tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28889801
Tiểu thuyết
05.07.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Tôi ở Nga mười lăm ngày và luôn có cảm nhận một sự căng thẳng bên trong, tôi như đang trong sương mù của một cơn say nhẹ. Vậy cái gì đã kích động bạn đến như thế? Tôi nhận ra ngay: chính là những con người và sự thân tình đầy thôi thúc toát ra từ họ. Tất cả mọi người, từ người đứng đầu cho đến người cuối cùng, đều tin chắc rằng họ tham gia vào một sự nghiệp rất lớn liên quan đến toàn nhân loại, mọi người đều thấm nhuần niềm tin rằng những gì họ phải vui lòng chịu thiếu và hạn chế và vì một sự nghiệp cao cả hơn.


 


Cảm giác xưa về sự thấp kém so với châu Âu đã được đảo ngược lại thành một niềm kiêu hãnh say sưa đã đứng ở phía trước, trước tất cả những người khác. “Ex oriente lux” Ánh sáng đến từ phương Đông; sự giải thoát sẽ đến từ họ, đó là niềm tin chân thành của họ. Họ đã nhận ra Chân lý; họ được giao thực hiện cái mà những người khác chỉ có thể mơ thấy. Khi họ giới thiệu với bạn vật ít có ý nghĩa nhất, mắt họ cũng tỏa sáng: Chính chúng tôi đã làm ra nó. Và từ “chúng tôi” đó chạy khắp toàn bộ dân chúng. Người đánh xe ngựa chở bạn dùng roi chỉ cho bạn một ngôi nhà mới, cái cười làm giãn đôi má anh: “Chúng tôi đã xây dựng nên nó”. Những sinh viên Tácta, Mông Cổ đến gần bạn trong các phòng học, kiêu hãnh chỉ cho bạn xem: “Darwin”, một người nói: “Marx”, một người khác nói. Và họ kiêu hãnh như chính bản thân họ đã viết ra các tác phẩm đó. Họ không ngừng chen chúc quanh bạn để chỉ cho bạn, giải thích cho bạn một điều gì; họ rất mực biết ơn là có người đến để nhìn thấy sự nghiệp “của họ”. Mỗi người có - nhiều năm trước Staline! - một niềm tin vô hạn ở người châu Âu, họ ngước những cặp mắt trung thành lên nhìn bạ và mạnh mẽ, thân ái nắm chặt tay bạn. Song ngay những người ít quan trọng nhất cũng đồng thời cho bạn thấy rằng nếu họ yêu mến bạn, họ không “kính trọng” bạn, - người ta chung quy là anh em, là tovarish, đồng chí. Cả ở những nhà văn, tình hình cũng như vậy. Chúng tôi đang ngồi cùng nhau trong ngôi nhà trước kia là của Alexandre Herzen. Không chỉ có những người châu Âu và người Nga, mà có cả những người Tungu, người Giêoocgi, người Côcadơ, vì mỗi quốc gia Xô viết đã gửi những đại biểu của mình đến để dự lễ một trăm năm ngày sinh của Tolstoï. Phần lớn không hiểu tiếng nói của nhau, nhưng người ta hiểu được nhau. Thi thoảng, một người trong số họ đến cạnh bạn, nêu tên một tác phẩm bạn đã viết, lấy tay chỉ vào trái tim để nói “tôi thích lắm”, rồi người ấy cầm tay bạn, và lắc lắc như muốn làm vỡ tung tất cả các khớp, thuần túy vì tình yêu thương. Và điều còn cảm động hơn nữa là người nào cũng đem đến một tặng phẩm. Thời buổi còn khó khăn, họ không có gì đáng giá, nhưng ai cũng kiếm một cái gì để tặng bạn làm kỷ niệm, một tranh khắc cũ, một quyển sách mà bạn không thể đọc, một tượng gỗ do nông dân tạc. Đối với tôi, tỏ ra rộng rãi có phần dễ dàng hơn vì tôi có thể đáp lại bằng những của quý mà nước Nga chưa hề thấy từ nhiều năm nay: Một lưỡi dao cạo Gillette, một bút máy, mấy tờ giấy viết thư tốt, một đôi giày da mềm…, tới mức tôi trở về với một khối lượng hành lý ít nhất. Chính cái tính chất câm lặng và thôi thúc của sự thân tình đó là không thể cưỡng lại được và tạo thành một không khí ấm áp vây quanh không hề biết đến ở chỗ chúng ta, mà ở đây người ta cảm nhận bằng cả thể xác mình - vì cuối cùng ở chỗ chúng ta, người ta chưa bao giờ thực sự đến được với “dân chúng" - mỗi một cuộc họp với những người ấy trở thành một sự quyến rũ nguy hiểm mà quả thật nhiều nhà văn nước ngoài đã chịu thua trong các chuyến họ đi thăm nước Nga. Họ tự thấy được tiếp đón như chưa bao giờ được tiếp đón như vậy, được quảng đại quần chúng thực sự yêu mến và vì vậy, họ tưởng phải ca ngợi cái chế độ mà dưới chế độ đó, người ta đọc họ và yêu mến họ dữ như vậy. Bản tính con người là lấy sự khoan dung đáp lại sự khoan dung và lấy sự chan chứa tình cảm đáp lại sự chan chứa tình cảm. Tôi phải thừa nhận rằng nhiều lúc ở Nga tôi đã toan biến mình thành người hát bài ca ngợi và bốc cháy trong niềm hứng khởi chung.


Nếu tôi không là nạn nhân của sự cuồng say thần bí đó, không phải do sức mạnh tinh thần của riêng tôi mà nhờ một người không quen mà tôi không biết và không bao giờ biết tên. Đó là sau một cuộc hội hè trong sinh viên. Họ vây quanh lấy tôi, bắt tay tôi, ôm hôn tôi. Tôi đang còn rất ấm áp với sự hăng say của họ, tôi ngắm nhìn các khuôn mặt đầy phấn khởi của họ với một niềm vui lớn. Bốn hoặc năm sinh viên theo tôi về tận nơi tôi ở, cả một nhóm và người phiên dịch mà người ta cung cấp cho tôi, cũng là một nữ sinh viên, đã dịch tất cả cho tôi nghe. Chỉ sau khi cánh cửa phòng khách sạn của tôi đã đóng lại tôi mới cảm thấy thực sự cô đơn, cô đơn hơn lần đầu tiên từ mười hai ngày nay, vì người ta luôn được tháp tùng, luôn được bảo vệ, luôn được những làn sóng ấm áp mang đi. Tôi bắt đầu cởi áo quần, trước tiên là cái áo khoác. Tôi nghe có tiếng sột soạt, tôi bỏ tay vào túi: Một lá thư, một lá thư bằng tiếng Pháp, nhưng không do bưu điện gửi tới mà là do một người nào đó đã khéo léo tuồn vào túi tôi trong khi người ta chen lấn quanh tôi và ôm hôn tôi.


 


Đó là một bức thư không có chữ ký, một bức thư rất khôn ngoan, rất nhân ái, quả không phải của một tên “trắng”, tuy nhiên tràn đầy sự chua cay chống lại những hạn chế luôn tăng thêm trong mấy năm gần đây. Người không quen viết cho tôi: “Đừng tin tất cả những gì người ta nói với ông. Đừng quên rằng với tất cả những gì người ta đã chỉ cho ông, còn lắm điều người ta không chỉ cho ông. Ông hãy nhớ rằng những người nói với ông thường không nói những gì họ muốn nói, mà chỉ những gì họ được phép nói. Tất cả chúng tôi đều bị giám sát và ông cũng bị giám sát không kém! Người phiên dịch của ông báo lại lời ông nói. Người ta nghe những cuộc đàm thoại của ông qua dây nói, mỗi bước đi của ông đều bị kiểm soát”. Người viết thư kể cho tôi một loạt những ví dụ và những đặc điểm mà tôi không có khả năng xác minh. Nhưng tôi đã đốt bức thư theo đúng lời anh dặn. - “Ông không nên chỉ hạn chế ở việc chỉ xé nhỏ nó vì người ta sẽ lấy từ sọt giấy loại của ông các mảnh và ghép chúng lại” - và lần đầu tiên bắt đầu suy nghĩ về những điều đó, tôi không bao giờ có một dịp duy nhất để nói chuyện thoải mái mắt nhìn thẳng vào mặt với bất cứ ai. Việc không biết tiếng Nga đã cản trở tôi tiếp xúc thực sự với những người trong dân chúng. Vả chăng, trong mười lăm ngày đó, tôi có thể nhìn thấy một phần bé nhỏ biết bao nhiêu của đất nước mênh mông này! Nếu tôi muốn chân thật với bản thân mình và với những người khác, tôi phải thừa nhận rằng cảm tưởng của tôi dù có đáng hưng phấn và phấn khích về nhiều điểm không thể có một giá trị khách quan nào cả. Và vì vậy trong khi hầu hết các nhà văn châu Âu khác ở Nga về xuất bản ngay một quyển sách với một tiếng “vâng” đầy nhiệt tình hoặc một tiếng “không” đầy cay đắng, tôi chỉ hạn chế trong việc viết vài bài báo. Và tôi tự tán thưởng về sự dè dặt đó bởi vì chỉ ba hay bốn tháng sau, nhiều sự vật không còn như tôi đã nhìn thấy chúng và sau một năm, do những biến đổi nhanh chóng, mỗi lời tôi nói sẽ phải bị các sự việc bác bỏ. Dẫu sao, ở Nga tôi đã cảm nhận được sự vận động mau lẹ của thời đại chúng ta mà đời tôi, tôi chưa bao giờ cảm nhận được như vậy.


*


Các vali của tôi đã khá rỗng khi tôi từ giã Moskva. Tất cả những gì tôi có thể nhịn, tôi đã cho đi và về phần tôi chỉ mang về hai tranh thánh đã trang trí cho phòng làm việc của tôi rất lâu. Cái quý nhất tôi mang về là tình bạn với Maxime Gorki, mà tôi gặp lần đầu tiên ở Moskva. Hai hoặc ba năm sau, tôi gặp lại ông ở Sorrente; ông phải đến đó vì sức khỏe bị suy sụp và trong ba ngày không thể nào quên, tôi là khách của nhà ông.


 


Sự hòa hợp của chúng tôi quả là kỳ lạ nhất. Gorki không nói một tiếng nước ngoài nào, còn tôi, tôi không biết tiếng Nga. Theo các luật của lôgic học, chúng tôi đã phải mặt đối mặt câm lặng hoặc chỉ có thể nói chuyện với nhau nhờ sự giúp đỡ chí tình của người bạn đáng kính, nữ bá tước Marie Budbeng, làm phiên dịch cho chúng tôi. Nhưng không phải là ngẫu nhiên mà Gorki là một trong những người kể chuyện tài năng nhất của văn chương thế giới. Truyện kể đối với ông không chỉ là một hình thức biểu hiện của nghệ thuật, mà là sự toát ra có tính chức năng của toàn bộ con người ông. Ông sống những gì ông kể, ông biến đổi bản thân mình trong những gì ông kể và tôi, không nghe hiểu ngôn ngữ của ông, đã hiểu trước được ông qua hoạt động tạo hình của khuôn mặt ông. Ở bản thân ông, ông có vẻ đặc biệt “Nga”, - tôi không thể diễn đạt điều đó cách nào khác. Không có gì gây ấn tượng mạnh trong những nét của ông; người ta có thể hình dung con người cao lớn và gầy gò đó, với bộ tóc màu vàng rơm và đôi gò má rộng như là nông dân của đồng quê, người đánh xe ngựa, thợ giày nhỏ, kẻ lang thang bị lãng quên, điển hình nguyên sơ và cô đúc của người Nga. Người ta có thể gặp ông trên đường phố mà không để ý, không trông thấy đặc thù của ông. Chỉ khi nào ngồi trước mặt ông và ông bắt đầu kể chuyện thì người ta mới nhận ra ông là ai. Bởi vì không cố ý ông tự biến đổi thành người mà ông phải họa chân dung. Tôi còn nhớ cách ông mô tả cho tôi - tôi hiểu trước khi người ta dịch - một ông già gù và mệt mỏi mà ông đã gặp tại một trong những chuyến đi liên miên của ông. Đầu ông gục xuống, hai vai ông lõm sâu, đôi mắt của ông lúc ông bắt đầu câu chuyện một màu xanh rực rỡ và trong suốt bây giờ trở nên tăm tối và mệt mỏi, giọng nói của ông vỡ ra, ông đã biến thành ông già gù mà không biết. Và khi ông kể một chuyện vui, tiếng cười của ông nổ ra, ông uể oải tựa ngửa ra phía sau, một ánh sáng tỏa ra khắp vầng trán ông. Thật là cả một niềm vui không tả xiết được nghe ông kể chuyện, trong khi bằng những cử động xoay tròn và phần nào mang tính điêu khắc, ông sắp đặt quanh ông khung cảnh và các nhân vật. Tất cả ở ông đều giản dị và tự nhiên, dáng đi, tư thế ngồi, cách lắng nghe, sự hăm hở; một buổi tối, ông mặc một bộ y phục quý tộc, hông mang kiếm và tức khắc cái nhìn của ông đượm một vẻ cao đạo. Đôi lông mày của ông nhíu lại trong điệu bộ chỉ huy, ông đi lại mạnh mẽ phòng như đang suy ngẫm một chiếu chỉ dữ dội, và một lát sau, cởi bỏ bộ áo quần đó đi, ông cười một cách trẻ con, như con trai của một nông dân. Sức sống của ông thật là kỳ lạ; ông sống với hai lá phổi bị hư hỏng bất chấp mọi quy luật của y học; nhưng một ý chí sống đầy e ngại, một cảm giác nghĩa vụ cứng rắn giữ ông đứng vững: mỗi buổi sáng ông viết bằng lối chữ đẹp nắn nót vài trang của quyển tiểu thuyết lớn, trả lời hàng trăm yêu cầu mà những nhà văn trẻ và những công nhân của tổ quốc ông đề đạt tới ông; ở với ông đối với tôi là sống nước Nga, không phải nước Nga bolsêvich, không phải là nước Nga ngày xưa, không còn là nước Nga ngày nay, mà sống tâm hồn rộng rãi, mạnh mẽ và u tối của dân tộc vĩnh cửu. Trong thâm tâm, ông chưa hoàn toàn cả quyết trong những năm ấy. Là nhà cách mạng lão thành, ông cầu mong chế độ cũ sụp đổ, ông đã kết bạn với Lênin nhưng ông còn do dự trong việc hoàn toàn thần phục đảng, trở nên “giáo trưởng hay giáo hoàng”, như ông nói; tuy nhiên ông phần nào ân hận đã không có mặt cùng với những người thân trong những năm đó mà mỗi tuần lễ đem lại một quyết định.


 


Những ngày ấy, tôi tình cờ chứng kiến một trong những cảnh đặc trưng, hoàn toàn thuộc nước Nga mới, và nó bộc lộ với tôi tất cả tính hai mặt của nó. Lần đầu tiên một tàu chiến Nga đang tiến hành một cuộc tuần tra diễn tập đã đi vào hải cảng Naples. Những thủy thủ trẻ, chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới phương Tây, đi dạo trong những bộ quân phục đẹp trên đại lộ Tôlêđô và không thể thỏa thuê trong việc ngắm nhìn bao nhiêu là cái mới với những cặp mắt tò mò rộng mở của nông dân. Ngày hôm sau, một nhóm các thủy thủ đó quyết định đi tới tận Sorrente để gặp nhà văn “của họ”. Họ không báo trước cuộc đến thăm, với ý tưởng tình anh em Nga; hình như quá tự nhiên đối với họ là nhà văn “của họ” bao giờ cũng có thời gian dành cho họ. Họ bất ngờ đứng trước nhà ông, và họ không nhầm. Gorki không để họ phải chờ đợi; ông mời họ vào nhà. Nhưng, - Gorki tự mình kể lại cho tôi nghe và cười lớn - những chàng trai đó không đặt gì lên trên “Sự nghiệp”, tỏ ra lúc đầu rất nghiêm khắc đối với ông. “Làm sao mà ông lại ở đây? Họ nói với ông ngay khi vừa vào trong cái biệt thự đẹp đẽ và đầy đủ tiện nghi. Ông sống hoàn toàn như một nhà tư sản! Và tại sao ông không trở về Nga?”. Gorki phải giải thích cho họ một cách tốt nhất có thể được. Nhưng trong thâm tâm, những chàng trai đôn hậu đó không phán xét ông quá nghiêm khắc đến thế. Họ chỉ muốn chứng minh cho ông rằng họ không “kính trọng” sự nổi tiếng và họ bắt đầu xem xét các ý kiến của mỗi người. Họ ngồi vào bàn một cách hết sức thoải mái, uống trà, trò chuyện và để kết thúc họ ôm hôn ông hết người này đến người khác lúc chia tay. Thật kỳ diệu được nghe Gorki kể lại cảnh đó, ông rất mê những cử chỉ thái độ tư do không gò bó của thế hệ mới và ông hoàn toàn không phật ý về những lời lẽ phóng túng của họ. Ông không ngừng lặp lại: “Chúng ta khác biết bao! Hoặc nhún nhường hoặc mãnh liệt, nhưng chúng ta không bao giờ tin chắc ở mình”. Trong một buổi tối, cặp mắt ông long lanh. Và khi tôi nói với ông: “Tôi tin rằng anh sẽ lại cũng đi với họ”, ông tỏ ra hết sức sững sờ và nhìn tôi đăm đắm. “Sao anh biết? Thực tế tôi đã tự hỏi đến phút cuối cùng xem tôi có vứt tất cả lại đây, sách vở, giấy tờ và công việc và đi một chuyến mười lăm ngày giữa trời biển trong xanh, trong con thuyền của các chàng trai ấy. Lúc đó tôi sẽ lại biết nước Nga là gì. Trong sự xa cách, người ta quên cái tốt đẹp nhất. Không một ai trong chúng ta đã làm được việc gì tốt đẹp ở chốn lưu đày”.


*


Nhưng Gorki đã nhầm khi gọi Sorrente là nơi lưu đày. Ông có thể trở về nhà lúc nào ông thích và trên thực tế ông đã trở về. Ông không bị lưu đày biệt xứ vì những quyển sách của mình, vì con người của mình như Méréjkovski - tôi gặp ông này ở Paris, đầy đắng cay bi thảm, - như chúng tôi ngày nay, chúng tôi mà, theo câu nói đẹp đẽ của Grillparzer, là “hai lần lưu vong ở nước ngoài và không còn có tổ quốc”, là không có chỗ dung thân ở những nước nói thứ ngôn ngữ thân quen đối với chúng tôi và bị tất cả các ngọn gió đẩy đi một cách vô định. Tôi có thể, ngược lại, trong những ngày tiếp đó đến tìm ở Naples một người bị lưu đày thực sự và thuộc loại đặc biệt: Benedetto Croce. Trong hàng chục năm ông là người hướng dẫn tinh thần của thanh niên. Ông có tất cả những danh dự trọng vọng với tư cách là nghị sĩ và bộ trưởng, cho tới khi sự chống lại chủ nghĩa phát xít của ông đã đưa ông đến xung đột với Mussolini. Ông từ bỏ mọi chức vị và tự giam hãm mình vào cảnh ẩn dật; nhưng những người cố chấp không cho thế là đủ; họ muốn đập tan sự chống đối của ông và cả khi cần thiết, trừng phạt ông. Sinh viên, trái lại với điều đã xảy ra trước đây, ngày nay tạo thành khắp nơi những đội xung kích của lực lượng phản động; họ xâm chiếm nhà ông, đập vỡ các cửa kính. Nhưng con người bé nhỏ lùn mập đó, với cặp mắt thông minh và bộ râu cằm nhọn hoắt, tỏ ra là một nhà tư sản vững vàng, không để cho người ta làm cho e sợ. Ông không rời bỏ đất nước, ông ở lại trong nhà mình, nấp sau bức thành sách, mặc dầu ông nhận được lời mời của các trường đại học Hoa Kỳ và nước ngoài. Ông tiếp tục biên tập trong cùng tinh thần đó tạp chí Critica của ông, ông theo đuổi việc xuất bản các sách của mình, và uy tín của ông lớn tới mức theo lệnh Mussolini, cơ quan kiểm duyệt, thường là không thương xót, phải nể ông, trong khi các môn đệ chia sẻ ý tưởng của ông tất cả đều bị trục xuất. Đối với một người và cả đối với một người nước ngoài, phải có ít nhiều can đảm mới đến gặp con người ấy vì các quan chức biết rất rõ rằng trong thành trì của mình, trong các gian phòng chứa đầy sách, ông phát biểu ý kiến của mình không giấu giếm che đậy. Như vậy, ông sống có thể nói là trong một không gian bít kín, trong một thứ chai thủy tinh ở giữa bốn mươi triệu đồng bào. Sự cách ly bít kín của một con người duy nhất trong một thành phố một triệu dân, giữa một đất nước bốn mươi triệu dân, đối với tôi có gì vừa là ma quái vừa là lớn lao. Tôi còn chưa biết rằng thứ bóp nghẹt tinh thần đó đặc biệt dịu dàng hơn thứ sau này sẽ là số phận của chúng tôi và tôi không thể không thán phục sự tươi mát và sức bật tinh thần mà người đó, đã già cả, còn giữ được cho mình trong cuộc chiến đấu hàng ngày. Nhưng ông cười to: “Thì chính sự chống đối làm chúng tôi trẻ lại. Nếu tôi vẫn làm nghị sĩ, cuộc đời của tôi sẽ quá dễ dàng và từ lâu, trí óc của tôi đã trở nên lười biếng và tiền hậu bất nhất. Không gì nguy hiểm cho người suy nghĩ hơn là thiếu vắng sự chống đối. Chỉ có thế lúc tôi một mình, không còn cảm thấy thanh niên ở quanh mình, tôi mới tự bắt buộc phải làm cho mình trẻ lại”.


 


Nhưng còn phải mấy năm nữa trôi qua tôi mới đến lúc hiểu được rằng thử thách rút ra cái tốt đẹp nhất của con người bạn, sự truy hại làm bạn mạnh lên, và sự cô đơn làm bạn lớn lên trong chừng mực nó không làm bạn tan nát. Như tất cả các điều thiết yếu của cuộc sống, người ta không học các chân lý đó qua kinh nghiệm người khác, mà luôn luôn phải qua số mệnh của bản thân mình.


 


*


Nếu tôi không gặp con người lớn lao nhất của nước Italia, phải gán điều đó cho sự khó chịu mà tôi cảm thấy khi tới gần những nhân vật chính trị. Ngay ở tổ quốc tôi, ở nước Áo bé nhỏ, tôi đã không bao giờ gặp một chính khách đang thi hành quyền lực - Seipel, Dollfuss lẫn Schusnig tôi đều không gặp - và đó là cả một sự khéo léo thực sự. Tuy nhiên, lẽ ra bổn phận của tôi là phải đến thổ lộ với Mussolini - mà qua các bạn bè chung tôi biết rằng ông là một trong những người đầu tiên và người say mê nhất đọc các sách của tôi ở Italia - niềm biết ơn của cá nhân tôi về việc ông đã chấp nhận một cách hồn nhiên lời thỉnh cầu độc nhất mà tôi đã đề đạt với một nhà chính khách.


Sự việc diễn ra như sau: Một hôm, tôi nhận được từ một người bạn ở Paris bức điện báo cho tôi biết rằng một bà người Italia mong được gặp tôi ở Salzburg về một việc quan trọng và yêu cầu tôi tiếp bà ấy ngay. Ngày hôm sau, bà ta đến và điều bà nói với tôi thật hết sức ngao ngán. Chồng bà, một thầy thuốc xuất sắc, xuất thân từ một gia đình nghèo, được Mateotti nuôi và chịu mọi phí tổn. Vào dịp những người phát xít ám hại dã man người thủ lĩnh xã hội chủ nghĩa này, lương tâm thế giới tuy đã khá mệt mỏi vẫn còn phản ứng dữ dội với tội ác đơn lẻ đó. Cả châu Âu đứng dậy để thét lên sự phẫn nộ của mình. Mà người bạn trung thành là một trong sáu người dũng cảm đã dám, lúc đó giữa ban ngày, mang cái quan tài của nạn nhân qua các đường phố của La Mã. Ít lâu sau, bị tẩy chay và bị đe dọa, ông đã đi theo con đường lưu đày. Song số phận của gia đình Mateotti không làm ông yên tâm. Ông muốn vì kỷ niệm của ân nhân mình, bằng cách bất hợp pháp, đưa các con của ân nhân ra nước ngoài. Trong một lần thử tiến hành, ông rơi vào những bàn tay mật thám hoặc người khiêu khích rồi bị bắt. Vì tất cả những gì nhắc nhở lại Mateotti ở Italia còn nặng nề, một vụ án dành cho sự việc đó không có cơ may trở nên xấu hơn đối với ông; nhưng người biện lý đã khéo léo đem trộn lẫn nó với một vụ khác mà thời cơ là một sự ám hại bằng bom, dự tính vào ngay cá nhân Mussolini. Và người thầy thuốc, đạt được những huân chương cao nhất trên chiến trường, bị kết án mười năm cấm cố.


 


Người phụ nữ trẻ tất nhiên là rất lo lắng. Phải làm một cái gì để gạt bỏ sự bất hạnh đó, mà chồng bà không thể nào vượt qua được. Phải thống nhất vào một sự phản kháng ồn ào tất cả những người có tên tuổi trong nền văn chương châu Âu, và bà cầu xin tôi giúp đỡ. Tôi khuyên ngay bà không nên tìm đạt được một cái gì bằng sự phản kháng. Tôi biết rằng tất cả những cuộc biểu lộ đó đã mất đi bao nhiêu hiệu lực từ ngày chiến tranh. Tôi cố giải thích cho bà rõ rằng ngay lòng kiêu hãnh dân tộc cấm một nước sửa đổi sự xét xử do áp lực bên ngoài và sự phản kháng của châu Âu trong các vụ Saccs và Vanzetti đã tạo ra ở Hoa Kỳ một hiệu quả đúng hơn là đáng tiếc. Tôi khẩn khoản xin bà đừng làm gì theo hướng ấy cả. Bà chỉ làm cho tình hình của chồng bà xấu thêm mà thôi vì không bao giờ Mussolini muốn và nếu muốn, ông cũng không bao giờ có thể ra lệnh giảm nhẹ bản án nếu người ta tìm cách áp đặt cho ông từ bên ngoài. Nhưng thực sự xúc động, tôi hứa với bà sẽ cố hết sức mìh. Tình cờ trong tuần lễ sau đó tôi đi Italia, ở đó tôi có nhiều người bạn rất sẵn lòng và có uy tín. Có thể những người đó hoạt động trong im lặng cho việc của bà.


 


Tôi cố làm như vậy ngay trong ngày đầu tiên. Nhưng tôi nhận ra rằng sự sợ hãi đã gặm nhấm biết bao nhiêu tâm hồn. Ngay khi tôi nói đến tên của người thầy thuốc, mọi người đã tỏ ra lúng túng. Không, ông ta không có ảnh hưởng. Điều đó tuyệt đối không thể được. Thế là tôi đi như vậy từ người này sang người khác. Tôi trở về lòng đầy xấu hổ vì có lẽ người đàn bà khốn khổ có thể nghĩ rằng tôi đã không cố gắng hết mức. Và quả thật tôi đã chưa cố gắng hết cách. Còn một cách nữa; con đường thẳng nhất, cũng là con đường chân thật nhất: viết cho người nắm trong tay sự quyết định, viết cho bản thân Mussolini.


 


Tôi đã làm như vậy. Tôi viết cho ông một lá thư sự chân thật. Tôi không muốn bắt đầu bằng những lời nịnh hót, tôi viết; và trước hết tôi muốn nói với ông rằng tôi không quen người đó và không biết sự trầm trọng của trường hợp đó. Nhưng tôi có gặp vợ của người đó, chắc chắn là vô tội mà tất cả sức nặng của hình phạt cũng rơi xuống bà ta nếu chồng bà bị giam trong những năm tháng đó. Tôi hoàn toàn không có ý định phê phán sự xét xử, nhưng tôi có thể tin rằng cuộc sống của người phụ nữ đó sẽ được cứu vớt nếu chồng bà thay vì bị phạt tù cấm cố, được đày đến một trong những đảo tù ở đó người ta cho phép vợ con được sống với người đi đày.


 


Tôi cầm lá thư đã được đề địa chỉ cho ngài Benito Mussolini, bỏ nó vào hòm thư bình thường ở Salzburg. Bốn ngày sau, đại sứ quán Italia ở Vienne viết cho tôi rằng ngài Mussolini cảm ơn tôi và nhờ nói với tôi rằng ngài đang tiếp tục cứu xét lời thỉnh cầu của tôi đồng thời dự kiến một sự giảm nhẹ bản án. Cùng lúc đó, tôi nhận được từ Italia một bức điện xác nhận những điều trên. Chỉ bằng một vài từ duy nhất, Mussolini đã tự thân chấp thuận lời thỉnh cầu của tôi và trên thực tế người bị kết án chẳng bao lâu được ân xá hoàn toàn và trọn vẹn. Không bao giờ trong đời tôi một lá thư đem lại cho tôi nhiều niềm vui và sự hài lòng đến như vậy và tôi nhắc lại sự thành công bằng thư từ này với một niềm biết ơn sâu sắc.


 


*


Thật thú vị được đi du lịch trong những năm cuối cùng của sự yên ổn này. Nhưng trở về nhà cũng là điều dễ chịu. Đã diễn ra trong im lặng một điều gì đặc biệt. Cái thành phố Salzburg bé nhỏ với bốn vạn dân của nó, mà tôi đã chọn chính vì sự cô đơn đầy thơ mộng của nó, đã biến đổi một cách đáng kinh ngạc: nó đã trở thành trong mùa hè thủ đô nghệ thuật không chỉ của châu Âu, mà của toàn thế giới. Trong những năm khó khăn sau chiến tranh, Max Reinhardt và Hugo von Hoffmannsthal muốn cứu vãn cảnh khốn quấn của các diễn viên và các nhạc công về mùa hè không có bánh ăn, đã tổ chức một số cuộc biểu diễn ở quảng trường Nhà hát lớn của Salzburg và trước hết cuộc biểu diễn ngoài trời vở Jedermann; những cuộc biểu diễn đó bắt đầu thu hút các khách đến từ những vùng lân cận trực tiếp. Về sau người ta cùng thử những cuộc biểu diễn các vở nhạc kịch luôn ngày càng hay hơn, ngày càng hoàn hảo hơn. Dần dần người ta chú ý tới nơi này. Những nhạc trưởng, ca sĩ, diễn viên xuất sắc nhất dồn về Salzburg, đầy tham vọng và sung sướng được khoe nghệ thuật của mình không phải chỉ trước một công chúng hạn chế của tổ quốc mình, mà trước công chúng quốc tế. Bỗng chốc các cuộc liên hoan của Salzburg trở thành một sự thu hút thế giới, một thứ như những trò chơi ôlempic mới về nghệ thuật ở đó tất cả các quốc gia thi thố lòng hăng say để làm nổi bật những sản phẩm hay nhất của mình. Không ai còn muốn thiếu vắng trong những cuộc biểu diễn kỳ diệu này. Những ông vua và những hoàng tử, những nhà triệu phú Mỹ và những ngôi sao màn bạc, những người bạn của âm nhạc, những nghệ sĩ, những thi sĩ và những kẻ đua đòi hẹn nhau trong những năm cuối đến Salzburg. Không bao giờ người ta đã hội tụ được ở châu Âu một sự tập trung đến như vậy sự hoàn hảo của nghệ thuật sân khấu và của âm nhạc như ở cái thành phố nhỏ của nước Áo nhỏ đã từ lâu bị khinh rẻ. Salzburg trở thành phồn vinh. Trên những đường phố mùa hạ của nó, người ta gặp tất cả những người ở châu Âu và châu Mỹ tìm kiếm trong nghệ thuật sự biểu hiện hoàn hảo nhất, tất cả mọi người đều mặc y phục dân tộc của Salzburg, - quần chụt bằng vải trắng và áo vét cũng bằng thứ vải ấy cho đàn ông và y phục có sọc sặc sỡ của Dirndl (cô gái) cho đàn bà - Salzburg bé nhỏ bỗng chốc quản lý thời trang của thế giới. Ở các khách sạn, người ta đánh nhau để có được một phòng. Sự diễu hành của các xe ô tô đi đến lâu đài các cuộc liên hoan cũng xa hoa tráng lệ như trong các cuộc khiêu vũ trước đây ở triều đình; nhà ga luôn đầy ắp hành khách; những thành phố khác tìm cách quay về phía họ con sông vàng này nhưng không thành phố nào thành công. Salzburg trong mười năm đó là và vẫn giữ vững là nơi hành hương nghệ thuật của châu Âu.


 


Thế là ngay trong thành phố quê hương, tôi bỗng chốc sống trong lòng châu Âu. Một lần nữa số mệnh đã thỏa mãn một trong những nguyện vọng của tôi, mà tôi hầu như không dám hình dung, và ngôi nhà Kapuzinerberg của tôi biến thành một ngôi nhà châu Âu. Ai không là khách của ngôi nhà ấy? Cuốn sổ vàng của chúng tôi chứng thực điều đó hơn là duy nhất chỉ có hồi ức; nhưng cuốn sổ đó, với ngôi nhà và nhiều thứ khác vẫn là miếng mồi của những người quốc gia - xã hội chủ nghĩa. Với ai chúng tôi đã không trải qua những giờ thân tình ở đấy hay sao? Từ sân thượng nhìn bao quát cảnh vật xinh đẹp và trên ngọn núi Berchtesgaden, đang đứng một con người sắp phá trụi tất cả. Romain Rolland đã ở trong ngôi nhà của chúng tôi, và Thomas Mann; trong số các nhà văn có H.G. Wells, Hofmannsthal, Jacol Wasservann, Van Loon, James Joyce, Emile Ludwig, Franz Werfel, Georg Brandes, Paul Valéry, Jane Adams, Schalom Asch, Arthur Schnitzler đều là khách của chúng tôi, được đón tiếp trong tình bạn cao cả; trong số các nhạc sĩ, có Ravel và Richard Strauss, Bruno Walter, Bartok, không nói đến những họa sĩ, những diễn viên, những nhà bác học đến từ mọi điềm của hoa hồng các cơn gió. Biết bao nhiêu giờ đàm thoại trong sáng tốt đẹp các làn gió mùa hạ đã gửi đến cho chúng tôi. Một hôm Arturo Toscanini leo các bậc dốc đứng và ngay lập tức một tình bạn khởi đầu, nó làm cho tôi yêu mến âm nhạc và tận hưởng nó hơn và với một ý thức sáng to hơn. Từ đó trong nhiều năm tôi là thính giả trung thành nhất của các lần tổng duyệt của anh và tôi không ngừng sống lại cuộc đấu tranh say mê trong đó anh đạt được bằng sức mạnh phi thường sự hoàn hảo mà sau này trong những cuộc hòa nhạc công khai, sự hoàn hảo đó tỏ ra vừa là một điều kỳ lạ vừa là một sự hoàn toàn tự nhiên (tôi đã cố mô tả trong một bài viết những cuộc tổng duyệt đó, chúng đã kích thích một cách mẫu mực tất cả các nghệ sĩ không được buông lơi trước khi tất cả đều không thể chê vào đâu được. Chữ của Shakespeare được tôi xác nhận một cách kỳ diệu rằng “âm nhạc là thức ăn nuôi dưỡng tâm hồn”( ), và xét tới sự hợp tác của các ngành nghệ thuật, tôi cầu phúc cho số phận của tôi đã cho phép tôi tham gia lâu dài vào sự hợp tác đó! Những ngày mùa hạ này phong phú biết bao, nhiều màu sắc biết bao trong khi nghệ thuật và cảnh vật được ban phước lành, cái này tạo giá trị cho cái kia. Và luôn luôn khi nhìn về phía sau tôi hồi tưởng lại thành phố nhỏ này, bị phế truất, xám xịt và bị đè nặng như nó từng đã như thế ngay sau chiến tranh, và ngôi nhà của chúng tôi ở đó, rét run, chúng tôi chuẩn bị chiến đấu với mưa đổ xuống từ mái, cuối cùng tôi cảm nhận những gì mà những năm hòa bình đầy phúc lành đó đã đem lại cho cuộc đời tôi. Chúng tôi lại được phép tin tưởng vào thế giới, vào nhân loại.


 


*


 


Nhiều vị khách lừng danh và được hoan nghênh đã đến ở nhà chúng tôi trong những năm ấy, nhưng cả trong những giờ mà tôi cô đơn cũng tụ họp quanh tôi một nhóm thầy kỳ các gương mặt đáng kính mà dần dần tôi đã thành công trong việc gợi lên những vang bóng một thời: trong bộ sưu tập đã được nêu của những bản in nguyên cảo đã thấy được tụ hội lại trong các bản thảo của họ, những bậc thầy lớn nhất của mọi thời đại. Cái mà ở tuổi mười lăm tôi đã tiến hành theo lối tài tử và lúc đầu chỉ là một việc đặt kề nhau đơn giản, đã qua nhiều năm tháng nhờ có nhiều kinh nghiệm, nhờ những biện pháp ngày càng phong phú và một lòng say mê còn được tăng thêm, biến thành một cấu trúc hữu cơ và, tôi dám nói điều đó, một công trình nghệ thuật thực sự. Lúc khởi đầu, cũng như tất cả những người khởi đầu, tôi chỉ nhằm tập hợp những tên người danh tiếng; sau đó vì hiếu kỳ tâm lý học, tôi chỉ mới tập hợp những bản thảo - những bản nháp hoặc những đoạn tác phẩm mở ra cho tôi cái nhìn về phương thức làm việc của một bậc thầy yêu quý. Trong vô vàn bí ẩn không giải được của vũ trụ, cái không thăm dò được nhất, huyền bí nhất là cái huyền bí của sự sáng tạo. Ở đây, thiên nhiên không để cho ta rình mò; không ai dựt được ra từ nó bí mật của thủ đoạn cuối cùng này: trái đất đã được tạo ra như thế nào và như thế nào một cái hoa, một bài thơ, một con người sinh ra. Ở đây nó tàn nhẫn kéo màn lại và không nhân nhượng. Ngay nhà thơ, người nhạc sĩ sau đó cũng không thể làm sáng tỏ cái khoảnh khắc cảm hứng của mình. Mỗi khi sự sáng tạo đã hoàn thành, người nghệ sĩ không còn biết gì về sự sinh thành, sự tiến bộ và sự tiến triển của mình. Không bao giờ hoặc hầu như không bao giờ anh ta giải thích nổi tại sao trong sự hứng khởi của các giác quan, các từ kết lại thành một khổ thơ, các âm thanh riêng lẻ kết lại thành một giai điệu để rồi sau đó vang vọng qua các thế kỷ. Cái duy nhất có thể cung cấp cho chúng ta một thoáng nghi ngờ về quá trình không nắm bắt được này của sự sáng tạo, đó là những trang viết tay và chủ yếu là những trang không dành để in ra, những phác thảo còn mơ hồ, điểm đầy những sửa chữa và ở đó cái dạng cuối cùng và có giá trị chỉ được kết tinh lại dần dần. Tập hợp những trang như thế của tất cả các nhà thơ lớn, các nhạc sĩ và các triết gia lớn, những sửa chữa như thế và qua đó, cả những chứng tích của cuộc chiến đấu - lao động của họ, đó là giai đoạn thứ hai, chứa đựng nhiều thông tin hơn, của cuộc tìm kiếm những bút tích của tôi. Đối với tôi thật là một niềm vui săn bắt chúng trong những cuộc bán đấu giá công cộng, một sự nhọc nhằn mà tôi sẵn sàng gánh chịu để phát hiện chúng từ những chỗ được giấu kín nhất, và cùng là cả một khoa học, vì dần dà, bên cạnh bộ sưu tập các bút tích đã hình thành một bộ sưu tập thứ hai gồm tất cả những quyển sách được viết về các bút tích, tất cả những catalô đã in ra, với số lượng trên bốn nghìn, một thư viện chọn lọc không có cái tương đương, vì ngay cả những người buôn bán cũng không thể dành nhiều thời gian và tình cảm đến như vậy cho một chuyên khoa. Tôi có thể nói chắc rằng - điều tôi không bao giờ dám khẳng định đối với văn chương hoặc một lãnh vực nào khác của cuộc sống - trong ba mươi tư năm của cuộc đời người sưu tập của tôi, tôi đã trở thành một người có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực các bút tích, tôi biết về tất cả các trang có phần quan trọng, rằng chúng nằm ở đâu, chúng thuộc về ai, và chúng đã rơi vào bàn tay các chủ sở hữu bằng cách nào. Vậy tôi đã là một người am hiểu thực sự, có thể qua cái nhìn thoạt tiên, phán xét về tính xác thực và tôi có kinh nghiệm trong việc đánh giá hơn phần đông những nhà chuyên nghiệp.


 


Nhưng dần dần sự ham mê sưu tập của tôi đã đi xa hơn. Đối với tôi thật là chưa đủ có một bộ sưu tập đơn giản các bản thảo viết tay của văn chương và âm nhạc thế giới, một tấm gương của hàng ngàn phương pháp sáng tác; chỉ có duy nhất mở rộng bộ sưu tập không còn hấp dẫn tôi nữa và điều mà tôi tự đặt ra trong những năm cuối cùng của hoạt động sưu tập là thường xuyên nâng cao phẩm chất của nó lên. Nếu lúc đầu tôi bằng lòng có được những trang của một thi sĩ hay một nhạc sĩ làm ta thấy họ trong một thời điểm sáng tạo, dần dần nỗ lực của tôi hướng vào việc hình dung mỗi người trong thời điểm sáng tạo hạnh phúc nhất, thời điểm của sự thành công lớn lao nhất. Vậy tôi tìm trong mỗi nhà thơ không chỉ bản thảo của một trong những bài thơ của ông, mà bản thảo của một trong những bài thơ hay nhất, và nếu có thể, của một trong những bài ngay từ phút mà cảm hứng, bằng bút chì hay bút mực, dồn dập đổ xuống thành một hình thù trần thế, đã được dành để tồn tại muôn thuở. Tôi muốn có được của những người bất tử - tham vọng táo bạo - trong di vật các bản thảo của họ đúng cái đã làm cho họ trở thành bất tử dưới con mắt người đời.


 


Như vậy, bộ sưu tập của tôi ở trong trạng thái chuyển động thường xuyên, trang nào quá vô nghĩa không thỏa mãn sự đòi hỏi cao của tôi đều bị loại bỏ, bán hoặc đổi ngay khi tôi đã tìm được một trang thiết yếu hơn, đặc trưng hơn, và - nếu tôi có thể nói như vậy - mang nặng sự vĩnh cửu hơn. Và điều kỳ diệu là tôi thành công trong rất nhiều trường hợp vì ngoài tôi ra, có rất ít người sưu tập các mẩu thiết yếu với tư cách người thành thạo, với một sự bền bỉ như vậy, và đồng thời với một sự am hiểu như vậy. Thế là để kết thúc, một cặp giấy lúc đầu, rồi sau đó cả một hòm được kim loại và đá sợi bảo vệ khỏi mọi sự hư hỏng, đã tụ hội những bản thảo gốc của các tác phẩm hay đoạn tác phẩm là chứng tích lâu dài nhất của nhân loại sáng tạo. Bị bắt buộc phải sống ngày nay theo lối du cư, tôi không có trong tay catalô của bộ sưu tập từ lâu đã bị tản mác, và tôi chỉ có thể kể ra đây một cách không chủ định một vài vật liệu trong đó tài năng trần tục được hiện thân thành một khoảnh khắc vĩnh cửu.


 


Ở đấy có một trang vở của Léonard, những nhận xét cho các bản vẽ bằng chữ viết lật ngược; có nhật lệnh của Napoléon gửi binh lính trước trận đánh Rivôli, viết nguệch ngoạc và cẩu thả trên bốn trang chữ hầu như không đọc nổi, có cả một quyển tiểu thuyết của Balzac bằng bản in thử, mà mỗi trang là cả một bãi chiến trường với hàng ngàn nét gạch xóa, biểu hiện với một sự hùng hồn không tả xiết cuộc chiến đấu của người khổng lồ được tiến hành từ chỗ sửa chữa này đến chỗ sửa chữa khác (may thay một bản sao chép ảnh đã cứu được bản thảo này cho một trường đại học Mỹ). Có của Nietzche Những nguồn gốc của Bi kịch trong một bản biên soạn đầu tiên chưa được biết đến, viết cho người yêu Cosima Wagner rất lâu trước khi xuất bản, có một căngtat của Bach và khúc nhạc Alceste của Gluck, một khúc khác của Handel mà các bản thảo âm nhạc là thuộc loại hiếm nhất. Tôi luôn tìm kiếm cái đặc trưng nhất và thường là tôi tìm được: Các khúc nhạc tsiganes của Brahms, Barcarola của Chopin, khúc nhạc bất hủ của Schubert, ca khúc không bao giờ bị lãng quên Thượng đế gìn giữ bộ tứ của Đức Hoàng đế do Haydn soạn. Trong một số trường hợp, tôi thành công trong việc mở rộng hình thức đầu tiên và độc nhất của hoạt động sáng tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh của cuộc đời một cá thể sáng tạo. Chẳng hạn tôi không chỉ có một trang vụng về của Mozart năm mười một tuổi, mà để chứng thực cho nghệ thuật dân ca của ông, có khúc bất hủ Hoa vilôlet phổ lời của Goethe, có về âm nhạc khiêu vũ những điệu mơnuê phỏng theo “Non più andrai” của Figaro và của bản thân Figaro Điệu nhạc Thiên thần; ngoài ra còn có Những bức thư gửi cô em họ bé nhỏ, phóng đãng một cách rất ngọt ngào và chưa từng xuất bản nguyên vẹn, cuối cùng, còn có một trang viết ngay trước khi ông qua đời, một khúc nhạc Titus. Cũng vậy, tôi đã đi vòng quanh cuộc đời của Goethe được ném ra như một vòm cầu mênh mông, trang đầu tiên là một bản dịch từ tiếng Latinh mà ông thực hiện lúc chín tuổi, trang cuối cùng là một bài thơ ông viết trước lúc mất vào năm tám mươi hai tuổi. Giữa hai cực đó được xếp một trang mênh mông của đỉnh cao thành tựu trong tác phẩm của ông, một trang in đôi ở cả hai mặt của Faust, một bản thảo của một chuyên luận về lịch sử tự nhiên, nhiều bài thơ và hơn nữa, những hình vẽ thuộc những thời kỳ khác nhau của cuộc đời ông; người ta có thể ném một cái nhìn bao quát lên toàn bộ cuộc đời của Goethe qua mười lăm trang bản thảo. Với Beethoven, con người đáng kính nhất, quả thật tôi không thể tạo ra một bức tranh toàn cảnh đầy đủ như với Goethe. Ở đây người kình địch và đấu giá cao hơn của tôi, người xuất bản sách của tôi, giáo sư Kibpenplerg là một trong những người giàu nhất Thụy Sĩ, người đã sưu tập được một kho tàng Beethoven vô song. Nhưng không kể quyển vở các ghi chép thời thanh niên, dân ca, Nụ hôn và những đoạn của âm nhạc Egmont, tôi thành công trong việc biểu hiện cho thị giác ít nhất là một thời điểm của cuộc đời ông, thời điểm bi thảm nhất, một cách đầy đủ tới mức không một bảo tàng nào trên thế giới có thể cung cấp được một biểu hiện như vậy. Nhờ một dịp may đầu tiên tôi đã có thể có được tất cả những gì còn lại trong các đồ gỗ của phòng ông, được đem bán đầu giá sau khi ông qua đời và được ông cố vấn của triều đình Breuning mua lại, chủ yếu là chiếc bàn giấy rộng mênh mông của ông, mà trong các hộc bàn được cất giấu hai bức ảnh người yêu của ông, bà nam tước Giulietta Guicciardi và bà nam tước Erdödy, cái máy ghi âm mà ông giữ bên người cho đến những giờ phút cuối cùng, cái bàn viết nhỏ trên đó lúc đã ngã bệnh ông còn viết những bản nhạc cuối cùng, một lọn tóc trắng được cắt trên giường bệnh, thư báo tin đám tang ông, phiếu cuối cùng đưa cho người thợ giặt là mà ông viết với bàn tay run run, tư liệu kiểm kê ngôi nhà và việc quyên góp tất cả các bạn bè ở Vienne của ông để giúp đỡ cô hầu bếp của ông là Sali đang trong cơn khốn quẫn. Và hình như sự tình cờ luôn tỏ ra hào phóng đối với người sưu tập chân chính; chẳng bao lâu sau khi đã có được tất cả những đồ vật ấy trong phòng nơi ông qua đời, tôi lại có dịp làm giàu có thêm bộ sưu tập của mình với ba hình vẽ cái giường trên đó ông mất. Do những người đương thời với ông kể lại, người ta biết rằng một họa sĩ trẻ bạn của Schubert tên là Josep Teltscher đã cố gắng vẽ người sắp mất vào ngày hai mươi bảy tháng mười một, trong lúc Beethoven đang hấp hối, nhưng ông cố vấn triều đình Breuning đã đuổi ông ta ra, cho rằng làm như vậy là một sự báng bổ. Trong một trăm năm, người ta không tìm thấy những bức vẽ ấy, nhưng một hôm, trong một cuộc bán đấu giá nhỏ ở brünn, nhiều tá sổ tay các bản vẽ phác của họa sĩ đó được bán với một giá không đáng kể và trong số các bản vẽ phác đó có ba bức phác thảo này. Và như những sự tình cờ luôn nối nhau thành chuỗi, một hôm, một thương gia gọi điện hỏi tôi có quan tâm đến bản gốc bức vẽ tiến hành ở giường Beethoven lúc mất không. Tôi trả lời rằng bản thân tôi đã có bức vẽ ấy, nhưng sau đó người ta nhận ra rằng cái trang mà người ta trao cho tôi là bản gốc của bản in litô đã trở thành rất nổi tiếng của Danhauser khắc họa Beethoven trên giường khi mất. Thế là tôi đã tập hợp được tất cả những gì đã được gìn giữ, trong một hình thức tác động đến thị giác, những khoảnh khắc rất đáng ghi nhớ mà hồi ức không bao giờ phai mờ.


 


Tất nhiên là tôi không bao giờ tự xem mình là chủ nhân của các vật đó, mà chỉ là người gìn giữ chúng trong thời gian. Không phải cái cảm giác sở hữu, sở hữu cho riêng mình quyến rũ tôi, mà chính là sức lôi cuốn của việc tụ họp, của việc làm cho một bộ sưu tập trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Tôi ý thức là đã tạo được tại đây một cái gì đó mà, như là một tập hợp, nó đáng được sống lâu hơn là bản thân những tác phẩm của tôi. Dù người ta đã nhiều lần đề nghị, tôi do dự trong việc tập lập một catalô bởi vì tôi đang làm việc, tôi còn thiếu nhiều tên và nhiều mẫu vật trong dạng hoàn chỉnh nhất của chúng. Ý định đã cân nhắc kỹ lưỡng của tôi là để lại sau khi mất bộ sưu tập độc nhất này cho một viện cam kết làm đúng những điều kiện đặc biệt của tôi, tức là hằng năm dành một số tiền để bổ sung bộ sưu tập theo hướng tôi đã vạch ra. Như vậy nó không ở trạng thái một tổng thể bất biến, mà nó là một cơ thể sống được bổ sung và hoàn chỉnh thành một tập hợp luôn luôn đẹp đẽ hơn mươi năm và một trăm năm ở bên kia cuộc đời của tôi.


 


Nhưng thế hệ được thử thách của chúng tôi bị cấm mang những ý nghĩ của mình sang bên kia bản thân thế hệ mình. Ngay khi bắt đầu thời kỳ Hitler và tôi từ bỏ ngôi nhà của mình, tôi mất hết tất cả niềm vui sưu tập và mất cả lòng tin còn giữ được một cái gì lâu dài. Trong một thời gian tôi còn để những phần của bộ sưu tập thành kho trong những tủ an toàn và ở nhà các bạn bè, nhưng về sau theo lời tiên tri của Goethe nói rằng các bảo tàng, các bộ sưu tập, và các phòng lưu trữ vũ khí cũ sẽ bị hủy hoại khi người ta không tiếp tục phát triển chúng nữa, tôi quyết định rằng đúng hơn là từ giã một bộ sưu tập mà tôi không còn có thể dành cho nó sự chăm sóc tổ chức và xây dựng của tôi. Khi tôi ra đi, tôi để lại một phần cho Thư viện Quốc gia Vienne, chủ yếu là những mẫu vạt mà những bạn bè là người đồng thời với tôi tặng tôi, tôi bán đi một bộ phận khác và cái gì đã xảy đến và đang xảy đến cho phần còn lại không làm cho tâm trí tôi bận bịu. Tôi đã đặt niềm vui vào trong lao động sáng tạo, chứ không bao giờ đặt vào những gì tôi đã sáng tạo được. Vì vậy, tôi không phàn nàn về cái gìmột lần tôi đã có được. Bởi vì nếu như chúng tôi đây bị vây dồn và bị truy hại trong những thời kỳ thù địch với mọi nghệ thuật và mọi sưu tập, chúng tôi còn phải học một nghệ thuật mới, đó là nghệ thuật biết từ bỏ cả những gì đã một thời là niềm kiêu hãnh và tình thương yêu của chúng tôi.


 


*


 


Những năm tháng trôi đi như vậy trong lao động và du lịch, trong học tập và đọc sách, trong sưu tập và hưởng thụ. Tôi thức dậy một buổi sáng tháng Mười một năm 1931: tôi tròn năm mươi tuổi. Cái ngày hôm đó là một ngày đáng giận đối với người đưa thư đôn hậu tóc bạc của Salzburg. Vì ở Đức có cái tập quán tuyệt vời cử hành bằng những bài báo hợp thời, lễ sinh nhật lần thứ năm mươi một tác gia, ông già đưa thư phải mang một khối đồ sộ các thư và điện lên qua những bậc đá dốc đứng. Trước khi mở thư và điện, tôi suy nghĩ xem ngày đó có ý nghĩa như thế nào đối với tôi. Năm thứ năm mươi thể hiện một bước ngoặt, người ta lo lắng ngoái nhìn lại phía sau để đo chặng đường đã đi qua và bí mật tự hỏi nó có tiếp tục đi lên không. Tôi nhìn lại trong tâm tưởng quãng thời gian mà tôi đã sống. Vì từ ngôi nhà của tôi, tôi ở trên cao nhìn xuống dãy núi Alpes và cái thung lũng chạy xuôi thoai thoải, tôi quay nhìn năm mươi năm đã qua và tôi phải nhận rằng sẽ là một sự báng bổ nếu tôi không tỏ lòng biết ơn. Nói cho cùng thì nó đã ch tôi nhiều hơn, vô hạn là nhiều hơn cái mà tôi đã chờ đợi và mong ngóng đạt được. Phương thức mà tôi đã lựa chọn để phát triển cá thể của mình và tự biểu hiện mình: thơ ca, sản phẩm văn chương đã tỏ ra có một hiệu quả vượt quá rất nhiều những giấc mơ thuở ấu thơ mạnh dạn nhất. Có ở kia, tặng phẩm của Nhà xuất bản Ile (Hòn đảo) in cho lễ sinh nhật thứ năm mươi của tôi, một thư mục các sách của tôi phát hành trong tất cả các ngôn ngữ và bản thân nó tạo thành cả một tập sách mỏng; không một ngôn ngữ nào thiếu vắng: tiếng Bulgari hay tiếng Phần Lan, tiếng Bồ Đào Nha hay tiếng Armêni, tiếng Trung Quốc hay tiếng Maharats (Ấn Độ). Bằng văn tự của người mù, bằng tốc ký, bằng tất cả các loại chữ ngoại lai và bằng tất cả các phương ngữ. Lời nói và những suy nghĩ của tôi đã đến với con người, tôi đã làm giãn nở đến vô biên những giới hạn của cá nhân tôi. Tôi đã có được tình bạn của những người tốt nhất của thời đại tôi; tôi được thừa hưởng những cuộc biểu diễn hoàn hảo nhất, tôi đã được nhìn thấy và nếm trải những thành phố vĩnh cửu, những bức tranh bất hủ, những cảnh vật tuyệt mỹ. Tôi vẫn là người tự do, độc lập với mọi công việc và mọi nghề nghiệp; lao động của tôi là niềm vui của tôi, hơn thế nữa nó đã đem lại niềm vui cho những người khác! Còn có gì bi thảm có thể đến với tôi nữa? Có những quyển sách của tôi, ai đó có thể tiêu hủy nó chăng? (Tôi nghĩ như vậy vào giờ phút mà tôi không có sự e sợ). Tôi có ngôi nhà: ai đó có thể đuổi tôi ra khỏi nhà chăng? Tôi có những người bạn: có lúc nào tôi sẽ mất họ? Tôi không sợ hãi nghĩ đến cái chết, bệnh tật, nhưng hình ảnh xa xôi nhất không lướt qua ý nghĩ của tôi về cái mà tôi còn phải trải nghiệm, là tôi sẽ không có tổ quốc, bị xua đuổi và bị vây dồn, là tôi sẽ phải đi lại các xứ sở và các biển, mà lần này như một người bị đày biệt xứ; là các sách của tôi sẽ bị đốt, bị cấm, là cái tên của tôi ở Đức sẽ bị bêu trước công chúng như tên của một kẻ tội phạm và các bạn của tôi mà các bức thư và bức điện đang nằm trước mặt tôi ở trên bàn, sẽ tái mặt khi tình cờ gặp lại tôi. Sẽ có thể tắt đi không để lại dấu vết những gì mà ba mươi hoặc bốn mươi năm kiên trì đã sản sinh ra; sẽ có thể đổ sup cả cuộc đời đã tạo dựng nên, vững chắc và bề ngoài như không gì làm lung lay nổi và tôi sẽ buộc phải khi đã ở gần đỉnh, với sức lực đã phần nào giảm bớt và một tâm hồn bối rối, bắt đầu lại tất cả với những công sức mới. Quả thật đây không phải là một ngày để nghĩ tới những điều điên rồ và phi lý đến như vậy. Tôi có thể hài lòng. Tôi yêu mến công việc của tôi và vì thế, yêu mến cuộc đời. Tôi được bảo vệ khỏi sự lo âu; ngay nếu như tôi không viết một dòng nào nữa, các sách của tôi sẽ chăm nom đến tôi. Tất cả đối với tôi như đã đạt được, số mệnh đã được thuần phục. Sự an bình mà tôi được biết ngày xưa trong nhà của cha mẹ tôi và mất đi trong chiến tranh, tôi đã phục hồi lại được bằng sức lực của bản thân mình. Còn gì để mà mong ước?


 


Nhưng điều lạ lùng là vào giờ khắc đó việc tôi chẳng thấy gì mà tôi không thể mong muốn làm nảy sinh trong tôi một sự bứt rứt bí ẩn. Cái gì đó trong tôi - mà không phải bản thân tôi - hỏi rằng: phải chăng là điềm tốt khi cuộc đời của anh tiếp tục như thế này, bình lặng đến thế, quy củ đến thế, sinh lợi đến thế, tiện nghi đầy đủ đến thế, không có những căng thẳng mới và những thách thức mới? Cuộc sống đặc ân này toàn được bảo đảm trong bản thân nó có thực sự thuộc về anh không, có thuộc về cái thiết yếu nhất của cá nhân anh không? Tôi đi dạo đầy suy tư trong ngôi nhà. Nó đã trở nên đẹp trong những năm tháng này và đúng hệt như lòng tôi mong muốn. Tuy nhiên tôi phải sống mãi ở đây ư, mãi mãi ngồi trước cũng cái bàn giấy và viết sách, một quyển rồi một quyển nữa và sau đó nhận các phần trăm, luôn luôn nhiều phần trăm hơn, và trở nên một đức ông đáng kính, khai thác một cách hợp thời và có phẩm giá tên tuổi và tác phẩm của mình, tránh được mọi tai nạn, mọi rối ren và nguy hiểm ư? Sự vật phải chăng cứ mãi mãi diễn ra như vậy đến sáu mươi thậm chí đến bảy mươi tuổi trên một con đường thẳng và bằng phẳng? Tốt cho tôi hơn chăng - giấc mơ bên trong của tôi tiếp tục như vậy - là một điều gì khác, một điều gì mới sẽ xảy đến nó làm cho tôi lo âu hơn, căng thẳng hơn, nó làm tôi trẻ lại bằng cách kích thích tôi bước vào một cuộc chiến đấu mới có lẽ còn nguy hiểm hơn nữa? Luôn tồn tại trong người nghệ sĩ một mâu thuẫn bí hiểm. Nếu cuộc đời lay động mạnh anh ta, anh khao khát sự nghỉ ngơi, nhưng khi đã được nghỉ ngơi, anh ta khát khao những sự lay động mới. Thế là trong ngày kỷ niệm năm mươi năm của tôi, tôi chỉ hình thành trong chiều sâu tâm hồn mình mỗi một ước vọng táo bạo: là một điều gì đó xảy ra sẽ bứt tôi ra khỏi những sự yên bình và những tiện nghi hiện tại, bắt buộc tôi không phải là tiếp tục mà là bắt đầu lại. Phải chăng sự lo sợ về tuổi tác, sự mệt mỏi, sự lười biếng? Hoặc phải chăng đây là một linh tính bí ẩn làm tôi mong muốn một cuộc đời khác, nặng nề hơn, cho sự phát triển nội tâm của tôi? Tôi không biết gì nữa.


 


Tôi không biết gì cả. Vì cái trong giờ phút kỳ lạ này trỗi dậy từ trong ánh hồ nghi của vô thức không phải là một ước vọng được biểu đạt một cách rõ rệt và chắc chắn, không phải là một cái gì gắn liền với ý chí hữu thức của tôi. Đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua lướt lên người tôi như một làn gió thoảng, có thể hoàn toàn không phải là ý nghĩ của bản thân tôi mà là một ý nghĩ khác đến từ những chiều sâu tôi không hề biết đến. Song, sức mạnh bí ẩn điều khiển cuộc đời tôi, cái sức mạnh không nắm được nó đã thỏa mãn biết bao nhiêu ước vọng mà tôi đã không dám để thành hình, chính nó mà tôi đã phải cảm nhận được. Và nó đã ngoan ngoãn dang tay lên để đánh vỡ cuộc đời tôi đến những nền tảng sâu xa nhất của nó và buộc tôi phải xây dựng lại trên những đổ nát của nó một cuộc đời khác hẳn, nặng nề hơn và khó khăn hơn.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »