tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28918932
Tiểu thuyết
16.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


1.NGƯỜI ĐÀN BÀ KINH BẮC


     Ở làng quê này, vào thời ấy vốn yên bình, khi nghe tiếng súng nổ đoàng… đoàng… kèm theo tiếng reo hò của trẻ nhỏ, quả là sự kiện trước kia chưa từng có. Dân làng kéo nhau ra xem mỗi lúc một đông, ban đầu là những trẻ nhỏ, rồi đến trai làng, tiếp đến các ông bà, còn các cô gái thì đứng lấp ló dưới rặng tre nhìn ra. Họ trông thấy một chàng trai mặt vuông vức, lông mày rậm, đầu chít khăn nhiễu tía, quần trắng áo the, đôi chân đi ủng, đang cưỡi con ngựa hồng. Ngựa bị thúc mạnh, phóng trên đường đất thịt cắt đôi cánh đồng lúa xanh tốt. Chàng trai ngồi trên lưng ngựa, giương súng hai nòng bắn đoàng… đoàng… Sau mỗi tiếng nổ là hàng trăm con cò trắng bay tán loạn từ những ruộng lúa xanh lên trời, tiếp một tiếng súng nữa vài con bị trúng đạn sệ cánh rơi xuống. Một con chó săn lao ra ngoạm vào cổ cò, rồi chạy nhanh về đặt dưới chân ngựa. Một anh gia nhân tóc đỏ theo chân ngựa. Cả người và chó cùng ngước nhìn cậu chủ, như chờ lệnh.


Thế là, cả chiều hôm ấy, đêm hôm ấy và những ngày sau, dân ở cái làng Bình này kháo nhau về chuyện cậu chủ. Trẻ con thích thú lắm. Các cụ thì tỏ ra không ưa cái trò từ đâu tới làm náo loạn cả làng. Còn các bà, các cô thì có chuyện để mà bàn ra tán vào về cậu chủ nọ đang nhòm ngó cô nào đó ở làng này.


-  Cậu ấy người ở đâu ta?


-  Nghe nói cậu ấy là con trai của một bà chủ lớn giàu có, ở vùng sông Cầu -  Kinh Bắc.


-  Cậu ấy đến vùng quê ta làm gì nhợ?


-  Hôm nọ nhiều người làng ta nhìn thấy cậu ấy ở hội Lim. Suốt mấy ngày hội, cậu ta đi theo và quanh quẩn bên hội hát quan họ của làng mình.


-  Xem chừng cậu ấy để mắt tới cô nào trong hội hát quan họ ? Hết hội, vẫn chưa muốn về, nhợ?


-  Ai bảo vậy, có thật hay bỡn đấy? -  Nhiều người nhao nhao cất tiếng.


-  Không thật, cớ sao cậu ấy lại đến nhà bà Bảy Mối, nhợ?


Chiều hôm ấy ở nhà cụ Tú, cô Hai ngồi dệt lụa, cô Ba quay tơ. Hai chị em vừa làm vừa trò chuyện về người bắn cò. Cô em hỏi:


-  Chị có trông thấy cậu bắn cò không nhợ?


-  Có, chị trông thấy hồi sáng, khi nghe tiếng súng, cùng mọi người đứng dưới bụi tre, nhìn ra xem.


-  Em biết cậu ấy đấy -  Cô Ba hạ giọng, thì thầm nói với chị.


-  Thật à, em biết cậu ấy từ bao giờ thế nhợ?


-  Em… nhìn thấy cậu từ hôm mở hội Lim. Hội hát của làng ta đến chỗ nào cũng thấy cậu ấy có mặt. Khi chúng em hát, cậu ấy đứng xem…


Kể đến đây hai má cô nóng ran và nhớ lại: Cô đã đi hát ở nhiều làng, hát bài vui thì nhiều người cười hưởng ứng, hát bài buồn thì có người rơm rớm nước mắt, không ít những chàng trai biểu lộ lời này ý kia… Cô cho tất cả chỉ là sự mến mộ. Nhưng ở hội Lim này, đây là lần đầu tiên cô đã thấy và cảm nhận được đôi mắt khác lạ nhìn mình. Mỗi lần cậu ấy nhìn cô, đều ánh lên sự rạng rỡ, yêu thương và nó âm ỉ đốt nóng tình cảm trong cô. Mỗi khi nhắm mắt lại, cô hình dung thấy đôi mắt ấy đang nhìn mình, không dứt ra được. Ngày vãn hội Lim, bà Bảy Tâm là người chị họ, nhắn cô sang chơi nhà. Vừa vào đến cửa, bất chợt đã thấy cậu kia ở đó và đang nhìn cô với ánh mắt hôm nào. Cô ngây người, đứng sững như trời trồng, hai má bừng đỏ, rồi quay đi, bỏ chạy. Nhớ đến đây, cô dừng tay quay tơ, hỏi chị Hai:


-  Chị ơi, chị thấy cậu ấy thế nào?


Cô Hai không hiểu tâm trạng của em, đã trả lời chẳng ăn nhập với mong muốn của người hỏi:


-  Cậu ấy bắn chim, chị thương mấy con cò bị chết!


Hội Lim đã vãn, đến ngày thứ ba, mới thấy cậu chủ ra về. Khác với mọi lần, hôm ấy cậu chủ không giao cho người hầu đưa ngựa về chuồng theo cổng sau. Như một làn gió, lần này con ngựa cõng cậu nằm rạp trên lưng chui tọt qua cái cổng tiền có hai cánh gỗ lim to đùng, nó gõ móng lộp cộp lên nền gạch. Vào đến giữa sân nhà, ngựa dừng lại. Đôi chim công thấy con vật kỳ dị ở đâu bỗng xuất hiện, thì sợ hãi nép vào nhau ở góc cái chuồng lớn. Cậu chủ nhảy phốc khỏi mình ngựa, quất nhẹ chiếc roi gân bò vào cái ủng bên phải và vứt roi cho người hầu. Cứ thế, cậu chạy như bay về phía ngôi nhà to, nhảy tưng tưng hai bậc, qua hết chín bậc thềm, cậu bước vào sảnh.


Ngôi nhà gỗ năm gian có sáu hàng cột gồm 16 trụ, quay mặt về hướng nam, nền nhà và hàng hiên tọa lạc trên nền chín bậc thềm cao chót vót, mọi người vẫn gọi là nhà to hay nhà trên. Gian giữa ở phía trong kê bàn thờ tổ tiên, phía ngoài đặt chiếc sập là nơi bà chủ vẫn ngồi. Gian bên trái đặt bộ tràng kỷ lớn làm bằng gỗ lim dùng để tiếp khách hàng ngày. Gian bên phải bày một chiếc tủ chè và một bộ xa lông gỗ gụ mặt đá để tiếp khách sang trọng. Hai gian đầu hồi là phòng ngủ. Phòng ngủ của bà chủ có cửa thông sang dãy nhà ngang, đi tiếp xuống nhà ăn và nhà bếp; rồi có đường ra sân sau, nhà kho và khu chăn nuôi gia súc. Đối diện ngôi nhà trên qua chiếc sân rộng là khu nhà dưới có nhiều phòng rộng rãi, mặt tiền nhìn ra sân, cửa lồng bằng kính. Phía ngoài là những hòn non bộ và bể cá vàng; đằng sau nhà kính là khu nhà ở.


Bên phải nhà kính cạnh lối ra cổng lớn là gian nhà làm như một cái lồng to thông thoáng để nuôi hai con chim công (ông chủ đã mua và mang đôi công này từ nước Ai Lao về). Những khách vào chơi nhà, thường dừng lại chiêm ngưỡng đôi con công. Nó vừa to vừa đẹp rực rỡ, nhất là khi chúng múa vờn nhau, xòe đôi cánh và chiếc đuôi lung linh sắc màu. Giống chim công này có cái hay và lạ là: Con công đực bao giờ cũng đẹp và duyên dáng hơn con chim cái, nó có cái đuôi dài hai, ba mét; khi xòe đuôi ra múa hiện lên muôn vàn những cái đốm ngũ sắc lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời. Con công đực thường to và cao hơn hẳn con cái, bao giờ nó cũng biết chớp cơ hội làm đẹp để con cái thích thú. Mỗi khi có khách vào nhà, công đực dẫn con cái bước ra khỏi nhà lồng, xòe đuôi xòe cánh, ngẩng cao đầu trông oai vệ như một ông hoàng. Nó trổ tài múa lượn để khách xem, song thật ra là mượn dịp này để làm đẹp và tỏ tình cùng con cái, khi múa, đôi chân công đực bước xoay quanh con cái, lúc nhanh lúc chậm, ăn nhịp với giọng trầm đục phát ra từ cái cổ dài như hát. Cứ thế nó múa mãi không chán cho đến khi con cái quay vào nhà chuồng, lúc ấy công đực cũng vào theo và nó âu yếm cùng công cái như cặp “người tình”.


Tất cả dinh cơ to lớn này gồm nhà và vườn tược ao hồ rộng chừng hai héc ta đã được xây bao và trồng tre kín cổng cao tường.


Bà chủ ngồi trên chiếc sập gỗ lim. Trước mặt bà đặt một ống điếu cao cao hút thuốc lào, khảm trai bóng loáng, có chiếc cần điếu cong vút với nhiều đốt trúc đen; một bộ ấm trà Tàu làm ra từ vùng Giang Tây, và một cái cơi trầu sơn son thếp vàng đựng trầu têm sẵn. Lúc này bà chủ đang xếp bằng ngồi trên mặt sập, miệng bỏm bẻm nhai trầu, ngước đôi mắt đen và mở to nhìn con trai đang hớn hở bước vào.


-  Con chào mẹ!


-  Con đi đâu, hội với hè đã hết lâu rồi, sao hôm nay mới về?


-  Thưa mẹ, vui chơi xong ở hội Lim, con về làng Bình chơi thêm mấy hôm  


-  Có ai quen ở làng Bình mà chơi lâu thế?


-  Thưa mẹ…


Cậu định nói tiếp, nhưng ngần ngừ, ngừng lại. Như thường lệ, cậu không được phép ngồi chung sập với bà chủ, mà ra ngồi trên bộ tràng kỷ cạnh bên. Cậu kéo chiếc điếu bát lại gần, tay ve ve điếu thuốc lào nhét vào nõ điếu; chậm rãi châm lửa rồi ngậm cái xe điếu vào miệng, hít một hơi dài, chiếc điếu bát kêu lên sòng sọc. Ngậm miệng giây lát, cậu ngửa cổ phả những vòng khói trắng hình tròn bay xoáy ốc lơ lửng lên nóc nhà. Hút xong điếu thuốc, như lấy lại được bình tĩnh, cậu đứng lên chắp tay, ngập ngừng nói:


-  Thưa mẹ, con muốn…lấy vợ!


Bà chủ nhìn con trai, như đã đoán ra được vài phần nhưng vẫn sửng sốt về câu thỉnh cầu đột ngột của con. Mấy tháng trước bà giục lấy vợ, cậu ta nguây nguẩy chối từ, bây giờ lại vội vàng muốn cưới vợ ? Bà hỏi:


-  Cô gái ấy là người thế nào, con nhà ai?


-  Thưa mẹ, cô ấy là con thứ ba của cụ Tú ở làng Bình vùng Nội Duệ -  Cầu Lim. Cô ấy đẹp người, được nết và hát quan họ hay lắm. Con mong mẹ bằng lòng hỏi cô ấy cho con.


-  Đẹp và hát hay à ? Con lấy vợ để thay mẹ trông coi lo liệu gia đình hay lấy người chỉ để...ngắm và nghe hát đây ?


-  Thưa mẹ... con...


-  Thôi được, để ta xem sao đã.


 Nghe mẹ nói vậy, cậu chủ biết là có nói thêm thì bà cũng chẳng ưng, vì cậu nghe nói mẹ mình giống tính cách mạnh mẽ dứt khoát của cụ tên là Miêng. Cậu tự nhủ, thôi đợi đã, có dịp sẽ thưa lại với mẹ sau. Cậu đứng dậy, xin phép mẹ về phòng nghỉ.


*


    Cụ của Cò và là bà nội của Mận tên là Miêng. Xa xưa gia đình Miêng sống trên chiếc thuyền nhỏ. Tại đây, bố mẹ Miêng cùng sáu đứa con, trong đó có Miêng di động trên sông làm nghề bán muối. Họ mua muối từ Thái Bình lên, bán cho cư dân dọc sông Cầu. Lên ba, lên năm tuổi, mọi đứa trẻ trong gia đình này đều biết bơi lội. Lớn lên, chúng đi làm mỗi người mỗi ngả, con trai khỏe mạnh thì làm nghề chài lưới, con gái thì ra chợ buôn thúng bán bưng, có người đi ở đợ. Riêng Miêng, là con út, năm mười lăm tuổi bố mẹ đều đã qua đời. Chỉ còn cô và người anh cả mắc bệnh “dở người” sống ở trên thuyền. Cô thay bố mẹ tiếp tục buôn muối. Cũng may là anh cả rất khỏe, cơ bắp cuồn cuộn, chèo thuyền không biết mệt, nghe theo lời em gái, bảo sao làm vậy.


Miêng đi đến đâu cũng quan sát mọi thứ. Cô thấy giá gạo giữa vùng xuôi và các thị xã Lạng Sơn và Vĩnh Phúc chênh lệch đáng kể. Cô chuyển sang buôn gạo. Quả nhiên buôn gạo lời lãi gấp ba lần buôn muối. Khi từ miền ngược trở về, cô lại mua và cho thuyền chở các mặt hàng lâm thổ sản về xuôi bán. Cứ thế chẳng bao lâu, cô đã đủ tiền tậu một chiếc thuyền to hơn nhiều lần thuyền cũ. Cô thuê bốn người trai tráng làm tay sào đẩy thuyền và giương buồm, kiêm phu khuân vác hàng.


Có lần, dọc đường lên miền ngược, qua vùng đất rừng núi Tân Yên, thuyền của Miêng gặp bọn cướp cho thuyền ra chặn đường đòi tiền mãi lộ. Các tay chân sào sợ xanh mặt. Miêng ngang nhiên đứng ra mũi thuyền, vẫy vẫy tay gọi tên cầm đầu toán cướp chèo thuyền đến gần. Cô Miêng đầu chít khăn mỏ quạ, mặc áo dài tứ thân màu mận, bên trong lấp ló chiếc yếm đào che bộ ngực căng phồng, mặt cô tươi roi rói nhìn xuống thuyền bọn cướp. Tên đầu lĩnh chỉ huy bọn cướp là chàng trai dân tộc Thổ. Làm nghề lục lâm trên sông nước đã lâu, hắn chưa một lần gặp trường hợp như thế này. Hắn đứng ngây ra nhìn cô gái, không chớp mắt. Hắn chưa kịp nói gì, thì Miêng giơ tay ra hiệu, mấy anh chân sào khênh quăng bao gạo và con lợn kêu eng éc xuống thuyền của bọn cướp. Tên tướng cướp chưa biết nên phản ứng thế nào thì con thuyền to lớn đã kéo buồm đi xa. Từ hôm ấy, mỗi lần chàng “Thổ mừ” này thấy chiếc thuyền của cô gái ấy đi qua, y lại vẫy vẫy tay hoặc sai đồng bọn chở nước đến cung cấp cho thuyền của Miêng. Đôi khi Miêng cũng tặng cho chúng món quà miền xuôi.


Đến khi quân Pháp bao vây nghĩa quân nhằm diệt lực lượng của cụ Nguyễn Cao, thì chúng phong toả đường sông, không cho thuyền ngược miền rừng. Miêng đành đưa thuyền về tận Hải Phòng bán, lấy tiền lên bờ mua được ba chục mẫu ruộng, làm nhà, xây ấp, phát canh thu tô. Cô lấy một ông chồng, hai mươi hai tuổi, hơn cô hai tuổi, là con trai một nhà điền chủ. Chồng cô quen sống theo lối “cậu ấm”, nên mọi việc trong nhà đều do cô cáng đáng. Hai vợ chồng Miêng sinh hạ được năm con, gồm bốn gái một trai. Cậu “con một” tên là Diều được chiều chuộng, lại bắt chước sống như bố. Bà Miêng cưới cho cậu một cô vợ lành hiền để chăm nom cậu. Vợ cậu tên là Táo. Mận là con của bà Táo.


                            


Mận sống trong một gia đình: Bà nội rất giỏi trong việc bảo ban mọi người làm ăn. Bố cô lại được bà nội chiều cho đi hát xướng. Ông mặc áo the, đội khăn xếp, tay chống ba toong đến các đám hát chèo hát quan họ, hoặc chơi tổ tôm. Tối đêm ông mới về, say xỉn, nằm quay ra ngủ. Sáng sáng ông lại đi… Cụ Miêng là người cứng rắn trong mọi việc, trừ đối với “ông con trời” này thì cụ không nỡ nghiêm khắc, lâu lâu cụ vẫn cho tiền ông con chơi bời.


Còn mẹ cô, một bà mẹ thật lạ lùng: Bà chẳng khi nào ta thán về chồng mình, ngược lại bà còn hãnh diện có được ông chồng lúc nào cũng ăn mặc đỏm dáng, ai cũng khen hát hay, ra đường gặp ai cũng được chào hỏi tử tế. Bà thấp béo, ăn mặc xuề xòa, trông như con vịt bầu mắn đẻ. Bà cũng mắn thật, chửa… đẻ liền liền cứ ba năm đôi, đẻ một mạch đến mười một đứa con ! Tới bữa bà gõ xoong kêu boong boong, các con bà từ các nơi chạy về ăn; bà đếm đầu xem có đứa nào thiếu vì mải chơi chưa về. Tối tối, chúng đi ngủ, bà kéo chăn đắp cho chúng, rồi đếm cẳng chúng xem có đủ hai mươi hai cái chân hay không. Có hôm thấy thiếu, bà phải gọi đứa lớn nhất cùng đốt đuốc đi tìm quanh nhà ngoài vườn, thấy đứa con thiếu đang nằm tròn trong ổ rơm ở bếp. Bà cười lôi nó dậy, phát nhẹ vào mông đít, nói nựng “Mẹ mày” ! Mỗi lần đi chợ bán gạo hoặc bán rau về, bà không quên mua vài chục quả ổi, quả táo mang về cho các con. Đi dọc xóm, thấy đứa trẻ nào, bà cũng nhét vào tay chúng quả ổi hoặc táo. Thấy bóng mẹ đi chợ về chúng phát tín hiệu cho nhau biết bằng tiếng gọi, tiếng cười và la hét ỏm tỏi. Bọn trẻ từ trong đống rơm, bờ ao hoặc đang chơi trốn tìm núp ở trên cây vườn sau đều chạy xô đến đón mẹ. Chúng chen chúc nhau nhận quà, rồi lại tản đi chơi. Suốt ba mùa, xuân -  hạ -  thu, mỗi đứa chỉ mặc chiếc áo hở rốn và một chiếc quần cộc, chân đi đất, đen nhẻm. Mùa hè, chiều chiều, chúng kéo nhau ra sông Cầu nhảy ùm ùm, bơi lội hai tay quài quài về phía trước như những con chó cún bơi dưới nước. Chúng tự kỳ cọ cho nhau, quần áo bẩn thì tự giặt, rồi cứ thế tồng ngồng từ sông về nhà. Mùa đông, cả bọn hàng tháng mới tắm, chỉ rửa ráy qua loa. Vậy mà không hiểu sao, chúng rất ít khi ốm đau. Bà Táo còn bận làm lụng việc nhà, việc đồng, bà chỉ quan tâm và dặn một điều: Anh em như chân với tay, phải yêu thương, tự chăm nom nhau, không được đánh nhau. Cả cuộc đời của bà Táo tuy vất vả, nhưng chỉ thấy bà cười, cởi mở và hồn nhiên. Sau này về già, khi hàm răng rụng hết, mồm thì rộng huếch, bà vẫn cười nhắm tịt cả hai mắt và hở hai cái lợi đỏ hoe.  


Mận kế thừa cái hay cái tốt từ bà nội, từ mẹ . Mận và anh chị em cô đã sống và lớn lên như thế đó. Cho đến một ngày, cô Mận đi lấy chồng. Nay cô đã thành bà chủ Mận góa bụa cai quản cả một trang trại lớn . Nhìn lại, tổ tiên nhà Mận cho đến đời bà, xa xưa cũng nghèo khổ lắm, những người trong gia đình bà cũng làm lụng vất vả và gặp nhiều khó khăn như các gia đình nông dân khác; nhưng người nhà bà biết cách tính toán làm ăn sinh lợi, sống chân thật và hòa hợp với họ hàng làng xóm. Đến đời bà Mận, chồng chết sớm, một thân một mình phải tự lo liệu mọi thứ đã thôi thúc bà càng phải chịu thương chịu khó, chịu khổ, đảm đang hơn để thay chồng tần tảo nuôi con và mở rộng cơ ngơi được như bấy giờ . Môi trường và hoàn cảnh đã tạo nên người đàn bà mang đức tính truyền thống của người phụ nữ đất Kinh Bắc.


*


    Bà chủ Mận thừ người, nhớ đến ông chồng đã quá cố. Bà ước sao giá như lúc này ông ấy còn sống thì việc lo vợ con cho thằng Cò dễ biết bao ! Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra, người Pháp tuyển lính thuộc địa để đánh thuê, trong đó có ông chồng của bà. Chiến tranh kết thúc, ông ấy xuất ngũ về. Năm ấy ông hai mươi sáu tuổi, chưa có vợ. Ông về làng với cái lon ông Cai và gắn ngôi sao công trạng Bắc Đẩu bội tinh trên ngực. Gia đình ông là điền chủ nhỏ lấy làm hãnh diện lắm, phải bán bớt đến năm con trâu cày mới đủ tiền làm lễ ăn khao nổi đình nổi đám, có cả quan ta lẫn quan Tây đều về dự.


Ngày ấy bà chủ còn là cô Mận, mới mười lăm tuổi đã nổi tiếng là cô gái đẹp nhất làng trên. Mận nghe người ta kể nhiều về anh Cai Phòng ở làng Dưới, tưởng như chưa giáp mặt lần nào. Rồi làng của Mận mở hội xuân. Nghe tiếng trống hội vật tùng tùng... tùng tùng, Mận cùng mấy cô bạn gái tới xem. Trước mắt cô là một anh chàng to cao, tóc búi như quả cam sau gáy, chiếc cằm vuông lún phún râu quai nón, cái lưng nhẵn bóng, mặc chiếc khố màu nâu. Anh ta bấm chặt mười đầu ngón chân cắm sâu xuống đất làm thủng cả lớp chiếu cói, rồi lựa thế nhấc bổng đối thủ, khiến anh kia hẫng chân chơi vơi khỏi mặt đất, rồi nhẹ nhàng đặt đối thủ nằm ngửa bụng dưới đất. Tiếng reo hò, la hét hoà cùng tiếng trống liên hồi rộn rã cả làng quê. Người ta kháo nhau về anh chàng thắng vật tên là Cai Phòng... Xong hội vật, các cô đi tiếp xem trò chơi thả vịt xuống ao đuổi bắt, cuối cùng rủ nhau ra chơi đu. Chiếc đu đặt ở khoảng giữa đám đất trống. Bàn đu bằng gỗ đủ chỗ cho hai người đứng, hai cây tre đực nhẵn bóng giữ chặt bàn đu và treo lên chiếc giá cao ngất ngưởng. Khi chiếc đu vừa dừng, đôi trai gái bước xuống đất, thì Mận kéo tay bạn gái chạy ra để hai đứa cùng chơi đu. Cô bạn của Mận chưa từng đu bao giờ, bất ngờ bị kéo ra chơi đu, thì lúng túng mãi mới trèo lên được bàn đu mà chân vẫn còn run, không thể nhún đu nổi, cô nói “Tớ chịu thôi, chịu thôi”. Bỗng nhiên, cô ta thấy từ phía sau có hai bàn tay ai đó kẹp chặt vào mạng sườn mình, rồi cô bị nhấc bổng cả thân hình ra khỏi chiếc đu. Hoảng quá, cô kêu the thé. Mọi người đứng xem, cười ồ lên vui vẻ. Mận nhận ra chàng trai nhấc bổng cô gái ra khỏi cái đu chính là Cai Phòng. Anh ta nhanh nhẹn bước lên bàn đu, nhún một cái, chiếc đu bay vút lên. Mận tưởng như cùng anh bay cao, chiếc đu lại từ từ đáp xuống. Phòng lại nhún mạnh hơn đưa chiếc đu bay vút lên cao nữa, cứ thế, cứ thế, hai cô cậu mải miết chơi đu. Tà áo lụa dài tứ thân màu nâu của Mận cùng dải lụa đỏ quấn quanh lưng của Phòng bay phấp phới. Tiếng hò reo cổ vũ vang lên. Lần đầu tiên Mận được đu cùng với một chàng trai tưởng lạ mà rất mau quen. Hai người đã nhận ra nhau mấy năm trước biết nhau từ hội Chen, khi Phòng chưa đi lính. Hai má Mận lúc này ửng hồng, đôi mắt đen và to nhìn Cai Phòng long lanh. Cô cùng anh bay bay lên bầu trời.


 Phòng nhìn cô, tưởng như bị thôi miên. Trong tiếng gió của chiếc đu bay, Phòng ghé vào tai Mận hỏi họ tên, rồi nói: Từ lần đi hội Chen, lần đầu nhìn thấy em ta đã thích. Nhưng vì đi lính xa mới về. Ta nghe tiếng em lâu rồi, nay mới nhận mặt biết tên, em xinh đẹp lắm... Có ưng làm vợ ta không ? Mận không tin nổi vào tai mình nữa, cô bất ngờ và cảm thấy choáng ngợp, suýt nữa thì tuột tay ngã. Phòng vội ôm chặt ngang lưng Mận, điều khiển cho chiếc đu từ từ dừng lại, rồi dìu cô gái xuống đất. Từ hôm ấy họ đã “phải lòng” nhau. Một tháng sau dân làng đã được mời dự đám cưới linh đình.


*


Sau khi về làm dâu, chưa đầy năm, Mận sinh ra thằng Cò, nay là cậu chủ; năm sau sinh tiếp bé Loan. Những năm đầu, phần lớn thời gian, Mận làm phận sự người mẹ và điều khiển gia nhân làm các việc trong nhà. Cai Phòng đảm đương công việc lớn. Hồi ấy cả vùng đất chạy dọc theo chân dãy núi Neo vẫn còn là đầm lầy, rừng cây rậm, thú dữ vẫn đi về. Chính quyền thuộc địa ưu đãi kẻ có công vì “ nước Mẹ” đã được thưởng Bắc Đẩu bội tinh, nên đã cấp giấy phép cho Cai Phòng đứng ra thầu việc khai hoang lập ấp. Một số đoạn kênh máng tưới tiêu được các chức dịch huy động dân công đào vét. Cống Trúc Tây được xây dựng điều tiết thủy nông. Cai Phòng đem kinh nghiệm nhà binh ra tổ chức khai hoang và quản lý sản xuất. Chia khu vực, giao đất cho nông dân khai phá, canh tác và nộp tô. Tùy theo chất đất và năng suất từng thửa mà định mức tô phù hợp. Cứ khoảng mười mẫu đất lại giao cho một tá điền quản lý; để khuyến khích sản xuất, nơi nào năng suất cao thì được hưởng giảm tô phần tăng năng suất. Cai Phòng giữ vai trò ông chủ, trực tiếp sai bảo Tổng quản và một số người thân tín thực thi và kiểm tra việc thu tô, quản lý thóc lúa và tiền nong, làm các việc nội trị, giữ quan hệ tốt với chính quyền thuộc địa và các chức dịch sở tại.


Công cuộc khai khẩn đất hoang những năm đầu được miễn giảm thuế, lại gặp dịp mưa thuận gió hoà, nhiều năm liền đã được mùa lớn. Các trang ấp của ông ta phát đạt hẳn lên. Từ một vùng đầm lầy hoang hóa, trồng lúa thì “chiêm khê mùa thối”, nay đã khác, cánh đồng lúa vàng trĩu hạt trải dài từ bờ đê sông Cầu đến dọc chân núi Neo.


Cô Mận hay quan sát những việc chồng làm. Có lần cô bàn với chồng, được chấp thuận. Cô đã cho lát thêm cái sân lớn ở phía sau nhà kính, trát nền bằng vôi pha cát phẳng lì và xây thêm một dãy dài nhà kho tiếp giáp với sân này. Thế là cứ đến mùa vụ, việc nộp tô, nhận tô, phơi thóc và quạt thóc sạch, mọi việc đã được làm ngay từ sân này, không phải tốn công vận chuyển xa. Xong mọi việc trên là đưa thóc vào chứa trong các bồ lớn nhập vào kho kế sân phơi, khoá lại.


 


Sự đời, mấy ai gặp may mắn mãi. Tai họa lớn đã đột ngột rơi xuống đầu cô vợ trẻ: Cai Phòng cùng gia nhân cưỡi ngựa vào rừng săn bắn. Lũ chó săn phát hiện một con nai lớn, đã đuổi theo và kêu ông ổng để đánh tiếng. Cai Phòng cưỡi con ngựa xám, cả hai đều hăng máu săn mồi. Ngựa chạy đuổi mồi trên sườn dốc, bất ngờ bị vấp ngã, hất ông chủ văng xuống đất. Đầu của Cai Phòng bị va vào đá, nằm bất động. Suốt gần hai năm trời, ông lặng yên như khúc gỗ, đốc tờ Tây cho đến các thầy lang nổi tiếng lần lượt được mời đến khám chữa cho ông, nhưng cuối cùng cũng chịu bó tay. Cai Phòng đã chết khi mới ba mươi sáu tuổi. Còn cô Mận năm mười lăm tuổi lấy chồng, năm hai mươi lăm tuổi đã trở thành góa phụ. Từ đấy người ta gọi Mận là bà chủ. Bà chủ một mình thay chồng nuôi dạy hai con nhỏ, giữ vai trò điền chủ, trực tiếp trông coi và điều hành cả một trang trại lớn.


Rồi tai hoạ nọ tiếp tai họa kia: Mất mùa liên miên. Từ chỗ trời nắng gắt như rang, đất khô cằn, lúa cháy lá, đến lúc lại mưa to, úng lụt. Nông dân và các tá điền không còn thóc mà ăn, nói chi đến nộp tô. Họ kéo nhau vào rừng đào củ nâu, củ mài để sống qua ngày. “Đói ăn vụng, túng làm liều”, một số nông dân ở sâu trong hẻm núi Neo, nơi vẫn bị coi là đất nghịch, đã tụ tập nhau lại, đêm đêm đi trộm đi cướp những nhà giàu có ở quanh vùng. Bà chủ, một mặt phải lo cho gia đình bố mẹ chồng cùng các con no đủ, không để hơn chục gia nhân thiếu đói và phải trợ giúp cháo khoai cho một số người họ hàng quá nghèo. Mặt khác bà đốc thúc gia nhân đào hào, buộc rào tre ngăn trộm cướp.


Trăm công nghìn việc ở cái trang trại này đều dồn vào bà phải lo, phải nghĩ và chỉ bảo gia nhân những việc cần làm. Bà như chúa tể của đàn kiến lớn «tha lâu đầy tổ”. Qua mười năm kế nghiệp chồng, trực tiếp bảo ban nghề sản xuất lúa gạo, trồng những bãi dâu lớn, nuôi tằm và kéo tơ... bà đã gây dựng và mở rộng được cơ ngơi đồ sộ như ngày nay.


Khi chồng chết, bà còn đang tuổi đầy sức xuân, mặn mà và đằm thắm. Có những ông chủ nọ, vị quan kia đánh tiếng ngỏ ý muốn lấy bà làm lẽ. Bà vốn xuất thân ở một gia đình có bà nội là địa chủ, giáo dục bà trọng lễ giáo tam tòng tứ đức. Bà lại là người có tính cách mạnh mẽ và kiêu hãnh, nên đâu có chịu chấp nhận cảnh “chồng chung”. Bà bị lôi cuốn theo công việc. Đến nay bà vẫn chấp nhận ở vậy nuôi con. Tính cách vượt trội của bà là khéo léo trong cách tổ chức công việc, biết biến hóa thông minh trong các trường hợp ứng xử phức tạp, rất nghiêm khắc, kể cả đối với con cái.


Bà quan tâm gây dựng cho hai con. Cô Loan là con thứ hai, bà đã cho đi lấy chồng từ tuổi mười lăm. Chồng cô là một thầy Phán trẻ tên là Lâm làm công chức ở Hà Nội. Còn anh Cò, mười tám tuổi rồi đã được bà giao làm một số việc của người chủ trang trại. Bà đã tính đến việc nhờ mối lái tìm vợ cho con trai, kén sao cho được cô dâu hay lam hay làm để kế nghiệp bà.


Nhìn lại những công việc bề bộn phải thay chồng cáng đáng, lắm lúc bà giật mình kinh sợ. Bà ước ao có được một cô con dâu là người đảm đang có thể từng bước thay bà và giúp chồng nó cáng đáng việc trang trại. Nay cậu con trai bà muốn lấy làm vợ là một cô gái vùng Nội Duệ -  Cầu Lim, đẹp người, hát hay -  Bà chẳng yên tâm. Nhưng bà cũng biết tính cậu chủ, giống bố nó thích gì là làm bằng được, không ai cản nổi -  Phải lựa cách thôi -  Bà nghĩ vậy.


                         


*


Một hôm bà chủ cho gọi anh Cóc đến gặp. Cóc là tên một người gia nhân có họ hàng xa, cha mẹ anh ta đã chết, bà mang về nuôi từ khi bảy, tám tuổi. Hàng ngày từ sớm tinh mơ, sau khi nhai bát cơm nguội, Cóc lùa đàn trâu vài chục con ra bờ đê, chiều tối Cóc dắt đàn trâu đeo mõ lóc cóc về chuồng, đèo trên lưng trâu vài bó cỏ, quét dọn chuồng trại, xong việc mới được tắm giặt và thắp đèn ngồi ăn. Dãi nắng dầm mưa suốt quanh năm ngày tháng, tóc của Cóc trở thành màu đỏ sẫm -  Người ta gọi Cóc là Cóc tóc đỏ. Cóc tóc đỏ kém cậu chủ một tuổi. Cách đây vài năm, bà chủ cho thay người chăn trâu, đưa Cóc về làm người kéo xe, sai vặt, và lo việc săn sóc tắm rửa giặt giũ cũng như làm các trò chơi theo ý cậu chủ. Hôm nay, Cóc được bà chủ gọi đến, sai đi ngay đến làng Bình, mời ông Bảy Tâm đến gặp. Trước khi đi bà còn dặn dò Cóc không được nói với cậu chủ việc đi này.


Hôm sau, Cóc tóc đỏ kéo xe đưa ông Bảy đến gặp bà tại căn nhà xa trang trại. Ông Bảy là người làm nghề thầu xây dựng nhà cửa, từ nhiều năm nay ông vẫn đứng ra thầu xây các công trình lớn nhỏ tại trang trại của ông bà chủ. Sau vài lời thăm, bà chủ hỏi ông Bảy có biết cụ Tú hay không và các con cụ cùng gia cảnh ra sao? Ông Bảy kể rằng:


Cụ Tú là người xứ Nghệ, khi còn trẻ mang lều chõng ra Kinh để thi chữ Nho, cụ đỗ tú tài. Nghe nói đất Kinh Bắc là đất học, cụ tìm đến lập nghiệp dạy học và bốc thuốc tại làng Bình, rồi lấy vợ ở đó luôn. Hai cụ sinh hạ được ba người con, một trai hai gái. Trước khi cụ ông mất, người con trưởng là anh Đồ Nhẫn lập gia đình ở riêng. Hai cô con gái của cụ đều rất ngoan và xinh đẹp. Cô Hai mười sáu tuổi, hiện đang là chỗ dựa chính của cụ bà về việc canh cửi, đồng áng. Cô Ba mười lăm tuổi, hát quan họ rất hay, da trắng và lanh lợi hơn chị...


Bà Mận hỏi:   


-  Cậu chủ nhà tôi mấy hôm rồi nói là về làng Bình chơi, ông có biết không?


-  Thưa bà chủ có ạ. Cậu đã ghé thăm tôi nhưng phần lớn thời gian cậu đi theo xem hội hát quan họ của làng. Nghe như cậu đang để mắt đến cô Ba là con út của cụ Tú.


-  Thế tôi muốn nhờ ông có cách gì để tôi thăm kín gia cảnh nhà cụ Tú không?


-  Dạ được ạ. Bà ấy nhà tôi vốn có họ hàng và gọi cụ Tú bằng cô đấy.


                               


 Vài ngày sau, người ta thấy bà Bảy Tâm dẫn một bà dáng sang trọng, nói là bà ấy buôn bán tơ lụa ở chợ Giầu, đến thăm nơi canh cửi và muốn mua lụa của nhà cụ Tú. Nghe nói vậy cụ Tú và hai cô con gái tin ngay là thật. Bà Tâm xin phép về trước. Cụ Tú đưa bà khách đi xem chỗ quay tơ và dệt lụa. Cuối cùng là đưa xem tấm lụa nõn nà vàng óng. Cụ Tú nói lụa này là của cô chị dệt. Bà khách lật kỹ tấm lụa xem trong xem ngoài, không có lỗi nhỏ nào. Bà tỏ ý khen lụa đẹp, hỏi giá và trả đủ tiền mua. Khi cụ Tú mời bà khách ngồi uống nước và ăn trầu, bà có dịp nhìn ngắm kỹ từng cô gái: Đúng là cô em có khuôn mặt trái xoan, “con mắt lá răm, lông mày lá liễu”, khi miệng cười đôi mắt cũng cười. Đầu cô chít khăn vấn màu nâu, mặc yếm đào, áo cánh màu mận làm nổi bật nước da trắng hồng ở tuổi dậy thì; chiếc váy lụa sồi bó sát vòng eo buông xuống để lộ hai bắp chân thon và đôi gót son đỏ au. Khi rót nước mời khách cô cất giọng nói trong vắt và thánh thót tiếng chim. Bà khách nghĩ thầm: cô ấy thế này, chẳng trách thằng Cò nhà mình mới gặp đã chết mê chết mệt..


Bà khách quan sát tiếp: Cô chị có dáng hao hao giống cô em, nhưng nước da bánh mật, đôi mắt đen lay láy hồn hậu, bộ ngực và hông nở nang, hai bắp chân lộ ra chắc khỏe và hơi thô. Khi cô chị hai tay nâng khay trầu mời bà khách, bà khéo léo vuốt nhẹ lòng bàn tay búp măng thấy hơi bị chai cứng. Bà thầm nghĩ: Cô bé này hay lam hay làm, sinh ra để chăm lo gia đình và sinh con đẻ cái thì hợp lắm đây.


Sau khi cảm ơn và chào chủ nhà, bà khách đứng dậy, xách tay nải lụa ra về. Cụ Tú và hai cô con gái tiễn bà ra khỏi cổng. Không ai trong ba mẹ con cụ Tú khi ấy biết được bà khách là ai và chủ ý của bà là gì. Họ không lường được cuộc gặp gỡ định mệnh này sẽ quyết định số phận của hai cô con gái sau này.


Từ làng Bình trở lại trang trại, bà chủ suy nghĩ mông lung suốt cả tuần trăng. Bà nhận ra rằng: Gia đình cụ Tú tuy không giàu, nhưng xem về gia thế và nếp nhà thì cũng coi là “môn đăng hộ đối” với gia đình bà. Cả hai cô gái con cụ Tú đều sinh ra từ gia đình nề nếp. Cậu chủ muốn cô em, bà cho là trai tài muốn chọn gái sắc. Nhưng với gia cảnh của nhà bà thì cô em ấy làm sao đảm đương được vai dâu trưởng? Bà chủ lúc này tuy tuổi chưa cao, nhưng cần người trợ giúp. Bà lo khi về già, gia tài này có được con trai bà và cô gái kia giữ nổi? Nghĩ đến đây bà buột miệng: “Không được, dứt khoát là không được”.


Bà ưng cô con gái lớn của cụ Tú, mẫu người ấy khiến bà nhớ đến câu nói của các cụ từ xưa “ Khô chân gân mặt, đắt mấy cũng ưng”. Nhưng chắc gì con trai bà vui lòng theo ý bà? Nó đã quyết rồi, giống như cha nó, chẳng dễ đổi ý. Với bà, lâu nay đâu phải là người dễ chấp nhận cái cảnh chồng bảo sao nghe vậy. Có những việc lớn ông ấy đã quyết, nhưng bà thấy không ổn, nên tìm cách lựa khéo thuyết phục chồng: Cuối cùng ông ấy cũng nghe ra thừa nhận làm theo ý bà là đúng. Chẳng lẽ nay bà cứ để mặc theo ý con, mà bà biết chắc chắn sẽ có ngày hậu họa. Bà nhủ thầm: Phải có cách lựa làm êm việc này thôi. Trước tiên là phải đi hỏi thầy đã, xem chúng có hợp duyên số với nhau hay không.


Hôm sau, bà chủ sắm lễ vật lên chùa, rút thẻ xin lời Thánh dạy. Bà dâng thẻ nhờ thầy xem. Sau một hồi xem thẻ, tay lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm, rồi thầy nói với quẻ thẻ này Thánh phán: Hai cô con gái nhà ấy đều lấy chung một chồng là cậu chủ, cô chị đẹp duyên ban đầu, nhưng hậu vận không đắc ý bằng cô em... Nghe vậy, khi về bà chủ cứ tự hỏi mãi sao nó lại lấy lắm vợ thế ? Gia đình rồi lại lục đục thôi ! Nghĩ đi nghĩ lại bà thấy Thánh phán thằng Cò lấy được cả hai đứa làm vợ, thì nay ta cứ xin cưới con chị thì cũng hợp ý Thánh chứ sao.


Sau khi tính đi, nghĩ lại, bà chủ gọi bà vợ ông Bảy Tâm lên gặp. Hai bà trò chuyện to nhỏ suốt buổi mà không ai nghe được.Trước khi bà Bảy về, bà chủ giao cho bà Bảy túi bạc trắng hoa xòe, dặn thêm: Cứ thế mà làm nha, bà Bảy vâng vâng dạ dạ tuân theo. Tiễn bà Bảy ra khỏi nhà khách, bà chủ bảo gia nhân mời cậu chủ lên gặp.


                          


 Suốt một tháng qua, cậu chủ sốt ruột đứng ngồi không yên. Nhiều lần cậu muốn gặp mẹ để thúc giục việc cưới hỏi, nhưng không dám, vì lúc nào cũng thấy bà chủ có nét suy tư hiện trên mặt. Nay thấy mẹ vừa gặp bà Bảy xong, cho gọi, cậu mừng khấp khởi nhảy chân sáo lên gặp mẹ. Cũng như mọi lần, cậu vẫn thấy bà chủ ngồi như tượng trên sập. Cậu vào. Bà mở nắp cơi trầu, cầm miếng trầu bỏ vào miệng nhai tóp tép, nét mặt không biểu lộ cảm xúc gì. Cậu lo lắng, đứng yên, hai tay chắp vào nhau, chờ đợi... Mãi sau bà chủ mới lên tiếng:


-  Mẹ nghĩ kỹ rồi, phải lấy vợ cho con thôi.


-  Trời ơi, thế này thì con chúc mẹ vạn tuế ! Nhưng sao...


-  Nhưng sao cái gì?


-  Con cứ tưởng mẹ sẽ không bằng lòng, con đang phải nghĩ cách để mẹ thương con mà bằng lòng. Mẹ đã bàn với bà Bảy ra sao rồi ạ?


-  Nhà cụ Tú có hai cô con gái, con đã xem mặt cả hai đứa chưa?


-  Dạ con mới xem mặt cô út và thấy ưng ý, chỉ chờ mẹ.


-  Cô chị nhà ấy, mẹ thấy cũng hay lắm đấy -  Vừa nói bà vừa nháy mắt nhìn con và cười hóm hỉnh.


*


Lại kể đến bà Bảy Tâm. Bà làm nghề canh cửi, tính xởi lởi và khéo nói, hay giúp người làm cái việc mối lái, nhiều đôi đã thành vợ thành chồng. Người ta gọi bà cái tên là bà Bảy Mối. Về đến nhà, bà cất ngay túi tiền vào hòm khóa lại; rồi bà ra bàn uống nước ngồi nói chuyện với ông Bảy. Hai người thì thầm to nhỏ, chốc chốc lại cười với nhau vui vẻ. Khi chuyện đã vãn, ông Bảy nhắc vợ:


-  Tối nay đình làng có hội hát trống quân, các dì ấy chắc đi xem, bà nên sang có nhời thưa với cụ Tú ngay đi.


-  Ờ, ông nói phải, nhưng... cái khó là giữ kín việc này không để cho dì Ba biết.


Chờ đến khi trời tối nhọ mặt người, trai gái làng đều đã rủ nhau đi xem hội hát, bà Bảy mới sang nhà cụ Tú. Quả nhiên chỉ có mình cụ ở nhà. Nghe tiếng kẹt cửa, nhìn ra, cụ Tú nói:


-  Mẹ Bảy sang chơi đấy à?


-  Vâng con đây thưa cô.


Sau tuần nước chè xanh, bà Bảy vẫn ngồi yên, đắn đo mãi chưa dám nói. Cụ Tú thấy lạ, hỏi:


-  Hôm nay có chuyện gì mà mẹ nó ấp a ấp úng thế?


-  Cô ạ, cô có nhớ cái bà mua lụa của cô hôm nọ không?


-  Nhớ chứ, bà ta là người tử tế đấy, mua bán nhanh chóng, sòng phẳng, không so kè.


-  Vâng ... Bà ấy mua lụa chỉ là cái cớ thôi. Bà ấy đến xem mặt con gái cô đấy.


-  Xem mặt đứa nào và lấy ai?


-  Con trai bà ấy là cậu chủ vùng sông Cầu. Hôm trước đi xem hội Lim, cậu đã để mắt tới dì Ba nhà mình, cô có biết không?


-  Cậu ấy thì ta có nghe nói, nhưng chưa rõ mặt, và chưa ai kể cậu để mắt tới con Ba, chỉ nghe tiếng súng bắn đùng đùng, hãi quá ! Chẳng lẽ hai đứa đã biết nhau?


-  Dạ, hôm trước cậu ấy đến chơi nhà con, trong lúc dì Ba cũng có mặt ở đấy.


-  Thế à, ý con Ba thế nào? Mẹ Bảy có biết không?


-  Dạ, cứ như con đoán thì dì Ba cũng ưng cậu ta.


   -  Bây giờ thì sao?


-  Nay bà ấy nhờ con đứng ra làm mối. Dì nào mà về làm dâu nhà này thì “chuột sa chĩnh gạo” đấy. Bà ấy là người tử tế, làm chủ trang trại to lắm.


-  Dì nào là dì nào ?


-  Bà ấy muốn con có nhời với cụ Tú là: Xin dì Hai về làm vợ cậu chủ, nếu được ưng thuận thì họ sẽ làm lễ ăn hỏi và có thể xin cưới sớm.


-  Sao bảo cậu ấy thích con Ba, nay lại xin con Hai?


-  Chuyện thế này cô ạ, bà chủ muốn kén cho cậu con trai một người vợ hiền lành, khi về làm dâu biết làm lụng, lo toan quán xuyến việc nhà.


-  Con Ba và cậu ấy, nếu chúng ưng nhau thì việc này nên thế nào ?


-  Cô ạ, việc cưới xin thì lâu nay “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trái sao được phải không ạ ?


-  Kể ra cũng phải, nhưng ta thấy việc này khó cho con Ba. Phải bàn với anh trưởng của nó đã.


-  Xin cô đừng lo, mọi chuyện đã tính hết cả rồi, chỉ cần giữ kín việc dì Hai, đừng để dì Ba biết là được.


Cụ Tú thở dài, nhìn theo bà Bảy lon ton bước ra khỏi cổng.


Đêm ấy, hai cô con gái đi xem hát về muộn, thấy mẹ vẫn còn thức. Tuổi già như “chuối chín cây”. Cụ chỉ mong sao trước khi chết, lo xong việc gia thất cho hai cô con gái là yên lòng đi theo cụ ông. Lẽ ra chuyện hôn nhân này của con gái, cụ nên mừng mới phải. Nhưng cụ mừng thì ít mà lo thì nhiều. Cụ Tú nghĩ: Con Ba ở tuổi ấy, thời này lấy chồng cũng được rồi. Kể ra không có chuyện nó với cậu kia thì cũng chưa lo. Nay sự việc thế này, chỉ e tính nó nặng tình, còn xóm làng thì hay đàm tiếu, nó có chịu nổi không? Nhỡ ốm đau, tương tư sầu não thì hỏng một đời người con gái! Việc con Hai đi lấy chồng là phải rồi; nhưng nó thương em lắm, nếu biết, chắc cũng chẳng đành lòng đâu. Còn cậu kia, nó có dứt khoát được với con Ba chăng? Dứt khoát được cũng là chuyện khó, mà không dứt khoát được lại càng dầy dà! Thôi, để ngày mai ra phủ Từ Sơn thăm anh cả, hỏi xem nó thay cha định liệu việc này sao đây. Nghĩ vậy, cụ mới tạm yên lòng, chợp mắt được hơn một canh giờ thì gà đã gáy sáng.


                           


Cả Nhẫn là con trai đầu của cụ Tú, năm nay mới hơn hai chục tuổi, mà đầu đã lấp ló những sợi tóc trắng.


Cụ Tú ông là người sớm nhìn ra thiên bẩm thông minh và hiếu học của cậu con trai này. Lên năm tuổi Nhẫn đã đọc thông viết thạo một số đoạn trong Kinh Thi. Cậu viết chữ thánh hiền khá đẹp. Cụ ông kèm cặp dạy dỗ con, hy vọng sau này cậu đỗ đạt nên người. Nhưng thời thế đổi thay. Nhà cầm quyền bỏ việc thi cử chữ Nho. Một số nho sinh con nhà giàu quay ra học Quốc ngữ và Pháp văn rồi ra làm ông Tham, ông Phán, thầy Ký. Cụ ông không muốn con trai đi theo quan lộ. Sau khi học để biết thêm chữ Quốc ngữ và một chút tiếng Pháp, cụ khuyên Nhẫn làm nghề thầy Đồ dạy chữ Nho và Quốc ngữ cho trẻ trong làng. Đồ Nhẫn lấy vợ được một năm thì cụ Tú mất. Đồ Nhẫn ra phủ Từ Sơn lập nghiệp. Hai vợ chồng đã có một cậu con trai. Họ thuê ba gian nhà lá gần chợ. Vợ bán hàng xén. Chồng làm nghề thư pháp viết thuê chữ Nho cho những người mừng thọ hoặc hiếu, hỷ. Nhưng cái nghề chữ nghĩa của thầy khóa, ông đồ hồi bấy giờ đâu còn mấy ai chuộng như trước nữa. Nhà thơ Vũ Đình Liên cám cảnh này đã viết: Cô hàng bán sách lim dim ngủ / Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi . Mọi việc chi tiêu trong gia đình, phần lớn đều trông vào gánh hàng xén của vợ. Đàn ông mà không nuôi nổi vợ con, lại để mẹ già ở quê là nỗi đau canh cánh bên lòng của anh Đồ. Khi rảnh rỗi, Nhẫn thường giao du đi lại với những bạn đồng môn vốn không ưa người Pháp. Họ thường gặp nhau đàm đạo thế sự, trao tay cho nhau đọc văn thơ yêu nước và những thứ thời bấy giờ bị cấm. Nhưng anh không muốn thay đổi thời cuộc bằng vũ lực.


Vợ chồng đồ Nhẫn thấy mẹ chống gậy ra thăm thì mừng mừng tủi tủi. Cả hai chắp tay vái mẹ. Họ đỡ nón, cất gậy cho mẹ và dìu mẹ vào ngồi ở chiếc phản giữa nhà. Cu Tý trông thấy bà nội, vội vàng chắp hai tay lên ngực cúi đầu kính cẩn chào. Cụ Tú ôm cháu vào lòng, nước mắt cứ trào ra. Cụ xoa xoa tay lên đầu cháu, vuốt ve cái trái đào tóc xanh. Cụ âu yếm cười, hở hàm răng móm mém.


Sau khi để mẹ nghỉ ngơi, rửa mặt mũi chân tay, ăn cơm xong, ba mẹ con mới ngồi chuyện trò. Cụ Tú trả lời qua quýt những câu hỏi của các con về gia cảnh và sức khỏe của từng người bà con họ hàng. Rồi cụ kể kỹ về việc chuẩn bị hôn nhân của cô Hai và sự rắc rối cho cô Ba. Cuối cùng cụ nói: Mẹ bây giờ già rồi, “ quyền huynh thế phụ”, mọi sự trông cậy vào anh chị lo cho em thế nào là tùy. Vợ chồng Nhẫn vui mừng cho duyên phận của cô Hai và cũng có phần áy náy về cô Ba. Nhẫn nói với mẹ:


-  Chỉ thương cô Ba, cô Hai lấy chồng như thế là chúng con mừng rồi. Chỉ ngại nhà họ giàu, còn nhà mình nghèo, khi về làm dâu cô Hai sẽ khổ.


-  Chàng cứ lo chuyện đâu đâu. Có phải ai giàu cũng khinh ghét người nghèo đâu. Vả lại nghe mẹ nói thì gia đình ấy cũng tử tế.


-  Mẹ chỉ băn khoăn cho con Ba thôi...


Đồ Nhẫn suy nghĩ một lát, rồi nói:


-  Việc cô Ba thì mẹ cũng đừng quá lo, vợ chồng con sẽ gọi cô ấy ra đây trông nom cửa hàng cho chúng con vài tháng, cưới cô Hai xong mới để cô Ba về, lúc ấy cô Ba sẽ bỏ qua và quên dần chuyện cũ. Hôm nào ăn hỏi, xin cưới, con và vợ con sẽ giúp mẹ lo liệu.


Nghe vợ chồng anh trưởng nói vậy, cụ Tú cũng an lòng.


 


Chuẩn bị hôn lễ cho cậu chủ.


 Trước tiên bà chủ nghĩ đến cụ trưởng họ bên nội. Bà gặp cụ xin ý kiến. Cụ hài lòng phán rằng: Gia đình bà thuộc loại danh gia vọng tộc, lại cưới vợ cho con trưởng thì phải tuân theo những điều thánh hiền đã chỉ dẫn tại cuốn sách nói về kinh lễ. Có nghĩa là lấy vợ phải làm theo sáu bước: Lễ báo cho nhà gái về sự kén chọn của mình, lễ hỏi tên tuổi ngày sinh xem có hợp hay xung, lễ chính thức đính ước, lễ xin ngày cưới, lễ nhà trai dẫn đồ cưới, lễ cưới và đón dâu. Bà xin vâng làm theo những lời cụ dạy. Tiếp đó bà đến gặp người em con cậu bên ngoại, ông tên là Ngô Đức, đang là một ông chủ thầu lớn ở Đáp Cầu, nhờ ông đứng làm chủ hôn lễ và tiếp đón các quan chức đến dự. Bà cũng cho ông biết cái khó là con trai bà lại yêu em ruột của cô dâu. Ông Đức tỏ ý cảm thông và vui vẻ nhận lời giúp đỡ theo yêu cầu của bà chị.


Bà chủ chọn người đầu trò, giao việc cụ thể, đưa tiền nong và tạo điều kiện cần có để họ cùng người khác làm những việc theo đúng sáu bước của kinh lễ đề ra. Bà thường kể lại và bàn bạc với cậu chủ về việc chuẩn bị hôn lễ. Bà có một yêu cầu là cậu chủ không được đi đâu xa, phải ở gần bà để cùng lo liệu. Cậu chủ thấy mẹ tin mình thì rất thích. Nhưng cậu có biết đâu rằng các lễ đã đưa tới nhà gái đều chỉ nói đến xin cưới cô Hai, không nói gì đến cô Ba. Hiện nay cô Ba còn đang ở tận phủ Từ Sơn. Đến hôm nay cả cậu chủ và cô Ba, người ở đầu tỉnh, kẻ cuối tỉnh đâu có biết chuyện gì đang âm thầm diễn ra...


Ngày lễ cưới và đón dâu thật linh đình: Chú rể tươi cười hớn hở đội chiếc khăn xếp, mặc quần trúc bâu trắng, áo the đen lót nhiễu hồng, bên ngoài khoác áo gấm màu lam, chân đi giày Gia Định. Nhà trai chọn giờ hoàng đạo xuất phát bằng hai mươi cái xe tay kéo. Dẫn đầu là chiếc ô tô con của ông Ngô Đức. Tiếp đến là chiếc ô tô của vợ chồng Phán Lâm. Đến cổng làng nhà gái, mọi người nhà trai xuống đi bộ. Một cụ già nhà trai giơ cao bó hương đi trước (cụ là người được chọn theo tiêu chí phúc hậu, vợ chồng song toàn và đông con nhiều cháu). Đi sau cụ là các bậc cha chú cùng vợ chồng Phán Lâm. Tiếp đến là chú rể cùng bầu bạn phù rể. Theo phong tục tập quán, trước khi rẽ vào nhà gái, người ta chăng một sợi dây; nhà trai cử một người đi trước có nhời và biếu tiền người chăng dây để xin thông đường cho có phúc. Pháo bắt đầu nổ tưng bừng trên những chiếc sào dài. Vào đến nhà gái, ông chủ hôn lễ đại diện nhà trai nói đôi lời và cảm tạ. Chú rể vái chào mẹ vợ, chú, bác, cô, dì bên nhà gái. Một bà mắn đẻ nhiều con, dẫn cô dâu ra và trao cho chú rể. Cô dâu đội khăn nhung the, tai đeo khuyên vàng, trùm khăn lụa hồng lên đầu và che kín mặt. Cô dâu mặc áo năm thân ba mớ (bên trong áo màu mỡ gà, giữa áo nâu non, ngoài áo the); cô mặc váy lụa màu đen đeo thêm đôi xà tích trắng bằng bạc ở thắt lưng; chân cô đi đôi guốc cong cong. Hai vợ chồng làm lễ gia tiên, lễ mẹ vợ. Nhà gái mời nhà trai dự cỗ cưới. Nhà trai cảm ơn và xin phép đón dâu về sớm cho đúng giờ lành.


Nhà trai và một số người đại diện nhà gái trong đó có anh cả Nhẫn cùng cô dâu ra khỏi nhà; Cô dâu vẫn che mặt bằng khăn lụa hồng. Ông chủ Đức vẫy chiếc xe ô tô đến, mời chú rể và cô dâu lên xe. Chú rể dắt tay cô dâu định đưa lên xe ngồi cạnh nhau. Ông Đức thấy vậy ngăn lại, bảo chú rể lên ngồi ghế trước, cô dâu ngồi ghế sau. Chú rể bất đắc dĩ phải nghe theo, ngồi một mình. Ông Đức nháy mắt nói với chú rể: “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” mà, nói rồi ông lên xe của Phán Lâm cho nổ máy chạy chầm chậm dẫn đầu, xe của chú dể tiếp sau. Mọi người còn lại, ngồi lên những chiếc xe tay kéo để cùng về nhà trai.


Trên đường đi, chú rể chốc chốc lại ngoảnh mặt về phía sau liếc nhìn cô dâu; cô dâu qua tấm khăn lụa mỏng nhìn ngắm chú rể: Cô thấy cậu đẹp trai, cao lớn, đi đứng đàng hoàng; người đâu mà bạo thế, chưa chi đã nắm tay cô trước mặt mọi người; đôi mắt của cậu ấy to và sáng giống bà mẹ, chỉ khác hai lông mày rậm, nhìn ra dáng đàn ông, nhưng cô hơi sờ sợ.


Đoàn người đón dâu về đến cổng nhà trai thì tiếng pháo vang rền. Đầu tiên là làm lễ tơ hồng. Bàn thờ đặt ở giữa sân, đèn nến, hương hoa ngào ngạt và trang nghiêm. Cụ già đọc văn tế tơ hồng. Chú rể và cô dâu lễ bốn lễ tơ hồng. Hai người cùng uống chung một ly rượu cúng, ăn hai miếng trầu được têm chung từ một quả cau và một lá trầu. Xong lễ tơ hồng. Nhà trai bày tiệc suốt từ nhà trên xuống nhà dưới và sang nhà ngang để thết cỗ nhà gái và những quan khách họ hàng bà con mời đến dự cưới.


Lúc này bà chủ mới ra gặp cô dâu (vẫn che mạng). Bà nhận lễ từ cô dâu chú rể, rồi dẫn cả hai người đứng ra cúi chào các quý khách. Bà dắt tay một mình cô dâu vào phòng the. Bà sai đầy tớ mang theo hành lý cho cô dâu và bảo đầu bếp đưa một mâm cỗ chọn thức ăn ngon nhất vào phòng cô dâu. Bà dặn cô dâu cứ ăn trước không phải chờ, vì chú rể còn bận. Ông Đức, làm chủ hôn lễ, đích thân dắt tay chú rể và cùng bà chủ đến từng bàn tiệc để mời rượu. Họ dừng lại lâu hơn ở các mâm nhà gái, các mâm quan khách người Tây và chức dịch người Việt. Đến trước mặt ông An- be, một quan chức cao cấp người Pháp đang cai trị vùng sông Cầu, ông Ngô Đức trong trang phục comple đúng mốt, tay nâng cốc sâm-  panh mời ông An- be. Bằng tiếng Pháp thành thạo, ông Đức giới thiệu bà chủ và chú rể với ông An- be. Bằng tiếng Việt ông giới thiệu ông An- be với mọi người có mặt. Ông An-  be bắt tay ông Đức và nói chuyện với chú rể bằng tiếng Pháp, hai bên cười nói có vẻ hài lòng. Lát sau, ông An- be vẫy tay gọi vị quan huyện sở tại đến, chỉ vào chú rể và nói: Đây là một người mà chúng ta rất cần trong việc cai trị vùng này. Huyện quan chắp hai tay, cung kính vâng dạ bằng tiếng Pháp.


Sốt ruột vì phải giao tiếp quá lâu, cậu chủ đã mấy lần định lẻn đi “chuồn” khỏi chỗ này để vào với vợ, nhưng đều bị ngăn cản. Sau những thủ tục rườm rà, rồi đến chỗ nào chú rể cũng được mời rượu, các bạn đồng môn đồng tuế chuốc rượu chúc mừng, khiến cậu chủ đến khuya mới thoát được mọi cuộc hoan hỷ để về với cô dâu mới cưới. Khi bước chân vào phòng tân hôn, phần thì vì quá chén, phần thì vì căn phòng không đủ ánh sáng, người ta chỉ để có một ngọn đèn dầu, nên chú rể chỉ nhìn thấy mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo. Chú rể cởi nhanh áo quần ngoài, không kịp treo lên mắc, cậu lao vào giường cô dâu, kéo rèm che, cất bỏ khăn hồng trên đầu cô dâu rồi ôm chầm lấy vợ, âu yếm. Ấy thế mà lúc này cậu chủ vẫn không nhận ra người mình đang ôm ấp là cô Hai, vẫn tưởng đây là cô Ba. Về phần mình, cô Hai vốn là người ngây thơ, trong sáng, cô không hề biết tí gì về chuyện xảy ra giữa cậu chủ với em mình. Tình cảm hai người, giữa chú rể với cô dâu đều là mối tình đầu, lúc này dành cho nhau là hoàn toàn vô tư và thánh thiện.


 Khi chồng chưa vào phòng the, thì nàng mong. Đến khi chồng vào, ào ào như cơn lốc, thì nàng chẳng nghĩ được gì khác, chỉ còn nín thở và hồi hộp. Những ngón tay của chàng vốn to và thô cứng, nhưng hôm nay nó nhẹ nhàng lần lần... từng chiếc, từng chiếc cúc áo của nàng tuột ra, yếm đào trễ xuống, đôi “gò bồng đảo” lồ lộ căng tròn như hai trái đào tiên có hai cái núm nho nhỏ xinh xinh, nhú lên màu hồng tươi. Rồi thì... Cả một “tòa thiên nhiên” hiện ra đẹp trắng ngần... Chú rể ôm đầu cô dâu, bất chợt đôi tay vụng về làm xổ tung mái tóc. Như một dòng suối xanh mát, tóc nàng chảy tràn xuống ngực, tỏa hương thơm mùi hoa bưởi. Lúc này, cậu chàng mười tám tuổi kia, lần đầu tiên trông thấy… và choáng ngợp. Chàng ngây ngất, chỉ còn biết ngẩn ra mà... nhìn... mà ngắm. Còn nàng như quả bóng xẹp hơi, hổn hển, thở dốc và ngượng, dúi dúi đầu tóc vào nách chồng, thẹn thùng giấu mặt. Chú rể như bị cù nách, cười khùng khục. Rồi chàng cũng lấy tay cù vào nách của nàng. Nàng cười rúc rích. Lát sau, một đêm hợp cẩn mới mẻ và nồng nàn đã diễn ra giữa đôi vợ chồng mới cưới.


  Rồi cuộc hôn nhân này sẽ ra sao, khi trời sáng cậu chủ tỉnh rượu, nhận ra người mình cưới làm vợ và cùng nhau ân ái nồng nàn, lại không phải là cô Ba, mà cậu đang yêu ? Còn cô Ba, sau khi biết tin cậu Cò vốn yêu thương mình là thế, bất ngờ lại lấy chị mình làm vợ, thì buồn đau biết nhường nào?!


*


   Đang mơ mơ màng màng, cô Hai chợt tỉnh giấc, khi nghe tiếng nồi xoong và bát đĩa va vào nhau từ một nơi nào đó. Nàng mở mắt, thấy chồng đang nằm cạnh, tiếng thở đều đều và hơi to, chiếc chăn bị hất tung hở ngực. Nàng khe khẽ ngồi hẳn dậy để nhìn ngắm chàng. Trông chàng như cậu thiếu niên hồn nhiên trong giấc ngủ. Đôi mắt to với hai chân mày hơi đậm mà lần đầu nhìn thấy khiến nàng sờ sợ, thì nay chỉ còn lại như hai nét vẽ mờ mờ của chiếc bút lông. Nàng nhớ đến những chiếc hôn tới tấp lên mặt mình, nàng thẹn thùng sờ sờ lên má, nét mặt rạng ngời. Lúc này nàng muốn đưa bàn tay của mình nhè nhẹ vuốt đi vuốt lại lên má, lên mắt, lên mũi và cái trán hơi dô của chàng. Nhưng nàng lại sợ chàng thức giấc. Hãy để cho chàng ngủ tiếp để bù cho một đêm gần như thức trắng và nhiều ngày vất vả lo chuyện cưới xin. Nghĩ vậy, nàng kéo tấm chăn che kín ngực chồng, rồi ra khỏi giường.


    Nàng nhặt nhạnh áo quần của chồng treo lên mắc và dọn dẹp quét sạch căn buồng. Xong xuôi, nàng bước ra cửa, ngó nghiêng xung quanh. Cạnh phòng ngủ là một sảnh lớn, nàng rón rén nhìn lên thấy bà mẹ chồng đã ở đó và đang ngồi như pho tượng trên chiếc sập. Cô Hai đâu có biết rằng: Cái phòng của hai vợ chồng cô đang dùng làm phòng tân hôn bây giờ, chính là cái nơi bà chủ đã ở từ nhiều năm trước. Bà chọn ở phòng này vì nơi đây đi ra phòng khách cũng tiện mà xuống các nhà bên dưới để quán xuyến công việc cũng thuận. Bà muốn vợ chồng cậu chủ ở phòng này, để có điều kiện thay bà quán xuyến công việc. Bà chuyển giường cũ sang phòng phía đầu hồi bên kia .


Cô Hai đi dọc từ nhà ngang, nhà ăn, đến bếp. Một bà già mặc váy đen nhuộm bùn đang cùng gia nhân thu dọn nồi xoong bát đĩa, chạy ra:


-  Chào mợ chủ, sao mợ dậy sớm thế?


  -  Chào bà, có việc gì bà cứ bảo, cháu sẽ cùng làm.


-  Ấy chết, mợ dạy vậy, tôi đâu dám. Xin mợ cứ lên nhà, ở đây đã có chúng tôi lo.


Cô Hai, đi tiếp thấy hiện ra một cái sân rộng mênh mông, một dãy nhà kho lớn, khu chăn nuôi núp dưới rặng tre xanh, cạnh đó là ao cá, rồi cô đi vòng lại nhà kính…


Đám cưới như thế là đã xong xuôi nhưng bà chủ vẫn còn chờ đợi xem phản ứng của chú rể thế nào khi biết không phải là cưới cô Ba ? Bà ngồi đó, thấy cô Hai dậy sớm đi vòng quanh nhà và đang dừng lại nhìn ngắm đôi chim công một cách thích thú. Bà cho gọi cô tới gặp. Cô Hai bối rối theo chân gia nhân lên nhà lớn, hồi hộp chưa biết mẹ chồng gọi mình làm gì.


-  Con chào mẹ ạ! -  Cô chắp tay cúi đầu.


-  Con dâu của ta, dậy sớm như thế là phải. Hôm nay hai vợ chồng phải về lễ lại mặt bên nhà gái.


-  Con xin vâng theo lời mẹ.


Ngừng một lát bà chủ nói tiếp:


 -  Hôm nay, mẹ cũng phải nói với con chuyện này để con biết mà lựa cư xử với chồng cho êm đẹp.


-  Con xin mẹ cứ dạy bảo, con sẽ vâng theo.


-  Chuyện là thế này: Chồng con và cô Ba em con đã gặp gỡ và phải lòng nhau ở hội Lim. Sau khi ta đến thăm nhà cụ Tú, ta đã quyết phải cưới con cho cậu chủ. Đến nay cậu chủ vẫn chưa biết việc này, vẫn tưởng vợ nó là cô Ba…


Nghe mẹ chồng nói vậy mặt cô Hai chuyển từ hồng thành tái nhợt. Cô không ngờ sự thể lại ra thế này.


Bà chủ dặn dò:


-  Con đừng lo, mọi việc rồi sẽ qua thôi, có gì cứ nói với ta.


Cô Hai vâng dạ, rồi lảo đảo bước đi. Trở lại phòng tân hôn, cô thấy chồng vẫn ngủ say. Không muốn đánh thức chồng dậy. Cô Hai nhấc chiếc ghế đẩu ngồi bên đầu giường, nhìn chồng và nghĩ: Cơ sự xảy ra thế này sao mẹ mình không nói trước với con? Chắc mẹ biết, nên mới cho dì Ba đến nhà anh Cả. Tội cho dì Ba quá! Còn mình bây giờ biết tính sao đây? Chốc nữa, khi chồng thức dậy, nhìn thấy mình, không phải là dì Ba thì sự việc sẽ ra sao? Nghĩ đến đây, cô Hai không cầm được nước mắt. Lúc đầu cô còn khóc nhỏ, khóc tấm tức, sau dần không kìm được đã khóc to. Cậu chủ giật mình thức giấc, ngơ ngác nhìn quanh: Trước mắt cậu là một cô gái, trông vừa quen lại vừa lạ, nghĩ mãi không nhớ đã gặp cô này ở đâu. Cậu hỏi:       


-  Cô là ai? Vợ tôi đâu?


Cô Hai nhìn cậu không trả lời, chỉ khóc thút thít.


Cậu ngồi dậy tiếp tục hỏi dồn. Nhưng lạ thay, càng hỏi cô ta càng khóc và khóc to hơn. Bất lực, cậu bật dậy, mặc vội quần áo ngoài, đẩy cửa phòng, đi lên sảnh. Vừa trông thấy bà chủ đang ngồi trên sập, vít cong cần điếu hút thuốc lào, kêu sòng sọc, thì cậu đã hỏi ngay:


-  Mẹ ơi, vợ con đi đâu rồi ạ?


Bà chủ chậm rãi nhả khói thuốc, rồi nhìn cậu tủm tỉm cười:


-  Cậu này lạ thật, vừa mới lấy vợ về đã hỏi vợ đi đâu. Nó đi từ đêm qua à?


-  Không, thưa mẹ, đêm qua chúng con vẫn…


Bà chủ bật cười to, và nói:


-  Vợ mới cưới đi đâu cũng chẳng biết, mà nó có đi đâu thì cũng ở trong nhà này, sao không đi tìm mà lại hỏi mẹ?


-  Thưa mẹ… ở phòng con có một cô gái… con nhớ ra rồi, cô ta hơi giống cô Ba nhưng không phải là cô Ba được cưới về hôm qua.


-  Thì đó, vợ con đấy. Tên nó là cô Hai chị ruột của cô Ba. Mẹ đã biện sáu cái lễ hỏi và cưới cô ấy về cho con, con không ưng à ?


Cậu chủ nghe mẹ nói, há hốc mồm, ngạc nhiên, mãi sau mới nói lên lời:


-  Sao mẹ không nói với con từ trước, con ưng cô Ba…


-  Mẹ đã nói với con rồi, nhà mình cần một cô dâu hiền lành, biết thay mẹ và giúp chồng lo liệu quán xuyến gia đình. Ở nhà này không cần cô con dâu đẹp và hát hay như con định chọn, chẳng lẽ lấy về chỉ để ngắm và nghe hát à?


Bà chủ nói dứt khoát và rõ ràng chắc như đinh đóng cột. Cậu chủ chẳng biết nói sao. Cậu lẳng lặng bỏ về phòng, nằm dài trên giường suy nghĩ: Oái ăm thật, mình muốn lấy cô Ba, mẹ lại cưới cô Hai. Việc cưới xin linh đình như thế, ai cũng biết cô Hai là vợ mình, chỉ có chú rể ngốc lại không biết, tức chết đi được !


Cô Hai, từ ngoài đi vào, hai tay bưng một thau đồng đựng nước nóng và một khăn bông trắng muốt. Cô đặt chậu nước trên chiếc ghế đẩu cạnh giường và nói:


-        Mời mình dậy rửa mặt, rồi xuống nhà ãn sáng, mẹ đang chờ đấy.


Cậu nhìn xéo cô Hai, rồi quay mặt vào trong, nằm yên không nói gì. Cô Hai nhúng chiếc khăn bông vào chậu nước ấm, vắt kiệt. Cô đặt khăn lên mặt chồng, nhẹ nhàng lau từ chân tóc xuống cằm, đôi mắt, cổ, ngoáy hai tai và lau hai bàn tay sạch sẽ. Cậu định gạt ra, nghĩ thế nào lại thôi, cứ để cho vợ làm gì thì làm. Nước ấm dễ chịu và đôi tay nhẹ êm đã khiến cậu bình tĩnh lại. Cậu nhìn vợ hỏi:


-  Trước khi cưới, cô có biết là ta đã yêu thương cô Ba?


-  Việc này, cho đến sáng nay mẹ nói, em mới biết.


-  Chẳng lẽ ta đi lại tìm gặp cô Ba như thế, mà không ai nói với nàng sao?


-  Không có ai nói với em việc này. Em chỉ thấy các lễ hỏi và cưới của nhà trai mang đến nói rằng xin em về làm vợ mình. Em thương dì Ba quá - Nói đến đây cô Hai lại khóc thút thít.


-  Tôi vẫn không tin cô không biết là tôi đã yêu cô Ba.


-  Em xin mình đừng nghĩ vậy -  Nói đến đây cô Hai khóc nấc lên.


Lát sau, cô Hai lại giục chồng dậy ăn sáng, để rồi hai vợ chồng mang lễ lại mặt về nhà gái. Cậu chủ nói nhát gừng:


-  Một mình cô về lại mặt đi.


-  Không nên thế đâu mình ạ. Mẹ bảo cả hai đứa phải đi.


-  Mẹ, cái gì cũng mẹ, cô đừng ỷ thế mẹ để ép tôi.


-  Em đâu có dám thế, mình hiểu cho em.


Bà chủ bước vào phòng lên tiếng:


-  Chú rể đâu, dậy đi, xuống ăn sáng, mẹ đã sắp sẵn lễ để hai con lại mặt rồi. Khi hai đứa về gặp cụ Tú cho mẹ gửi lời thăm và cảm ơn cụ. Còn cậu Cò thì phải gặp cô Ba xin lỗi người ta đi, đừng để lòng thòng.


Nghe mẹ nhắc đến tên cô Ba, cậu nảy ra ý muốn được gặp. Vả lại, từ xưa đến nay cậu vẫn không dám trái ý mẹ. Cậu ngồi dậy, cùng vợ đi xuống nhà ăn. Lát sau, Cóc tóc đỏ xách các thứ lễ vật lại mặt để ở gậm xe và mời mợ chủ ra xe. Cậu chủ cưỡi ngựa đi trước, chiếc xe kéo mợ chủ theo sau, đi về làng Bình.


 Vợ chồng cậu chủ về đến đầu ngõ làng Bình, đã thấy trẻ con hàng xóm chạy ra xem rồi reo lên: “Cô dâu chú rể đội rế lên đầu” đã về! Cụ Tú, vợ chồng anh Cả, thằng cu Tý cùng ông bà Bảy Tâm ra đón tận cổng. Chỉ thiếu cô Ba chưa thấy mặt. Bà con, họ hàng, xóm giềng một số người kéo nhau đến nhà cụ Tú mừng lễ lại mặt.


Trước bàn thờ, vợ chồng cậu chủ quỳ lễ gia tiên rồi nghe cụ Tú căn dặn:


-  Mẹ chỉ mong sao hai con yêu thương nhau, sống với nhau đến đầu bạc răng long.


Cả Nhẫn nói xen vào:


-  Mẹ mong và chúc cô chú như vậy, hai người có làm được không ?


Cô Hai nhìn chồng… Cậu chủ ngập ngừng nói:


-  Chúng con… xin vâng lời mẹ.


Mọi người có mặt, cùng cười hoan hỷ. Cô Hai đứng dậy, xin phép vào nhà trong tìm cô Ba. Cậu chủ đứng lên định đi theo vợ, ông Nhẫn giơ tay mời cậu ngồi vào bàn uống nước.


                            


 Về phần cô Ba, đã gần hai tháng nay, theo lời mẹ, cô ra phủ Từ Sơn bán hàng, trông nhà và chăm sóc cu Tý giúp anh chị Cả. Ngày hôm ấy chợt có cô bạn gái đi chợ Giầu, thấy cô, rẽ vào và ngạc nhiên hỏi:


-  Sao hôm nay, đằng ấy vẫn còn ngồi ở đây à ? Ở nhà đang tổ chức lễ cưới chị Hai, chiều đón dâu đấy!


Cô Ba nghe vậy, bất ngờ, sửng sốt và nét mặt ngơ ngác. Mãi sau cô mới lắp bắp hỏi bạn:


-  Chị tớ… lấy ai, đằng ấy biết không?


-  Nghe nói chị đằng ấy lấy cậu chủ ở vùng sông Cầu. Chị em gì, mà không biết, phải hỏi?


Nghe đến đây, cô Ba tái mặt, đầu cứ ong ong, tai ù như bị choáng. Bạn cô vẫn kể thao thao nhiều chuyện ở làng, mà cô chẳng hiểu nổi bạn nói gì. Bạn đi khỏi. Cô Ba như người mất hồn, cứ ngẩn ra. Cô nhắm mắt, là thấy hiện lên cậu ấy khi thì đứng gần, nhìn và nghe cô hát với đôi mắt đắm đuối; Lúc cô đến cửa nhà bà Bảy giật mình lại gặp đôi mắt ấy. Cô cứ tưởng đôi mắt ấy sẽ suốt đời nhìn cô và sẽ có ngày cậu ấy cho người đến hỏi và cưới cô làm vợ. Vậy mà, cậu đã lấy người khác rồi… vợ cậu lại là chị Hai !? -  Không thể tin được, phải về xem sao -  Nghĩ vậy, cô đứng dậy vội vàng đóng cửa hàng, khóa lại, sang hàng xóm nhờ đưa cho cu Tý cái chìa khi nó đi học về. Cô cầm vội chiếc nón, tất tưởi đi ra đường quốc lộ, vừa đi vừa chạy về làng Bình.


Cô Ba về đến đầu làng, thì thấy đám đông đang đứng xem đón dâu. Cô kéo khăn vuông che kín mặt chỉ để hở hai mắt, rồi len vào giữa đám đông để xem cho rõ. Từ xa, cô nhìn thấy hai chiếc ôtô đứng đó, cậu ấy đầu đội khãn xếp, mặc áo the đen; còn chị Hai, khãn lụa hồng trùm đầu, mặc áo năm thân, váy lụa. Chỉ nháy mắt hai người đã biến vào trong chiếc xe ô tô. Lát sau đoàn xe đi khuất, đám đông tản dần. Cô choáng váng đứng không vững ngồi thụp xuống ven đường khóc rưng rức. Bà hàng xóm đi qua, thấy một người con gái đang khóc, bà dừng lại, nhìn kỹ nhận ra cô Ba con gái cụ Tú. Bà vỗ về hỏi han, cô Ba gạt nước mắt, cô nén khóc trong tiếng nấc rồi đi về phía ngõ Chùa. Bà hàng xóm te tái đi nhanh đến nhà cụ Tú kể nghe sự việc về cô Ba. Cụ Tú thở dài kêu “ đến khổ”. Hai vợ chồng anh Cả vội vàng ra ngõ Chùa tìm em. Đến nơi họ thấy cô Ba thân hình tiều tụy, đôi mắt đẫm nước, vội vàng xốc nách em đưa về nhà. Suốt từ hôm qua đến nay cô Ba nằm yên như thóc, chẳng chịu ăn uống gì. Cụ Tú bên con đến sáng, rơm rớm nước mắt.


Cô Hai vào thăm cô Ba. Nghe nói em đang nằm ở buồng trong, cô vội chạy vào. Mới xa nhau ít hôm, mà thấy em gầy tọp hẳn đi. Chị Hai khóc oà, ôm chầm lấy em gọi em ơi! em ơi! còn cô Ba thì như không nhận ra chị, đôi mắt thẫn thờ, ngó lên nóc nhà, bất động.


 Lâu lâu, không thấy vợ ra, cậu chủ muốn vào thăm dì Ba, nhưng cả Nhẫn ra hiệu bảo cậu cứ ngồi chơi, để anh vào trước xem sao. Cả Nhẫn nhìn thấy hai chị em ôm nhau khóc tức tưởi, thì vỗ về. Anh bảo sẽ mời thầy lang đến xem mạch bốc thuốc bồi bổ sức khoẻ cho cô Ba.


 Mãi sau, cậu chủ mới thấy vợ ra, sắc mặt cô nhợt nhạt, hai mắt đỏ hoe ngấn lệ. Cậu đứng dậy, nhìn anh vợ như muốn hỏi, em vào thăm cô Ba có được không? Cả Nhẫn dắt tay cậu chủ ra buồng ngoài, kể cho cậu nghe sự tình của cô Ba mấy hôm nay và khuyên cậu chưa nên vội gặp cô Ba vào lúc này, để khi khác.


Mặt trời đứng bóng, cả Nhẫn bảo vợ hạ mâm cỗ lại mặt, mời mẹ, mời vợ chồng cô Hai và mọi người dùng cơm. Ăn xong, cụ Tú bảo chị dâu trưởng lấy một phần đồ lễ lại mặt, biếu nhà trai và giục cậu chủ và cô Hai về cho sớm, kẻo trời tối.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »