-  Cháu mười bốn tuổi rồi đấy già ạ. Nó ngoan ngoãn và chăm làm lắm, đã biết đỡ em khối việc rồi nha.


Thế à? Nó có quen bế ẵm trẻ không?


-  Việc đó thì nó thạo lắm, các em nó đều do nó thay mẹ chăm nom. Em đi làm đồng suốt mà.


-  Tôi muốn dì cho nó đến đây bế Cò Vàng được không nha? Tôi sẽ trả công hậu cho nó.


-  Được vậy, em cũng bằng lòng, mấy đứa nhỏ nhà em bây giờ cũng đã nhớn rồi.


Sau hôm ấy, cô Na đến bế ẵm Cò Vàng. Cô bế nựng cháu rất khéo. Cô lúc nào cũng hồn nhiên, luôn mồm chuyện trò vui vẻ, kể cả khi Cò Vàng chưa nhận biết được gì. Lâu dần Cò Vàng biết hóng chuyện và toe toét cười cùng cô Na. Khi thích thú thì cậu vung hai chân hai tay lên trời.


Bà Hai yêu quý Na, lọc ra vài bộ quần áo còn tốt đưa cho Na mặc. Lần đầu tiên Na được vấn khăn nâu, mặc yếm đào và áo dài tứ thân màu mận. Na có hàm răng đen và đều tăm tắp như những hạt na. Trông cô xinh đẹp hẳn lên vào tuổi dậy thì.


Nhìn thấy Na xinh đẹp, chánh Cò thầm nhận xét: Cô bé này xinh quá, thật dễ thương.


Về phần Chánh Cò, trong thâm tâm vẫn nhớ đến cô Ba. Nay vợ đẻ, nằm một mình càng nhớ người tình cũ. Suốt bốn tháng gần như xa vợ. Bà Hai nằm ổ sắp đến ngày sinh, sinh con và chăm con, lo đủ thứ, chẳng còn tâm trạng gì để ý đến “chuyện ấy”. Chánh Cò vốn có thân hình vạm vỡ, lại béo nung núc, mặt thì đỏ như gà chọi. Lúc nào ông ta cũng thèm khát nhục dục. Nhân một hôm trời giá rét lại mưa phùn, hắn nằm một mình, thấy trống trải cô đơn. Hắn khoác áo ấm đi sang phòng vợ. Qua ánh đèn dầu, thấy vợ đang ôm con ngủ. Còn cô Na thì nằm giường bên, đắp chiếc chăn bông, hở mặt, hai má đỏ như hai trái bồ quân, hơi thở đều đều. Hắn chưa biết xử sự ra sao, chân thì bước ra cửa, đầu thì quay nhìn Na. Hắn dừng nơi hành lang, nghĩ đến Na: Một cô gái đẹp như trăng rằm, tính tình lại hồn nhiên. Bất giác hắn không sao kìm lòng được. Hắn quay vào phòng, khe khẽ vuốt má Na, Na giật mình tỉnh dậy tưởng Cò Vàng nằm cạnh cựa quậy. Na mắt nhắm mắt mở, nhìn thấy chánh Cò ra hiệu vẫy tay gọi thì dậy ra khỏi cửa buồng. Na không nghĩ được gì, thấy ông chủ gọi thì đi theo. Hai người vào đến buồng, chánh Cò khép cửa lại, rồi không nói không rằng y bế thốc Na lên giường. Na hoảng hốt kêu thét lên, thì bị bàn tay to bè bịt chặt lấy miệng. Trong nháy mắt Na thấy mình bị nằm gọn trong lòng Chánh Cò. Hai cái đùi to như hai cái cột quặp chặt và đôi tay thô bạo của Chánh Cò ôm ghì lấy thân hình mảnh mai của Na. Bên tai cô, nghe tiếng thở phì phì...


Sáng sớm hôm sau, Cò Vàng thức giấc oe oe, đòi bú mẹ. Bú no rồi, cậu muốn được cô Na bế ra khỏi giường chơi đùa. Chờ mãi vẫn không thấy cô Na đến bế ẵm như mọi ngày, cậu chủ nhỏ khóc to đập chân bành bạch. Bà Hai gọi Na, không thấy trả lời, nhìn sang giường bên cũng không thấy cô Na đâu. Bà gọi to, một nữ gia nhân chạy vào, rồi chạy ra ngay tìm kiếm cô Na. Nhưng rồi vẫn không thấy cô Na đâu. Cò Vàng thì khóc ngằn ngặt như nhớ người vẫn ẵm bế và chơi đùa với cậu.


Về phần cô Na, sau khi bị chánh Cò cưỡng bức, vầy vò tấm thân trong trắng của cô suốt mấy tiếng đồng hồ, cô đã bị kiệt sức, ngất đi rồi tỉnh lại. Trời gần sáng, chánh Cò buông cô ra, rồi nằm lăn ra ngủ như chết. Cô vừa uất ức vừa xấu hổ. Cô vội vàng mặc quần áo, mở cửa chạy vụt ra phía sau. Cô chui qua bụi tre đầy gai, mải miết băng qua cánh đồng, có lúc thụt xuống ruộng bùn. Về đến sân nhà, cô đuối sức ngã lăn ra đấy. Nghe tiếng chó sủa, bố cô ra xem, thấy một người nằm như chết ở giữa sân. Ông cúi xuống nhìn mặt, nhận ra con gái mình, thì hoảng hốt vội vàng bế con vào đặt trên giường và gọi vợ. Bà mẹ thấy Na quần áo đầy bùn đất, vội cởi bỏ và lau chùi bằng nước ấm cho Na, thấy bầm tím và rớm máu. Bà lo sợ nói khẽ với chồng rồi rên rỉ khóc. Ông bố ra hiệu im lặng, kẻo lũ trẻ thức giấc và hàng xóm nghe tiếng khóc thì phiền.


Sáng ra, bà lớn nghe bẩm báo là không thấy cô Na ở trong trang trại. Mặt trời đã lên ngọn tre, vẫn không thấy chánh Cò ra khỏi phòng. Bà hé cửa nhìn vào, chánh Cò vội quay mặt vào trong. Bà chợt nhìn thấy miếng vải rách, móc vào mẩu đinh thò ra ở cuối giường, bà cầm lên xem nhận ra gấu quần vải thô màu đen, giống như chiếc quần của cô Na vẫn mặc. Bà nhớ đến vài lần đã bất chợt bắt gặp đôi mắt thèm muốn của chánh Cò nhìn trộm cô Na -  Thế là đã rõ! Bà nghĩ vậy, rồi vội vàng quay ra, đến phòng Cò Vàng.


Bà bế nựng Cò Vàng một lát rồi nói:


-  Cháu của bà ngoan nào, đừng khóc. Chắc cháu nhớ cô Na chứ gì? Bà quên không bảo cho cháu biết trước là bà đã cho phép cô Na về thăm nhà, ít hôm nữa cô Na sẽ đến bế cháu nha. Nín đi cháu ngoan của bà.


Nghe bà lớn nói vậy, những gia nhân có mặt ở đấy tin ngay là Na được bà lớn cho về thăm nhà. Còn bà Hai thì nghĩ khác: Lúc nửa đêm hôm qua bà còn thấy cô Na nằm trên chiếc giường bên cạnh bà, nay vẫn còn lù lù cái chăn bông đẩy vào cuối giường chưa gập. Bà tự hỏi:


-  Cô Na đi khỏi trang trại từ lúc nào và vì sao phải đi vội vàng như vậy ?


 Lát sau, bà lớn ngồi uy nghi như tượng trên chiếc sập. Bà cho gọi chánh Cò, y rụt rè ra ngồi ở tràng kỷ. Bà lớn ngước đôi mắt to, nhìn xoáy vào chánh Cò và xẵng giọng hỏi:


-  Đêm qua anh làm chuyện gì ? Ta biết cả rồi, hãy thú nhận đi.


-  Dạ... thưa mẹ... con trót... nhưng đây là chuyện đàn ông, có gì lớn đâu mẹ ?


-  Anh làm như thế mà xứng với hai tiếng đàn ông à ?


Đến đây giọng bà lớn cố kìm lại, nói tiếp:


-  Con Na nó ngoan và xinh đẹp thế, mà anh nỡ làm hỏng một đời con gái của nó. Chuyện này mà vỡ lở ra, người ta đàm tiếu và nhìn mẹ con ông Chánh ra sao đây? Anh còn mặt mũi nào mà đáng mặt “ quan phụ mẫu” của tổng Giang Cầu ?


-  Thưa mẹ, con xin nhận lỗi cùng mẹ. Mong mẹ tha thứ cho con, bảo con làm gì để qua được chuyện này con cũng xin làm.


Bà lớn gườm gườm nhìn Chánh Cò và tự nghĩ thầm: Về cái khoản này, nó giống hệt ông Cai, bố nó!


Sau khi tính toán kỹ, ngay chiều hôm ấy, bà sai anh Cóc tóc đỏ mang một tạ thóc đến đưa cho nhà cô Na. Bà dặn Cóc nói với bố mẹ cô ấy rằng:


-  Bà lớn trả công cho cô Na. Ông cần gì, bà lớn sẽ giúp.


Sau khi nghe lời nhắn và nhận thóc của bà lớn, bố mẹ cô Na nói với nhau:


-  Con Na chưa chịu nói ra ai cưỡng bức nó. Cứ như cái việc bà lớn bỗng dưng cho ta thóc, mà suy ra, thì việc này có thể dính dáng đến con trai bà ấy? Bà nó nghĩ có phải không ?


-  Nếu chuyện này do chánh Cò gây ra, thì ông bảo nhà mình có kiện được không ?


-  Kiện cáo cái con khỉ gì, phải bảo lũ trẻ giữ kín miệng lại, đừng để thiên hạ biết. Lộ ra thì con Na đừng có nói đến chuyện lấy chồng!


Hai ông bà cùng nhìn vào chiếc vách đất, sau vách là nơi cô Na đang nằm rên rỉ. Họ cay đắng, mà chẳng biết làm gì.


Vài hôm sau, Na đã ăn được cơm thay cháo, ngồi dậy đi lại. Bố mẹ cô tưởng sự việc sẽ dừng lại ở đó. Nhưng chưa đầy hai tháng, bà mẹ đã thấy con gái có hiện tượng ốm nghén: sợ cơm và nôn ọe. Bà nói nhỏ cho ông biết. Ông thở dài. Bà kêu trời, rõ khổ! Ông bố cô Na cầm điếu cày tra thuốc lào vào nõ, định châm lửa hút, lại ngừng. Mãi sau ông muốn hút thuốc lại quên là đã có thuốc rồi. Ông thổi phù điếu thuốc chưa hút bắn ra ngoài. Ông lại tra thuốc lần nữa vào nõ điếu, châm lửa, hít một hơi dài, nhả khói mù mịt căn nhà tranh nhỏ bé. Ông thừ người suy nghĩ: Không chồng mà chửa, lệ làng sẽ phạt vạ. Phải có lợn có thóc nộp cho các ông chức sắc ăn khoán đây !


Nhìn chồng thừ người, bà vợ nói:


-  Hay là ông sang gặp bà lớn, nhờ bà ấy có cách gì, giúp cho? Hôm trước bà ấy chẳng đã nhắn là cần gì bà sẽ giúp đấy thôi.


Ông bố cô Na tuy nghèo, nhưng cha mẹ ông ngày xưa cũng có bát ăn bát để, đã cho ông theo học đôi ba chữ thánh hiền. Tính ông khí khái. Nhưng đến nước này -  ông nghĩ -  đành phải làm theo ý của bà ấy thôi.


 


Ông rời khỏi nhà bà lớn về đến cửa nhà mình, vợ ông đã hỏi ngay:


-  Ông đi có được việc gì không, bà ấy có giúp không ?


-  Bà ấy bảo phải tìm cho nó đứa nào để cưới.


-  Đến nước này, thì nó lấy được ai cơ chứ ?-  Giọng bà rên rỉ.


-  Bà ấy bảo sẽ lo cho việc này, nhưng đến nước này thì cũng đừng kén quá -  Tôi nói đành lòng vậy, trăm sự nhờ bà lớn.


                             *


   Hôm ấy, Cóc tóc đỏ đi làm về, nghe bà lớn cho gọi. Cóc thấy là lạ, khác với mọi ngày, lần này bà không sai bảo gì, mà chỉ tay vào cái ghế tràng kỷ cho ngồi, rồi bà thủng thẳng hỏi: Cóc năm nay bao nhiêu tuổi rồi, có bao giờ nghĩ đến chuyện muốn lấy vợ chưa? Cóc ngẩn người, chưa kịp nói sao. Bà lớn giục nghĩ thế nào cứ nói. Cóc bẽn lẽn thưa:


-  Cháu thế này thì làm sao lấy được vợ, ai người ta lấy cháu cơ chứ ?


-  Mi có biết cô Na vẫn bế Cò Vàng, chứ ?


-  Dạ, cháu biết, cô ấy xinh đẹp lắm, sao cháu dám mơ đến !


-  Ừ, được rồi, ta sẽ cho hai đứa nên vợ nên chồng.


Đêm hôm đó, lần đầu tiên trong đời, Cóc tóc đỏ thao thức bồn chồn không sao ngủ được, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến cô Na. Nó mong trời chóng sáng, ghé qua nhà cô Na để nhìn xem cô đang làm gì?


Sáng sau, Cóc dọn dẹp nhanh nhà cửa, rửa sạch chiếc xe tay kéo. Xong đâu đấy, Cóc ta đi tắm ở dưới ao. Lần đầu tiên cu cậu kỳ cọ đến rát da, mà những vết loang lổ cùng mụn cóc trên da vẫn không hết. Tắm xong, Cóc lục tìm trong bị cói đựng áo quần, lôi ra một bộ quần áo nhuộm nâu non còn mới chưa mặc lần nào. Cóc rũ rũ thật mạnh, cho bắn hết những bụi mốc bám trên vải. Lát sau, Cóc mặc bộ quần áo mới đi ra cổng. Bà lớn từ trên nhà nhìn xuống, có việc định gọi Cóc lại, nghĩ rồi bà vẫn để cho Cóc đi. Bà nhìn Cóc hôm nay mặc bộ quần áo nâu mới, dáng đi hăm hở khác hẳn mọi ngày, bà đoán Cóc sẽ sang nhà cô Na ? Bà tủm tỉm cười quay vào.


Khi bước ra khỏi cửa Cóc hăng hái đi như bay. Nhưng khi vào đến đầu ngõ nhà cô Na, thì tự nhiên chân Cóc nặng như đeo đá, cậu ta vừa đi vừa ngập ngừng. Cậu nghĩ thầm: Mình cứ thế này vào nhà, bố mẹ cô Na hỏi anh đi đâu, thì biết trả lời thế nào ? Đứng ở cửa nhìn vào cũng không tiện. Vậy thì nấp vào bụi tre ở bờ ao nhìn vậy. Cóc lượn ra phía sau bụi tre lớn, ghé mắt qua hàng cây nhìn vào sân nhà Na rõ mồn một. Đợi mãi, đợi mãi vẫn không thấy Na ra. Lát sau có một người mặc áo nâu từ trong nhà bước ra, nhìn kỹ hóa mẹ cô Na. Cóc vẫn đứng đợi như cây trồng. Gần đến trưa, bỗng nghe tiếng bước chân phía sau đi lại, Cóc giật mình thấy Na từ đâu đang đi về nhà. Trống ngực của Cóc nện thình thình, trái tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, cậu ta vội vàng ngồi thụp xuống bờ ao, quay lưng lại phía Na. Khi Na đi khỏi vào đến nhà, Cóc vội vàng ù té chạy.        


Bà lớn cho gọi bà già lên gặp và nói với bà ý định của mình. Bà già đại diện nhà trai mang lễ mọn đến nhà gái ăn hỏi. Bà lớn cho Cóc mấy bụi tre già đã ngâm dưới ao và một đống rơm to, bảo cậu dựng tạm một cái nhà ở vườn chuối, để đôi vợ chồng mới cưới có nơi chui ra chui vào.


Ngày cưới, có mặt bà lớn, bà Hai, các gia nhân trong nhà và một số bà con trong làng đến dự. Họ mang cho vợ chồng trẻ vài thứ: quần áo, chăn, màn, nồi niêu, bát đĩa, chum, vại...


Thời gian trôi mau, cuộc sống tuy nghèo, nhưng cả hai đều hài lòng và tưởng như trong mơ. Cóc tóc đỏ trước đó chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ lấy được vợ, nay lại có vợ đẹp và ngoan. Còn cô Na, sau khi bị làm nhục, cũng tưởng đời con gái thế là hết, nay đã có chồng khỏe mạnh và thương mình. Hàng ngày Na bế ẵm chăm sóc Cò Vàng, khi rảnh rang thì xuống bếp phụ cho bà già. Cóc tóc đỏ vẫn giữ chân kéo xe, làm những việc bà lớn và ông chánh sai bảo.


Chẳng bao lâu sau, cô Na đã sinh hạ được một cô con gái. Nó cũng đẹp như mẹ và phổng phao như người đàn ông tạo ra nó. Cóc tóc đỏ vui sướng vô cùng, anh không tưởng nổi mình đã có con. Anh ta nghĩ, Trời thật có mắt ! Bà lớn đặt tên cho con gái của Na là May -  bé May.


Niềm vui đến với anh Cóc quá nhanh, trí tưởng tượng của anh không sao theo kịp. Cách đây chưa đầy một năm, đầu óc Cóc chẳng có gì cần để suy nghĩ nhiều. Khi còn chăn trâu, sáng ra dậy sớm quét dọn phân chuồng, nhai bát cơm nguội, rồi lùa trâu ra bãi cỏ chân đê, cầm cái liềm đi cắt cỏ, cắt đủ, thì ra đầu bờ cùng hút thuốc lào và chuyện trò dăm câu với bạn cày; chiều về buộc cỏ lên mình trâu, giơ tay ra hiệu cho đàn trâu về. Con trâu đầu đàn đã quá quen với người chăn nó: Buổi sáng, chỉ cần Cóc mở chuồng là nó dẫn đầu đàn trâu ra khỏi chuồng; buổi chiều nó dẫn cả đàn về chuồng trước khi trời tối; chúng đi đến đâu những chiếc mõ đeo trên cổ kêu lóc cóc. Toàn bộ công đoạn chăn trâu diễn ra lặp đi lặp lại như thế suốt quanh năm ngày tháng. Đến nỗi cả trâu lẫn người cứ thế mà tiếp diễn chẳng cần cái đầu phải suy nghĩ.


Đến thời kỳ kéo xe và làm những việc sai vặt, thì chủ bảo sao cậu làm vậy. Đến bữa thì cậu lấy bát đi ăn. Tối khuya xong việc, cậu đặt mình nằm là ngủ luôn một mạch. Cũng chẳng có gì phải suy nghĩ gì nhiều.


Nhưng đến nay, có vợ, lại có con rồi, Cóc thấy phức tạp quá. Dù nhỏ nhưng Cóc vẫn có cái nhà lều, hàng ngày phải xem xét chỗ nọ, vạch chỗ kia để che đậy những nơi bị dột, bịt kín những lỗ vách hở, tránh gió lùa để bé May khỏi lạnh. Mỗi khi xúc gạo nấu cơm, Cóc phải nhìn xem chum còn hay hết gạo, nếu sắp hết phải nghĩ cách làm sao cho gạo có đủ lưng chum. Đi đâu thì vội vội vàng vàng mong sớm về đến nhà để nhìn thấy vợ thấy con, bế bé May một lúc cho đỡ nhớ... cuộc sống của Cóc đã bắt đầu thay đổi. Đụng đến việc gì cũng buộc cậu phải suy nghĩ nên làm như thế nào. Cóc đã dần dần thích nghi với vai trò làm người chồng người cha trong gia đình.


Còn cô Na, cũng thấy cuộc sống của mình thay đổi quá nhanh. Cách đây hơn một năm về trước, cô còn là thiếu nữ mới lớn, lúc nào cũng hồn nhiên vô tư. Mấy năm trước thì cô làm cái việc bế ẵm các em. Rồi cô bế ẵm Cò Vàng. Suốt ngày suốt tối cô bế nựng cậu chủ, cười cười nói nói cùng cậu từ khi cậu chưa biết ê a. Khi bị chánh Cò cưỡng bức cô tưởng như mình bị rơi đột ngột xuống một hố đen sâu hoắm, nghĩ rằng cuộc đời thế là hết, lần đầu tiên cô nghĩ đến cái chết! Đến lúc được bà lớn và bố mẹ cho cô đi lấy chồng thì cuộc đời dần dần đã đổi thay. Đến nay cô đã có chồng có con và một mái nhà lợp rạ nho nhỏ. Chồng cô tuy suốt ngày không nói một câu nhưng thương vợ thương con, vợ bảo gì làm nấy. Con gái của Na lớn lên từng ngày và nó xinh đáo để. Mẹ Na bây giờ trông nom và bế ẵm cả hai đứa trẻ: Cò Vàng và bé May. Khi chúng đói, cô lần lượt cho cả hai đứa cùng bú bằng bầu sữa của mình. Bú no, hai đứa chơi đùa với nhau, cười cười nói bập bẹ vui thích lắm. Cò Vàng hơn bé May một tuổi, đã biết dỗ em, khi May khóc thì Vàng vỗ nhè nhẹ, khi con cún đến gần thì Vàng giơ tay sùy sùy đuổi nó đi. Hai đứa cùng được chăm sóc bởi hai bà mẹ và chúng lớn lên bên nhau từ bé. Hai năm sau, Na sinh thêm thằng Bần.


Bà Hai khi biết được chồng cưỡng bức cô Na thì đã quá muộn. Đã qua thời kỳ Na lấy Cóc, bụng mang dạ chửa và đẻ ra bé May. Bà đau đớn quằn quại khi biết sự việc trên. Nhiều đêm bà ôm gối khóc thầm, mà chẳng dám nói cùng ai. Sáng ra, bà gạt nước mắt, dậy sớm tất tả làm hết việc nọ đến việc kia. Bà thấy mình duy nhất chỉ có lúc được thư giãn là bế ẵm chuyện trò với Cò Vàng. Bà nhìn ngắm con không chán mắt. Cò Vàng và bé May lớn dần bên nhau, chúng có nét hao hao giống nhau và cùng đều ngoan ngoãn, đáng yêu như nhau. Bà thấy vui vui xen lẫn sự xót xa. Dần dà, thời gian trôi đi, bà thấy thương Na như em gái và quý bé May như đứa con của mình.


Na thấy bà lớn và bà Hai thương mình thì biết ơn lắm. Cô không biết nói ra thành lời, chỉ tâm niệm một điều sẽ suốt đời làm lụng đền đáp lại ơn này. Nhưng linh tính như muốn mách bảo cô biết là chánh Cò sẽ không buông tha cô đâu! Nhiều đêm nghĩ đến chuyện cũ, cô chợt thức giấc, lại lo nghĩ không biết vợ chồng con cái cô đang sống yên ấm thế này, nhỡ ra có chuyện gì...?!


                                *


   Về phần chánh Cò, lúc đầu thì lo lắng về việc đã gây ra cho cô Na, đến khi thấy bà lớn giải quyết xong, mọi chuyện êm xuôi, thì mừng lắm. Nhưng rồi, “ khỏi vòng cong đuôi”, tính nào ông ta vẫn tật ấy, khó sửa. Ông ta lấy cớ đi lo việc cho anh vợ, nhưng thường tìm cách gặp cô Ba. Có lần, vì nể chánh Cò, chị Cả đã để yên cho chánh Cò cùng cô Ba ở tại nhà mình suốt một ngày một đêm; còn mình và cu Tý thì về làng Bình, nói là thăm cụ Tú, nhờ cô Ba trông cửa hàng hộ.


Chẳng biết hôm ấy hai người gặp nhau nói với nhau những gì và đã làm gì ? Chỉ biết sau ngày ấy chánh Cò và cô Ba, hai người đều có nhời với gia đình mình, xin cưới nhau. Nghe chánh Cò xin phép mẹ lấy cô Ba làm vợ bé, bà lớn giật mình, chẳng kịp nói sao. Bà ngẫm nghĩ: hai đứa này dan díu với nhau. Lấy vợ rồi, Cò vẫn không dứt nổi với con Ba. Không cho cưới thì chúng nó làm bừa, mang tiếng làng nước. Mà cho cưới thì mẹ Hai sẽ khổ. Nghĩ đi nghĩ lại và bà nhớ đến nhời Thánh dạy trước kia, cuối cùng bà chấp nhận.


Vài hôm sau, bà lớn mang lễ ăn hỏi đến nhà cụ Tú.


 Trước đó, nghe cô Ba thưa chuyện, cụ Tú còn băn khoăn: Cô Ba phải lấy làm vợ bé, vợ cả lại là chị ruột, cảnh chồng chung hai chị em có còn giữ được tình yêu thương như cũ không? Nhưng nghĩ lại cụ thấy hai bên chúng đã ưng nhau, con gái lớn rồi ở nhà như “ bom nổ chậm”, nó lấy chồng thế là cụ sẽ lo xong bề gia thất cho các con, có đi với cụ ông, cụ cũng an lòng. Sau khi nhận lễ hỏi, hai bên định ngày cưới.


Bà chủ lớn trước khi đi lễ hỏi, bà trực tiếp nói chuyện này với con dâu, bà Hai chỉ biết ôm mặt khóc ! Sau khi xong lễ hỏi, bà Lớn rời làng Bình, rẽ thăm ông em Ngô Đức ở Đáp Cầu. Bà kể cho ông nghe chuyện chánh Cò lấy vợ hai, nhờ ông tìm mua cho chúng một ngôi nhà, để sau khi cưới, chúng ở đó cho tiện, tránh ở chung đụng với vợ cả. Ông Đức cười lớn, giọng nói ồm ồm:


-  Em biết mà, thằng Chánh đâu có chịu buông con Ba. Lấy vợ bé bây giờ vẫn là chuyện được xã hội công nhận. Chị cưới cô Ba cho nó cũng phải, để nó yên bề làm việc nọ việc kia.


Đám cưới chánh Cò và cô Ba tổ chức không linh đình và không mời rộng như đám cưới lần trước. Mọi người đón dâu về ngôi nhà mới mua. Chánh Cò cùng vợ bé hưởng tuần trăng mật tại nhà riêng ở phố Đáp Cầu.


Từ sau ngày cưới cô Ba, chánh Cò ở lì bên Đáp Cầu, chẳng mấy khi đoái hoài đến vợ con ở trang trại. Ông vui sướng được lấy cô vợ đẹp muốn chưng ra cho làng phố đều biết. Ông đưa cô đi sắm những bộ cánh, áo dài, quần xa tanh trắng, giày dép da hợp mốt tân thời. Cô Ba còn được chồng sắm cho vòng ngọc trai đeo trên chiếc cổ cao ba ngấn trắng ngần. Chánh Cò hãnh diện đưa vợ đi dự các buổi tiệc tùng, có mặt giới điền chủ, nhà kinh doanh và các quan chức. Tới đâu với vẻ đẹp trẻ trung và sang trọng của mình, cô Ba cũng hút hồn các quý ông. Chánh Cò lúc này chê bai những nhà điền chủ chỉ biết suốt ngày cắm đầu lo chuyện đất, không biết ăn chơi như ông, ông gọi họ là trọc phú hủ lậu.


Một thời gian sau, theo lời nhỏ nhẹ năn nỉ gợi ý của cô Ba, chánh Cò đã tự ý bán bớt ba mươi mẫu ruộng, lấy tiền cho vợ bé mở cửa hàng kinh doanh gỗ nứa tại phố Đáp Cầu. Khi bà lớn biết được việc này thì đã muộn. Bà cho gọi chánh Cò về, mắng té tát, buộc ông từ nay trở đi phải ở nhà cùng bà lo công việc trang trại và làm phận sự của chánh tổng. Nhưng rồi cách nhật ông vẫn tìm cách sang Đáp Cầu với vợ bé.


Một năm sau, vợ cả sinh thêm được con trai nữa; chánh Cò đặt tên là Cò Đỏ. Còn vợ bé cũng sinh hạ được một cô con gái, cô bảo chồng đặt tên là Hà My, cho hợp với cách đặt tên các cô gái thị thành .


                                


   Cô Ba, mau chóng học theo cách sống của các phu nhân ở Đáp Cầu. Cô thuê một người nấu bếp, dọn dẹp nhà cửa và một vú nuôi. Cô cai sữa sớm để giữ vẻ đẹp cơ thể. Những đêm chồng sang sông với vợ con ở làng Dưới, cô mời mấy quý bà đến chơi tam cúc. Sáng ra cô thức dạy muộn, cô gọi xe tay kéo lên hiệu cao lâu ăn sáng. Rồi cô nho xe đi quanh một lượt xem xét đôn đốc phu phen kéo gỗ, vớt bè, chuyển gỗ nứa từ dưới sông lên bờ. Hàng ngày cô kiểm tra sổ sách xuất nhập gỗ nứa và thu chi tiền nong. Cô thèm muốn khi thấy những bà vợ của ông chủ lớn ngồi xe ô tô riêng với chồng. Cô lại thánh thót rỉ tai ông Chánh xin ông mua lấy một chiếc xe ô tô để vợ chồng cùng đi, kẻo thua kém người ta. Chánh Cò cũng thích có xe ô tô, nhưng hiểu rằng nếu nghe vợ sắm ô tô thì lần này sẽ “ chết” với bà lớn, nên chẳng ừ cũng chẳng gật.


    Cô Ba ngày đêm nghĩ và tìm cách có tiền để tự mình sắm ô tô: Cô đến thăm nhà một ngài nghị sĩ dân biểu giàu có nhất nhì trong vùng. Ông ta tuổi cao gấp đôi chồng cô, nhưng ông thường mặc bộ comple vải đũi màu sữa trông đỏm dáng. Mỗi khi giáp mặt cô ở bữa tiệc nào là ông nghị lân la tán tỉnh, cợt nhả. Lần này cô ngỏ ý với ông Nghị là cô muốn đứng ra tổ chức và làm chủ một bát họ lớn, nhờ ông động viên các phu nhân góp họ. Ông nghị đồng ý ngay. Còn các bà lớn thì vui mừng vì đây là dịp các bà moi được tiền của chồng để góp họ hàng tháng; sau đó các bà nhận được một khoản tiền lớn. Có sẵn nhiều tiền trong túi, các bà lớn sẽ tha hồ chi tiêu, mua sắm những gì mình thích.


Chẳng mấy chốc, ý tưởng góp họ của cô Ba đưa ra đã được các quý bà hưởng ứng, thành công. Cô là chủ họ, theo quy định, cô được mở bát lấy tiền họ đầu tiên. Cô Ba ra Hà Nội mua ngay một chiếc ô tô đời mới, thuê một anh súp phơ trẻ trung, đi đâu cũng xe đưa xe đón. Anh tài xế mặc sơ mi trắng, thắt nơ đen, mỗi khi đứng trước cô Ba, thì chắp tay một lời thưa mợ chủ, hai lời thưa mợ chủ. Đến mức các quý phu nhân của huyện quan hoặc vợ quan đốc học cũng phát ghen với cô Ba ! Chẳng bao lâu sau, cô Ba được người ta đồn thổi: Cô là người nổi tiếng, một mợ chủ kinh doanh giỏi, có phong thái lịch lãm và vẻ đẹp tân thời vùng sông Cầu.


Về phần Chánh Cò, ban đầu ông chiều chuộng vợ bé, chăm sóc để cô Ba không quá thua kém các quý bà vợ chủ thầu, để mình được “ đẹp mặt”.


    Nhiều người nhận xét rằng: Mợ Ba bây giờ đã thành thị hóa rồi, còn đâu cô Ba chân quê của ngày xưa nữa. Nhận xét ấy có phần đúng, nhưng có quá khắt khe không?


Đến mùa lễ hội. Theo phong tục cổ truyền ba làng Thị Cầu, Đáp Cầu và Đạo Ngạn cùng thờ hai vị Thánh tên là Trương Hống và Trương Hát làm Thành hoàng làng. Hàng năm vào ngày mùng bảy tháng tám bắt đầu vào hội. Làng Thị Cầu làm lễ rước nước, lấy nước từ sông Cầu về tắm cho bài vị của hai Thánh. Thị Cầu là làng nổi tiếng có phường bát âm và đội trống cổ, biểu diễn nổi đình đám. Dân làng Đáp Cầu nổi tiếng về đội múa sư tử, nhưng thường kém hai làng trên về khoản hát dân ca. Còn dân Đạo Ngạn thì có tài bơi lội và chèo thuyền. Lần này hội rước ba làng tổ chức thi têm trầu và hát xướng. Dân Đáp Cầu tìm mãi cuối cùng họ bàn nhau mời cô Ba nhà chánh Cò đi thi. Hôm ấy cô Ba đội khăn nhung tai đeo khuyên vàng, mặc áo tứ thân ba mớ (bên trong áo nâu, hở yếm lụa đào, giữa áo mỡ gà, ngoài áo the). Cô mặc váy lụa màu đen, đeo thêm đôi xà tích trắng bằng bạc ở thắt lưng, chân đi đôi guốc cong cong, tay cầm chiếc nón quai thao. Dân Thị Cầu cử cô Bảy và dân Đạo Ngạn cử cô Tư đi thi. Cả ba cô, cô nào cũng đẹp, cũng xinh và có đôi tay mềm mại khéo léo.


Sau khi rước nước từ bến sông Cầu về đình làng đã xong, cuộc thi bắt đầu. Ba cụ già ba làng làm ban Giám khảo. Tiếng trống thúc thình thình vang lên. Cả ba cô bắt đầu chọn lá trầu và quả cau. Tay mỗi cô cầm dao nhỏ sắc để bổ cau và dọc lá trầu, trông như múa. Lát sau những miếng trầu têm cánh phượng xòe ra cùng những miếng cau tươi, được bày trong ba cơi trầu, dâng lên ban Giám khảo. Các cụ mở cơi trầu lật đi lật lại xem từng miếng trầu... so sánh trầu của ba người rồi bỏ phiếu chọn nhất nhì ba. Các cụ chưa tuyên bố vội, chương trình được tiếp theo. Một cụ đại diện đứng ra nói:


Miếng trầu là đầu câu chuyện. Trầu có vị cay thơm. Sau bữa ăn cơm, ăn trầu giúp cho miệng không hôi, làm chặt chân răng, chất vôi trong trầu trừ được sâu răng. Trời rét ăn trầu còn ấm người. Ai có hàm răng đen xinh đẹp đều nhờ ăn trầu. “Miếng trầu nên nghĩa”, nó là cái cớ để đôi nam nữ giao duyên lúc ban đầu.


Cụ nói tiếp: Miếng trầu ngon, trước hết là phải biết chọn cau và chọn lá trầu. Lá trầu cần phải xanh tươi. Về phần cau có nhiều loại: Cau Liên phòng, cau Sung, cau Dừa và cau Mã lửa. Trong bốn loại cau đó thì cau Sung là ngon nhất và được giá nhất. Nói đến đây cụ mở cả ba cơi trầu cho mọi người nhìn, thì chỉ thấy cơi trầu thứ ba là têm trầu bằng cau Sung.


Nhìn vào miếng trầu -  Cụ nói tiếp: Vết cắt miếng cau và đường dọc lá trầu phải sắc gọn không nham nhở. Têm cánh phượng phải dọc bớt hai bên mép lá, sao cho hai đầu có hai mẩu cánh xòe ra. Cụ lại mở ba cơi trầu cho mọi người coi. Cụ lấy từ cơi trầu thứ ba và thứ hai ra, mọi người thấy miếng trầu têm có hai cánh như cánh chim bay lên, đẹp quá !


Cuối cùng cụ xem đến cơi trầu: Ở đây có ba cơi trầu khác nhau được các cô mang từ nhà đến. Cơi trầu thứ nhất làm bằng gỗ như cái đĩa sơn son thiếp vàng; cơi trầu thứ hai làm bằng đồng giống cái âu có nắp màu vàng; cơi trầu thứ ba là một hộp tròn sơn son thiếp vàng, trông trang nhã, phía dưới là hộp đựng trầu, trên là cơi có chia ô bày trầu. Mọi người xì xầm trao đổi, rồi đồng thanh hô to: Cơi trầu thứ ba của cô Ba là đẹp nhất. Cụ già nói: Đúng thế, cơi trầu này chỉ có người làng quan họ hay dùng.


Cuộc thi têm trầu đã xong, tiếp đến là thi hát xướng. Cô Tư làng Đạo Ngạn hát trống quân: Chưa chồng em mới tới đây/ Có chồng chiếu trải màn quây trong nhà/ Không chồng em mới chơi hoa,/ Có chồng em đã ở nhà chơi xuân./Có vợ thì tránh cho xa,/ Kẻo em chạm phải về nhà vợ ghen...


Giọng cô hợp với tiếng đàn réo rắt và hợp với tiếng trống thùng thình thùng thình... Mọi người vỗ tay khen hay.


Cô Bảy Thị Cầu hát ví rằng: Hỡi anh đi đường cái quan/ Dừng chân đứng lại em than vài lời,/ Đi đâu vội mới anh ơi,/ Người nào chẳng biết vài câu huê tình...


Cô Bảy vừa hát xong, mọi người lại vỗ tay, cười nói vui vẻ.


Đến lượt cô Ba làng Đáp Cầu. Cô nâng cơi trầu bằng hai tay, bước đến gần bàn các cụ Giám khảo. Dáng đi của cô uyển chuyển, mắt cô lúng liếng, mời... các cụ xơi trầu, rồi cất tiếng hát đằm thắm và trong veo như muốn trêu chọc các cụ:


Ăn một miếng trầu.


Gặp nhau ăn một miếng trầu,


 Thương nhau cầm lấy, cho nhau bằng lòng.


  Trầu này trầu tính trầu tình,


    Ăn vào thắm đỏ môi mình môi ta !...


Cô Ba hát đến đây, hàng trăm hàng nghìn người đứng xem phì cười, vỗ tay không ngớt. Các cụ Ba giám khảo cũng nhìn nhau tủm tỉm.


Kết thúc cuộc thi, ban Giám khảo công bố: Cô Ba làng Đáp Cầu đoạt giải nhất!


Hàng trăm người dân Đáp Cầu đứng xem, họ nhảy lên reo hò. Lần đầu tiên người Đáp Cầu đoạt giải nhất tại cuộc thi ở hội rước nước ba làng ! Cô Ba từ đấy lại càng là người nổi tiếng vừa thanh lịch vừa giữ được chất chân quê. Chánh Cò hoan hỉ lắm, nhưng vẫn không muốn vợ nổi trội hơn mình. Người dân Đáp Cầu vốn hay phân biệt người nơi khác đến gọi là dân ngụ cư. Nhưng riêng với cô Ba, thì họ coi như người làng gốc. Họ tự hào có cô Ba là người làng Đáp Cầu,vẫn giữ được chất chân quê.


Nhưng khi thấy cô Ban ngày càng nổi tiếng, đi đâu cũng xe đưa xe đón, có mặt ở bữa tiệc nào là các quý ông vây quanh tán tỉnh, thì chánh Cò khó chịu lắm. Ông bắt đầu ghen bóng ghen gió, có lúc buột miệng nói những lời hách dịch kiểu chánh tổng với vợ bé. Cô Ba ngạc nhiên, nhìn chồng, lẳng lặng không nói gì.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »