tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29913593
Tiểu thuyết
06.07.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Sự khởi đầu của Hitler- Iincipit Hitler


Một quy luật không thể tránh của lịch sử là nó cấm những người đồng thời của các sự vận động lớn quy định thời đại nhận ra chúng ngay từ những bước khởi đầu. Vì vậy tôi không thể nhớ lúc tôi nghe thấy lần đầu tiên cái tên Adolphe Hitler, một cái tên mà chúng tôi tự thấy bắt buộc phải nghĩ đến hoặc đọc đến từng ngày, hầu như ở mỗi phút trong mỗi bối cảnh, cái tên của con người đã đem lại nhiều tai họa cho thế giới chúng ta hơn bất cứ một cái tên nào khác qua các thời đại. Chắc phải là khá sớm vì Salzburg của chúng tôi, cách hai giờ rưỡi đường tàu hỏa, là một thứ thành phố láng giềng của Munich, tới mức những sự kiện hoàn toàn địa phương cũng được chúng tôi biết khá nhanh. Tôi chỉ nhớ rằng một hôm - tôi không còn có thể xác định ngày tháng - một trong những người quen của tôi đã vượt biên giới và phàn nàn rằng Munich lại một lần nữa lâm vào cảnh lộn xộn. Đặc biệt, ở đó có một kẻ gây rối tàn bạo mang tên Hitler đã tổ chức những nghị hội với những cuộc ẩu đả dã man và tiến hành một chiến dịch kích động dung tục chống lại nước cộng hòa và người Do Thái.


Cái tên đó rơi xuống trong tôi trống rỗng và không có trọng lượng. Vì đã có biết bao nhiêu cái tên những kẻ gây rối và xúi giục làm loạn, ngày nay đã bị lãng quên từ lâu, lúc đó nổi lên trong nước Đức suy tàn để rồi mất hút ngay. Tên đại úy Ehrhardt với những đoàn quân Bantich của ông, tên của thiếu tướng Kapp, tên của những kẻ sát nhân ở Sainte Vehme, của những người cộng sản xứ Bavière, của những người ly khai xứ Rhênani, của những người cầm đầu các đội đặc công. Hàng trăm những bong bóng nhỏ ấy bay lơ lửng trong sự liên men chung và khi bị vỡ không để lại gì sau chúng ngoài một mùi thối hoắc tỏ rõ rằng sự mưng mủ đang tiếp tục trong vết thương còn chưa kín miệng của nước Đức. Tờ báo nhỏ của phong trào quốc gia xã hội một hôm rơi vào tay tôi, lúc đó nó còn là tờ Miesbacher Azneiger( ) (sau này sẽ trở thành tờ Völkischer Beobacter( ). Nhưng Miesbacher chỉ là một làng nhỏ và tờ báo biên tập khá tồi. Ai lo âu đến nó. Nhưng kia là, trong các địa phương biên giới Reisenbach và Berchtesgaden mà tôi thường đến đó hầu như hàng tuần, nói lên những toán quân ngày càng đông những người trai trẻ mang bốt lật mép và mặc áo sơ mi nâu, mỗi người mang ở cánh tay một băng in dấu chữ thập ngoặc màu sắc hết sức sặc sỡ. Họ tổ chức những nghị hội và những cuộc diễu hành xênh xang trên các đường phố vừa đi vừa hát, vừa hô có nhịp những hợp xướng nói, phủ lên tường những biểu ngữ lớn và vẽ nguệch ngoạc lên đó những chữ thập ngoặc. Lần đầu tiên tôi nghi ngờ là đằng sau những toán quân đột ngột xuất hiện đó có những thế lực tài chính và những lực lượng có ảnh hưởng khác. Không thể chỉ có một mình Hitler, người chỉ đọc những diễn văn trong những nhà máy bia dưới đất của xứ Bavière, lại có thể trang bị cho những người trai trẻ ấy một bộ trang phục đắt tiền đến thế. Đây phải là những bàn tay lực lưỡng hơn nấp đằng sau phong trào này chăng? Vì các bộ đồng phục là bóng lộn, những “đội xung kích” được gửi đến từ thành phố này sang thành phố khác có sẵn một nơi đỗ kỳ lạ cho những ô tô, mô tô, xe tải hoàn hảo trong một thời kỳ nghèo khổ chung và trong khi những lính kỳ cựu của quân đội còn bận những bộ quân phục rách. Mặt khác rõ ràng là những thủ lĩnh quân sự lôi kéo một cách khéo léo những người trai trẻ này, - hoặc như người ta nói lúc bấy giờ, đào tạo họ theo một kỷ luật “bán quân sự” - và chính là bản thân Quân đội Đức, mà Hitler ngay từ nguyên tắc đã bí mật câu kết phục vụ với tư cách một nhân viên khích động, tiến hành ở đây việc huấn luyện kỹ thuật chính quy cho một nhân lực tự nguyện sẵn sàng thuộc quyền sử dụng của nó. Tôi có ngay một dịp chứng kiến một trong những “hành động chiến đấu” được tập luyện trước này. Trong một địa phương ở biên giới nơi đang có một nghị hội rất yên bình của những người xã hội - dân chủ, bốn xe tải lớn ập đến như một cơn lốc, mỗi xe chở đầy những người quốc gia - xã hội trẻ tuổi mang dùi cui cao su và như cảnh tôi đã thấy trước đây trên quảng trường Saint - Marc ở Venise, họ gây bất ngờ bằng tốc độ cho những người không hề được chuẩn bị đối phó với những hành động tương tự. Đó là cùng một phương pháp của bọn phát xít, nhưng được thi hành với một sự chính xác quân sự hơn và được chuẩn bị một cách có hệ thống, theo kiểu Đức, đến tận từng chi tiết nhỏ. Qua một tiếng còi bọn S.A quốc gia - xã hội nhảy khỏi xe nhanh như chớp, dùng dùi cui đánh vào tất cả những người có mặt trên đường và trước khi cảnh sát kịp đến và những công nhân kịp tập hợp nhau lại, họ đã lại nhảy lên ô tô và vụt đi như lúc họ đến. Điều làm tôi chưng hửng là kỹ thuật chính xác mà họ sử dụng để lên xuống xe, mỗi lần theo một tiếng còi chói tai của toán trưởng. Người ta thấy rõ rằng mỗi chàng trai biết trước, với các cơ bắp và các dây thần kinh của mình, phải nhờ vào chỗ bíu nào, tới bánh ô tô nào với vị trí nào hắn phải nhảy xuống để khỏi vướng người bên cạnh và làm hỏng sự thành công của hành động chung. Đó hoàn toàn không phải là sự khéo tay cá nhân, mà mỗi một trong những trò khéo tay đó phải được luyện tập trước hàng chục lần, thậm chí hàng trăm lần trong các trại lính và trên các bãi tập. Ngay từ nguyên tắc, - điều đó có thể thấy lúc thoạt nhìn - toán quân đó phải được huấn luyện cho tấn công, bạo lực và khủng bố.


Chẳng bao lâu sau, người ta còn biết nhiều hơn ở xứ Bavière về những cuộc diễn tập dưới mặt đất ấy. Khi mọi người đã yên giấc, những người trai trẻ này lẻn ra khỏi nhà và tập hợp nhau lại chỗ những cuộc “luyện tập đêm trên địa bàn”, được nhà nước hoặc những người xuất vốn bí ẩn của đảng trả tiền luyện tập những toán quân này. Mà các quan chức không chú ý nhiều đến những thao diễn về đêm này; họ ngủ thực sự hay chỉ nhắm một mắt? Họ xét thấy phong trào đó không quan trọng hay họ bí mật khuyến khích mở rộng nó? Dẫu sao, ngay những kẻ nấp trong bóng tối ủng hộ nó cũng hoảng sợ về sự tàn bạo và sự mau lẹ mà bỗng chốc nó nhảy vào chân họ. Một buổi sáng, các quan chức thức dậy và thấy Munich đã nằm trong tay Hitler, các công sở đều bị chiếm, các tờ báo bị cưỡng bách bằng súng ngắn báo tin một cách hân hoan rằng cuộc cách mạng đã thắng lợi. Như từ trên mây rơi xuống, xuất hiện một vị “thần cứu mệnh”, mà nước cộng hòa quay nhìn không nghi ngại bằng những cái nhìn mơ mộng, tướng Ludendorf, người đầu tiên trong số những người tin tưởng là họ có thể lợi dụng Hitler nhưng lại bị Hitler lừa dối. Buổi sớm bắt đầu âm mưu cách mạng nổi tiếng có bổn phận chiếm lĩnh nước Đức; buổi trưa (tôi không tiến hành ở đây một giáo trình lịch sử nhân loại), như người ta đã biết, nó kết thúc. Hitler bỏ trốn nhưng bị bắt ngay. Như vậy phong trào hình như đã bị bóp nghẹt. Trong năm 1923 đó, các chữ thập ngoặc biến mất cũng như những toán quân xung kích, và cái tên Hitler hầu như đã rơi vào quên lãng. Không ai nghĩ hắn ta là một sức mạnh đáng gờm.


Chỉ vài năm sau hắn ta mới lại hiện lên trên bề mặt, và lúc đó làn sóng bất bình đang dâng lên bỗng chốc đưa hắn lên rất cao. Lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng chính trị và một phần lớn, sự điên rồ của các chính phủ nước ngoài, đã làm dân tộc Đức nổi dậy. Một ý muốn trật tự không nén được biểu hiện trong tất cả các giai cấp của dân tộc này, mà trật tự luôn có giá trị hơn là tự do và các quyền. Và ai hứa hẹn trật tự - ngay Goethe cũng nói rằng sự mất trật tự đối với ông hình như đáng buồn hơn là một sự bất công - người đó có ngay về nguyên tắc hằng trăm nghìn người đứng sau lưng mình.


Nhưng chúng ta vẫn không ý thức được nỗi nguy hiểm. Số ít nhà văn bỏ hơi sức đọc quyển sách của Hitler, thay vì quan tâm thực sự nghiêm túc đến chương trình hành động của hắn ta, lại chế giễu sự kênh kiệu của thứ văn xuôi tồi của hắn. Các tờ báo dân chủ lớn thay vì tung ra những lời cảnh báo, hằng ngày làm yên lòng độc giả: phong trào này phải khó khăn lắm mới thanh toán được sự chi tiêu cho hoạt động khuấy động lớn lao của nó; bằng quỹ của công nghiệp nặng và nợ nần ngập tới cổ, nó không tránh khỏi bị tan rã ngày mai hay ngày kia thôi. Nhưng có lẽ ở nước ngoài người ta không bao giờ hiểu được đầy đủ lý do khiến nước Đức trong những năm đó đã đánh giá thấp và coi là chuyện tầm phào cá tính và sức mạnh của Hitler: Nước Đức không chỉ là và mãi mãi là một quốc gia gồm nhiều giai cấp tách biệt, mà hơn nữa, với lý tưởng đó về giai cấp, cái đè nặng lên nó là một sự đánh giá cao không lay chuyển và một sự thần thánh hóa nền “văn hóa”. Trừ một vài viên tướng, tất cả các chức vị cao của nhà nước vẫn chỉ thuần túy dành cho những người có học vấn đại học; trong khi một Lloyd George ở Anh, một Garibaldi và một Mussolini ở Italia, một Briand ở Pháp đều thực sự xuất thân từ dân chúng và vươn lên những chức vị nhà nước cao nhất, ở Đức người ta không thể quan niệm rằng một người chưa học hết bậc tiểu học, và tất nhiên chưa học đại học, một người đã ngủ trong những trạm ngủ qua đêm của người nghèo và trong nhiều năm kiếm sống bằng những cách còn bí ẩn, có thể bao giờ đến gần một địa vị mà những nam tước Von Stein, những Bismark, những hoàng tử Bulow đã nắm giữ. Chỉ có niềm kiêu hãnh với nền văn hóa của mình mới làm mù quáng những trí thức Đức đến mức đẩy họ đến chỗ chỉ thấy ở Hitler một người khuấy động ở các nhà máy bia, không bao giờ có thể trở thành đặc biệt nguy hiểm, trong khi đã từ lâu, nhờ những người giật dây vô hình, hẳn đã tạo nên những người tòng phạm nguy hiểm trong những giới rất khác nhau. Và cả trong cái ngày tháng Giêng năm 1933 ấy, khi hắn trở thành Thủ tướng nước Đức, quần chúng đông đảo và cả những người đã đẩy hắn lên chức vị ấy cũng chỉ xem hắn như một người thay thế tạm thời và chính phủ quốc gia - xã hội chỉ là một giai đoạn nhất thời.


Trong thời gian đó lần đầu tiên kỹ thuật thiên tài và vô liêm sỉ của Hitler trong quản lý nhà nước được biểu hiện trong một quy mô rất lớn. Từ nhiều năm, hắn đã hứa hẹn ở mọi phía và nắm được trong tất cả các đảng những người ứng đáp có ảnh hưởng tin rằng họ có thể sử dụng cho những mục đích riêng của mình những sức mạnh thần bí của “người lính vô danh”. Nhưng cùng một kỹ thuật ấy, mà sau này Hitler sử dụng trong nền đại chính trị và nó bao hàm việc liên minh bằng lời thề và bằng cách khêu gợi tính trung thực Đức với những ai mà hắn có ý định sát hại và tiêu diệt, lúc bấy giờ biểu dương chiến thắng đầu tiên của mình, hắn biết lợi dụng những lời hứa với mọi người tốt tới mức ngày hắn chiếm được quyền lực, sự hân hoan bao trùm những phe đối lập với nhau nhất. Những người quân chủ của Doom có ảo tưởng là người đầy tớ trung thành ấy đang dọn đường cho hoàng đế; nhưng những người quân chủ ở Bavière, những người thuộc phe những Wittelbach ở Munich không kém phần biểu lộ nỗi hân hoan, họ cũng coi hắn như người “của họ”. Những người quốc gia Đức tưởng rằng phe cánh Hitler sắp bổ củi dùng để đun nóng lò của mình; thủ lĩnh Hugenberg của họ tin chắc chiếm được do thỏa thuận địa vị quan trọng nhất trong nội các Hitler và như vậy tưởng rằng mình đã đặt được chân vào bàn đạp - tất nhiên, mặc cho sự thỏa thuận đã được thề thốt, người ta đuổi cổ ông ngay trong những tuần đầu tiên. Công nghiệp nặng cảm thấy nhờ Hitler mà thoát khỏi nỗi lo sợ đối với những người Bolsêvich, nó thấy rằng kẻ nắm quyền lực là người nó đã bí mật tài trợ từ nhiều năm nay, và cùng lúc đó tầng lớp tiểu tư sản mà hắn đã hứa trong hàng trăm nghị hội sẽ đập tan xiềng xích của “thuế bầu cử” đang nô dịch họ, cũng thở một cách đầy hứng khởi. Những người buôn bán nhỏ nhớ rằng hắn đã hứa đóng cửa các tiệm buôn lớn là những người cạnh tranh nguy hiểm nhất của họ (lời hứa không bao giờ được thực hiện); nhưng Hitler chủ yếu được giới quân sự hoan nghênh bởi vì hắn suy nghĩ như một nhà quân sự và chửi bọn hòa bình chủ nghĩa. Ngay những người Xã hội - dân chủ cũng không nhìn thấy sự lên nắm quyền của hắn với con mắt quá ác cảm vì họ hy vọng hắn sẽ giải thoát họ khỏi những kẻ thù không đội trời chung là những người cộng sản đang chen chúc nhau đằng sau họ một cách hết sức không hợp thời. Những đảng phái khác nhau nhất, đối lập nhau nhất coi “người lính vô danh” đó là bạn của họ; đã đưa ra mọi lời hứa, mọi lời thề với mỗi giai cấp, mỗi đảng phái, mỗi khuynh hướng - ngay những người Do Thái cũng không quá lo ngại. Họ ảo tưởng rằng một bộ trưởng Giacôbanh (un ministre jacobin( )) không phải là một người Giacôbanh, một thủ tướng của đế chế Đức sẽ lột bỏ những cái dung tục của tên khích động bài Do Thái. Và dẫu sao, bạo lực nào hắn ta có thể thi hành trong một quốc gia mà cái quyền đã được ăn sâu, mà đa số trong Quốc hội chống lại hắn ta và mỗi công dân của quốc gia tin rằng sự tự do và nền bình đẳng về các quyền được hiến pháp bảo đảm?


Rồi việc cháy Nhà Quốc hội Đức xảy ra, Quốc hội biến mất, Goering thả những toán quân đã thoát khỏi xiềng xích của mình, các quyền bị loại bỏ một lượt trên nước Đức. Người ta run sợ được tin rằng ngay trong hòa bình có những trại tập trung và trong các trại lính, người ta đã sắp xếp những phòng bí mật ở đó những người vô tội bị hành hình không xét xử, không thủ tục. Tất cả những cái đó chỉ có thể là sự bùng nổ của một cơn giận dữ điên rồ, người ta tự nhủ như vậy. Những cái đó không thể kéo dài trong thế kỷ XX. Nhưng đây chỉ mới là sự khởi đầu. Thế giới lắng tai nghe, lúc đầu còn chưa chịu tin cái không thể tin được. Nhưng ngay những ngày ấy tôi đã thấy những người chạy trốn. Ban đêm họ đã leo lên các núi của Salzburg hoặc bơi qua con sông vạch biên giới. Đói khát, áo quần rách rưới, vẻ mặt hoảng hốt, họ nhìn bạn đăm đăm. Với họ đã bắt đầu cuộc chạy trốn kinh hoàng trước sự vô nhân đạo sau này sẽ lan tràn khắp bề mặt trái đất. Nhưng khi nhìn thấy những người bị đày biệt xứ ấy tôi còn chưa ngờ rằng vẻ mặt tái nhợt của họ đã báo trước cho tôi số phận của riêng tôi và tất cả chúng tôi sẽ là nạn nhân của sự cuồng nhiệt thống trị của riêng một con người.


*


Thật khó trong vài tuần tự tước bỏ ba chục hoặc bốn chục năm niềm tin ở thế giới này. Vững chắc trong những quan niệm của chúng ta về các quyền, chúng ta tin ở sự tồn tại một ý thức Đức, châu Âu, thế giới và vững tin rằng có một mức độ vô nhân đạo nào đó sẽ tự loại bỏ vĩnh viễn khỏi nhân loại. Vì tôi cố gắn giữ ở đây sự chân thành nhiều nhất có thể được, tôi phải thú nhận rằng tất cả chúng tôi ở Đức và ở Áo, chúng tôi không bao giờ phán đoán, năm 1933 và 1934, có khả năng xảy ra một phần trăm, một phần nghìn những gì sắp phải nổ ra một vài tuần sau. Hẳn là rõ ràng ngay từ nguyên tắc rằng chúng tôi, những nhà văn độc lập, chúng tôi phải đón đợi một vài khó khăn, một vài điều phiền hà, một vài sự hiềm khích. Ngay sau vụ cháy Nhà Quốc hội Đức tôi nói với người xuất bản sách của tôi rằng chẳng mấy chốc nữa sẽ rồi đời các sách của tôi ở Đức. Tôi không bao giờ quên sự chưng hửng của anh ta. Anh nói với tôi lúc đó, năm 1933, với cả sự kinh ngạc: “Ai có thể cấm được sách của ông, ông không bao giờ viết một chữ chống nước Đức và ông không bao giờ dính đến chính trị”. Người ta thấy rõ: tất cả những điều kinh khủng như những quyển sách bị đốt, những cuộc lễ ở cột bêu tội nhân mấy tháng sau sẽ trở thành sự thật. Thì lúc Hitler lên nắm quyền được một tháng vẫn còn chưa thể hình dung nổi đối với ngay cả những người biết phòng xa. Bởi vì chủ nghĩa quốc xã với kỹ thuật của sự bịp bợm không chút ngại ngùng cố giữ cho khỏi bộc lộ tất cả tính chất triệt để của những mưu đồ trước khi làm cho quần chúng cứng rắn hơn. Chúng áp dụng một cách khôn khéo các phương pháp của chúng, người ta tiến hành theo liều lượng liên tiếp tăng dần và sau mỗi liều, người ta thu xếp một sự nghỉ ngơi nhỏ. Người ta luôn mỗi lần cho uống một viên, và sau đó là một lúc chờ đợi để xem nó có quá mạnh không. Và vì ý thức châu Âu - thật khốn nạn và xấu hổ cho nền văn minh của chúng ta! - vội vã chứng tỏ sự không quan tâm của nó, bởi vì cũng đúng là những hành vi bạo lực đó diễn ra ở “bên kia biên giới”, liều lượng luôn luôn trở nên mạnh hơn, để cho đến lúc cả châu Âu bị suy vong. Hitler đã không chế tạo ra cái gì thiên tài hơn là chiến thuật bao hàm việc chậm rãi thăm dò dư luận thế giới và dần dà làm trầm trọng thêm những thủ đoạn chống lại một châu Âu không ngừng yếu đi cả về tinh thần lẫn quân sự. Và hành động cũng đã được quyết định từ lâu trong thâm tâm, nhằm bóp nghẹt ở Đức mọi lời nói tự do và làm biến đi mọi tác phẩm độc lập, chỉ phát huy tác dụng sau khi áp dụng phương pháp mò mẫm này. Người ta không ban bố tức khắc một sắc luật cấm triệt để tất cả các sách của chúng tôi - nó chỉ đến hai năm sau - trước hết người ta chỉ tổ chức một cuộc thử nghiệm để làm sáng tỏ xem người ta có thể đi đến đâu, tôi muốn nói là người ta giao nhiệm vụ của lần tấn công đầu tiên các sách của chúng tôi cho một nhóm không chịu trách nhiệm chính thức, nhóm những sinh viên quốc gia - xã hội. Cũng theo cùng một phương pháp đã được sử dụng để dàn cảnh “sự căm giận của dân chúng” nhằm thông qua sự tẩy chay những người Do Thái, đã được quyết định từ lâu, người ta bí mật cung cấp cho sinh viên khẩu hiệu lớn tiếng biểu lộ sự “phẫn nộ” của họ đối với các sách của chúng tôi. Và sinh viên Đức, sung sướng trước mọi cơ hội hiện ra để chứng tỏ các ý kiến phản động của mình, ngoan ngoãn tập hợp lại thành băng ở mỗi trường đại học, đi đến tìm trong các hiệu sách những bản các sách của chúng tôi và, có trong tay của cướp được đó, họ trống dong cờ mở kéo đến một quảng trường. Ở đấy các sách đó hoặc bị đóng đinh bêu ở cột bêu tội nhân theo tập quán cũ của nước Đức - thời trung cổ bỗng chốc trở nên hợp thời - (bản thân tôi cũng có một trong những tác phẩm của tôi bị xuyên một cái đinh mà một sinh viên của một trong những bạn tôi đã cứu được và đã tặng tôi) hoặc vì bị cấm một cách rất lấy làm đáng tiếc việc thiêu người, họ thiêu thành tro các sách trên những giàn thiêu lớn, vừa thiêu vừa đọc những châm ngôn yêu nước. Sau nhiều do dự, bộ trưởng Bộ tuyên truyền Goebbels quả đã quyết định đưa ra một hình phạt cho việc đốt sách, nhưng đó chỉ là biện pháp bán chính thống và không gì chứng tỏ rõ ràng hơn rằng nước Đức chưa đồng nhất với những hành vi như thế bằng sự thật là công chúng chưa hề rút ra những hậu quả nhỏ nhất về những giàn thiêu do sinh viên đốt lên và về những tố cáo cho mọi người phỉ nhổ đó. Mặc dầu người ta đã báo cho biết không được trưng ở mặt tiền của hiệu sách một tác phẩm nào của chúng tôi và các báo không được nói đến các tác phẩm đó, công chúng chân chính không hề để cho bị ảnh hưởng khi người ta chưa phải chịu nguy cơ bị tù khổ sai và bị giam ở trại tập trung, các sách của tôi từ 1933 đến 1934 vẫn được bán với số lượng lớn như trước kia, mặc cho mọi khó khăn và mọi kiếm chuyện. Phải đợi tới lúc mệnh lệnh lớn lao “Nhằm bảo vệ dân tộc Đức” đạt được sức mạnh của đạo luật tuyên bố phạm tội chống lại nền an ninh quốc gia, việc in, bán và phổ biến các sách của chúng tôi mới làm chúng tôi mất đi một cách tàn nhẫn hàng trăm nghìn, hàng triệu người Đức mà cho đến ngày nay vẫn thích đọc chúng tôi hơn là những nhà thơ căng phồng những máu và mùi vị tỉnh lẻ, và vẫn muốn trung thành đi theo chúng tôi trong tiến trình hoạt động của chúng tôi.


Tôi cảm nhận như là một vinh dự hơn là một sỉ nhục được chia sẻ số phận những người đã nhìn thấy sự hủy hoại ở Đức toàn bộ đời sống văn học của họ, những Thomas Mann, Henrich Mann, Werfel, Freud, Einstein, nhiều người khác mà tôi cho rằng tác phẩm của họ quan trọng hơn gấp bội so với tác phẩm của tôi và vì mọi thái độ tử vì đạo làm tôi ghê tởm tới mức bất đắc dĩ tôi mới nêu sự tham gia của tôi vào số phận chung. Nhưng, kỳ lạ thay, chính là tôi, đúng là tôi được dành việc đặt những người quốc gia - xã hội và cả bản thân Adolphe Hitler vào một tình huống đặc biệt khó xử. Đúng là vì nhân cách văn chương của tôi, trong số những nhân cách của tất cả các người bị lưu đày, chắc đã gây nên sự kích động sâu sắc nhất và đã làm đề tài cho nhiều sự tranh cãi không kết thúc ở các giới cao nhất của thành phố Berchtesgaden( ), đến nỗi vào những hoàn cảnh hoan hỉ nhất của cuộc đời tôi, tôi có thể đưa thêm sự hài lòng nhỏ nhoi đã tạo ra sự bực mình cho con người tạm thời có sức mạnh nhất trong thời hiện đại - Adolphe Hitler.


 


Ngay từ những ngày đầu của chế độ mới, tôi đã gây ra một cách hoàn toàn vô tội một thứ phản loạn. Lúc đó người ta đang cho chiếu khắp nước Đức một bộ phim thực hiện theo truyện vừa Điều bí mật cháy bỏng và mang cùng tên. Không ai có gì để chỉ trích. Nhưng ngay sau hôm vụ cháy Nhà Quốc hội Đức, mà những người quốc gia - xã hội không sao đặt được lên lưng những người cộng sản, đã xảy ra điều này: nhiều người tụ tập lại trước những chữ sáng của các rạp chiếu bóng và trước những tờ quảng cáo cho Điều bí mật cháy bỏng, và họ thúc nhau bằng cùi chỏ, vừa nháy mắt vừa mỉm cười. Các nhân viên Gestapo hiểu ngay tại sao cái đầu đề phim lại gây cười. Và buổi tối hôm đó, những người cảnh sát cưỡi mô tô chạy khắp các đường phố, các cuộc biểu diễn bị cấm và ngay hôm sau, cái đầu đề của truyện vừa: Điều bí mật cháy bỏng biến mất không để lại dấu vết trên những lời rao ở báo chí và ở tất cả các cột quảng cáo. Nhưng bao giờ cũng là khá đơn giản việc cấm một từ riêng rẽ làm họ lúng túng và ngay cả đốt và hủy tất cả các sách của chúng tôi. Ngược lại trong một trường hợp đặc biệt, họ không thể xúc phạm tôi mà không làm hại đến người mà họ cần đến nhiều nhất vào thời điểm gay cấn để gìn giữ uy tín của họ trước thế giới, người lớn lao nhất, nổi tiếng nhất trong những nhạc sĩ đang sống của quốc gia Đức, Richard Strauss, mà với người đó tôi vừa vặn là mới hoàn thành một nhạc kịch.


Đây là lần đầu tiên tôi cộng tác với Richard Strauss. Cho đến lúc đó, từ Electra đến Chàng kỵ sĩ hoa hồng, Hugo Von Hofmannsthal luôn soạn các kịch bản cho ông và tôi chưa bao giờ gặp cá nhân Richard Strauss. Sau khi Hofmannsthal mất, ông nhờ nhà xuất bản nói với tôi rằng ông mong muốn bắt tay vào một tác phẩm mới và hỏi tôi xem có sẵn sàng viết cho ông một kịch bản nhạc kịch không. Tôi rất xúc động trước vinh dự ông dành cho tôi. Từ ngày Max Reger phổ nhạc những bài thơ đầu của tôi, tôi luôn sống trong lòng âm nhạc với những nhạc sĩ. Buoni, Toscanini, Bruno Walter, Alban Berg là những bạn thân của tôi. Nhưng tôi không biết một nhà soạn nhạc nào còn sống mà tôi sẵn lòng phục vụ hơn là Richard Strauss, ông, người cuối cùng của cái gia đình lớn các nhạc sĩ nòi chân chính mà Đức đã sản sinh ra, từ Bach đến Hindel, qua Beethoven và Brahms, kéo dài mãi mãi cho đến ngày nay. Tôi vội vàng tuyên bố sẵn sàng cộng tác và trong dịp chúng tôi gặp nhau lần đầu tôi đề nghị với ông làm đề tài cả vở nhạc kịch chủ đề The silent Woman (Người đàn bà im lặng) của Ben Jonson và đối với tôi thật là một sự ngạc nhiên thú vị nhận ra rằng Strauss đồng ý với tất cả các điều tôi đưa ra một cách mau lẹ biết bao và với một sự nhìn nhận trong sáng biết bao! Tôi không bao giờ ngờ rằng ở ông lại có một sự hiểu biết sự vật nhanh như vậy và một am hiểu nghệ thuật sân khấu đáng kinh ngạc đến như vậy. Trong khi người ta trình bày với ông một đề tài, ông đã sắp đặt nó thành kịch và, điều kỳ lạ hơn - ông thích nghi nó vào các giới hạn của những phương tiện riêng của mình và ông phán đoán với một sự sáng suốt hầu như đáng lo ngại. Trong đời tôi đã gặp nhiều nghệ sĩ lớn, nhưng chưa một ai biết bảo vệ tính khách quan của mình chống lại bản thân một cách trừu tượng và thành công đến như vậy. Thế là Strauss chân thành thú nhận với tôi ngay từ buổi đầu rằng ông biết rất rõ là một nhạc sĩ bảy mươi tuổi không còn có cái sức mạnh ban đầu bật ra của cảm hứng thơ ca. Những tác phẩm giao hưởng như Till Eulenspiegel hoặc Cái chết và sự biến thân không còn thành công đối với ông nữa vì đúng là âm nhạc thuần túy đòi hỏi tối đa sự tươi tắn sáng tạo. Nhưng ngôn từ luôn gây cảm hứng cho ông. Ông còn có sức mạnh minh họa bằng kịch một dữ kiện, một chất liệu đã thành hình bởi vì tình huống và ngôn từ làm nảy sinh một cách hồn nhiên ở ông những chủ đề âm nhạc, và vì vậy mấy năm trở lại đây, ông chỉ đơn thuần dành cho nhạc kịch. Vả lại ông biết rõ rằng thời của nhạc kịch với tư cách là một loại hình nghệ thuật không còn nữa. Wagner là một đỉnh không ai vượt qua được. “Nhưng, ông nói thêm với cái cười to đặc trưng của người xứ Bavière, nhưng tôi có thể gỡ được cái khó bằng cách đi đường vòng để tránh ông ấy”.


Khi chúng tôi đã thỏa thuận với nhau trên những đường hướng chính, ông còn cung cấp cho tôi một số hướng dẫn nhỏ. Ông dành cho tôi tất cả sự tự do vì đây không phải một bản văn opéra bị cắt xén trước theo kiểu Vendi mà ông chịu ảnh hưởng, nhưng luôn luôn thuần túy là một sáng tác thi ca. Tuy nhiên ông thích tôi có thể đưa xen vào đó một vài hình thức phức hợp cung cấp cho nghệ thuật dùng màu của ông những lý do phát triển đặc biệt - “Tôi không có, như Mozart, năng khiếu các giai điệu dài. Tôi chỉ có thể sáng tác những chủ đề ngắn. Nhưng điều tôi nắm được chắc, đó là nghệ thuật biến đổi một trong những chủ đề ấy, tán rộng nó ra, rút ra từ nó tất cả những gì nó chứa đựng và tôi tin rằng về việc đó ngày nay không ai bắt chước được tôi cả”. Một lần nữa tôi kinh ngạc trước sự chân thành đó vì quả thật ở Strauss người ta không tìm thấy những giai điệu vượt quá độ rộng của vài nhịp: nhưng một vài nhịp đó về sau sẽ được mở rộng và đặt dưới đạng fuga - chẳng hạn trong Chàng kỵ sĩ hoa hồng - cho đến lúc đạt được một sự đầy đặn trọn vẹn!


Cũng như trong lần gặp đầu tiên, tôi cũng tràn đầy khâm phục trong tất cả các lần gặp tiếp theo khi thấy vị thầy này tự phán xét mình trong tác phẩm với một sự vững vàng và một tính khách quan lớn biết bao. Một hôm, tôi ngồi một mình với ông ở một cuộc tổng duyệt kín vở Hélène cô gái Ai Cập trong phòng các lễ hội của Salzburg. Không một ai ở trong phòng với chúng tôi, tất cả xung quanh chúng tôi đều rất tăm tối. Ông đang lắng nghe. Bỗng chốc tôi nghe ông gõ nhẹ và vội bằng những ngón tay lên lưng của cái ghế. Rồi ông thì thầm với tôi: “Dở hoàn toàn dở - Đó là cái chưa tìm ra!” Và vài phút sau ông nói tiếp: “Giá như tôi có thể xóa đoạn này. Ôi, Trời! Trời! Tuyệt đối rỗng và quá dài!”. Ông phán xét âm nhạc của mình cũng khách quan và vô tư như ông mới nghe lần đầu và như do một nhà soạn nhạc nào hoàn toàn xa lạ với ông viết ra, và cái cảm giác kỳ lạ về chừng mực của bản thảo nào không bao giờ rời bỏ ông. Ông luôn biết một cách chính xác ông là gì và có thể làm gì. Những người khác đáng giá gì so với ông không hề làm ông quan tâm và ông cũng rất ít quan tâm đến việc ông biểu hiện cái gì đối với người khác. Điều làm ông vui mừng là sự lao động trong bản thân nó.


Sự “lao động” đó ở Strauss là một quá trình hoàn toàn đặc biệt, không có gì là ma quái, là cái “bắt cóc” của nhà nghệ sĩ, không có gì là những trầm uất, những thất vọng như người ta biết được qua các tiểu sử của Beethoven, Wagner. Strauss làm việc đầu óc thảnh thơi và minh mẫn, ông soạn nhạc - như Jean Sebastien Bach, như tất cả những người nghệ sĩ cao cả của nghệ thuật - yên tĩnh và đều đặn. Vào lúc chín giờ sáng, ông ngồi vào bàn và tiếp tục công việc đúng vào chỗ ông đã ngừng lại hôm qua, viết bằng bút chì đều đặn phác thảo đầu tiên, bằng bút mự phân cho dương cầm, và như vậy không ngưng nghỉ cho đến lúc mười hai giờ hoặc một giờ. Buổi quá trưa, ông chơi bài cáctê, chép lại hai hoặc ba trang bản thảo dàn bè của giao hưởng, và buổi tối nếu gặp dịp, ông chỉ huy ở nhà hát. Mọi thứ căng thẳng thần kinh đều xa lạ với ông, ngày cũng như đêm trí tuệ nghệ thuật của ông cũng đều trong trẻo và sáng suốt. Khi người đầy tớ gõ ở cửa để mang đến cho ông cái áo dài hẹp tà, ông ngừng công việc đứng lên, để người ta đưa ông đến nhà hát và điều khiển với cùng một sự chắc chắn và một sự bình tĩnh như ông đã tỏ ra khi đánh bài cáctê và cảm hứng của ông lại khởi hành hôm sau ở ngay chỗ mà ông đã ngừng lại hôm trước. Vì Strauss “chỉ huy”, theo từ của Goethe, những cảm hứng của mình, nghệ thuật với ông là đồng nghĩa của hiểu biết và cả hiểu biết toàn diện, như lời hóm hỉnh của ông đã chứng tỏ: “Ai muốn trở thành một nhạc sĩ chân chính cũng phải biết lập một bảng các món ăn”. Các khó khăn không làm ông lo sợ, chỉ là một trò chơi cho sự tự chủ của ông. Tôi nhớ lại với một chút thích thú đôi mắt xanh của ông đã ánh lên như thế nào một hôm ông chỉ một đoạn và nói với tôi một cách hoan hỷ rằng: “Chỗ này tôi để cho người nữ ca sĩ một vấn đề phải giải quyết! Nàng sẽ bứt rứt dữ dội cho đến lúc đạt kết quả”. Trong những giây lát hiếm có mà cặp mắt ông ánh lên, người ta cảm thấy có cái gì thực sự ma quái ẩn giấu trong con người kỳ lạ này, một người lúc đầu làm bạn hơi nghi ngại trước cái đúng giờ giấc, cái đúng phương pháp, cái vững bền, cái chắc chắn của người thợ giỏi, sự thiếu vắng bề ngoài của trạng thái căng thẳng thần kinh trong cách làm việc, cũng như vẻ mặt của ông để lại một ấn tượng tầm thường với đôi má to của trẻ em, với sự tròn trĩnh hơi bình thường của khuôn mặt ông và vẻ khum khum của vòm trán. Nhưng, khi người ta nhìn vào đôi mắt ông, đôi mắt trong, xanh, tỏa sáng mãnh liệt thì ngay lập tức người ta cảm nhận không biết sức mạnh thần kỳ nào sau khuôn mặt tư sản đó. Có lẽ đó là những con mắt lanh lợi nhất mà tôi thấy được ở một nhạc sĩ, không phải là ma quái nhưng có thể nói là những con mắt nhìn thấu suốt quá khứ và tương lai, của một người đã nhận rõ chất công việc của mình đến chỗ sâu kín nhất.


Trở về Salzburg sau một cuộc gặp mặt gây phấn chấn đến như vậy, tôi bắt tay ngay vào công việc. Tò mò muốn biết những dòng thơ đầu tiên của tôi có làm ông vừa lòng không, tôi đã gửi cho ông sau hai tuần màn đầu của tôi. Ngay lập tức ông viết cho tôi một lá thiếp với một câu trích dẫn của Những bậc thầy ca hát: “Khúc ca đầu tiên đã thành công”. Sau màn hai, ông gửi cho tôi làm lời chúc mừng thân tình hơn nữa những nhịp đầu tiên của bài dân ca của ông: “Đã tìm thấy con, hỡi đứa con thân yêu của ta!” và niềm vui, cả sự hứng khởi của ông đã tạo cho phần tiếp theo trong công việc của tôi một sự thích thú không sao tả được. Richard Strauss không đổi một dòng trong toàn bộ kịch bản của tôi; ông chỉ mỗi một lần yêu cầu tôi gài vào một chỗ ba hoặc bốn dòng để cho phép ông đưa vào một giọng thứ hai. Thế là giữa chúng tôi nối lại những quan hệ thân tình nhất đời; ông đến thăm tôi ở ngôi nhà của tôi, còn tôi, tôi đến Garmisch thăm ông, ở đấy với những ngón tay dài và mỏng, ông đánh dương cầm cho tôi nghe toàn bộ vở nhạc kịch theo phác thảo ông đã làm. Và không có thỏa thuận và không có sự bó buộc về phía tôi, đã là một điều thống nhất rằng sau khi hoàn thành vở nhạc kịch đầu tiên này, tôi phải tức khắc vạch dàn ý của một vở thứ hai, mà ông đã chấp thuận trước ý định.


*


Tháng Giêng năm 1933 khi Adolphe Hitler nắm quyền, vở nhạc kịch của chúng tôi, Người đàn bà im lặng, đã hoàn thành bản dàn bè pianô và màn thứ nhất hầu như đã được phối nhạc. Vài tuần sau, được ban hành sắc lệnh cấm sân khấu Đức diễn những tác phẩm của các tác gia không arien và những tác phẩm mà một người Do Thái cộng tác dưới hình thức này hay hình thức khác; việc cấm chỉ lớn này còn đụng đến những người đã mất, và tất cả những người bạn âm nhạc trên thế giới lấy làm buồn phiền là bức tượng tạc đứng cả người của Mendelssohn trước Gewandhau ở Leipzig đã bị lấy đi. Đối với tôi, tiếp sau sắc lệnh đó, số phận của vở nhạc kịch của chúng tôi dường như đã được giải quyết. Tôi cho là hoàn toàn tự nhiên nếu Richard Strauss ngưng công việc lại và bắt đầu một vở khác với một người cộng tác khác. Thay vì điều đó ông viết cho tôi hết lá thư này đến thư khác hỏi tôi xem tôi nhận thấy thế nào. Trái lại ông đã bắt tay phối nhạc, tôi phải soạn bản văn của vở nhạc kịch sắp tới. Ông không nghĩ cho phép ai cấm ông cộng tác với tôi; và tôi phải thành thật thừa nhận rằng suốt cả tiến trình của công việc này, ông vẫn gìn giữ đối với tôi sự trung thành trong một tình bạn cao cả, nhiều nhất có thể được. Quả thật là ông có những sự chuẩn bị mà tôi không thể thông cảm: ông xích lại gần những người cầm quyền, thường gặp gỡ Hitler, Göering và Goebbels, và ở một thời điểm mà ngay cả Furtwangler còn chống đối công khai, ông đã tự để người ta đưa mình lên chức chủ tịch của viện âm nhạc của đế chế.


Sự liên kết công khai này lúc đó cực kỳ quan trọng đối với những người quốc gia - dân chủ. Vì điều rất tai hại đối với họ là không chỉ những nhà văn hay nhất mà cả những nhạc sĩ lớn lao nhất đã rõ rệt quay lưng lại với họ, và số rất ít những người ủng hộ họ hoặc chạy sang phía họ đều là vô danh, ngoài một nhóm rất hạn chế. Trong một thời điểm nặng nề như vậy, nhận định sự liên kết công khai của nhạc sĩ nổi tiếng nhất nước Đức với Goebbels và Hitler là một mối lợi vô giá xét về ý nghĩa thuần túy trang trí. Như Strauss đã kể cho tôi nghe, Hitler trong những năm lang thang ở Vienne đã đi du lịch đến Graz với số tiền vất vả tích lũy được bằng cách này hay cách khác để dự buổi diễn đầu của Salomé; điều đó đã làm vinh dự cho ông một cách có sức thuyết phục; tất cả các buổi dạ hội ở Berchtesgaden, người ta chỉ trình diễn, ngoài Wagner, những dân ca của Strauss. Ở Strauss, việc cộng tác với chế độ mới, trái lại, bộc lộ nhiều dự tính hơn. Với tính ích kỷ nghệ sĩ của ông, mà ông thú nhận mọi lúc một cách công khai và lạnh lùng, mọi loại chế độ đối với ông thực ra là vô nghĩa. Ông đã phục vụ hoàng đế Đức với tư cách là quản ca ở nhà thờ và đã phối nhạc những hành khúc quân đội, đoạn ông quay sang phục vụ hoàng đế Áo với tư cách quản ca trong triều đình, cuối cùng ông cũng đã là persona grata( ) ở các nước cộng hòa Áo và Đức. Hơn nữa, là một quyền lợi sống còn đối với ông nếu ông làm cho những người quốc gia - xã hội đặc biệt có cảm tình với mình vì ông đã phải chịu với họ một món nợ lớn: con trai ông lấy một cô gái Do Thái và ông có thể lo sợ là các cháu của ông mà ông rất yêu quý bị đuổi khỏi các trường như là một thứ đồ bỏ đi hèn hạ; nhạc kịch mới của ông vì tôi mà chất chứa đầy nhục nhã, những nhạc kịch trước lại vì Hugo von Hofmannsthal, không phải thuần airien; người xuất bản tác phẩm của ông là một người Do Thái. Ông càng thấy cấp thiết phải bảo đảm một chỗ dựa và ông làm điều đó với một sự liên tục và một sự kiên trì kỳ lạ. Ông điều khiển bất cứ đâu mà các quan thầy mới đòi hỏi, ông phổ nhạc một bài cho các trò chơi olimpic, đông thời trong các thư, với một sự chân thật đáng lo ngại, ông biểu lộ không mấy hăng hái với công việc được giao đó. Trên thực tế, với sự ích kỷ thần thánh của người nghệ sĩ, chỉ một điều làm ông bận tâm: gìn giữ cho tác phẩm của ông một ảnh hưởng sống động và trước hết thấy nhạc kịch mới của ông mà ông đặc biệt yêu quý được trình diễn.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
xem thêm »