tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28889857
Tiểu thuyết
17.06.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


LẠI MỘT LẦN NỮA ĐI RA THẾ GIỚI


Trong những năm 1919, 1920, 1921, những năm gian khổ nhất sau chiến tranh ở Áo, tôi đã sống chôn vùi ở Salzburg, từ bỏ hy vọng còn thấy lại thế giới lần nữa. Sự tan vỡ sau chiến tranh, nỗi căm hận nổi lên ở nước ngoài đối với tất cả những người Đức và những người viết bằng tiếng Đức, sự mất giá của đồng tiền nước chúng tôi là thảm hại tới mức người ta cam chịu trước cuộc sống cố định trong vòng chật hẹp của tổ quốc mình. Nhưng tất cả đã trở nên tốt hơn. Người ta lại được ăn no. Người ta ngồi vào bàn làm việc mà không bị quấy rầy. Người ta không cướp bóc, không có những cuộc cách mạng. Người ta sống, người ta cảm nhận sức mạnh của mình. Nên chăng một lần nữa trải nghiệm niềm vui những năm trai trẻ và đi đến những nơi xa?


Người ta chưa thể nghĩ đến những cuộc đi dài. Nhưng Italia thì gần kề, chỉ cách có tám hoặc mười giờ. Nên chăng liều đến đấy? Là người Áo, ở đấy người ta bị coi là “kẻ thù truyền kiếp”, mặc dầu người ta không bao giờ cảm nhận những cảm xúc đó. Nên chăng dấn vào chỗ bị ruồng rẫy một cách thiếu nhã nhặn. Gặp bạn cũ mà không dừng lại để khỏi đặt họ vào một tình huống khó xử? Cuối cùng tôi đánh liều và một ngày nọ đi qua biên giới vào giờ giữa trưa.


Buổi tối tôi đến Vérone và đi vào một khách sạn. Người ta trao cho tôi tờ khai cá nhân, tôi điền vào; người gác cổng đọc lại tờ khai và ngạc nhiên khi ở mục quốc tịch ông đọc từ Áo. “Ngài đến từ Áo ư?” ông hỏi. Ông ta sắp đuổi tôi ra chăng? Tôi nghĩ. Nhưng khi tôi trả lời ông là đúng, ông gần như thét lên một tiếng hét vui mừng. “Ôi! Cuối cùng, ngài đã đến. Xin chúc mừng!” Đó là lời đón tiếp đầu tiên và là một xác nhận mới của tình cảm mà tôi đã có trong chiến tranh, là mọi tuyên truyền về căm thù và khiêu khích chỉ đẻ ra một cơn sốt thoáng qua, và thực ra không bao giờ đụng đến quần chúng thực sự của châu Âu. Mười lăm phút sau, người gác cổng đôn hậu đó còn hồn nhiên lên phòng tôi để yên tâm là tôi không thiếu gì cả. Ông khen tôi nói tiếng Italia thạo và chúng tôi tạm biệt nhau với một cái bắt tay nồng nhiệt.


Ngày hôm sau, tôi đã ở Milan, tôi thăm lại Nhà Thờ Lớn, tôi lững thững trong Nhà trưng bày Mỹ thuật. Thật bổ ích cho tôi được nghe lại tiếng Italia du dương mà tôi rất yêu thích, tự cảm thấy vững vàng trên tất cả các đường phố và hưởng thụ những thứ của nước ngoài như những thứ thân quen. Đang đi qua, tôi thấy ở mặt tiền một ngôi nhà lớn tấm biển ghi “Corriere della Sera”. Bỗng tôi nghĩ rằng người bạn cũ G.A.Borgèse của tôi có địa vị giám đốc ở ban biên tập, Borgèse là người mà tôi đã cùng trải qua ở Berlin và ở Vienne những buổi tối hào hứng với nam tước Keyserling và Benno Geizer. Là một trong những nhà văn hay nhất và hăng say nhất của nước Italia, có một ảnh hưởng đặc biệt đối với thanh niên, ông đã giữ lập trường rõ rệt chống Đức và Áo trong chiến tranh, tuy ông đã dịch Werther và rất cuồng nhiệt với triết học Đức, và cặp kè với Mussolini ông đã đẩy tới cuộc chiến tranh (về sau ông ly khai Mussolini). Trong suốt cuộc xung đột này tôi có một cảm giác khá kỳ lạ khi được biết rằng một người bạn cũ của tôi là một người theo chủ nghĩa can thiệp ở phía đối lập; tôi càng có ý muốn mạnh mẽ hơn gặp một “kẻ thù” như vậy. Dẫu sao tôi cũng không muốn để mình thoái chí bởi triển vọng bị ruồng rẫy. Vì vậy, tôi để lại cho ông một cái danh thiếp cùng với địa chỉ khách sạn của tôi. Nhưng tôi chưa kịp xuống hết cầu thang thì một người đã lao theo gót chân tôi khuôn mặt tràn đầy niềm vui của một cuộc đời mãnh liệt - Borgèse; năm phút sau, chúng tôi nói chuyện với nhau thân tình như trong quá khứ, mà có thể còn thân tình hơn. Ông ta cũng vậy, chiến tranh đã dạy khôn cho ông; và kẻ bên này người bờ bên kia, chúng tôi đã xích lại gần nhau hơn bao giờ hết.


Đâu đâu sự vật cũng diễn ra như vậy. Ở Florence, người bạn cũ Albert Stringa của tôi, một họa sĩ, lao đến tôi trên đường phố và ôm tôi trong vòng tay dữ dội và bất ngờ tới mức vợ tôi đang cạnh tôi lúc đó tưởng rằng người xa lạ rậm râu này đang trù tính một cuộc ám sát tôi. Tất cả đều như trong quá khứ, tôi nhầm - còn thân tình hơn. Tôi thở khoan khoái: chiến tranh đã bị chôn vùi. Chiến tranh đã kết thúc.


Nhưng nó chưa hết. Chỉ có điều là chúng tôi không biết được điều đó. Tất cả chúng tôi đều lầm trong sự tin cậy đứng đắn của chúng tôi và chúng tôi lẫn lộn những khuynh hướng của chúng tôi với khuynh hướng của thế giới. Chúng tôi không hổ thẹn vì sự lầm lẫn đó, vì những nhà chính trị, nhà kinh tế, chủ ngân hàng cũng bị lầm không kém chúng tôi, họ là những người trong các năm ấy đã coi một trạng huống dễ đánh lừa như là sự khỏi bệnh và sự mệt mỏi như là sự dẹp yên. Cuộc đấu tranh chỉ thay đổi vị trí, chuyển từ bình diện quốc gia sang bình diện xã hội; và ngay từ những ngày đầu, tôi đã chứng kiến một cảnh mà mãi về sau tôi mới hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng. Chúng tôi ở Áo không biết gì nhiều về chính trị Italia, nếu không là do sự thất vọng đã tiếp theo sau chiến tranh, những khuynh hưỡng xã hội chủ nghĩa và cả bolsêvich rất sâu đậm đã thâm nhập vào bán đảo này. Trên mỗi bức tường người ta có thể đọc câu: “Lênin muôn năm” viết bằng phấn hay bút chì với những nét chữ vụng về. Hơn nữa, người ta còn nghe nói rằng một trong những thủ lĩnh xã hội chủ nghĩa tên là Mussolini đã tách khỏi đảng trong chiến tranh và đã lập một nhóm đối lập. Nhưng người ta chỉ tiếp thu những tin tức ấy một cách thờ ơ. Một nhóm nhỏ đến như vậy thì có quan trọng gì đâu! Trong mỗi nước đều có; trong các nước vùng Ban Tích, những binh đoàn thuộc dân tộc Phơrăng hành quân; ở Rhénanie, ở Bavière những nhóm ly khai được thành lập; khắp nơi đều có những cuộc khởi binh và những âm mưu bạo loạn, hầu hết đều bị bóp nghẹt. Nhưng không ai nghĩ đến việc xem xét những người phát xít ấy, thay vì những sơmi đỏ của những người đồ đệ của Garibaldi lại mặc những sơmi đen, lại là một yếu tố chủ yếu trong sự phát triển của châu Âu tương lai.


Nhưng ở Vienne, câu chữ đối với tôi có một ý nghĩa là chứa đựng một nội dung. Từ Milan đến, một buổi quá trưa tôi ở tàu hỏa xuống cái thành phố thân yêu của những phá nước mặn. Ở ga không có một phu khuân vác nào; không nhìn thấy một thuyền gônđôl nào; những công nhân và nhân viên hỏa xa đứng đấy không làm gì, hai tay thọc túi theo kiểu biểu tình. Vì tôi mang theo hai vali nặng, tôi nhìn quanh để tìm sự giúp đỡ và hỏi một cụ già xem có thể, tìm được phu khuân ở đâu. “Ông đã đến vào một ngày xấu, cụ nói với tôi, nhưng chúng tôi bây giờ thường có những ngày như vậy. Đang có cuộc tổng đình công”. Tôi không hiểu tại sao có đình công và tôi không hỏi gì thêm về điều đó. Chúng tôi đã quá quen với nó ở Áo, nơi mà những người xã hội chủ nghĩa sử dụng, quá thường xuyên và vì sự bất hạnh của họ, cái biện pháp cực đoan này mà không biết sau đó khai thác nó cho có ích. Thế là tôi vất vả xách hai cái vali một đoạn đường cho đến khi cuối cùng ở một con kênh hẻo lánh tôi nhìn thấy một người lái gônđôl ra hiệu nhanh và lén lút với tôi. Anh ta đưa hai chiếc vali lên thuyền. Trong nửa giờ, sau khi đã đi qua trước những nắm đấm đưa lên phản đối người phá đình công, chúng tôi đã đến khách sạn. Theo thói quen cũ, tôi đi ngay ra quảng trường Saint Marc. Nó làm tôi ngạc nhiên bởi sự hoang vắng của nó. Các cửa sắt của phần lớn các cửa hiệu đều đóng kín, không có ai trong các quán cà phê cả. Chỉ có một đám đông công nhân đứng thành những nhóm tách biệt dưới các dãy cuốn và hình như đang chờ đợi một cái gì. Tôi đợi cùng với họ. Và bỗng sự việc chợt đến. Từ một phố ngang, hiện ra, đi hay đúng hơn chạy theo một bước nhanh và nhịp nhàng, một nhóm những người trẻ tuổi rất có kỷ luật; họ hát bằng một nhịp điêu luyện một bài hát mà tôi chưa biết lời - về sau tôi biết đó là bài Giovinezza. Và vung gậy, họ đã chuyển sang bước chạy đều trước khi đám quần chúng trăm lần đông hơn có thì giờ lao vào đối thủ của họ. Sự đi qua quả cảm và thực sự can đảm của nhóm nhỏ có tổ chức đó được thực hiện nhanh tới mức những người kia chỉ ý thức được sự khiêu khích khi họ đã không còn tóm được đối thủ - Họ tập hợp lại trong sự giận dữ, nắm chặt bàn tay, nhưng đã quá chậm. Không còn có thể đuổi kịp nhóm xung kích nhỏ ấy nữa.


Những ấn tượng thị giác luôn có sức thuyết phục. Lần đầu tiên tôi biết rằng chủ nghĩa phát xít truyền thuyết ấy, mà tôi chưa biết được bao nhiêu, là một điều thực tại, được chỉ huy rất tốt và nó gây cuồng tín đối với nó trong đám thanh niên kiên quyết và dũng cảm. Tôi không còn có thể tán thành các bạn tôi ở Florence và ở Rome đã nhún vai gọi những thanh niên này là “băng đánh thuê” và đã nhạo báng “Fra Diavolo” của họ. Vì tò mò, tôi mua vài số Populo d’ Italia và tôi cảm thấy, trong phong cách cay độc, tạo hình và hàm súc theo kiểu Latinh của Mussolini, cùng một sự kiên quyết như trong sự tấn công của những thanh niên ở quảng trường Saint Marc. Tất nhiên tôi không thể ngờ tới những quy mô mà cuộc chiến đấu đó đạt tới ngay năm sau. Nhưng ngay từ giờ phút ấy, tôi đã ý thức được rằng một cuộc chiến đấu đang được sửa soạn ở đó và khắp nơi và hòa bình của chúng ta chưa phải là hòa bình.


*


Đối với tôi đó là điều cảnh cáo đầu tiên về sự thật là dưới bề mặt có vẻ êm ả, châu Âu của chúng ta đầy rẫy những luồng ngầm nguy hiểm. Lời cảnh cáo thứ hai không bắt phải chờ đợi lâu. Được thị hiếu du lịch kích thích, tôi đã quyết tâm đi đến Westerland trên bờ biển Đức của biển Bắc. Một chuyến lưu trú ở Đức lúc đó đối với người Áo có cái gì đó khá bổ ích. Đồng mác cho đến lúc đó được giữ vững một cách tuyệt vời so với đồng cuaron mất giá của chúng tôi, thời kỳ lại sức tỏ ra nhanh chóng. Các chuyến tàu hỏa đến đúng giờ; các khách sạn tươm tất; khắp nơi dọc hai bên đường sắt, mọc lên những ngôi nhà mới, những nhà máy mới; khắp nơi một trật tự hoàn hảo và yên tĩnh mà trước chiến tranh người ta có ác cảm nhưng người ta đã tập ưa chuộng trong cơn hỗn loạn. Quả thật là trong không khí có một sự căng thẳng nào đó vì cả nước đang chờ đợi các hội nghị Gènes và Rapallo, những hội nghị đầu tiên mà Đức được nhận họp với những quyền bình đẳng như các cuờng quốc kẻ thù mới đây, sắp mang lại sự giảm nhẹ mong đợi các gánh nặng bồi thường chiến tranh hoặc ít nhất tỏ một dấu hiệu rụt rè về liên minh chân chính? Chủ tịch của những cuộc thương lượng rất đáng nhớ trong lịch sử châu Âu này là không ai khác ngoài người bạn cũ Rathenau của tôi. Bản năng tổ chức thiên tài của ông đã được khẳng định tuyệt vời ngay trong chiến tranh; ngay những giờ đầu tiên, ông đã nhận ra điểm yếu của nền kinh tế Đức, mà ở điểm ấy nó phải sau này nhận một cú chết người: sự cung cấp nguyên liệu và ông đã tập trung toàn bộ nền kinh tế vào lúc thích hợp (ở đây nữa, bằng cách đi trước thời gian). Sau chiến tranh, khi vấn đề đặt ra là phải tìm một người ngang tầm với những người khôn khéo nhất và có kinh nghiệm nhất trong các đối thủ và có thể gặp những nhà ngoại giao ấy với tư cách bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức, sự lựa chọn tất nhiên rơi vào Rathenau.


Sau một lúc do dự, tới điện thoại cho ông Berlin. Làm sao quấy rầy một người đang tạo dựng số mệnh của thời đại mình? “Vâng, khó đấy, ông nói với tôi qua điện thoại, bây giờ tôi phải hy sinh cả tình bạn cho công vụ của tôi”. Nhưng với nghệ thuật tuyệt vời của ông tận dụng mỗi phút, chẳng bao lâu sau, ông tìm ra khả năng của một cuộc gặp mặt. Ông cần đặt một số danh thiếp ở các đại sứ quán khác nhau và vì vậy ông phải đi nửa giờ ô tô từ Grünewald. Cách dễ nhất là tôi đến tìm ông tại nhà và sau đó chúng tôi sẽ trò chuyện trong nửa giờ ô tô đó. Quả thật khả năng tập trung trí tuệ của ông, sự dễ dàng đến đáng kinh ngạc của ông chuyển từ đề tài này sang đề tài khác hoàn hảo tới mức ông có thể mọi lúc nói cùng với một sự chính xác và sâu sắc ấy, trên ô tô, trên tàu hỏa cũng như trong phòng làm việc của ông. Tôi không muốn bỏ qua dịp này và tôi tin rằng bản thân ông cũng sung sướng có thể biểu đạt tự do với một người độc lập về chính trị và đã là bạn của ông trong nhiều năm. Đó là một cuộc đàm thoại kéo dài, và tôi có thể chứng thực rằng Rathenau mà tự thân không phải là thiếu kiêu hãnh, đã không đảm nhiệm vị trí bộ trưởng Ngoại giao với một tấm lòng thanh thản, và ít hơn nữa với sự tham lam hoặc thiếu kiên nhẫn. Ông biết trước rằng công việc của ông thật nan giải và bằng cách thu xếp tốt nhất, ông sẽ đạt được một phần tư thành công, một vài nhượng bộ không quan trọng, nhưng người ta chưa thể hy vọng ở một nền hòa bình chân chính, một ý muốn liên minh khoan dung. Ông nói với tôi: “Trong mười năm, có lẽ; mà phải giả định rằng tình hình xấu đi đối với mọi người, chứ không chỉ với chúng ta. Trước hết, thế hệ già phải bị loại khỏi ngoại giao và các tướng lĩnh không còn đứng như tượng trên các quảng trường”. Ông ý thức đầy đủ về trách nhiệm kép của mình, kết quả của tư cách Do Thái của ông. Hiếm có trong lịch sử một người đi vào, với nhiều hoài nghi và do dự đến như vậy, một công việc mà ông biết không phải ông mà chỉ có thời gian mới có thể hoàn thành và ông biết nỗi nguy hiểm cá nhân mà nó có thể đem lại cho ông Từ khi Erzberger bị ám hại, - Erzberger được giao ký hiệp định đình chiến, một sứ mệnh khó khăn mà Ludendorf đã trốn tránh bằng cách chạy ra nước ngoài, Rathenau không phải nghi ngờ rằng một số phận tương tự cũng đang chờ đợi ông, người đi tiên phong trong công việc ký kết một liên minh. Nhưng không lấy vợ và không có con, và thực ra cô độc một cách dễ sợ, ông không nghĩ rằng phải sợ sự hiểm nguy; và tôi cũng không đủ can đảm khuyên ông phải bảo trọng. Rathenau hoàn thành sứ mệnh của mình ở Rapallo xuất sắc như hoàn cảnh lúc đó cho phép ông. Năng khiếu rực rỡ tận dụng từng giây phút thuận lợi, những phẩm chất con người lịch thiệp và uy tín cá nhân của ông chưa bao giờ được khẳng định một cách chói lọi như vậy. Nhưng trong nước đã có những nhóm khá mạnh nhận thức được rằng họ chỉ trở nên danh tiếng bằng cách không ngừng lập lại với dân chúng rằng họ không thua trận gì cả và thương lượng, nhượng bộ một điều gì đó là phản bội tổ quốc. Những hội kín - pha trộn rất dữ với những người đồng tính luyến ái - mạnh hơn là những thủ lĩnh của nước cộng hòa ngờ tới nhiều - những hội này, theo quan điểm của họ về tự do, để cho tha hồ hành động tất cả những ai muốn vĩnh viễn loại bỏ mọi tự do ở nước Đức.


Tôi từ giã ông trước trụ sở của Bộ, không nghĩ rằng đấy là một sự vĩnh biệt. Về sau tôi nhận ra các tấm ảnh rằng con đường chúng tôi cùng nhau đi qua hôm đó cũng là con đường mà ít lâu sau bọn giết người phải rình mò cũng cái ô tô ấy: chỉ là ngẫu nhiên nếu tôi không là chứng nhân trong cái cảnh của định mệnh lịch sử đó. Như vậy tôi có thể hình dung một cách nhạy cảm hơn và với nhiều rung động hơn cái đoạn bi thảm đánh dấu sự khởi đầu của nỗi bất hạnh của nước Đức, của nỗi bất hạnh của châu Âu.


Ngày hôm đó, tôi đang ở Westerland; hàng trăm người tắm vui vẻ vung vẩy trên bãi. Lại một lần nữa, một dàn nhạc biểu diễn trước những người vô tư lự, như trong ngày François Ferdinand bị sát hại, khi bỗng chốc như những con hải âu trắng, những người bán báo phi vào giữa cuộc đi dạo: “Walter Rathenau bị sát hại!”. Một nỗi kinh hoàng làm rung động cả đất nước. Đồng mác sụt giá ngay tức khắc và không ngừng lại cho đến khi đạt con số kỳ quặc và điên rồ của những tỉ bạc. Chính lúc đó bắt đầu sự múa may quay cuồng thực sự của lạm phát mà so với nó cuộc lạm phát của chúng tôi ở Áo chỉ là một trò chơi trẻ em khốn khổ, với một tỷ lệ đã khá phi lý 1/1900. Cần cả một quyển sách để kể về nó với những đặc điểm, những hoàn cảnh không thể tin được và quyển sách đó sẽ gây nên ở những người ngày nay một ấn tượng của một truyện thần tiên. Tôi đã sống những ngày mà buổi sáng tôi trả năm mươi ngàn mác một tờ báo, và buổi chiều phải trả một trăm ngàn; người có ngoại tệ để đổi phân bố việc đổi ra nhiều giờ trong ngày vì vào lúc bốn giờ anh ta sẽ nhận một số tiền gấp mấy lần số anh nhận cách đó sáu mươi phút. Chẳng hạn tôi gửi đến nhà xuất bản một bản thảo mà tôi đã biên soạn trong một năm và tưởng đã là chắc chắn lầm khi buộc họ trả trước cho tôi quyển của mười nghìn bản bán được, khi tờ séc đến, nó chỉ gần đủ để trả chi phí gửi của gói hàng mà tôi đã cược tiền một tuần lễ trước đó; người ta trả hằng triệu trên các tàu điện; phải sử dụng cả chiếc xe tải để chở tiền giấy của Reichbank đến những ngân hàng khác và mười lăm ngày sau, người ta tìm thấy những đống tiền một trăm nghìn mác trong suối: một người ăn mày đã vứt nó với vẻ khinh khi. Một sợi dây giày đắt hơn giá một chiếc giày trước đấy, và như thế chưa là gì, quả là còn đắt hơn giá một cửa hiệu sang trọng với hai ngàn đôi giày, một tủ kính phải thay thế đắt hơn trước đây cả một ngôi nhà, một quyển sách đắt hơn cả một nhà in với hàng trăm máy. Với một trăm đô la người ta có thể mua nhiều dãy nhà sáu tầng ở Kurfürstendamm, những nhà máy được đánh giá bằng ngoại tệ với giá không cao bằng giá một chiếc xe cút kít trước đây. Những thiếu niên tìm được một két xà phòng bị bỏ quên ở cảng đã đi ô tô nhiều tháng và sống như những ông hoàng bằng cách mỗi ngày bán một miếng, trong khi bố mẹ chúng trước đấy là những nhà giàu, phải ăn xin bánh mỳ của chúng. Những người phân phối lập nhà băng và đầu cơ về mọi giá trị. Bên trên họ nổi lên như một người khổng lồ hình ảnh của Stinnes, con người kiếm được những khoản tiền lãi phi thường. Mở rộng sự cho vay bằng cách bóc lột sự sụp đổ của đồng mác, hắn ta mua tất cả những gì có thể mua được: những mỏ than và những chiếc thuyền, những nhà máy và những bó cổ phần, những lâu đài và những cơ nghiệp nông thôn, và tất cả những cái đó trên thực tế không tốn gì bởi vì mỗi số tiền, mỗi khoản nợ cuối cùng rút lại thành không là gì cả. Chẳng bao lâu hắn có trong tay một phần tư nước Đức và đám đông ở nước này luôn say sưa với một thành công trông thấy, hoan hô hắn một cách ác ý như là một thiên tài. Hàng ngàn người thất nghiệp kéo lê trên các đường phố và đưa nắm tay dọa những con buôn và những người nước ngoài đi qua trong những chiếc ô tô sang trọng và mua cả một đường phố như mua một bao diêm. Ai biết đọc biết viết đều buôn bán và đầu cơ, kiếm được tiền và cùng với cái đó, có niềm tin rằng mọi người lừa dối lẫn nhau và đến lượt mình cũng bị lừa dối bởi một bàn tay giấu kín đã cố tình đạo diễn cơn hỗn loạn này để đưa Nhà nước thoát khỏi nợ nần và nghĩa vụ của mình. Tôi tưởng biết khá đầy đủ lịch sử của mình, nhưng theo chỗ tôi biết, nó không bao giờ sản sinh ra một thời kỳ của những ngôi nhà nhỏ trong những tỷ lệ lớn lao như vậy. Tất cả các giá trị đều thay đổi, mà không chỉ trong những thứ vật chất; những mệnh lệnh của nhà nước đều bị nhạo báng; người ta không tôn trọng một nguyên tắc đạo đức nào, Berlin biến đổi thành một Babilon. Các tiệm rượu, các tiệm cà phê nhạc bình dân và các quầy bán lẻ mọc lên như nấm. Những gì thấy được ở Áo chỉ là khúc dạo đầu khiêm tốn và rụt rè cho trận múa may quay cuồng này và người Đức bỏ vào trong sự đồi bại tất cả tính quyết liệt và đầu óc hệ thống của mình. Trên Kierfürstendamm những người trẻ tuổi đi dạo, mặt đánh phấn và ngực mang vú giả, mà không chỉ là những người chuyên nghiệp; mỗi học sinh trung học đệ nhị cấp muốn kiếm được một cái gì, và trong những tiệm rượu đã làm cho tối tăm đi người ta thấy những bộ trưởng và những nhà tài phiệt lớn âu yếm vuốt ve không chút ngượng ngùng những người lính thủy say. Ngay cả La Mã của Suétone cũng không biết được những cuộc chè chén trác táng so sánh được với các cuộc khiêu vũ giả trang của Berlin, tại đó hàng trăm đàn ông mặc áo quần đàn bà, đàn bà mặc áo đàn ông nhảy nhót giữa những cái nhìn khoan dung của cảnh sát. Trong sự sụp đổ này của mọi giá trị, một thứ mê sảng chộp đúng các giới tư sản cho đến lúc đó không hề lay chuyển trong những nguyên tắc trật tự của họ. Những cô gái khoe khoang một cách trơ trẽn là đã sa đọa; bị nghi còn trinh năm mười sáu tuổi trở thành một sự nhục mạ trong tất cả các trường của Berlin; mỗi cô gái muốn có những truyện phiêu lưu để kể và câu chuyện càng ngoại lai thì càng được ưa chuộng. Nhưng điều ghê tởm nhất trong thói dâm dục này là tất cả ở đây đều ngụy tạo một cách tồi tệ. Thực ra tất cả sự thờ thần rượu này của người Đức nổ ra với lạm phát chỉ là một trò khỉ náo nhiệt; người ta thấy rõ trên vẻ mặt của họ rằng những cô gái của các gia đình tư sản đứng đắn này thích mang những dải vấn đầu giản dị hơn là tạo một cái đầu đàn ông với bộ tóc chải chuốt, muốn ăn một đĩa bánh kem mứt táo hơn là uống những thứ rượu mạnh mà họ nốc một cách miễn cưỡng. Khắp nơi người ta hiểu rằng sự kích thích cao độ này là không thể chịu được đối với tất cả một dân tộc, rằng sự kéo căng mãi mãi bởi những dây chun kéo của lạm phát sẽ làm vỡ các dây thần kinh và toàn bộ các quốc gia bị chiến tranh làm mệt nhoài này chỉ đeo đuổi có trật tự, nghỉ ngơi, một chút an toàn và tiện nghi tư sản. Và trong thâm tâm nó ghét chế độ cộng hòa, không phải vì nó bóp chết sự phóng túng man rợ này, mà trái lại vì nó buông thả tất thảy các dây cương.


Ai đã sống những tháng gợi cảnh tận thế này, đã chán ngấy và bực tức về chúng, cảm nhận rằng chúng phải tạo nên một cú sốc ngược trở lại, một phản ứng dữ dội. Và ngay cả những người đã đẩy dân tộc Đức vào cơn hỗn loạn đó đứng ở phía sau, cười khẩy và đưa tay chỉ trỏ: “Tất cả càng xấu đi ở nước ta thì càng tốt cho chúng tôi”. Họ biết rằng thời điểm của họ sắp đến. Sự phản cách mạng kết tinh một cách công khai quanh Ludendorff hơn là quanh Hitler đang còn chưa có quyền lực. Những sĩ quan mà người ta bứt đi các ngù vai, tổ chức nhau thành hội kín, những người tiểu tư sản tự thấy bị tước đoạt trong nền kinh tế của mình nhẹ nhàng xích lại gần nhau và sẵn sàng nghe theo bất cứ khẩu hiệu nào, miễn là họ được hứa sự phục hồi kỷ luật. Không gì định mệnh cho nước cộng hòa Đức hơn là mưu toan lý tưởng dành sự tự do cho dân chúng và cả cho kẻ thù của mình. Vì dân tộc Đức, một dân tộc bạn của trật tự, không biết làm gì với sự tự do của mình và quay nhìn một cách thiếu kiên nhẫn những người phải cướp đi của họ sự tự do trên.


*


Ngày chấm dứt lạm phát ở Đức (1924) có thể là một bước ngoặt của lịch sử. Khi theo tiếng chuông, một tỷ mác phồng lên vì gian lận chỉ đổi được một mác mới, một chuẩn mực đã được thiết lập. Và trên thực tế bọt đục với tất cả bùn và lầy nhanh chóng rút lui, các quán rượu, các cửa hàng bán lẻ rượu biến mất, các quan hệ trở lại bình thường, mỗi người bây giờ có thể tính chính xác những gì mình kiếm được, những gì mình bị mất. Phần đông, quần chúng đông đảo đã bị mất. Nhưng người ta đổ trách nhiệm không phải cho những người đã phát động chiến tranh, mà cho những người với một tinh thần hy sinh và không cần người ta biết ơn, đã gánh vác việc thiết lập trật tự mới. Phải không ngừng nhắc lại: không gì làm bực bội dân tộc Đức, không gì làm họ đầy rẫy hận thù, không gì làm họ chín muồi cho chế độ Hitler hơn là sự lạm phát. Dù chiến tranh có đem lại chết chóc đến bao nhiêu đi nữa, nó luôn tạo ra những ngày vui mừng hớn hở với tiếng chuông đổ hồi và tiếng kèn thắng trận. Và nước Đức, cái quốc gia mắc bệnh quân phiệt không chữa được, cảm thấy lớn lên trong niềm kiêu hãnh về những thắng lợi tạm thời, trong khi nó tự cho là bị làm bẩn, bị lừa bịp và hạ nhục bởi cơn lam phát; cả một thế hệ không bao giờ tha thứ những năm ấy của nước cộng hòa Đức và nó thích gọi những tên đồ tể trở lại. Nhưng điều đó đang còn ở rất xa. Bề ngoài, cái thuật ảo đăng xấu xa đó dường như đã đi qua như một bài nhảy vòng tròn của lũ ma trơi. Người ta lại ở giữa ban ngày; người ta nhìn thấy mình đi tới đâu. Một lần nữa chúng ta có ảo tưởng rằng chiến tranh đã được vượt qua, chúng ta đã là và vẫn là những thằng ngốc cố tật. Tuy nhiên, ảo tưởng đánh lừa đó đã dành cho chúng ta ít nhất mười năm lao động, hy vọng và yên bình.


*


Với cách nhìn ngày nay, mười năm ngắn ngủi trải ra từ 1924 đến 1933, từ khi lạm phát Đức chấm dứt đến khi Hitler lên nắm quyền, dẫu sao cũng biểu hiện một sự ngưng nghỉ trong chuỗi dài những tai họa mà thế hệ chúng ta từ năm 1914 đã là chứng nhân và nạn nhân. Không phải là thời kỳ đó không có những căng thẳng, náo động và khủng hoảng - cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 là một ví dụ - nhưng trong thập kỷ đó, hòa bình dường như được bảo đảm ở châu Âu, và đó đã là nhiều lắm. Người ta đã đón nhận với tất cả mọi vinh dự nước Đức vào Hội Quốc liên; người ta đã bằng cách đồng ý cho vay tạo thuận lợi cho phục hưng kinh tế của nó - trên thực tế là cho sự tái vũ trang bí mật của nó. Nước Anh đã giải trừ quân bị, ở Italia Mussolini đảm nhiệm sự bảo hộ nước Áo. Thế giới như đang muốn xây dựng lại. Paris, Vienne, Berlin, New York, Roma, các thành phố của người thắng trận cũng như của người bại trận đều tự làm đẹp thêm rất nhiều; máy bay làm cho giao thông liên lạc nhanh hơn; thủ tục đăng ký lấy hộ chiếu đơn giản hơn. Sự biến động của tiền tệ đã kết thúc; người ta biết đã kiếm được bao nhiêu, có thể tiêu bao nhiêu; sự chú ý không còn được đặt vào các vấn đề vật chất một cách quá hăng say. Người ta đã có thể lại bắt tay vào công việc, lắng mình xuống, nghĩ đến những điều của trí tuệ. Người ta còn có thể một lần nữa mơ ước và hy vọng một châu Âu thống nhất. Mười năm đó tưởng như là một khoảnh khắc của lịch sử thế giới, tưởng như là một cuộc sống bình thường cuối cùng sắp được dành cho thế hệ đã trải nghiệm của chúng tôi.


Trong đời sống cá nhân của tôi, điều đáng chú ý cần nêu lên nhất là trong những năm đó một vị khách nhân từ đến trong nhà tôi và ở lại đó, một vị khách mà tôi không bao giờ chờ đợi, - sự thành công. Tất nhiên là tôi không lấy gì làm thú vị khi nêu lên sự thành công ở nước ngoài các sách của tôi và trong hoàn cảnh bình thường tôi sẽ tránh gợi lên dù chỉ một lần sự ám chỉ thoáng qua, - nó có thể bị quy kết là sự hợm mình hoặc sự khoe khoang. Nhưng tôi có một cái quyền đặc biệt và tôi còn bị bắt buộc không thể giữ im lặng hoàn cảnh này trong lịch sử đời tôi, vì sự thành công đó đã trở thành quá khứ, đã qua đi từ bảy năm nay, từ khi Hitler đến. Trong số hàng trăm ngàn, cả hàng triệu quyển sách của tôi đã có chỗ bảo đảm trước đây trong các hiệu sách và trong vô số gia đình; người ta không còn có thể tìm thấy cho mình một quyển ở Đức; ai còn có một bản phải cất nó cẩn thận, và trong các thư viện công, nó được giấu kỹ trong cái được gọi là “tủ thuốc độc” dành cho số ít người có giấy phép đặc biệt của các quan chức, muốn sử dụng chúng cho những mục đích “Khoa học” - thông thường hơn cả là để thóa mạ tôi. Trong số những bạn đọc của tôi, trong số các bạn của tôi đã viết cho tôi từ lâu, không còn một ai dám liều ghi cái tên kinh tởm của tôi lên một phong bì. Và như thế chưa đủ: ở Pháp, Italia, trong tất cả những nước hiện đang trở thành tay sai của Hitler, và ở đó các sách của tôi được đón đọc nhiều nhất trong bản dịch, lệnh cấm cũng đã được đưa ra. Ngày nay là nhà văn, tôi là, như Grillparzer nói, “một người còn sống bước sau thi hài của mình”; tất cả những gì tôi đã xây dựng trong bốn mươi năm trên bình diện quốc tế, quả đấm duy nhất ấy đã làm đổ sụp. Như vậy khi tôi nêu “thành công” của tôi, tôi không nói tới một cái gì đang thuộc về tôi, Tổ quốc tôi, sự an toàn cá nhân của tôi, sự tự do của tôi, sự ngây thơ chất phác của tôi; như vậy tôi sẽ không thể làm cho rõ rệt sự sụp đổ mà tôi đã phải chịu trong tất cả sự sâu sắc và sự toàn diện của nó, - với vô số người khác, cũng hoàn toàn vô tội như tôi - nếu tôi không thể thấy trước hết tầm cao mà từ đó tôi đã bị đẩy xuống; và tôi không thể làm cho hiển nhiên, trong sự cô độc nhất của nó và những hậu quả của nó, việc trừ tiệt cả thế hệ văn chương của chúng tôi, mà trên thực tế, tôi không biết có một ví dụ nào khác trong lịch sử.


Thành công đó không phải bỗng nhiên đột nhập vào nhà tôi. Nó đến chậm chạp, một cách thận trọng, song nó ở lại thường xuyên và trung thành, cho đến giờ khắc Hitler với cái roi của những sắc lệnh, đuổi nó đi xa tôi. Hiệu quả của nó tăng lên năm này qua năm khác. Quyển sách đầu tiên tôi xuất bản sau Jérémie, tập đầu tiên của những Kiến trúc sư thế giới, bộ ba Các bậc thầy mở đường, những người theo chủ nghĩa biểu hiện, theo chủ nghĩa tích cực, theo chủ nghĩa thực nghiệm đã hoàn thành vai trò của họ; con đường đến với dân chúng lại được mở rộng cho những người kiên nhẫn và bền gan. Các truyện vừa của tôi, Amok và Bức thư của người đàn bà không quên cũng nổi tiếng như các tiểu thuyết. Chúng được đưa lên sân khấu, đọc trước công chúng, dựng thành phim. Một quyển sách nhỏ Những giờ rực sáng của nhân loại - được đọc trong tất cả các trường - đạt trong một thời gian ngắn số bản 250.000 ở nhà xuất bản Inselbücherei. Trong mấy năm, tôi đã đạt được cho mình cái mà theo tôi là hình thức quý giá nhất của thành công đối với một tác giả; một cộng đồng, một nhóm chắc chắn những người chờ đợi và mua mỗi quyển sách mới của tôi, tin cậy ở tôi và sự tin cậy ấy không bị thất vọng. Cái vòng các bạn đọc trung thành đó càng ngày càng mở rộng; tất cả các sách của tôi xuất bản đều được bán ở Đức hai vạn bản trong ngày đầu, trước khi một bài giới thiệu độc nhất được đăng trên báo. Đôi khi tôi tìm cách né tránh sự thành công, nhưng nó theo đuổi tôi với sự bướng bỉnh đáng ngạc nhiên. Vì niềm vui cá nhân, tôi viết một tiểu sử của Fouché; khi tôi gửi đến nhà xuất bản, nhà xuất bản trả lời tôi sẽ in mười nghìn bản. Bằng chuyến thư trở về, tôi khẩn khoản xin đừng in nhiều như vậy vì Fouché là một nhân vật bị ác cảm, vì quyển sách không có lấy một tình tiết về phụ nữ và không thể thu hút một vòng bạn đọc đông đến như vậy. Để bắt đầu chỉ nên hạn chế ở con số năm nghìn bản. Một năm sau, năm chục ngàn bản đã bán hết ở Đức, cũng cái nước Đức ấy ngày nay không dám đọc một dòng của tôi. Sự ngờ vực hầu như bệnh lý của tôi đối với bản thân mình cũng trải qua một kinh nghiệm như vậy đối với việc chỉnh lý Volpone. Tôi có ý định soạn một vở bằng thơ, và ở Marseille, tôi viết những cảnh bằng văn xuôi khá lỏng lẻo. Tình cờ những ngày đó, nhà hát của Dresde, mà tôi cảm thấy mắc một món nợ tinh thần khi dựng vở đầu lòng Thersite của tôi, đòi hỏi tôi những vở mới, tôi gửi cho họ bản soạn bằng văn xuôi và xin lỗi họ: đây chỉ là một phác thảo dành để chỉnh lý lại bằng thơ. Nhưng nhà hát điện ngay cho tôi đừng sửa lấy một dòng; và trên thực tế vở kịch dưới hình thức đó đã được diễn ở tất cả các sân khấu của thế giới, (ở New York tại Nhà hát Guild với Alfred Lunt). Trong những năm đó, tôi viết gì đi nữa cũng thành công và một công chúng bạn đọc ngày càng đông đều trung thành với tôi.


Vì tôi đặt thành bổn phận cho mình, về các nhà văn và các tác phẩm nước ngoài, tìm kiếm trong một tiểu sử hay một tiểu luận những nguyên nhân của tác dụng của nó đối với những người đương thời hoặc của sự thất bại của họ, tôi không thể tránh không tự hỏi trong nhiều giờ dài trầm ngâm suy nghĩ xem phẩm chất đặc biệt gì trong những quyển sách của tôi làm tôi đạt sự thành công bất ngờ đối với tôi như vậy. Tôi đi đến một kết luận rằng đó là nhờ một thiếu sót trong bản tính của tôi, đó là, vì tôi là một độc giả thiếu kiên nhẫn và đầy cá tính. Tất cả những sự rườm rà, tất cả những sự nhu nhược, tất cả những gì là mơ hồ, không rõ ràng và ít trong sáng, tất cả những gì là thừa và làm chậm cốt truyện của một tiểu thuyết, một tiểu luận hoặc một bản trình bày các ý tưởng đều làm tôi nổi cáu. Chỉ có một quyển sách giữ được trình độ cao ở mỗi trang và lôi cuốn bạn một mạch đến trang cuối cùng không cho bạn thở mới tạo cho tôi một niềm vui không pha tạp. Tôi thấy rằng chín phần mười các sách với vào tay tôi kéo quá dài bởi những miêu tả vô ích, những đối thoại dài dòng, những nhân vật phụ mà người ta có thể bỏ qua, và vì vậy mà sách rất ít hấp dẫn, rất ít năng động. Ngay cả trong những kiệt tác cổ điển nổi tiếng nhất, tôi lấy làm khó chịu với nhiều đoạn lòng thòng không tinh; và tôi thường đề nghị với các nhà xuất bản một kế hoạch táo bạo xuất bản thành một loạt khái quát các tác phẩm văn chương thế giới từ Homère đến Ngọn núi có ma thuật, qua Balzac và Dostoðevski, bằng cách lược đi một cách triệt để tất cả những cái dư thừa làm cồng kềnh mỗi tác phẩm; và lúc đó tất cả các tác phẩm ấy mà nội dung chắc chắn dành để chiến thắng với thời gian, có thể, bằng cách đổi mới và làm linh hoạt thêm theo cách đó, tỏa ảnh hưởng ra trong thời đại của chúng ta.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »