tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28883092
Tiểu thuyết
19.06.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Sự ác cảm đó đối với tất cả những gì dài dòng và rườm rà ắt phải từ việc đọc tác phẩm người khác đặt trở lại vào việc cấu tạo tác phẩm của mình và tạo cho tôi một sự mẫn cảm đặc biệt. Khi tôi chiều theo sự hồn nhiên của mình, tôi sáng tác dễ dàng và viết nhanh; trong lần soạn đầu tiên một cuốn sách, tôi để ngòi bút mình chạy tự do và tôi đặt thành truyện tất cả những gì tôi có trong lòng. Cũng như vậy, trong một tác phẩm tiểu sử, tôi trước tiên sử dụng tất cả những đặc điểm về tư liệu tôi có trong tay; đối với một tiểu sử như của Marie Antoinette, tôi đã thực sự kiểm tra tất cả các hóa đơn để xác định việc tính những chi tiêu cá nhân của bà, tôi đã nghiên cứu tất cả các bài báo và bài văn đả kích của thời kỳ đó, xem xét tỷ mỷ tất cả các giấy tờ của vụ án từ dòng đầu đến dòng cuối. Nhưng trong quyển sách của tôi đã in ra, người ta không thể tìm thấy lại một dòng của tất cả những thứ đó vì ngay khi văn bản đầu tiên gần đúng của một tác phẩm đã được viết sạch sẽ lại, công việc thực sự bắt đầu đối với tôi, công việc cô đọng lại và bố cục, một công việc mà tôi theo đuổi vô cùng tận, từ phương án này sang phương án khác, nếu tôi còn tự tin ở mình. Đó là một sự thường xuyên thải bớt những thức thô, một sự thường xuyên tập trung và làm trong sáng sự kiến trúc bên trong. Trong khi phần lớn các nhà văn không thể tự quyết định im lặng ở một điều gì đó họ biết, và thích thú với tất cả các dòng gây ấn tượng, muốn tỏ ra rộng hơn và sâu hơn mình trong thực tế, tham vọng của tôi là luôn biết nhiều hơn cái biểu hiện ra bên ngoài.


Cái quá trình cô đặc hóa và kịch hóa còn xảy ra một lần, hai lần, ba lần trên các bản in thử; cuối cùng điều đó trở thành một thứ săn đuổi thú vị, bao hàm việc tìm ra một câu, một chữ nữa và sự thiếu vắng không có hại cho sự chính xác mà còn đẩy nhanh thêm cốt truyện. Trong tất cả  các công việc của tôi thì việc bỏ bớt đối với tôi là thú vị hơn cả. Và tôi còn nhớ một ngày nọ tôi đứng lên đặc biệt hài lòng với công việc của mình, và vợ tôi nói với tôi rằng tôi tỏ vẻ như đã có gì thành công tuyệt vời, tôi trả lời: “Đúng, anh đã bỏ được cả một đoạn văn và bằng cách đó tìm ra một sự chuyển tiếp nhanh hơn”. Vậy nếu đôi khi người ta khen trong các sách của tôi sự uyển chuyển đầy lôi cuốn, phẩm chất đó hoàn toàn không là kết quả của một sự nồng nhiệt tự nhiên hay của một sự rung động bên trong, mà duy nhất là kết quả của một phương pháp và một hệ thống bao gồm việc không ngừng lược bỏ những chỗ ngừng lại vô ích và những tiếng động nhiễu tạp, và nếu tôi ý thức được một hình thức nghệ thuật nào đó, đó có thể chỉ là nghệ thuật từ bỏ, vì tôi không phàn nàn mình khi trong số một ngàn trang viết ra tám trăm đi theo con đường vào sọt giấy loại và chỉ có hai trăm tồn tại, mà đó là tinh chất đã được chắt lọc. Nếu có một cái gì đó cắt nghĩa ở một mức độ nào đó thành công các sách của tôi, đó là thứ kỷ luật buộc tôi phải hạn chế mình trong những hình thức có hạn nhưng luôn là cái tuyệt đối thiết yếu và tôi, một người mà tư duy hướng về cái châu Âu, cái quốc tế, tôi thực sự sung sướng nhận ra rằng các nhà xuất bản nước ngoài: Pháp, Bungari, Armêni, Bồ Đào Nha, Achentina, Nauy, Letôni, Phần Lan, Trung Quốc đề nghị xuất bản các tác phẩm của tôi. Tôi phải mua ngay một tủ tường to tướng để xếp tất cả những bản dịch khác nhau và một ngày nọ, tôi đọc trong tờ thông tin của “Sự hợp tác trí tuệ” thuộc Hội Quốc liên rằng vào thời đó tôi là tác giả được dịch nhiều nhất trên toàn thế giới (phù hợp với tính cách của tôi, tôi cho rằng đây chẳng qua là một tin sai). Một hôm, tôi nhận được một lá thư của một nhà xuất bản Nga báo tin rằng họ muốn phát hành toàn tập các tác phẩm của tôi bằng tiếng Nga và hỏi tôi xem có đồng ý để Maxim Gorki viết lời giới thiệu không. Ở trường phổ thông tôi đã đọc các truyện của Gorki giấu dưới hộc bàn và tôi đã yêu mến và khâm phục ông từ nhiều năm nay. Nhưng tôi không bao giờ hình dung là ông đã nghe đọc tên tôi và cuối cùng một bậc thầy như vậy lại xét thấy mình xứng đáng viết lời tựa cho các sách của tôi. Một hôm khác lại xuất hiện tại ngôi nhà của tôi ở Salzburg, kèm theo một giấy giới thiệu - làm như nó là cần thiết lắm! - một nhà xuất bản Mỹ cũng đề nghị gánh vác việc xuất bản toàn tập của tôi và phát hành liên tục không gián đoạn. Đó là Benjamin Huebsch của Viking Press, người bấy lâu đã trở thành bạn và cố vấn chắc chắn nhất của tôi, và bởi vì tất cả những điều đó bị đôi bốt lật mép của Hitler chà đạp và giẫm nát, đã bảo đảm cho tôi một tổ quốc cuối cùng trong ngôn từ sau khi tôi đã mất cái cũ, cái chân chính, cái tổ quốc Đức, cái tổ quốc châu Âu.


*


Một thành công như vậy trước công chúng rất đặc thù để đánh lạc hướng một người đến lúc này chỉ tin ở thiện chí của mình hơn là ở tài năng và hiệu quả các tác phẩm của mình. Tự thân nó, mọi hình thức của sự nổi tiếng đều sản sinh ra trong con người một sự mất thăng bằng. Bình thường tên mà một người mang không gì hơn là cái vòng của một điều xì gà, một dấu hiệu để phân biệt, một đồ vật ở bên ngoài và hầu như không quan trọng, chỉ có một liên hệ khá lỏng lẻo với cái chủ thể chân chính, cái tôi thiết yếu. Trong trường hợp thành công, cái tên ấy phồng lên thật vô hạn. Nó tách khỏi con người mang nó và tự bản thân nó trở thành một quyền lực, một vật tự thân, một mặt hàng, một cái vốn và bằng một cú sốc dữ dội trở lại, nó biến thành ở bên trong một sức mạnh bắt đầu phát huy ảnh hưởng, thống trị, thay đổi con người mang nó. Những tính cách may mắn, ý thức được giá trị của mình, tự đồng nhất một cách vô thức với ảnh hưởng mà những tính cách ấy gây nên. Một chức vị, một hoàn cảnh, một mệnh lệnh và càng hơn thế, một sự nổi tiếng tạo ra quanh cái tên của họ sức mạnh, gây ra ở họ một sự yên bình lớn, một sự tin cậy lớn hơn ở bản thân họ và có thể gợi ra cho họ cảm giác rằng họ có được tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội, trong quốc gia và trong thời đại; họ phồng lên một cách không cố ý để đạt tới, qua con người họ, khối lượng của ảnh hưởng bên ngoài của họ. Nhưng người nào mà vì bản tính sẵn có sự ngờ vực đối với bản thân mình cảm nhận mọi thứ thành công như là một sự bắt buộc phải giữ mình không thay đổi, nếu có thể được, trong một hoàn cảnh khó khăn đến như vậy.


Tôi không muốn qua đấy nói rằng tôi không hạnh phúc với thành công của tôi. Trái lại nó làm tôi vui mừng lắm, song chỉ trong chừng mực nó tự hạn chế trong các sản phẩm trí tuệ của tôi, ở các quyển sách của tôi và ở các dạng thức của tên tôi gắn liền với chúng. Thật xúc động khi đứng trong một hiệu sách ở Đức, và không biết ai cả, thấy một cậu học sinh trung học đệ nhị cấp đi vào và hỏi mua quyển Những giờ rực sáng; trả bằng số tiền bỏ túi ít ỏi của mình. Tính kiêu căng được khuyến khích một cách dễ chịu khi trong một toa nằm, người hướng dẫn sau khi nhìn thấy tên tôi đã cầm hộ chiếu của tôi một cách kính cẩn hơn, hoặc một nhân viên hải quan Italia, trong một tình cảm biết ơn đối với một quyển sách anh ta đã đọc, rộng lượng từ chối không lục soát hành lý của tôi. Yếu tố thuần túy định lượng của một ảnh hưởng thường có một cái gì đó hấp dẫn và quyến rũ đối với một tác giả. Tình cờ tôi đến Leipzig một ngày mà một trong những quyển sách tôi được phát hành. Tôi rất tò mò muốn thấy bao nhiêu lao động của con người đã được sử dụng bởi vì người ta đã viết trong ba hoặc bốn tháng lên ba trăm trang giấy. Một số công nhân đóng gói sách vào những thùng to tướng, số khác vừa kéo chúng vừa rên rỉ đến những chiếc xe tải đang đợi ở bên dưới; những chiếc xe này đến lượt mình đưa chúng đến các toa xe hỏa đi về mọi hướng. Hàng chục cô gái xếp các tờ giấy thành đống trong nhà in, những người thợ gấp, thợ đóng, những người gửi đi, những người nhận chuyên chở làm việc từ sáng sớm đến chiều tối, và người ta có thể tính rằng những quyển sách ấy nếu xếp theo kiểu gạch lát có thể dùng để xây dựng một con đường bề thế. Tôi không bao giờ khinh bỉ một cách cao ngạo phương diện vận chất. Lúc khởi đầu, tôi không dám nghĩ rằng bao giờ tôi có thể kiếm được tiền với các tác phẩm của mình và cả tạo dựng được một cuộc sống trên các sản phẩm của mình. Thế mà chúng bỗng chốc mang lại cho tôi những khoản tiền đáng kể ngày càng lớn hơn và dường như trút bỏ cho tôi mọi lo âu; ai có thể tưởng vào thời kỳ chúng tôi đang sống, tôi có thể rộng rãi dấn mình vào sự đam mê xưa cũ của thời thanh niên, là sưu tập các bút tích và nhiều trong số các di vật đẹp nhất và quý nhất tìm thấy ở nhà tôi một nơi ẩn náu được gìn giữ với chan chứa yêu thương (nếu người ta xem xét chúng từ một quan điểm hơi cao ngạo) ttôi có thể có được bản thảo những tác phẩm bất hủ, những bản viết tay của Mozart, Bach, Beethoven, Goethe, Balzac. Đối với tôi sẽ là làm bộ làm tịch một cách buồn cười nếu tôi khoe rằng sự thành công quá sức mong đợi vẫn giữ tôi dửng dưng hoặc trong thâm tâm tôi còn bực dọc cau có với nó.


Nhưng tôi hoàn toàn chân thật khi tôi nói rằng tôi vui mừng với những thành công của tôi trong chừng mực chỉ liên quan đến các sách của tôi và tên của tôi trong văn học, nhưng chúng trở thành gắng nặng đối với tôi khi cộng thêm vào đó sự hiếu kỳ đối với con người thể chất của tôi. Từ thời đầu tuổi thanh niên của tôi, không gì mạnh mẽ trong tôi hơn là ước muốn thầm kín được tự do và độc lập. Và tôi nhận thấy rằng ở mỗi con người, cái tốt nhất trong tự do cá nhân của nó bị làm nguy hai và hư hỏng bởi sự công khai mà các tấm ảnh tạo ra cho nó. Hơn nữa, cái mà tôi đã tiến hành theo thiên hướng có nguy cơ biến thành nghề nghiệp và cả sự bóc lột. Mỗi chuyến thư mang lại cho tôi một đống những thư, thiếp mời, đơn xin, lời yêu cầu phải trả lời. Và nếu thảng hoặc tôi đi du lịch một tháng, sau đó tôi mất hai hay ba ngày để thanh toán cái khối đã chất đống lại và đưa lại vào trật tự “nhịp điệu công việc của tôi”. Thế là dù không muốn tôi tự thấy bị kẹt vào việc bán các sách của mình như một thói thương mại, nó đòi hỏi sự trật tự, sự chú ý, sự đúng giờ và sự khéo léo để được dẫn dắt tốt - mọi phẩm chất đáng kính nhất, nhưng khốn thay, lại hoàn toàn không thích hợp với bản tính của tôi và có nguy cơ làm rối loạn một cách tâihị nhất tính hồn nhiên của sự suy ngẫm và mơ mộng của tôi. Người ta càng yêu cầu tôi làm những cuộc diễn thuyết, hiện diện trong những cuộc biểu tình chính thức, tôi càng thu mình ở nơi ẩn dật và tôi không bao giờ có thể khắc phục cái sợ hầu như  bệnh lý trả lời bằng tên tôi qua con người tôi. Cả ngày nay nữa, tôi có xu hướng bản năng đứng ở hàng cuối cùng ở nơi ít được nhìn thấy nhất trong một gian phòng, một buôkỉ hòa nhạc, một cuộc biểu diễn sân khấu, và không gì không chịu nổi đối với tôi hơn là trưng mặt mình để người ta nhìn trên một sàn diễn hoặc một nơi nào khác kiểu như vậy. Ngay khi tôi còn bé tí, tôi đã không hiểu nổi những nhà văn và nghệ sĩ của thế hệ trước muốn làm cho người khác nhận ra mình trên  đường phố bằng những áo vét dạ và những đầu tóc bồn, bằng những xoắn tóc rũ xuống trán như chẳng hạn các bạn đáng kính của tôi Arthur Schnitzler và Hermann Bahr, hoặc bằng một lát cắt ngang đột ngột ở bộ râu hoặc bằng một y phục lố lăng. Tôi tin chắc rằng việc được biết đến trong vẻ ngoài, vô tình đưa một con người đến chỗ biến thành “cái ánh phản chiếu của cái tôi riêng mình”, như cách diễn đạt của Werfel, đến chỗ trong mỗi cử chỉ làm theo một phong cách nhất định, và với sự biến đổi của tư thế bề ngoài đó, thường mất đi sự thân tình, sự tự do và sự vô tư lự của bản tính sau kín. Nếu tôi phải bắt đầu lại cuộc đời mình, tôi có khát vọng được hưởng gấp đôi hai hoàn cảnh hạnh phúc đó, là những thành công trong văn chương và sự vô danh của cá nhân, bằng cách xuất bản các tác phẩm của mình dưới một cái tên khác, một cái tên mượn, một bút danh. Vì nếu cuộc đời trong bản thân nó là tràn đầy những quyến rũ và những bất ngờ, thì huống chi là một cuộc đời gấp đôi!


 


MẶT TRỜI LẶN


 


Đó là đối với châu Âu - tôi luôn nhớ lại điều này với lòng biết ơn - một thời kỳ tương đối yên tĩnh - cái thập kỷ trải dài từ 1924 đến 1933, trước khi con người độc nhất đó khuấy đảo thế giới. Đúng là vì nó đã đau khổ ê chề với những náo động, thế hệ chúng tôi hưởng nền hòa bình tương đối như một vật tặng quá sức mong đợi. Tất cả chúng tôi đều có cảm giác là chúng tôi phải bù lại những gì mà các năm chiến tranh và sau chiến tranh đã cướp đi trong cuộc đời chúng tôi về mặt hạnh phúc, tự do, sự tập trung nội tâm. Người ta làm việc nhiều hơn nhưng dễ dàng hơn, người ta đi du lịch, người ta thử sức, người ta khám phá châu Âu và thế giới. Không bao giờ con người xê dịch nhiều như trong những năm đó, - phải chăng đó là sự nóng lòng của những người trẻ tuổi bù đắp nhanh nhất có thể được những gì họ thiếu thốn trong sự cô độc người này đối với người kia? Phải chăng đó có thể là một tiên cảm mơ hồ báo trước cho chúng tôi phải kịp thời ra khỏi khoảng không gian hạn chế trong đó chúng tôi bị giam hãm trước khi đập chắn bị lập lại?


Tôi cũng vậy, trong thời gian đó tôi đã đi nhiều, nhưng đây đà là một loại du lịch khác với thời tôi còn thanh niên. Vì tôi không còn là một người lạ trong những nước xa xôi; đâu đâu tôi cũng có các bạn bè, những nhà xuất bản, một công chúng; tôi đến với tư cách tác giả của các sách tôi, tôi không còn là một người vô danh hiếu kỳ ngày xưa. Điều này tạo cho tôi mọi thứ lợi thế. Tôi có thể đấu tranh mạnh mẽ hơn cho ý tưởng mà từ nhiều năm nay đã là ý tưởng của tất cả cuộc đời tôi. Tôi diễn thuyết ở Thụy Sĩ, Hà Lan, tôi nói tiếng Pháp ở Lầu Nghệ thuật tai Bruxelles, nói tiếng Italia ở Florence trong gian phòng lịch sử Dugento, mà Michel Ange và Léonard de Vinci đã dự họp, nói tiếng Anh ở Hoa Kỳ trong một vòng đi diễn thuyết từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Đây là một cách du lịch khác; bây giờ khắp nơi tôi gặp trong môt tình bạn bè đẹp đẽ những trí tuệ lớn nhất của đất nước mà không phải tìm kiếm; những nười mà thời trẻ tuổi của tôi, tôi ngẩng lên nhìn đầy vẻ cung kính, mà tôi không bao giờ dám viết một dòng cho họ, đã trở thành bạn của tôi. Tôi vào các câu lạc bộ thường kiêu hãnh đóng cửa đối với người nước ngoài; tôi xem các lâu đài ở khu ngoại ô Saint Germain, các palazzi( ) Italia, những bộ sưu tập tự nhiên; trong các thư viện công, tôi không còn phải đứng cầu cạnh trước ô cửa phân phối sách; các giám đốc thân hành chỉ cho tôi những kho tàng giấu kín; tôi được đón tiếp tại nhà những người sưu tầm đồ cổ triệu phú, như tiến sĩ Rosenbach ở Philadelphia, mà trước các cửa hiệu của họ người sưu tập nhỏ bé là tôi trước đây chỉ dám đưa mắt nhìn trộm. Lần đầu tiên tôi đi vào cái mà người ta gọi là “giới thượng lưu”, với niềm thích thú và sự dễ dàng là không phải quấy rầy ai để được giới thiệu vào đó, vì tất cả đến với tôi một cách hồn nhiên. Tôi có vì vậy mà nhìn thấy đời tốt hơn chăng? Tôi luôn hoài niệm những cuộc đi ngày xưa, lúc tôi không được chờ đợi ở chỗ nào cả và sự cô độc của tôi làm cho mọi cái xuất hiện trước mặt tôi một cách bí ẩn hơn; và vì vậy tôi không muốn từ bỏ hoàn toàn cách đi du lịch cũ của tôi. Khi tôi đến Paris, tôi cố tránh không báo cho những người bạn tốt nhất của tôi như Roger Martin du Gard, Jules Romain, Duhamel, Masereel. Tôi muốn trước tiên lang thang qua các đường phố, như khi còn sinh viên, không bị quấy rầy và không được chờ đợi. Tôi tìm lại những quán cà phê cũ và những tiệm ăn nhỏ; tôi thích thú chìm đắm trong tuổi thanh niên của mình; cũng vậy, khi tôi muốn làm việc, tôi đi đến những nơi phi lý nhất, trong một thành phố nhỏ tỉnh lẻ như Boulogne, Tirano hoặc Dijon. Thật kỳ diệu được làm người không quen, được ở những khách sạn nhỏ sau khi đã ở những khách sạn sang trọng và buồn tẻ, được đứng ra phía trước hoặc rút ra xa một mình, được xen kẽ bóng tối và ánh sáng tùy theo ý thích của mình. Và sau này Hitler có lấy đi của tôi gì gì nữa, hắn cũng không thể tịch thu hoặc tiêu diệt cái ý thức tốt đã sống ít nhất mười năm theo sở thích của tôi, với sự tự do bên trong trọn vẹn và với tư cách người châu Âu.


*


Trong số các cuộc đi, một cuộc đối với tôi đặc biệt hứng khởi và bổ ích, tôi muốn nói cuộc du lịch đến nước Nga mới. Năm 1914, ngay trước chiến tranh và khi tôi đang làm việc cho quyển sách của tôi về Dostoðevski, tôi đã chuẩn bị cho chuyến đi; nhưng lúc đó, một sự ngại ngùng đã giữ tôi lại. Nước Nga, nhờ có kinh nghiệm của chủ nghĩa bolsêvich, đã trở thành nước làm mê hồn nhất thời sau chiến tranh đối với tất cả những người trí thức không được biết đến thật rõ ràng, nó gây nên những sự thán phục cuồng nhiệt và những nỗi căm hờn mãnh liệt. Nhờ sự tuyên truyền và chiến dịch bôi nhọ cũng điên rồ như vậy không ai biết một cách chắc chắn những gì xảy ra bên đó. Nhưng người ta biết rằng ở đó đang được thử nghiệm một cái gì hoàn toàn mới, một cái gì có thể là quyết định, hoặc về mặt tốt hoặc về mặt xấu, đối với bộ mặt tương lai của thế giới chúng ta. Shaw, Wells, Barbusse, Istrati, Gide và nhiều người khác đã đi đến đó, những người này trở về đầy hứng khởi, những người khác thất vọng; và tôi sẽ không phải là người gắn bó về mặt trí tuệ với cái mới và hướng về nó nếu tôi không có mưu toan bản thân tôi cũng đi đến đó để có một hình ảnh từ kinh nghiệm của riêng mình. Sách của tôi cực kỳ phổ biến ở đó, không những bộ toàn tập với lời giới thiệu của Gorki, mà cả những lần xuất bản nhỏ rẻ tiền, mà người ta có thể mua với vài côpêch, đi sâu vào quảng đại quần chúng. Tôi chắc rằng tôi sẽ được đón tiếp tốt tại đó. Điều giữ tôi lại là mọi du lịch tới Nga lúc bấy giờ đã bao hàm một thứ xác định lập trường và bắt buộc một sự tán thành hoặc ngược lại một sự từ chối công khai, trong khi tôi, thì tôi ghét cay ghét đắng mọi chính trị và mọi giáo điều, tôi không muốn để bị áp đặt một ý kiến sau vài tuần quan sát ở một nước rộng lớn và xem xét một vấn đề chưa được giải quyết. Vì vậy, mặc dù sục sôi hiếu kỳ, tôi không bao giờ có thể quyết định đi đến nước Nga của các xô viết.


Thế là mùa xuân năm 1938 tôi được mời dự, với tư cách là đại diện của các nhà văn Áo, lễ kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Lev Tolstöi và đọc lời chào mừng vào buổi tối. Tôi không có lý do gì để né tránh một cơ hội như vậy; vì đây không phải là một sự biểu lộ về đảng phái, cuộc đi thăm của tôi như vậy thoát khỏi vòng chính trị. Tolstöi, tông đồ của bất bạo động, không thể được xem là một người bolsêvich, và tôi tự nhận có quyền rõ ràng nói về ông với tư cách một nhà văn, bởi vì quyển sách nhỏ của tôi về ông được phổ biến với nhiều ngàn bản. Về phương diện châu Âu, cuộc họp các nhà văn của tất cả các nước, tỏ lòng cảm phục chung đối với nhà văn lớn nhất, tỏ ra là một chứng minh có tầm cỡ nhất định. Tôi nhận lời và tôi không phải ân hận về quyết định nhanh chóng của mình. Ngay việc đi qua Ba Lan đã là một trải nghiệm trong những trải nghiệm lý thú nhất. Tôi thấy thời đại chúng ta có thể chữa lành các vết thương mà nó gây ra cho bản thân nó nhanh chóng biết bao. Cùng những thành phố ấy của Galixie mà tôi đã thấy đổ nát năm 1915 ngày nay đã được dựng lại, mới mẻ và sạch sẽ. Tôi nhận ra một lần nữa rằng mười năm trong đời sống một cá nhân được coi là một phần quan trọng trong sự tồn tại của người đó, nhưng chỉ là một nháy mắt trong cuộc sống của một dân tộc. Ở Varsava, người ta không thể phát hiện một dấu vết chứng tỏ làn sóng các đạo quân thắng trận và thua trận đã tràn qua nơi đây hai lần, ba lần, bốn lần. Các tiệm cà phê chật ních những phụ nữ sang trọng. Những sĩ quan đi dạo qua các đường phố, người dong dỏng cao và thắt lưng bó chặt trong các bộ đồng phục, cho ấn tượng là những diễn viên hoàn hảo đóng vai người lính. Đâu đâu cũng có sự hoạt động; người ta cảm thấy sự tin cậy và lòng kiêu hãnh chính đáng của nước cộng hòa Ba Lan trẻ tuổi đã đứng lên vững vàng từ những đống vôi gạch đổ nát của nhiều thế kỷ. Từ Varsava, tôi đi tiếp về phía biên giới nước Nga. Miền này của đất nước đã bằng phẳng hơn và nhiều cát hơn; ở mỗi nhà ga, dân chúng cả làng tụ họp lại trong những bộ y phục sặc sỡ vì một chuyến tàu khách độc nhất lúc đó đi qua đất nước bị cấm và đóng cửa, và là sự kiện lớn nhìn thấy những toa tàu bóng lộn của một chuyến tốc hành nối thế giới phương Đông với thế giới phương Tây. Cuối cùng tôi đến ga biên giới Niegorolié. Bên trên các con đường, một băng rộng màu máu được trưng lên với một câu ghi mà tôi không thể đọc được những chữ cái Xirin. Người ta dịch cho tôi: “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!”, khi đi qua dưới cái băng màu đỏ tươi đó, người ta đã đi vào vương quốc của giai cấp vô sản, vào Liên bang Xô viết, vào một thế giới mới. Quả thật đoàn tàu trong đó chúng tôi đi du lịch không có gì vô sản. Đây là con tàu toa nằm của thời Nga hoàng, tiện lợi hơn và đầy đủ hơn các tàu sang trọng châu Âu vì nó rộng hơn và chạy chậm hơn. Tôi đi qua nước Nga lần đầu và điều lấy làm lạ là nó không gây cho tôi một cảm tưởng xa lạ. Tất cả đối với tôi đều quen thuộc một cách diệu kỳ, thảo nguyên mênh mông và trống không với vẻ sầu muộn dịu dàng của nó, những ngôi nhà nhỏ nông thôn Nga và những thành phố nhỏ với những tháp có vòm bát úp phía trên, những người đàn ông râu dài, nửa nông dân nửa nhà tiên tri, chào chúng tôi với những nụ cười khoan dung, những người phụ nữ khăn trùm đầu có đốm sặc sỡ và áo bơlu trắng đang bán nước kvatx, trứng và dưa chuột. Tôi làm sao biết được những thứ ấy? Chỉ là do đã nắm vững văn chương Nga - do Tolstöi, Dostoðevski, Aksakov, Gorki đã mô tả cho chúng ta cuộc sống của “dân chúng” với một chủ nghĩa hiện thực tuyệt vời. Dường như tôi hiểu được những con người mặc dầu tôi không biết tiếng của họ, khi họ nói, những người đàn ông ấy với một sự giản dị rất đáng cảm động đứng vững trên những bàn chân trong những áo bơlu rộng thùng thình, và những công nhân trẻ ấy ở trên tàu đang chơi cờ hoặc đọc sách hoặc thảo luận, đời sống tinh thần đầy lo âu và không khuất phục được ấy của tuổi thanh niên, qua lời kêu gọi gửi đến tất cả các lực lượng, đang còn thử nghiệm một sự phục sinh đặc biệt. Có phải lòng yêu mến Tolstöi và Dostoðevski đối với “dân chúng” đã cho tôi cảm tưởng là đang hồi tưởng lại, - dù thế nào đi nữa tôi đã cảm nhận ở trên tàu một sự đồng cảm đối với những gì là trẻ con, là xúc động, là khôn ngoan, là dốt nát ở những con người ấy.


Mười lăm ngày của tôi ở Nga Xô viết đã trôi đi trong một trạng thái thường xuyên căng thẳng cao độ. Người ta gặp nhau, người ta nghe nhau, khen ngợi nhau, chán nhau, người ta hứng khởi, người ta tức giận, đó là một cuộc tắm gương sen kéo dài xen kẽ nóng ran và lạnh buốt theo kiểu xứ Xcôtlen. Thành phố Moskva trong bản thân nó cũng mang một tính cách hai mặt: đây Hồng trường tráng lệ với những thành quách và gác chuông vòm bát úp tạo nên một vẻ gì Tácta, phương Đông và Bizanxơ lộng lẫy và do đó đặc biệt Nga, và ngay bên cạnh như một đàn ngoại lai những khổng lồ Mỹ, những nhà chọc trời siêu hiện đại. Không có gì là tương hợp; trong các nhà thờ còn tỏa sáng yếu ớt những tranh thánh khắc trên gỗ bị khói các cây nến làm đen và những bàn thờ xếp đầy các châu báu của các thánh, và cách xa một trăm mét an nghỉ trong một quan tài thủy tinh thi hài của Lênin vừa mới mặc một chiếcáo đen (tôi không biết có phải là để chào mừng chúng tôi). Bên cạnh một vài chiếc ô tô sáng loáng, những “istochnik”( ) râu rậm và cáu bẩn thúc những con ngựa bé gầy của họ bằng những lời vỗ về tạo thành tiếng những cái hôn, nhà hát lớn ca kịch trong đó chúng tôi đọc lời chào mừng chói lọi một ánh rạng rỡ sang trọng, mang tính chất hoàn toàn Nga hoàng trước một công chúng vô sản, và ở ngoại ô là những căn nhà mối mọt như những cụ già cáu bẩn và bị lãng quên, phải đứng tựa vào nhau để khỏi sụp đổ. Tất cả đã già nua quá lâu và chậm chạp và hoen gỉ nhưng lại muốn đột ngột trở thành hiện đại, siêu hiện đại, siêu kỹ thuật. Vì sự vội vã đó mà Moskva tạo cảm tưởng quá tràn đầy, quá đông đúc và luôn ở trong một trạng thái rỗi loạn không thể tả được. Khắp nơi người ta chen nhau trong các cửa hàng, trước các nhà hát, và khắp nơi người ta phải chờ đợi; tất cả đều quá được tổ chức và chính vì thế mà không vận hành tốt. Tệ quan liêu mới, phải làm ra “trật tự”, vẫn còn lấy việc viết các phiếu và các giấy phép làm thú vui và vì vậy làm chậm trễ tất cả. Buổi dạ hội lớn, lẽ ra phải bắt đầu lúc sáu giờ, khởi sự lúc chín giờ rưỡi; khi tôi từ giã nhà hát ca kịch mệt bã người lúc ba giờ sáng, các diễn giả vẫn điềm nhiên tiếp tục diễn thuyết. Ở mỗi cuộc đón tiếp, ở mỗi cuộc hẹn gặp, người châu Âu đến trước một tiếng đồng hồ. Thì giờ tan đi giữa các ngón tay của chúng tôi, tuy nhiên mỗi giây đều tràn đầy một cách kỳ lạ bởi những nhận xét và tranh luận; tôi không rõ có một cơn sốt nào đó trong tất cả những cái ấy và người ta cảm nhận rằng nó chiếm lấy bạn một cách lừa lọc, sự bốc cháy bí ẩn ấy của tâm hồn Nga và niềm vui không chế ngự được của nó rút ra từ nó tất cả mọi thứ, nhưng tình cảm và những ý tưởng. Không biết rõ vì sao, người ta hứng khởi một cách nhẹ nhàng, cái đó là do bầu không khí nào động và mới.


Rất nhiều thứ thật là tuyệt diệu, Lêningrat trước hết, cái thành phố được những ông hoàng táo bạo thai nghén một cách thiên tài với những viễn cảnh rộng, những lâu đài mênh mông, - tuy nhiên vẫn còn là cái Pêtecxbua ngột ngạt của những “đêm trắng”( ) và của Raskolnikov( ). Bảo tàng Ecmitagiơ thật là oan nghiêm; một cảnh tượng không thể nào quên là cảnh tượng những đám thợ thuyền, binh lính, nông dân mang những đôi giày to dạo trong những gian phòng trước kia là của hoàng tộc, mũ cung kính cầm tay như ngày xưa đứng trước các tranh thánh, ngắm nhìn những bức tranh, rồi tự nói với niềm kiêu hãnh thầm kín: cái này ngày nay thuộc về chúng ta, và chúng ta sẽ cố gắng để hiểu những thứ này. Những thầy giáo tiểu học dẫn những đứa trẻ má bụ bẫm qua các phòng; những ủy viên Mỹ thuật giải thích Rembrant và Titien cho những nông dân đang nghe họ một cách hơi miễn cưỡng; mỗi khi người ta chỉ cho họ một đặc điểm nào đó, họ rụt rè dướn cặp mắt lên dưới những hàng lông mày nặng trĩu. Ở đây cũng như ở mọi nơi khác, có một cái gì hơi buồn cười trong những cố gắng thuần khiết và trung thực để nâng ngày này qua ngày khác “dân chúng” không biết chữ đến mức hiểu được Beethoven và Vermeer; những cố gắng đó, một phía để giúp hiểu ngay một lúc những giá trị cao nhất và phía kia để tự mình hiểu những giá trị đó, đều cùng thiếu kiên nhẫn ở phía này cũng như phía kia. Tại các trường người ta cho phép trẻ vẽ những cái kỳ quặc; trong hộc bàn những nữ sinh mười hai tuổi, người ta tìm thấy những tác phẩm của Hegel và Sorel( ) (mà bản thân tôi cũng chưa biết); những người đánh xe ngựa, mới đọc được chữ một cách khó khăn, cầm trong tay những quyển sách, đơn giản chỉ vì đó là những quyển sách, và vì sách biểu hiện “văn hóa”, vậy nó là vinh dự và bổn phận của giai cấp vô sản mới. Nhưng biết bao lần chúng tôi không thể nhịn cười khi người ta chỉ cho chúng tôi những nhà máy cỡ trung bình và chờ đợi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của chúng tôi, làm như chúng tôi chưa bao giờ được thấy ở châu Âu và ở Mỹ; “điện”, một công nhân kiêu hãnh nói với tôi khi chỉ cho tôi xem một máy may; và anh nhìn tôi trong sự chờ đợi tôi thét lên những tiếng thét kinh ngạc. Vì dân chúng nhìn thấy tất cả các máy ấy lần đầu, họ khiêm tốn tin rằng chính là cách mạng và những cha già Lênin và Trotzki đã chế tạo ra chúng. Vì vậy người ta cười mà thán phục và người ta thán phục mà vẫn cảm thấy vui vui một cách kín đáo. Cái nước Nga ấy quả là một đứa trẻ lớn có năng khiếu tuyệt vời và khoan dung làm sao! Người ta luôn nghĩ như vậy và người ta tự hỏi: Nó thực sự đã học được nhanh đến như nó tự đặt ra bài học lớn loa ấy hay sao? Kế hoạch này phải chăng sắp phát triển một cách kỳ lạ hay mất hút trong những trảng cát của sự vô công rồi nghề Nga cũ. Giờ này người ta tin tưởng, giờ sau người ta ngờ vực. Tôi càng thấy nhiều điều, thì tôi càng nhìn kém rõ ràng.


Nhưng sự hai mặt đó có phải là do tôi, hay đúng hơn phải chăng nó được hun đúc trong tính cách Nga hoặc cả trong tâm hồn Tolstoï mà chúng tôi vừa kỷ niệm? Trong chuyến tàu đưa tôi đến Yasnaia-Poliana, tôi nói điều đó với Lounatcharski. Lounatcharski nói với tôi: “Ông ta là ai, nói cho cùng, một nhà cách mạng hay một kẻ phản động? Bản thân ông có biết điều đó không? Như là một người Nga chân chính, ông muốn sau hàng ngàn năm, thay đổi toàn thế giới bằng một cái ngoáy tay. - Hoàn toàn như chúng tôi. Lounatcharski mỉm cười nói thêm: và bằng mỗi một công thức, hoàn toàn như chúng tôi, người ta nhìn chúng tôi, những người Nga, không đúng, khi người ta bảo chúng tôi là những người bệnh lý. Chúng tôi là con bệnh cả thể chất lẫn tâm hồn. Nhưng với tư tưởng của mình, chúng tôi thiếu kiên nhẫn hơn bất cứ dân tộc nào khác, chúng tôi muốn biết ngay tất cả các sự thật, biết ngay “cái” Sự thật… Và ông cụ mới tự hành hạ mình biết bao về đề tài đó! Và quả thật khi thăm ngôi nhà của Tolstoï ở Yasnaia-Poliana, tôi chỉ có một cảm xúc duy nhất này: “Ông già lớn lao, ông đã tự hành hạ mình biết bao!”.


Còn đó bàn giấy của ông, trên đấy ông đã viết những tác phẩm bất hủ của mình; và ông đã từ bỏ cái bàn giấy ấy để đóng giày ở một căn buồng nghèo khổ bé tí ở bên cạnh, những đôi giày tồi. Kia là cái cửa ra vào, kia là cái cầu thang từ đấy ông đã mưu toan thoát khỏi ngôi nhà này, thoát khỏi những xung đột trong cuộc sống của mình. Kia là khẩu súng mà ông đã dùng để giết kẻ thù trong chiến tranh, trong khi ông là kẻ thù của mọi cuộc chiến tranh. Toàn bộ vấn đề của cuộc đời ông được biểu hiện mạnh mẽ và rõ rệt trong ngôi nhà nông thôn trắng và thấp này, nhưng tất cả cái bi thảm đó giảm đi một cách kỳ diệu trong khi đến thăm ngôi mộ của ông.


Vì tôi không tìm thấy ở nước Nga một cái gì lạ lùng hơn và gây xúc động hơn ngôi mộ của Tolstoï. Cái nơi hành hương lừng danh ấy nằm ở một góc hẻo lánh và quạnh hiu trong một cánh rừng sâu. Một con đường mòn nhỏ dẫn tới cái đồi con đó, nó chỉ là một mô đất vuông không một ai canh giữ, không một ai chăm sóc, chỉ được một vài cây tỏa bóng râm xuống đó. Cô cháu gái của Người đứng trước mộ giải thích cho tôi: Các cây lớn, chính Lev Tolstoï đã tự trồng. Ông anh Nicolas của Người và bản thân Người đã nghe một bà già trong làng nói rằng nơi mà người ta trồng cây chính là nơi đại hạnh phúc. Thế là một phần để đùa và một phần là nghiêm túc, họ đã cắm xuống đất mấy chồi cây. Chỉ có về sau ông cụ mới nhớ lại lời hứa kỳ lạ đó và ngỏ ý muốn được an táng dưới những cây mà bản thân ông cụ đã trồng. Ý nguyện của ông được chấp thuận và đây là ngôi mộ gây xúc động nhất thế giới bởi sự giản dị của nó. Một mô đất vuông nhỏ giữa rừng với những cây cao vút - nulla cruse, nulla côrôna, không một cây thánh giá, không một vòng hoa! Không có đá lát mộ, không mộ chí. Con người lớn lao, con người đã đau khổ hơn bất cứ ai khác vì cái tên của mình và nỗi vinh quang của mình được chôn cất ẩn danh, hệt như một kẻ lang thang tình cờ được tìm thấy, như một người lính không ai biết tới. Người ta không ngăn cản ai đến gần nơi ông an nghỉ, rào chắn chỉ là những tấm ván mỏng bao quanh không hề bị đóng lại. Chỉ có sự tôn kính của những con người bảo vệ cho sự yên nghỉ cuối cùng của con người trọn đời không bao giờ tìm thấy sự yên nghỉ. Trong khi ở nơi khác sự hiếu kỳ chen lấn chung quanh sự tráng lệ huy hoàng của ngôi mộ, ở đây sự giản dị làm ngả lòng mọi thèm muốn được nhìn thấy. Gió thì thầm như lời của Chúa Trời bên trên ngôi mộ của người ẩn danh, không có một thứ tiếng nào khác; người ta có thể đi qua đó mà không ngờ có một người được chôn cất ở đấy, một người Nga trên đất Nga. Hầm mộ của Napoléon dưới vòm đá cẩm thạch của Lâu đài tưởng niệm các phế binh, quan tài của Goethe trong hầm mộ các hoàng tử, các đài tưởng niệm của tu viện Westminter cũng không gây xúc động nhiều bằng ngôi mộ yên tĩnh một cách kỳ lạ và ẩn danh một cách cảm động, đâu đó ở trong rừng, được tiếng thì thầm của gió bao bọc, và không cả một câu gửi gắm, không cả một lời trăng trối.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »