tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30436430
Những bài báo
16.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Thổn thức theo dõi những đứa con tinh thần


    Khát vọng của tôi khi cầm bút viết Tổng tập “Đi tìm hiện thực của những ước mơ” sẽ là một chuỗi dài của những câu chuyện tình (yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi), liên kết logich, nhiều cung bậc, đa sắc màu; Tất cả diễn ra chân thật và hấp dẫn, tái hiện suốt trăm năm vinh quang và đớn đau của lịch sử và con người Việt Nam !


    Nhưng khát vọng ấy có đạt được đến đâu, phải đợi người đọc phán xét.


    Trên đời này, không ai yêu con bằng người Mẹ. Người ta ví Nhà văn là “Mẹ” của tác phẩm văn học, coi sáng tác là “đứa con tinh thần ” của mình -  Cả hai ý ấy đều hoàn toàn đúng.


    Nhớ lại,


    Tôi viết bộ tiểu thuyết “Đi tìm hiện thực của những ước mơ”, không chỉ “thai nghén chín tháng mười ngày”, mà đã ấp ủ hàng chục năm; Nếu tính từ khi bắt tay viết dòng đầu tiên cho đến khi viết dòng cuối cùng ở trang thứ 1.500, cầm trên tay giấy phép xuất bản (tức làm xong giấy khai sinh cho tác phẩm) thì có dư năm năm chín tháng mười ngày. Trong suốt thời gian khá dài, đầu óc tôi hầu như lúc nào cũng nghĩ đến “đứa con” ấy, ngày viết và đêm đêm thức đến khuya để viết (như người Mẹ liên tục tiếp dinh dưỡng cho thai nhi mau lớn) ; Khi mệt quay ra ngủ, một chốc lại chợt tỉnh, nghĩ được ý gì mới, vùng dậy ghi lại. Say mê viết, vóc dáng “đứa con” của mình dần dần hình thành và lớn mau. 


     Nhớ lại năm 2008, như con đò cuộc đời, đưa tôi sang tuổi bảy mươi,   thời gian không còn nhiều. Tôi muốn tái hiện lại những gì mình đã trải nghiệm về cuộc đời này, nên ngừng làm Luật sư, để viết… tiểu thuyết.
    Các con tôi bảo: Già yếu, nếu thích thì chỉ nên viết hồi ức ngăn ngắn cho đỡ mệt ! Sao bố không viết hồi ức về mình cho đỡ mệt.


     Tôi nói: Viết thế thì chỉ cho riêng gia đình mình đọc. Bố muốn viết về đất nước và người cùng thời, để mọi người cùng đọc. Quỹ thời gian không còn mấy, bố sẽ đi ngay vào viết tiểu thuyết, chỉ có vậy, mới tái hiện và gửi gắm được phần lớn những kí ức và ước mơ của đời mình hòa với ước mơ chung của mọi người cùng thời; Viết ra để chia sẻ cả niềm vui và nỗi buồn trong sự yêu thương và tự hào về quê hương đất nước .
    Tôi may mắn sinh ra và lớn lên ở một môi trường đã định hình, tạo điều kiện khai sinh ra tiểu thuyết của mình.


    Làng tôi ven sông Cầu, cũng là phố mang tên Đáp Cầu, tiếp giáp bao làng quê quan họ rộng lớn của văn hóa dân gian Kinh Bắc; Nơi đây đã hội tụ đường sắt đường sông và đường quốc lộ số I, đầu mối kinh tế giao thương cả vùng Kinh Bắc, nối tiếp về Hà Nội và ngược Lạng Sơn sang Tàu, kinh tế tư nhân về công thương sớm phát triển. Cũng là nơi thực dân Pháp đặt trung tâm quản lí hành chính, xây một số nhà máy và sớm mở trường Tây học. Do vậy, con người sống ở nơi này vừa giữ được nét văn hóa truyền thống, mặt khác giao lưu rộng, nhạy cảm với thời cuộc, nên Đáp Cầu đã sớm sản sinh ra những người con tiêu biểu về hoạt động cách mạng và cả những người nổi tiếng trong kinh doanh. 
     Ngày bé, tôi đã theo mẹ đi hội Lim nghe hát quan họ; Tận mắt nhìn thấy tên Cẩm (Police) người Pháp oai vệ và ngạo mạn, mắt xanh, mũi lõ, đội mũ cát rộng vành, mặc quần soóc ka ki vàng với đôi tất trắng dài, tay cầm dùi cui và huýt còi phạt người … đái bậy. Tôi thấy những tên phát xít Nhật lùn tịt đeo cây kiếm dài quét đất, khi phải đầu hàng Đồng minh thì như chó cụp đuôi. Tôi đã cùng gia đình chạy lụt và chứng kiến những ngườì bị chết thê thảm vì nạn đói năm 1945. Họ phần lớn là dân từ Nam Định, Thái Bình bụng lép, lê bước trên đường quốc lộ số I, xin ăn dọc đường; Ngày nào khi ấy cũng có người quần áo nát bươm, hoặc trần truồng gầy như những bộ xương lăn ra đường chết đói với đủ tư thế. Khi Cách mạng Tháng 8 bùng nổ, hàng đoàn người dân ven đô tràn vào cùng dân thành thị cầm gậy cầm dao xông vào trại lính Nhật -  Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp nơi ! 


    Ngay sau đó, những tên Tàu Tưởng hành quân đi bộ, gầy nhom, lếch thếch, vào nước ta thay mặt Đồng minh tước vũ khí giặc Nhật, thì Nhật đã bị Việt minh đánh bại rồi. Chúng tôi, những đứa trẻ chạy theo lính Tàu chế giễu hát nhái bài Tiến quân ca:“Đoàn quân Tàu Ô đi, sao mà ốm thế, bước chân buồn, lang thang trên đường Việt Nam”.


    Khi giặc Pháp quay lại Hà Nội, mọi người háo hức nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ:


   “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ không chịu làm nô lệ .


    Hỡi đồng bào ! Chúng ta phải đứng lên”.


    Hai anh của tôi cùng trai làng và bao thanh niên khác hăm hở cầm súng chi viện cho Hà Nội, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Tôi cũng đã chứng kiến mối tình đẹp của anh họ tôi, một chiến sĩ Vệ Quốc đoàn; Anh yêu lắm một cô gái thuộc gia đình địa chủ, chờ đợi suốt những năm dài kháng chiến, yêu mà không lấy được nhau, cô đã tự tử chết một cách bi thương vào ngày miền Bắc hòa bình ! Trong họ và làng của tôi còn có những người tham gia Cách mạng từ năm 1930 và Cách mạng Tháng 8, rồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; Ngược lại cũng có người là địa chủ tư sản. Tất cả, đã giúp tôi lấy đó làm nhân vật nguyên mẫu để hư cấu mô tả trong bộ tiểu thuyết này . 


    Việc đầu tiên là đặt tên cho tiểu thuyết cũng phải đắn đo cân nhắc kĩ lưỡng hơn cả việc đặt tên cho chính đứa con yêu của mình. Như đã có lần trả lời phỏng vấn, tôi đặt tên tiêu thuyết là “Đi tìm hiện thực của những ước mơ”, đúng với tư tưởng chủ đạo của tác phẩm, có ý nghĩa bao hàm cả bộ tiểu thuyết lịch sử, tái hiện con người và sự kiện suốt 100 năm, cái tên chi phối suy nghĩ và hành động của hàng trăm nhân vật. Mỗi nhân vật có tính cách và số phận khác nhau. Phần lớn những nhân vật ấy đều mải miết đi tìm hiện thực của những ước mơ: Những nhân vật chính đạo, vinh quang cũng lắm, bi thương cũng nhiều, trong đó có cả những nhân vật thuở hàn vi sống dựa vào dân, khi thành công thì “thét ra lửa” nắm quyền sinh quyền sát, có lúc đã làm khổ nhau và tham nhũng. Những nhân vật trái chiều đều mang vết sẹo tâm hồn . Người dân ở cả hai phía, dù thắng hay thua, thực tế với mức độ khác nhau đều là nạn nhân của cuộc chiến tàn khốc và lâu dài.


     Tiêu chí, quán triệt từ đầu đến cuối để tôi viết là SỰ THẬT, Không tô hồng không bôi đen . Viết thật với mình, với người và sự kiện, kể cả những chuyện nhạy cảm như cải cách ruộng đất, Nhân Văn giai phẩm và thời bao cấp, cải tạo tư sản v.v….


     Tôi không tránh né những thất bại nhất thời và những vấn đề nhạy cảm của lịch sử; Đã mạnh dạn chọn nhân vật trung tâm của bộ tiểu thuyết là người đàn bà ở tầng lớp trên (tên là Mận), Hy vọng đây là phương án tối ưu, có thể tái hiện và phát triển các tuyến nhân vật ở cả hai phía đúng với sự thật lịch sử. 


    Khi viết xong tập I, đọc lại tạm hài lòng, nhưng tôi vẫn lo ngại viết


thế kia… có phạm húy không, có được cấp phép xuất bản ? Tôi quyết định trước khi đưa bản thảo tập I tới nhà xuất bản, thì phô tô gửi tới một số vị lãnh đạo, cùng chuyên gia văn học vốn là bạn bè hoặc quen biết, nhờ cậy đọc giùm cho ý kiến nhận xét . Những ngày chờ đợi thật căng thẳng và nặng nề… 


    Lúc đầu cũng có vị cho rằng, viết thế là “liều”, quá mới lạ, trái truyền thống văn học nước mình và sái về chính trị.


    May sao được vài vị lãnh đạo chính trị, trong đó có sự đồng thuận của các ông Vũ Ngọc Hoàng đương chức Uỷ viêm TW, P Ban Tuyên giáo TW và ông Trần Quốc Vượng Trung ương Ủy viên, Viện trưởng Viện Kiểm sát ND tối cao (Nay là Ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam)


     GS Đinh Xuân Dũng, P Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương cho rằng: “ Tiểu thuyết đã tái hiện rất sinh động và chân thành về cuộc sống văn hóa và con người xứ Kinh Bắc; Đọc tập I tác phẩm này, nhận được sự thăng trầm của quê hương Kinh Bắc, qua đó có thể nói lên phần nào đó sự biến động và thăng trầm của lịch sử dân tộc chúng ta. Chọn nhân vật trung tâm như thế là có sự tìm tòi mới về phương thức tái hiện lịch sử. Thông qua mô tả người phụ nữ và gia đình điền chủ này, từ đó mở rộng ra, mới có điều kiện thấy được toàn cảnh diện mạo đời sống kinh tế văn hóa và cuộc chiến, cũng như số phận con người thuộc các giai tầng trong xã hội ở thời đó, kể cả ta và phía địch”.


    Cầm trong tay giấy phép xuất bản, tôi vô cùng vui sướng, biết ơn cách nhìn đổi mới của những người hữu trách đối với “đứa con tinh thần” của mình. Thế là sau một ngàn ngày cặm cụi viết và xuất bản xong tập I, tôi đã ôm cuốn sách như “bế đứa con tinh thần” đầu tiên của mình dâng lên bàn thờ Tổ tiên, khấn vái, rồi tiễn “đứa con” ấy ra đời trao cho bạn đọc !


     Nhưng rồi, không may, tôi bị bệnh tim, đôi khi đau nhói. Bác sĩ kiểm tra xác định bị xơ vữa động mạch vành. Đang trên đà viết say mê, tôi không thể bỏ cuộc. Vừa điều trị vừa viết.


     Tập II, tái hiện về thời chống Mỹ, với đà phấn chấn, tôi viết xong rất nhanh, mô tả: Thời của tôi, chúng tôi hòa cùng dân tộc, mải miết đi tìm hiện thực của những ước mơ bỏng cháy và cao đẹp trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.
    Tập này, sở dĩ viết nhanh vì tập I đã mở ra «cái móng» khá chắc cho tập II, đã chuẩn bị tư liệu khá kĩ từ những năm trước: Tận dụng điều kiện hòa bình và giao lưu quốc tế, tôi đã đọc tư liệu cũng như hồi kí chiến tranh của những người ở cả hai chiến tuyến ; Tôi cũng đã từng sống trong chiến tranh, cùng công tác hoặc găp gỡ chuyện trò với nhiều nhân chứng cấp cao cấp thấp ở phía này phía kia. Nên tiểu thuyết có điều kiện mô tả chân thật các nhân vật ở cả hai trận tuyến trong chiến tranh, kể cả phía Mỹ. Ông Vũ Ngọc Hoàng P Ban Tuyên giáo TW nói với tôi: “Anh viết tập này sinh động và chắc tay”.


    Nguồn tư liệu, còn có đóng góp của nhiều người như những nguyên mẫu, trong đó có người đáng nhớ: Một người anh họ, cả đời hết kháng chiến chống Pháp lại chống Mỹ, ông kể cho tôi nhiều chuyện ở Trường Sơn, còn tặng tôi vài bài thơ ông viết và cho phép tôi sử dụng làm tư liệu để viết. Ông là một phần nguyên mẫu mang tên nhân vật Quang Vũ và Quang Văn -  Rất tiếc khi viết xong tập II thì ông anh tôi không còn nữa ! Người thứ hai, là một trong số người đã giúp tôi thẩm định lại chương viết về cải cách ruộng đất, cũng là ông anh họ, nhưng là con địa chủ, vì hoàn cảnh bức bách đã vượt biên, mà tôi đã kể lại ở bài trả lời phỏng vấn của báo Bảo vệ pháp luật .Tất cả … đều là những tư liệu và nhân chứng sống rất quý .


     GS TS văn học Đinh Xuân Dũng, là người giúp tôi rất nhiều trong quá trình sáng tác bộ tiểu thuyết này, ông vốn là bạn thời sinh viên Văn khoa cùng tôi. Ông từng là đại tá nhiều năm lăn lộn ở chiến trường, đã cho tôi những ý kiến gợi mở quý báu. Ông nhận xét về tập II của tiểu thuyết: « Đi tìm hiện thực của những ước mơ, có thể nói tập II là một trong số không nhiều tác phẩm văn học có chiều sâu, có cách nhìn toàn diện và cách viết riêng về chiến tranh, trận tuyến và hậu phương, nước Mỹ và lính Mỹ, thời chiến hậu chiến và hậu quả di hại lâu dài, khi cuộc chiến chống Mỹ, mặc dù đã lùi xa gần 40 năm . Chiến tranh được mô tả không bó hẹp ở không gian nhỏ và thời gian ngắn, mà tác giả phóng tầm bút tái hiện cuộc chiến tranh nhân dân sâu rộng, cùng nhiều chiến dịch lớn diễn ra suốt 30 năm trên cả hai miền Nam Bắc; tác động cả đến chính trường nước Mỹ . Hàng trăm nhân vật tham gia cuộc chiến được mô tả trong tiểu thuyết này rất khác nhau, ở cả hai phía, từ những chính khách lớn đến người trực tiếp cầm súng, cho đến người dân bình thường với số phận, cuộc đời và nghề nghiệp khác nhau… » 


    Trên cơ sở đó, tôi khai thác nội tâm của nhiều nhân vật. Cụ Mận, nhân vật trung tâm, trong đó có chi tiết, dân di cư từ miền Bắc vào Nam luôn luôn da diết nhớ về cố hương, đã cùng cháu quyết định cứu sống một chiến sĩ là người từ miền Bắc vô bị thương trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Nhân vật vợ chồng Quang Văn, sinh viên văn khoa, trong khí thế hào hùng của cả dân tộc đã quyết định gửi con còn quá nhỏ dại cho mẹ vợ, khoác súng cầm bút ra trận; Cả hai đã cho thấy những tráng ca hào hùng của lớp trẻ ngày ấy « Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ».


    Nhân vật cha con của tình báo viên Hai Nhẫn vào Nam, cùng mẹ con Tư Sang ở Tiền Giang hoạt động tình báo, họ đã chiến đấu thầm lặng và cùng người vợ người mẹ ở hậu phương hi sinh đến tận cùng !


    Nhân vật tướng ngụy Cò Đỏ chỉ huy thuỷ quân lục chiến chống Cộng điên cuồng, khi thất trận bỏ chạy ra biển vẫn không hiểu sao bà mình (cụ Mận) không đi cùng .


    Gần đây, tại Hội nghị Lý luận phê bình văn học ngày 24 -  26/6/2016, P Chủ tịch Hội đồng văn xuôi, Nhà văn Phạm Hoa đã đọc tham luận có tính đề dẫn mở đầu cho cuộc hội thảo tổng kết văn học 30 năm. Ông đã ghi nhận văn xuôi Việt Nam đã có những đổi mới, trong đó có đoạn ông viết: “Bàn về tự do sáng tác giai đoạn vừa qua, không thể không kể đến những tiểu thuyết có thể nói đã đi khá sâu vào các vấn đề ngày trước được coi là nhạy cảm... có tiếng nói mạnh mẽ (phê phán) về chủ nghĩa lí lịch như bộ tiểu thuyết Đi tìm hiện thực của những ước mơ, hay Khúc quanh của định mệnh. Trong tiểu thuyết Đi tìm hiện thực của những ước mơ, một chánh tổng làm phòng nhì cho Pháp, có một người con bị lũ cuốn (từ nhỏ) lưu lạc được cứu, (sau này) phấn đấu đến chức Chủ tịch tỉnh. Còn một con vào Nam năm 1954 lại lên đến thiếu tướng quân đội Việt Nam cộng hòa...Tiểu thuyết ra đời đứng được, có tác động xã hội, vì tác giả này đã viết với một tâm thế trong sáng một thái độ xây dựng. Đó là một sự ghi nhận đáng kể trong con đường phát triển của văn học”.


     Nhân vật thực dân “cáo già” An- be người Pháp đã bốn đời thống trị An Nam, khi phải rút chạy vào Nam, vẫn liên kết với người Mỹ chống Cộng.


    Về cuộc sống “hậu chiến”, tác phẩm đã mô tả nhiều góc cạnh của hậu quả thương đau, thêm nữa đời sống kinh tế bao cấp du nhập vào vùng mới giải phóng và văn hoá xuống cấp, cả hai miền sau cuộc chiến, đâu đâu cũng khổ . Hàng chục vạn thương phế binh, trong đó có Nguyễn Văn Luân, người lính “già” bị chấn thương sọ não lang thang không nhớ đường về; Tệ nạn xã hội và tội phạm cũng như nạn tham nhũng trong quan chức bắt đầu phát triển; Ở Sài Gòn, cũng như miền Nam những năm đầu sau chiến tranh đời sống ngày càng sa sút, nạn vượt biên tăng nhanh.


     Đánh thắng giặc đã là sự nghiệp vĩ đại. Nhưng thắng rồi, giành được độc lập thống nhất đất nước trong hoàn cảnh phe XHCN sụp đổ, xây dựng mô hình và đường hướng mới ra sao, làm kinh tế thế nào để thoát nghèo thì lúc này là cả vấn đề cực lớn, không đơn giản chút nào ( !) NSND Đặng Nhật Minh giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT đọc xong tập II, ông đã nhận xét: « Đây là tác phẩm văn học trung thực nhất ».


    Thật kì lạ, sự hứng khởi trong sáng tác văn học được đón nhận, như tiếp sức cho tôi vượt lên bệnh tật, để viết tiếp.


 


     Sang tập III, một thử thách lớn với tác giả. Bởi lẽ viết về thời đổi mới rất khó, vì thời này phân biệt đúng sai, cũ mới đâu có đơn giản . Viết thẳng thắn, dễ đụng chạm, viết minh họa dễ dãi thì người đọc sẽ chán. GS Đinh Xuân Dũng còn lưu ý tôi: “Viết tiểu thuyết đến tập III là phải nỗ lực rất lớn và thận trọng, vì ngay cả nhiều nhà văn chuyên nghiệp viết đến tập III tập IV cũng đã đuối sức, đọc nhàn nhạt”.


    Riêng tôi lo, nhưng vẫn tự tin rằng gần cả cuộc đời sống và viết như người trong cuộc, nói lên cái hay và cả cái dở ở đời. Tôi không hi vọng được đánh giá cao về nghệ thuật sáng tác, mà xác định viết xuất phát từ sự thật và lòng yêu thương những gì cuộc sống vốn có. Ngay từ đầu, tôi đã xác định mục tiêu tập trung cố gắng tái hiện trung thực một vài dấu ấn của lịch sử đất nước. Tôi nhớ mãi lời giảng của thầy Hoàng Xuân Nhị là GS dạy văn học Xô viết, rằng: “Lê nin thích tác phẩm Chiến tranh hòa bình, Người cho rằng tiểu thuyết ấy vĩ đại ở chỗ là đã tái hiện được một vài dấu ấn của lịch sử nước Nga”. -  Tôi không dám so sánh, chỉ tự nhủ mình phải viết bộ tiểu thuyết này theo hướng đó. Còn mô tả dấu ấn lịch sử Việt Nam được đến đâu, phải chờ độc giả phán xét.


     


    Vấn đề chủ yếu ở tập cuối là tác giả dành nhiều tâm huyết, viết về con người cán bộ đảng viên trong bộ máy công quyền, nhằm phát hiện cái hay và cả những khiếm khuyết, để góp phần xây dựng Nhà nước và Đảng cầm quyền.


     Tác phẩm đã mô tả khá kĩ về những nhân vật lãnh đạo cao và thấp ở thời đổi mới. Gặp gỡ ông Nguyễn Thanh Quất, nguyên UVTW Đảng và là Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc (cũ), thời tôi làm Viện trưởng Kiểm sát ở đó, tôi hỏi:
     -  Viết tiểu thuyết này, đặc biệt là những chương viết về đảng viên và cán bộ thời xây dựng hòa bình, tôi đã cố gắng khái quát hóa tình hình chung, không biết mô tả vậy, ông đọc có thấy phản ảnh đúng cái chung và nét riêng ở tỉnh mình thời ấy không ạ ? 


    -  Có đấy, tả đúng và khách quan với chung và cả riêng của địa phương -  Ông trả lời . 


    Tác phẩm mô tả ông Mười Linh, nhà lãnh đạo kiệt xuất, suốt đời ở chiến trường. Khi đất nước thống nhất, trước bao khó khăn hậu chiến ngổn ngang, và cả những cái bất cập do quản lý kinh tế quan liêu bao cấp và cơ chế thượng tầng kiểu cũ, gây thêm khó cho ta. Ông đã hoà trong dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của mọi người, tìm mọi cách đổi mới đưa đất nước thoát khỏi thời hiểm nghèo. Nhưng thời bấy giờ, ông cũng đã phải trải qua không ít thăng trầm đối nội thời đầu đổi mới và cả những sức ép ngoại lai trong quan hệ đối ngoại với Trung Quốc, nhất là vấn đề biển đảo và Campuchia.


      Nhân vật kế tiếp là Trịnh Đông, một cán bộ lãnh đạo cơ quan Kiểm sát cấp tỉnh, tiêu biểu cho lớp cán bộ đảng viên trẻ “thế hệ vàng” ngày ấy, tận tâm, tận lực góp phần nhằm xây dựng một địa phương có một nền pháp chế dân chủ, giữ vững kỷ cương. Nhưng thế lực tiêu cực ở đó vào thời điểm những năm 80 ấy đã làm mọi cách để cô lập và dồn ông đến thất bại. Càng bị vùi dập, thì phẩm chất của người cán bộ đảng viên Trịnh Đông càng tỏa sáng và tiêu biểu cho người bảo vệ công lý. Vào thời điểm đất nước sắp chính thức bước vào đổi mới, thì sự kiện trên đây đã sớm phản ánh thực tiễn tiêu cực trong quan chức, là hồi chuông báo động sự tha hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên trong hàng ngũ nắm chức quyền. Tình trạng tiêu cực này, mãi hai chục năm sau mới chính thức được nhận chân, khi chúng đã thành lực lượng liên kết tổ chức, và được coi là bộ phận thoái hóa trong bộ máy công quyền, làm thay đổi dần bản chất quan hệ xã hội và thật sự gây trở ngại cho sự phát triển lành mạnh của đất nước (!).


     TS Dương Thanh Biểu, nguyên P Viện trưởng Viện Kiểm sát ND tối cao, người đã từng chỉ đạo giải quyết nhiều vụ án lớn, đọc xong ông nhận xét: “Trước đây, tôi chưa từng thấy bộ tiểu thuyết nào ở nước ta mô tả rõ nét sự kiện và con người trong hoạt động Tư pháp, với chiều sâu tư tưởng, tính cách nhân vật độc đáo, chân thực và hấp dẫn như bộ tiểu thuyết này. Cảm nhận chung, là những nhân vật Viện trưởng, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Thẩm phán ( trong đó có Trịnh Đông) hiện lên một cách rất thực, sinh động đến lạ lùng. Nếu tác giả không phải là người có tâm ưu ái thân phận con người, có nhãn quan nhìn tầm xa, lại nắm chắc pháp luật và tinh thông nghiệp vụ, thì dù là người có tài viết văn đến mấy, cũng không dễ gì viết được những trang hay hấp dẫn và thực tế như thế. Từ đó đặt ra những vấn đề tích cực, chẳng những có ý nghĩa xã hội rộng lớn mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ để các nhà hoạch định cải cách Tư pháp phải tính đến”.


     Ngọc Lan là Biên tập viên thẩm định xuất bản lần đầu, sau khi góp những ý cần chỉnh, cô đã nói với tôi rằng: Cháu thích tiểu thuyết này, dù là tác phẩm đầu tay đã có những chương rất hay như viết về Trịnh Đông và nhân vật Trịnh Đông cũng là nhân vật đẹp nhất.


    Kinh tế quốc doanh, những năm đầu đổi mới, tác giả chọn ngành Bưu điện, một ngành vừa bước ra khỏi chiến tranh và nghèo nàn, đã thành công khi làm kinh tế tri thức. Tiêu biểu như nhân vật Văn Minh, một điển hình của người lính được trí thức hóa, hăm hở mang khát vọng xây dựng lại đất nước, bằng việc cùng đội ngũ công nhân viên toàn ngành Bưu điện mở ra những kênh thông tin liên lạc quốc tế, tạo điều kiện phục vụ thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới tiếp theo.
     Thị trường lúc này, kể cả kinh tế nhà nước và tư nhân đã xuất hiện không ít những con người g
iàu nhanh mà cũng phá sản nhanh. Những doanh nhân, không ít người hùa theo thói “ chụp giật”. Nhân vật “thằng Bẻm” như “ Xuân Tóc Đỏ” thời nay, là điển hình. Qua nhân vật này có thể bạn đọc sẽ nhận ra không ít những “ ông chủ doanh nhiệp ” nhà nước và tư nhân, một số quan chức, na ná, đang có ở ngoài đời, lợi dụng kẽ hở của luật pháp và cái yếu của bộ máy công quyền đã tạo ra lợi ích nhóm tham nhũng và sống tha hóa. Hội đồng Thẩm định phim truyện truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam đã nhận xét: “Truyện Thằng Bẻm, tác giả Hạ Bá Đoàn đã khái quát rất được, trên nền một xã hội. Con người như Bẻm, phản ánh bản chất của dung mạo xã hội, lí giải nguyên nhân tình trạng đạo đức văn hóa xuống cấp đang diễn ra từng ngày, có thể hứa hẹn một truyện phim khốc liệt, hấp dẫn và gây nhiều đau đớn”. 


  Trong lĩnh vực chủ quyền quốc gia, qua các nhân vật Bộ đội biên phòng, thấy được rõ bối cảnh “người hàng xốm” phương Bắc, thường nói những lời đạo lý cao xa và viển vông, nhưng lại làm những việc lấn đất nhỏ nhen; Khi có cơ hội là “giở chứng thụi ta”. Từ đó muốn nhắc nhở ta cảnh giác với chủ nghĩa bành trướng của Đại Hán, sớm đoàn kết lại, bằng mọi biện pháp hòa bình đấu tranh ngăn chặn cho được nguy cơ chiến tranh bành trướng trên biển.


   Điều muốn nói rõ thêm là: Tổng tập này mạnh dạn không tránh né nhiều vấn đề nhạy cảm của quá khứ như vấn đề giai cấp, cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, Nhân văn giai phẩm và đụng đến những "ông quan liêu" cũng như tình trạng có người "sợ vía sợ bóng ông anh" phương Bắc. Riêng vấn đề chọn nhân vật trung tâm là người đàn bà Kinh Bắc, thì đây là lần đầu tiên một bộ tiểu thuyết chọn nhận vật trung tâm là đại địa chủ và còn là người đàn bà kết tụ những vẻ đẹp truyền thống văn hóa Kinh Bắc, điều đó đã thể hiện tư tưởng và nghệ thuật tìm tòi sáng tạo. Bà Mận, có chồng bà đi lính cho Pháp từ đại chiến thứ nhất, con trai bà là Chánh tổng làm Phòng nhì cho Pháp, lo sợ đấu tố trong cải cách ruộng đất bà đã vội vã mang hai cháu di cư vào Nam, trong đó có Cò Đỏ sau này  là Tướng quân đội Sài Gòn chống Cộng điên cuồng, khi thất trận chạy sang Mỹ, cũng tìm đường trở về thăm bà và cố hương. Ở miền Bắc cũng còn lại hai cháu, trong đó có Cò Trắng bị thất lạc từ khi hai tuổi, được thầy lang người Tầy đưa về nuôi khai nhận là con đẻ, ba chục năm sau đứa bé ấy trở thành ông Chủ tịch một tỉnh miền núi. Qua nhân vật trung tâm này giúp cho ta thấy bối cảnh và các mối quan hệ nhiều phía được mở ra rất hợp lí.


 GS Đinh Xuân Dũng đã nhận xét: Càng viết càng hay, dung lượng và chất lượng tư tưởng cũng như nghệ thuật có một bước tiến rõ, một số trường đoạn viết như một nhà văn chuyên nghiệp; Các nhân vật có từ những tập trước được phát triển hoàn thiện hơn, tính cách và chiều sâu tâm lí rõ nét hơn. Nghệ thuật mô tả về con người và sự kiện trong tiểu thuyết này đã có sự “tìm tòi, sáng tạo mới’’, gây “bất ngờ” là “rất đáng quý và là cái mạnh của tác phẩm này, khiến dễ đọc và dễ đi vào lòng người.



*


     Sau khi viết xong và xuất bản bộ tiểu thuyết này, được nghỉ ngơi thì tôi lại thấy bệnh nặng thêm, một căn bệnh buồn cười: Lúc nào cũng buồn ngủ, tỉnh dậy thì ngồi đực ra, nét mặt đần đần và trí nhớ cũng suy giảm. Bà nhà tôi và các con kêu trời, buộc tôi phải ngừng viết. Nhưng lạ là ngừng viết thì tôi thấy mình chống chếnh, bệnh lại tăng lên. 
     Uống thuốc Đông y, kết hợp Tây y, không dùng bia rượu, hàng ngày đi bộ, tập yoga và đọc sách, hứng thú với những nguồn vui trong cuộc sống thì thấy giảm bệnh. Tôi lại muốn viết tiếp. Con gái tôi mua tặng bố chiếc Laptop để đỡ phải viết bằng tay như trước và khuyên viết ít thôi..


     Được con cháu hướng dẫn, chẳng bao lâu, tôi sử dụng máy khá thạo, bắt đầu chơi Facebook. Từ ngày sử dụng Fb, tôi như được tiếp xúc với kho tàng thông tin vô tận của thế giới. Lại được mau chóng làm quen và giao lưu với đông đảo bạn bè, nhiều người đáng mến, mà trước đó mình đâu có biết họ là ai. Tuy nhiên, cũng có những thông tin ảo mà mình phải cảnh giác, không sử dụng. 


    Tôi nhận ra FB là một công trình khoa học thông tin, được phát minh trên cơ sở internet. Nhờ nó, mọi người có thể đưa lên mạng những thông tin mà mình biết để cùng giao lưu với nhau. Cùng một lúc, hàng tỉ người trên trái dất này có thể đóng góp hoặc khai thác thông tin, để hiểu những gì đã xẩy ra đối với con người trên trái đất này và một phần khoảng không vũ tru.


     Dần dần tôi bớt bệnh và trí nhớ phục hồi. Trên máy tính tôi lại có điều kiện tiếp tục khơi dòng tư duy nghệ thuật, viết văn trên FB. Cận tuổi bát thập,tôi đã viết tiếp một số truyện ngắn và tản văn, in trong cuốn sách có tên “Nhìn Mới”(NXB Hội nhà văn). Tiếp sau, viết nhiều bài tản văn và bổ sung thêm vở kịch nói viết về đề tài giáo dục.


     Tác phẩm “Nhìn Mới” nói lên những cảm xúc văn học về con người và các sự kiện đã và đang sảy ra quanh ta trên đất nước của mình. Tất cả


  những gì viết về thời đổi mới nói lên sự “oằn oại quặn đau trước khi sinh ra hình hài mới”.


      Cùng với những truyện ngắn, nhiều bài tản văn, đáng chú ý là vở kịch nói “Nỗi đau không chỉ một nhà” đã nói lên bệnh thành tích đã trỏ thành sự giả dối trong môi trường giáo dục – Đây là điều đáng lo sợ nhất, vì nó sẽ là “cái gốc”đang mục ruỗng làm chức phận tái  tạo ra lớp người tương lai (!) Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều P Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và Á-  Phi- Mỹ La Tinh nhận xét:“ Nhìn Mới với một trái tim đau đớn và xót thương, là sự nổi giận lương tâm của một người cầm bút mô tả về những vẻ đẹp của con người và cuộc sống, mà mình rất đỗi yêu thương đang bị chà đạp, đang bị lãng quên và dần dần mất đi và thay vào đó là những điều vô cảm, ích kỉ, tham lam và xấu xa trong một đời sống hiện đại. Chứa đựng một cảnh báo về đời sống chúng ta !”


 


      Tôi rất xúc động và thổn thức dõi theo những “đứa con tinh thần”.


     Tôi sống được với bạn đọc bao lâu nữa, không thể nói trước. Ở tuổi “gần đất xa trời”, tôi tập hợp tất cả những sáng tác của mình đã hoặc chưa xuất bản để in thành Tổng tập.


     Tổng tập không đơn thuần chỉ là tái bản, vì trước khi in, tôi đã dành nhiều thời gian nghiêm túc soát xét, đặt trách nhiệm cho mình đọc kĩ, “mài giũa”, cũng như chỉnh sửa và bổ sung, khắc phục những khiếm khuyết tự thấy hoặc đã được bạn đọc và bạn văn gợi ý. Đây là dịp tác giả hoàn thiện, nâng cấp “làm đẹp” thêm tác phẩm của mình.


    Tôi xin trao tất cả những gì là yêu thương kết tinh và gửi gắm nơi những “đứa con tinh thần” ấy đến bạn đọc và những người thân yêu của mình !


     Dưới đây, trước tiên, tôi xin giới thiệu bộ tiểu thuyết cùng tên “Đi tìm hiện thực của những ước mơ”. Kính mời mọi người cùng đọc.


 


Tháng 5 năm 2019


HBĐ


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Các mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại - Nguyễn Đức Mậu (Mậu Tuất) 03.12.2019
Bùi Quang Huy và nghĩa cử của kẻ hậu sinh - Thu Trân 03.12.2019
Vì sao tôi viết tiểu thuyết VN. Mafia – Sóng lừng? - Triệu Xuân 01.12.2019
Thư về Thơ - Đỗ Quyên 29.11.2019
Alexandre de Rhodes có nói như thế không? - Trần Thanh Ái 27.11.2019
Giữ gìn trong sáng tiếng Việt! - Tư liệu 27.11.2019
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
xem thêm »