tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28870808
11.06.2019
Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí (8)


NĂNG LỰC SUY LUẬN BỊ TRỤC TRẶC


Xã luận, trong tờ "Tin nhanh tiếng Hoa", New York, ngày 13 tháng 8 năm 1981


Nhân bài diễn thuyết của ông Bá Dương về việc người Trung Quốc "đến chết cũng không


nhận lỗi", hôm qua trong mục xã luận chúng tôi đã nói rõ là để sửa chữa chứng bệnh này


chúng ta không nên hy vọng vào sự "tự mình tỉnh ngộ" nơi mỗi cá nhân con người.


Kỳ vọng vào sự tỉnh ngộ của một cá nhân chẳng khác nào như bảo rằng: "Mọi người ai cũng là


Nghiêu Thuấn cả!" Đó là chuyện nằm mơ giữa ban ngày.


Chúng ta chỉ có thể sửa đổi chế độ chính trị, dùng áp lực của chế độ bắt những người không tự


nguyện sửa đổi lỗi lầm không còn đường tránh né, không sửa không được. Chỉ có cách giải


quyết đó mới thích đáng.


Nói đến những khuyết điểm của người Trung Quốc, chúng ta lại liên tưởng tới một vấn đề


khác, đó là cái lô-gíc của người Trung Quốc. Có thể nói so với cái lô-gíc của người phương


Tây thì cái lô-gíc của người Trung Quốc kém hẳn một bậc.


Mỗi một dân tộc đều có cái ưu và khuyết điểm của nó. Cái năng lực về trực giác của người


Trung Quốc có thể nói là đứng vào hạng nhất thế giới, Tây phương cũng không thể sánh kịp.


Điều này thật rõ qua những phát minh ra la-bàn (Kim chỉ Nam), thuốc súng, v.v...


Người Trung Quốc bằng trực giác đã có thể tìm ra những thứ này trước bất kỳ quốc gia nào cả


vài trăm năm hoặc cả nghìn năm. Nhưng người Trung Quốc vẫn chưa từng sáng tạo được khoa


luận lý học. Vì vậy, tuy chế tạo ra la-bàn, thuốc súng, nhưng lại chẳng hiểu gì về nguyên lý


khoa học của chúng. Thậm chí ngay đến cả thời nay Trung Quốc cũng không có khoa lô-gíc


học như một bộ môn khoa học. Thế mà Tây phương từ rất sớm - ở thời đại A-ri-xtốt - đã tìm


ra những nguyên lý của lô-gíc học và sử dụng nó như một công cụ.


Ông Bá Dương đơn cử những ví dụ để nói lên chuyện người Trung Quốc đến chết cũng không


nhận lỗi. Kỳ thực người Trung Quốc đã thấy tầm quan trọng của điều này từ lâu rồi. Hơn


2.000 năm trước Khổng Tử đã thành khẩn khuyên răn: "Quá như năng cải, thiện mạc đại yên"


(Không có việc gì lớn lao hơn là biết sửa chữa lỗi lầm của mình). Nhưng phương pháp mà


Khổng Tử đề xuất là mỗi người phải học theo Nghiêu Thuấn, đó là một phương pháp giải


quyết bằng trực giác.


Đương nhiên, nếu mọi người đều có thể biến thành Nghiêu Thuấn thì còn gì bằng. Nhưng


đáng tiếc rằng sự thực lại không thể nào như thế được. Cho nên cái phương pháp biến mọi


người thành Nghiêu Thuấn rốt cuộc chẳng khác nào là không có phương pháp. Kết quả là sau


2.000 năm đề xướng cũng đã chẳng biến được thêm một kẻ nào thành Nghiêu Thuấn cả.


Nếu người Trung Quốc biết vận dụng lô-gíc để suy nghĩ thì đã tìm ra được chế độ dân chủ từ


lâu, đã dùng được tự do ngôn luận để sửa đổi những lầm lạc của các kẻ thống trị.


Dưới chế độ dân chủ của nước Mỹ, Nixon phạm một cái lỗi nhỏ là muốn ăn cắp các văn kiện


của đảng đối lập, kết quả bị tờ Bưu báo Hoa-Thịnh-Đốn (Washington Post) tố giác, muốn che


đậy mà không che đậy nổi, rốt cuộc buộc phải từ chức Tổng Thống. Cho nên dưới chế độ dân


chủ không có cách nào giấu được những sai lầm, có lỗi tất phải chịu trách nhiệm, không sửa


chữa không được.


Ngược lại, ở Trung Quốc lục địa dưới chế độ độc đảng chuyên chế, trận động đất lớn tại


Đường Sơn (1976) phải đến bao nhiêu năm sau này chúng ta mới biết được đã có bao nhiêu


người bị thiệt mạng!


Trong tai vạ mười năm do bọn "Tứ nhân bang" (Bè lũ bốn tên) gây ra, số người chết oan trong


toàn quốc có đến bao nhiêu triệu. Nếu bọn "Tứ nhân bang" không bị tan rã và bị xử tội, có lẽ


đến ngày hôm nay chúng ta vẫn còn bị lừa bịp bởi cái "Bất đoạn đấu tranh luận" (Thuyết đấu


tranh không ngừng) do Mao Trạch Đông nghĩ ra và nói rằng dùng nó để xây dựng thiên đường


cho nhân dân Trung Quốc.


Những chế độ không dân chủ, tức không có chân lý, tức không thể sửa đổi lỗi lầm, điều này


chẳng phải đã rõ như ban ngày ư?


Thế mà cho đến hôm nay vẫn còn nhiều người Trung Quốc tin rằng những kẻ thống trị sẽ tự


động biến thành Nghiêu Thuấn, không cần có quyền lực khác để chế ngự và xét đoán, không


cần có dân chủ để giám sát, lại cũng không cần có cả tự do ngôn luận để tố cáo!


Điều này chẳng phải đã chứng minh rằng người Trung Quốc không có một tý gì đầu óc lô-gíc


ư? Bất cứ kẻ thống trị nào cũng đều ghét cay ghét đắng dân chủ, bởi vì nếu có dân chủ tức thì


họ sẽ bị dân chủ tước bỏ tất cả những đặc quyền.


Điều kỳ quái là ở Trung Quốc có nhiều kẻ cũng hùa theo tập đoàn thống trị mà rêu rao rằng:


"Dân chủ Tây phương là dân chủ của giai cấp tư sản, đó là một chế độ phản động"; mà nghịch


lý thay những kẻ bị thống trị này lại chẳng có gì để mất vì chế độ dân chủ, cái đầu óc lý luận


của họ quả tình bị trục trặc gì đó.


Điều này là một khuyết điểm rất đáng lo ngại của người Trung Quốc chúng ta.


NHẢY RA KHỎI HŨ TƯƠNG


Xã luận trong "Bắc Mỹ nhật báo",


New York, ngày 24 tháng 8 năm 1981.


Ông Bá Dương, nhà phê bình xã hội rất nổi tiếng ở Đài Loan một thời, có một ngòi bút hài


hước chứa chất chua cay; cơn thịnh nộ và lời chửi mắng của ông thường bắt người ta suy nghĩ


và lo âu.


Văn ông tiêu biểu cho loại văn phê bình ra đời sau khi Trung Quốc thoát khỏi ách của thời đế


chế. Ông từng ngồi tù mười năm - có thể nói đấy cũng là vận mệnh của một nhà phê bình xã


hội giữa thời văn hóa và chính trị chưa chuyển mình.


Hãy xếp lại một bên cảnh ngộ của ông, và mặc dù có thể làm cho những người yêu quý ông


mếch lòng, chúng ta hãy từ góc độ lịch sử thử bình luận về những phương thức lập luận của


ông trong bối cảnh phê bình xã hội Trung Quốc cận đại xem nó như thế nào.


Hôm trước ông Bá Dương lấy đề tài là: "Người Trung Quốc và cái hũ tương" để diễn giảng tại


New York. Đương nhiên "Hũ tương" không phải là một khái niệm duy nhất mà ông nghĩ ra,


nhưng vì từ trước đến nay ông vẫn dùng nó để giải thích những hiện tượng bệnh hoạn của xã


hội Trung Quốc, nên ở đây chúng tôi mới lấy nó làm đối tượng.


"Hũ tương" được dùng làm một phép ẩn dụ tuyệt vời. Bởi vì đó là một hình tượng rất gần gũi


đời thường, làm cho thoáng một cái, trong lòng, trước mắt, mọi người ai cũng có thể hình


dung được cái xấu xa về tình trạng nhiều bệnh tật của xã hội Trung Quốc. Sự thực đây cũng là


cái chức năng cơ bản của các nhà tư tưởng: đề xuất ra những khái niệm để cho mọi người có


thể tìm thấy được ý nghĩa trong cái phức tạp rối ren.


Về phương diện này ông Bá Dương đã góp phần mở mang dân trí, cái công ấy không phải


nhỏ. Điều chúng tôi muốn nói là: Cái loại khái niệm này có công dụng nêu lên những hiện


tượng xã hội làm tiêu đề nhưng không giải thích được chúng. Nghĩa là thế nào?


Hãy lấy một ví dụ: Nếu ta tìm thấy một tương quan giữa hiện tượng phân phối của cải, tài sản


trong xã hội Trung Quốc với các hiện tượng thuộc về "hũ tương" kia, tất có thể dùng sự phân


phối tài sản này để "giải thích" những hiện tượng xã hội nọ.


Hơn nữa chúng ta có thể suy ra rằng chính sách thuế má và chế độ tài chính có thể uốn nắn các


hiện tượng "hũ tương" này. Nhất là khi một số ít người kiểm soát sự phân phối tài sản trong


một cơ quan (bằng hình thức lương bổng chẳng hạn) thì tất yếu sẽ đưa đến những sự chui


luồn, đấu đá ở trong đó.


Nếu không nhìn thấy được cái tương quan giữa phương thức phân phối của cải và hiện tượng


chui luồn thì mặc dù nhiều người "ý thức" được những hội chứng "hũ tương" một cách chung


chung, nhưng các hành vi "hũ tương" đặc thù này e rằng vẫn bị xem như chỉ giới hạn trong sự


chia của cải thôi và như vậy sẽ không thể nào sửa đổi được.


Đương nhiên, sự phân phối của cải chỉ là một ví dụ, những tiến trình bầu cử, tố tụng,v.v... đều


có thể lấy ra làm các ví dụ khác.


Ở đây không bàn đến giá trị văn chương, chỉ nói đến ý nghĩa xã hội, thì trong vòng 100 năm


nay ở Trung Quốc, tất cả các ông tiến sĩ chính trị học, xã hội học cũng chỉ đáng xách dép cho


ông Bá Dương trong việc làm cho nhân dân ý thức được các thói hư tật xấu của xã hội Trung


Quốc.


Trong quá trình cải thiện cách cư xử của người Trung Quốc chúng tôi chỉ hy vọng mọi người


phân biệt được hai điểm: Một mặt làm sao kêu gọi được ý thức của từng cá nhân, và một mặt


là khơi dậy ý thức xã hội, một thứ ý thức vượt lên trên vương quốc cá nhân.


Vì chủ yếu nhắm vào ý thức cá nhân, nên ông Bá Dương không tránh khỏi bị mỉa mai, chê


cười, chửi bới từ mọi phía.


Nhưng dù sao đi nữa, cái đóng góp của ông vào sự nghiệp xây dựng dân tộc Trung Quốc đã


vượt xa hơn hàng vạn lần các vị được gọi là "học giả".


CẦN DẤU CÁI ÁC, PHÔ TRƯƠNG CÁI THIỆN


Cần dấu cái ác. Phô trương cái thiện. Đừng tự hạ mình.


Kiến nghị và phê bình đối với ông Bá Dương.


Từ Cẩn


"Hoa Kiều Nhật báo", New York, ngày 11 tháng 9 năm 1981


Đọc báo thấy tin ông Bá Dương viếng nước Mỹ, tôi rất cảm thương cho những gì ông đã trải


qua. Bây giờ ông có thể sang đây, những người quan tâm đến ông không khỏi lấy làm mừng.


Vì không ít người vẫn kỳ vọng nơi ông, mong ông có thể soi sáng phần nào những ưu tư của


người Trung Quốc hôm nay.


Ông đến đây, lại vẫn cường điệu về cái gọi là "văn hóa hũ tương". Cái văn hóa 5.000 năm của


Trung Quốc khai sáng từ Đường tông, Tống tổ bỗng bị ông sổ toẹt và vứt vào đống rác, làm


cho lòng tin và kiêu ngạo về văn hóa của chúng ta bỗng như bị dội một gáo nước lạnh. Lời nói


của ông Bá Dương tôi tin rằng nó được thốt từ trong đáy lòng và dựa trên những kinh nghiệm


đau thương của bản thân ông. Nhưng với địa vị trên văn đàn của ông hôm nay - nhất là trong


lúc ông có thể ảnh hưởng đến không ít người - thì ông không thể nào trắng trợn đùa cợt chửi


bới lung tung được. Cho nên đối với cái lý luận "hũ tương" của ông lần này tôi muốn đóng


góp một vài lời phê bình không ác ý.


Ông Bá Dương không những chỉ tạt nước lạnh vào bao người, đả kích lòng tự tôn về văn hóa


của bản thân chúng ta, mà lại còn giơ ra trước mặt người nước ngoài những thứ như hoạn


quan, bó chân để họ cười vào mũi chúng ta nữa.


Thực chất cách nhìn của ông Bá Dương là một cách nhìn cực đoan nên mới hiểu lầm rằng


hoạn quan, bó chân là những khuyết tật văn hóa. Thật ra những thứ ấy chỉ là những hành vi tàn


khốc, bắt nguồn từ dục vọng cá nhân của các hôn quân độc tài, chuyên chế, hoàn toàn không


thuộc về nền văn hóa chân chính của Trung Quốc.


Lấy một ví dụ: hậu thế vẫn cho rằng các luật thơ của Đường thi gò bó thơ ca. Nhưng thơ của


người đời Đường sinh động, tự nhiên; luật thơ Đường được hình thành dựa trên ngôn ngữ và


mức độ văn tự của thời đại nó. Đó là một tinh thần thơ chân chính, chủ trương tự nhiên và


sáng tạo. Người đời Đường không hề cần hậu thế lấy luật thơ của họ làm chuẩn. Chỉ vì hậu thế


bỏ gốc lấy ngọn mà cho rằng nó gò bó.


Lại dựa vào thói quen trong cuộc sống mà nói thì cái áo "kỳ bào" là một thứ phục trang của


dân tộc Mãn, vốn yêu kiều, đẹp đẽ. Nhưng cái "kỳ bào" đời nay lại bó người, xẻ cao, chẳng


còn được vẻ gì của ngày xưa nữa.


Đương nhiên chúng ta cũng không thể coi nhẹ tập quán độc ác của tổ tiên như hoạn quan, bó


chân, nhưng chúng ta đều biết rằng truyền thống Trung Quốc vẫn có cái đức tính "ẩn ác,


dương thiện" (Giấu điều ác, phô trương điều thiện).


Cứ như việc khai phá miền Tây nước Mỹ chẳng hạn, hiện đang được ca tụng như một bộ sử


thi về lập nghiệp và phấn đấu, như những truyện cổ đầy tính truyền kỳ và lãng mạn. Nhưng


những gì đen tối và tàn khốc của thời ấy - mặc dù về mặt nào đó rất quan trọng - lại bị xóa bỏ


đến dấu vết cuối cùng.


Các nhà nghiên cứu Tây phương chân chính không những chỉ ca ngợi mà còn rất thán phục cái


đẹp và tinh tế của văn hóa Trung Quốc.


Nhật Bản đã hoàn toàn bắt chước phương Tây từ thời Minh Trị Duy Tân, song từ thời Ê-đô


(1600 -1867) trở về trước đối với nền văn hóa Trung Quốc người Nhật lúc nào cũng phục sát


đất.


Tinh thần văn hóa cơ bản của nước Nhật chẳng phải đã đến từ Trung Quốc hay sao?


Một nhà danh họa Nhật thế kỷ thứ XVIII, Tạ Xuân Tinh, không những lấy tên Trung Quốc, vẽ


tranh Trung Quốc mà lại còn làm thơ Trung Quốc và được mọi ca tụng là "một người Trung


Quốc chính hiệu".


Mặc dù được ca ngợi như một nước văn minh tiên tiến của thế giới, Nhật Bản ngày nay từ


trong nhà ra đến ngõ đều mang dấu vết sâu sắc của ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Bây giờ


họ tìm cách phân định ranh giới, phủ nhận quan hệ huyết thống với người Trung Quốc, quên


hẳn cái khẩu hiệu "đồng văn đồng chủng" (cùng chữ viết, cùng nòi giống) trong thời kỳ Chiến


tranh Trung - Nhật. Nhưng dù sao họ cũng không hề dám chối bỏ văn hóa Trung Quốc. Vì lý


do gì?


Nếu là người Trung Quốc, có lẽ chúng ta cũng nên tự hỏi: văn hóa Trung Quốc là cái thứ gì?


Chúng ta hiểu được nó đến đâu? Tại sao lại cứ đi chà đạp lên cái văn hóa đẹp đẽ thuộc về


chúng ta, mà nhất thiết cho rằng cái vận xấu của người Trung Quốc ngày nay là do lỗi của cái


"văn hóa hũ tương". Như vậy có phải là lý luận không?


Trung Quốc hiện có hơn 800 triệu người (năm 1981?). Cái việc cần kíp hiện nay là làm sao


cho số người ấy đoàn kết với nhau và có được hạnh phúc. Ngay cả những người Trung Quốc ở


Đài Loan chắc cũng nghĩ như vậy.


Để có điều kiện quốc phòng khả dĩ tự vệ được, nhân dân trẻ già lớn bé đều có cơ may được


giáo dục, cái duy nhất có thể giúp cho một số đông người đi lên văn minh hiện đại - mà tinh


thần vẫn còn có chỗ nương tựa - thì không phải văn hóa Tây phương, cũng không phải văn


hóa Nhật Bản có thể làm được, mà chính là cái truyền thống văn hóa cổ xưa của chúng ta. Nó


đã tích tụ những kinh nghiệm nhân sinh rất sâu sắc, có những tư tưởng khoa học rất phong


phú, có thi ca, văn tự tốt đẹp, lại có cả mỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, âm nhạc, trang


phục,v.v... muôn mầu muôn vẻ.


Chỉ có văn hóa Trung Quốc mới có thể đưa chúng ta lên con đường văn minh, đưa 800 triệu


người Trung Quốc đến con đường hạnh phúc được.


Người Nhật Bản đã dùng qua, đã tìm thấy lợi ích. Người Tây phương cũng đang nghiên cứu


học tập nó. Chúng ta - những người thuộc về chính nền văn hóa đó - chúng ta lại lại nỡ lòng


nào đi bêu riếu nó. Làm như vậy không những gây nguy hại đến tiền đồ quốc gia đân tộc mà


lại còn trở thành lũ cháu con bất hiếu nữa.


Hãy đừng để cho người Nhật Bản nói rằng chỉ có họ mới là con cháu thừa kế chính thức của


nền văn hóa Trung Quốc. Chúng ta phải mở to mắt ra mà nhìn cho rõ, suy cho kỹ, phán đoán


nhiều, giống như ông Bá Dương bảo cần suy nghĩ, bồi dưỡng năng lực phán đoán chính xác;


trước tiên là cho hạnh phúc bản thân mình, sau đó cho hạnh phúc của 800 triệu người Trung


Quốc khác.


NGƯỜI TRUNG QUỐC HÈN HẠ


Vương Diệc Lệnh


"Luận Đàn báo", Los Angeles, ngày 2/1/1985,


"Bách Tính bán nguyệt san", Hương Cảng, ngày 16/1/1985,


"Tin Nhanh tiếng Hoa", New York, ngày 11/2/1985.


Tôi vừa được đọc "Người Trung Quốc xấu xí" của ông Bá Dương, cảm thấy trong lòng bực


bội không thể không nói ra được.


Một trăm năm trở lại đây người Trung Quốc thật khổ, thật đáng thương, mà tình hình ngày


càng tệ hại. Ban đầu, cái khẩu hiệu của Dương Vụ Phái: "Trung học vi thể, Tây học vi dụng"


(Học truyền thống Trung Quốc để lấy làm thể chất, học theo Tây phương để làm công dụng)


cũng còn có cái gì đó chưa đến nỗi lạc điệu lắm. Điều này có tính khả thi hay không thì chưa


biết, nhưng nó còn có cái tâm ý muốn duy trì cái "thể chất" Trung Quốc. Về sau, dần dần "thể


chất" này cũng không ai cần nữa, chỉ còn lời oán trách tại sao bố mẹ lại cho mình cái đầu tóc


đen, cái bộ da vàng, giặt cũng không được, vứt cũng chẳng xong; rồi ta thán rằng: "Trăng ở


nước ngoài tròn hơn trăng Trung Quốc", và một mực chửi bố, chửi mẹ, chửi tổ tông.


Cái đó gọi là "truyền thống Ngũ Tứ" (Phong trào mồng 4 tháng 5/1919).


Đó là tình huống của mấy chục năm trước, thế mà so với thời nay vẫn còn khá hơn. Thời đó


mới chỉ là trăng nước ngoài tròn hơn chứ chưa đến độ rắm ngoại thơm hơn. Bởi vì thời đó


giao thông và thông tin chưa phát triển lắm nên không có cách nào bắt chước nhanh chóng và


hiệu quả như thời nay được.


Vì vậy bây giờ, khi người Mỹ tự gọi họ là "xấu xí", người Nhật tự gọi mình là "xấu xí", tức thì


có ngay người Trung Quốc lăng xăng ra vẻ thông thái, "tràng giang đại hải" viết liền một cuốn


"Người Trung Quốc xấu xí".


Mấy người Trung Quốc cố ý chửi đổng đó đều không phải là cái loại người Trung Quốc thông


thường. Vài chục năm trước những phần tử "Ngũ tứ" - mồm hô "đả đảo", tự xưng là "tiến bộ"


- đều tự cho mình là đại văn hào, có trách nhiệm với đất nước. Chúng đội những tên họ giả, và


một người trong bọn họ đã thành danh với những quyển "Gia" (nhà), "Xuân", "Thu" chất chứa


mối thâm thù đại hận đối với truyền thống Trung Quốc. (Ám chỉ Ba Kim, nhà văn hiện đại


Trung Quốc gốc Mãn Thanh - ND).


Chính họ đã, cố ý hoặc vô tình, làm công tác tuyên truyền mở đường cho sự nhuộm đỏ Trung


Quốc sau này bởi Chủ nghĩa Mác.


Những tai vạ của thường dân Trung Quốc hơn 30 năm nay thực ra đã bắt đầu từ loại nhà văn


chạy theo mốt này từ 60 năm về trước.


Ngày hôm nay lại chui ra cái ông Bá Dương, tự xưng là một nhà văn yêu quần chúng một cách


phi thường để giương cao thêm cái truyền thống "Ngũ tứ". Trước hết y gào to: "Văn hóa hũ


tương", sau đó là bôi nhọ cái anh chàng "Trung Quốc xấu xí".


Tôi là người Trung Quốc. Tôi có rất nhiều khuyết điểm và lỗi lầm - thậm chí những lỗi lớn,


những lầm lớn - nhưng tôi không hề xấu xa, lại không hề công nhận người Trung Quốc nhất


loạt đều xấu xa.


Bá Dương không biết có cho mình là người Trung Quốc không? Nếu ông còn cho mình là


người Trung Quốc, tức phải thừa nhận rằng mình xấu xa, cái đó là tự do của ông ta. Nhưng


ông ta không thể lôi kéo người khác đi theo ông ta như thế được.


Tôi không đồng ý với cái quan niệm "Người Trung Quốc xấu xí" này tý nào, nhất là với cái


chủ ý và giọng điệu đó, nhưng không phải vì vậy mà tôi cho rằng toàn bộ quyển sách của ông


Bá Dương là vô ích. Nó cũng có được vài câu đúng.


Ví dụ như chính Bá Dương đã nhìn nhận như sau:


"Người Trung Quốc có thể nói là một dân tộc thông minh nhất thế giới. Tại Mỹ, mấy người đỗ


đầu các đại học thường là người Trung Quốc. Rất nhiều nhà khoa học lớn, kể cả người cha của


khoa học nguyên tử Trung Quốc là ông Tôn Quan Hán, những người được giải thưởng Nobel


là ông Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo đều là những bộ óc hạng nhất.


Người Trung Quốc quả là không phải có phẩm chất xấu. Phẩm chất này có thể đưa Trung


Quốc đến được một thế giới lành mạnh và hạnh phúc. Chúng ta có tư cách làm chuyện đó và


chúng ta có lý do để tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp.


Nhưng chúng ta không cần phải cứ muốn quốc gia lớn mạnh. Quốc gia không lớn mạnh thì có


can hệ gì? Chỉ cần làm sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm một quốc gia lớn mạnh cũng


không muộn."


Đoạn văn trên tôi cho là rất đúng. Đặc biệt tôi vô cùng tán thành câu "chỉ cần nhân dân hạnh


phúc". Chỉ tiếc ý chính của cả quyển sách lại không phải là những lời lẽ ngay thẳng này, nó


toàn chất chứa những thứ kể tội "người Trung Quốc xấu xa" mà tôi hoàn toàn không đồng ý.


 


Đọc hết quyển sách, người đọc có thể tự hỏi: "Thật ra người Trung Quốc có "xấu xa" không?"


Bá Dương đã trả lời một cách vớ vẩn và rườm với một đống ví dụ rút ra từ thực tế nhằm


chứng minh người Trung Quốc là "bẩn, loạn, ồn, và hay cấu xé nhau".


Tôi tin rằng Bá Dương không thể bịa đặt, mà dù ông có đặt chuyện thì ý định của ông là gì?


Trên thế giới này dân tộc nào, quốc gia nào mà không làm ồn, không cấu xé lẫn nhau? Người


Híp-py Mỹ không bẩn sao? Tầu điện ngầm ở New York không loạn sao? Trên diễn đàn chính


trị Mỹ, Âu, Nhật ồn ào náo nhiệt, sự hục hặc đấu đá lẫn nhau có phải ít đâu? Có cái xó xỉnh


nào lại không có sự cấu xé lẫn nhau? Cứ theo cái lô-gíc của Bá Dương thì phải đặt cái đầu đề


lại cho đúng là "Nhân loại xấu xí".


Cái việc hoang đường nhất là ngay cả cổ họng của người Trung Quốc có to thật đi nữa thì có


gì gọi là xấu xa? Quả vậy! Nhập sông tùy khúc, nhập gia tùy tục, phàm người Trung Quốc đến


Mỹ - gồm cả bản thân tôi - đều phải sửa đổi cái tập quán nói to của người Trung Quốc, cố


gắng bắt chước cách nói của những người có học thức trong giới thượng lưu nhân sĩ Mỹ, nói


năng nhỏ nhẹ, thậm chí nói trên đường dây điện thoại chỉ nhỏ như tiếng muỗi. Điều này là tất


yếu.


Nhưng nếu có người nhất thời không thể sửa đổi được thói quen của mình thì cũng chẳng phải


là một tội ác gì ghê gớm lắm. Làm sao lại có thể gọi họ là "xấu xa" được. Ngay ở chỗ này


chúng ta cũng có thể thấy rằng ông Bá Dương trong lòng ghét người Trung Quốc đến chừng


nào. Và một khi đã ghét mà muốn đổ tội cho người thì có khó gì đâu!


Tại sao một nhà văn tự xưng là "yêu nước thương dân" lại rắp tâm dùng đủ thứ hiện tượng vụn


vặt chẳng có đầu cua tai nheo gì để bôi nhọ đồng bào mình? Tôi không có duyên được gặp vị


này, chỉ căn cứ vào bài phỏng vấn ông do nữ sĩ Lý Lê thực hiện. Bà này xem ông là một nhà ái


quốc lớn và nói rằng ông có một tấm lòng yêu nước mãnh liệt, ông rất kỳ vọng vào nước nhà,


dân tộc.


Nhưng khi ông viết ra tất cả lại là một chuỗi toàn những giận trời, trách người, nguyền rủa


không thôi. Cái nguyên nhân căn bản có lẽ vì Bá Dương đã hiểu một cách lệch lạc về văn hóa


truyền thống Trung Quốc, nên đã lầm đường lạc lối; có lẽ bị cái "văn hóa hũ tương" do chính


ông ta bịa đặt ra mê hoặc tâm trí, bị chính cái "mầm bệnh độc" do ông ta gieo ra làm tê liệt


thần kinh của bản thân.


Cái văn hóa "bác đại tinh thông" của Trung Quốc dĩ nhiên có phần vương đạo, nhưng cũng có


phần bá đạo, có nhân nghĩa, đạo đức, có trộm cắp, đĩ điếm, có chính tâm thành ý, có phong


hoa tuyết nguyệt, bất kỳ phương diện nào cũng đều đạt đến đỉnh cao; trăm thứ bà dằn thứ gì


cũng có.


Chẳng cứ nói anh chuyên tìm cái "hũ tương" và "mầm bệnh độc", chứ thậm chí nếu muốn cố ý


tìm cái "hũ cứt" hoặc vi trùng cũng đều có thể tìm thấy. Nếu anh muốn bảo văn hóa Trung


Quốc là một hũ cứt đầy vi trùng, thì văn hóa Trung Quốc cũng chẳng thiệt hại gì mà chỉ chứng


minh rằng: anh là thằng thối tha không ngửi được đến mức vô phương cứu chữa.


Nếu lấy cùng một bộ "Tư trị thông giám" (xem chú thích của người viết bài này -Vương Diệc


Lệnh - ở cuối bài) ra mà bàn, có người đọc xong nó có thể học được cách trị quốc bình thiên


hạ. Trong khi đó Mao Trạch Đông đọc xong thì lại càng hoàn chỉnh hơn những thủ đoạn tẩy


não và chôn sống người, có lẽ ngay cả Xta-lin cũng không bì kịp.


Cái văn hóa truyền thống Trung Quốc là như vậy, giống như một lưỡi dao sắc, tùy anh có sử


dụng nó hay không, và sử dụng như thế nào. Anh có thể dùng nó để trị bệnh cứu người, cũng


có thể dùng nó để giết người. Đương nhiên cũng có thể dùng nó để tự sát.


Cho nên, bất kỳ ai nếu manh tâm đi tìm cái lưỡi sắc của nó, đi tìm những thứ như "hũ tương",


"mầm bệnh độc", thì chính người đó sẽ bị mắc bệnh độc chứ không phải văn hóa Trung Quốc.


Tôi xin nói thêm vài điều hơi ngoài lề.


Một trăm năm trở lại đây, vì chính trị Trung Quốc đen tối, nhà văn, trí thức viết lách thường bị


tù đày, giết chóc, quản thúc lâu dài, bị chụp mũ. Điều đó chứng tỏ rằng những chính quyền tại


chức vẫn tự coi mình là trời cao, đất rộng.


Bởi vì mọi người đều thù ghét các chính quyền chuyên chế, nên những cá nhân nào dám công


khai thách thức bạo quyền đều được mọi người đồng tình, kính nể. Những kẻ bị tù đày vì lý do


chính trị hoặc là nạn nhân của một ý đồ chính trị cũng đều mang một vầng hào quang trên đầu.


Tôi cho rằng không hẳn như vậy hoặc ít nhất cũng không thể nói nhất loạt đều như vậy. Thật


ra cũng có một số người bị tù ngục hoặc bị sát hại đáng được tôn kính. Ví dụ như những sứ


thần ngày xưa dám can gián hoàng đế mà không sợ bị chém.


Gần đây một số nhà báo không sợ quyền lực dám vạch trần những sự đồi bại của các gia đình


quyền quý họ Khổng, họ Tống. Có kẻ bị giết, kẻ ngồi tù, những sự hy sinh của họ đương nhiên


có ý nghĩa, có giá trị đáng tôn thờ.


Còn đối với cái nhãn hiệu "liệt sĩ" của Lý Đại Chiêu và Hồ Giã Tân thì tôi cho là chết cũng


không đáng tiếc. Nó chẳng khác gì cái nhãn hiệu "hữu phái" của Vương Diệc Lệnh này, tôi


cho rằng đó chỉ là việc tự đi chuốc vạ vào mình.


Tất cả "liệt sĩ" cũng như "hữu phái" ở Trung Quốc chỉ là những sản phẩm đồi bại của các


chính phủ độc tài dựng lên. Nhưng nói về bản thân những người bị hại này, đối với cái việc họ


bị bức hại thì chỉ có họ là thiệt thòi mà chẳng đem lại được ích lợi gì cho những người đang


sống. Nói tóm lại nếu chịu đau khổ mà không đem lại một kết quả gì thì thật là đáng kiếp!


Dựa trên cái đạo lý này, tôi cho rằng ông Bá Dương mở mồm, rồi ngậm miệng, ngồi trong nhà


lao hơn 9 năm và không biết lẻ bao ngày, tựa hồ như lao tù là cái đất mạ vàng của ông ta;


nhưng cuối cùng tất cả những thứ đó chỉ là một việc thật vô ích!


Nếu nói theo lô-gíc của Bá Dương, thì trên đảo Đài Loan có một nhà văn còn tài tình hơn Bá


Dương. Sau khi ông ta ra tù, cho đến hôm nay ông ta vẫn còn múa bút trên đảo chửi loạn lên,


phong độ không khác trước một tý nào, vẫn chửi đến cả 18 đời tổ tông của kẻ khác. Nhưng


theo quan điểm của tôi thì điều đó chẳng có gì là ghê gớm hết.


Bất quá anh ta cũng chỉ là một nhà văn vong mạng (hết thời) mà thôi.


Cuối cùng, xin tóm lại một câu: Người Trung Quốc chưa chắc đã xấu, nhưng trong đám người


Trung Quốc lại không thiếu những đồ hèn hạ!


Chú thích của Vương Diệc Lệnh:


Tôi chưa được đọc quyển "Tư Trị Thông Giám bản của Bá Dương", mà cũng không thích đọc.


Bởi vì tôi tin rằng dùng cái kiểu đánh đổ tất cả, chửi tất cả kiểu "Ngũ Tứ" hay "Hồng Vệ


Binh" để diễn giải "Tư Trị Thông Giám" thì sẽ chẳng còn gì là hình dạng của nó.


Tôi cực kỳ thán phục Tư Mã Ôn Công (Tư Mã Quang). Sách của ông dạy dỗ các vua trị nước


như thế nào, dậy các quần thần làm việc nước, dậy cho thường dân cách ăn ở, nước có đạo và


vô đạo xử sự như thế nào. Ở xã hội như Trung Quốc, nếu nghiên cứu kỹ một chút quyển sách


này thì sẽ bổ ích không ít, tối thiểu cũng không đến nỗi bị ngồi nhà lao của Quốc Dân Đảng


hoặc phải đội mũ nhọn [bị đấu tố] của Đảng Cộng Sản.


KHÔNG HIỂU ĐƯỢC HÀI HƯỚC


Hồi Tuyên Xứ


"Tín báo", Hương Cảng, ngày 23/1/1985.


Trong báo "Bách tính" kỳ này có một bài văn nhan đề "Người Trung Quốc hèn hạ" của Vương


Diệc Lệnh. Sau khi đọc Bá Dương ông này tuyên bố: "Trong lòng tức tối không thể không nói


được".


Bài văn mang tính bút chiến này đã công kích Bá Dương một cách thậm tệ. Giọng văn nhuần


nhuyễn nhưng văn phong ác liệt, không hề có cái đôn hậu, hòa nhã trong truyền thống tốt đẹp,


cao quý của Trung Quốc. Ông ta sử dụng những thứ như "thối không ngửi được", "vô phương


cứu chữa", "đồ hèn hạ", "xem lao tù là cái đất mạ vàng",v.v...Có thể nói thật là khe khắt.


Nếu cái thuyết "người Trung Quốc xấu xí" của ông Bá Dương có cơ sở thì ông Vương qua bài


văn này lại bị chính gậy ông đập lưng ông, và không những không phản bác được lý luận của


ông Bá Dương mà còn cung cấp thêm bằng chứng cho nó.


Bộ mặt xấu xí của Vương Diệc Lệnh là bộ mặt thật của người Trung Quốc cả nghìn năm nay.


Đó là một bộ mặt thiếu vắng phần hài hước.


Bá Dương chửi người Trung Quốc là xấu xí, nhưng có phải vì ông ta làm công tác nghiên cứu


nhân chủng học và hy vọng đoạt được giải Nobel không?


Người viết tạp văn, cốt ý gây ra phản ứng nơi người khác để kích động tranh luận, hoàn toàn


khác với các chuyên gia viết có chứng cớ rõ rệt của các ngành học thuật. Người Trung Quốc


có xấu xí hay không cũng chẳng quan trọng gì, nhưng có người tức quá, la làng lên, đã tiêu phí


không biết bao nhiêu tế bào não, đó mới là điều thật quan trọng.


Cũng cùng trong số "Bách tính" này có bức thư độc giả họ Lương. Ông này sau khi đọc


"Người Trung Quốc xấu xí" của Bá Dương đã tỏ vẻ bị xúc động sâu xa, nên buồn bã chán nản


mà rơi lệ.


Nhưng theo tôi thấy thì nước mắt của ông này và sự phẫn nộ của ông Vương Diệc Lệnh cũng


chỉ là một thứ thằng điếc cười thằng câm.


Cả hai người đều có cái tinh thần của những người theo học thuyết Lão Trang, trong bụng đầy


những quan niệm quá ư là siêu thoát. Cho nên họ chưa có thể đọc được những gì ở giữa những


hàng chữ của Bá Dương để lĩnh hội ra cái thú vị của hài hước, mà chỉ rơi vào mấy cái ví dụ


mỹ miều, sinh động với những lời chú giải hoang đường cổ quái thôi.


Đọc văn chương Bá Dương thực ra cần có sẵn một ít tinh thần hài hước. Ông ta phá rối, làm


trò, đem cái lưỡi dao của trí tuệ se sẽ lấp loáng trước mắt chúng ta. Người đầu óc linh hoạt có


thể nắm bắt được tinh túy, những kẻ quá nghiêm nghị, ra vẻ trịnh trọng, thì lại hoàn toàn bị


oóc-dơ.


Dân tộc Trung Quốc có một lịch sử lâu đời, làm sao tất cả đều có thể hoàn mỹ không tỳ vết?


Ông Bá Dương tìm những thứ này ra chế diễu, kỳ thực là tự trào, gây ra cho chúng ta một ít


tác dụng cảnh tỉnh. Vả lại nói xấu mà không nói đẹp, đó cũng là một cách tự khiêm.


Không hiểu được hài hước lại cho rằng ông ta đi ngoáy dao vào vết thương của mình thì thật


là phụ cái lòng đau khổ của Bá Dương. Tuy thế, e rằng Bá Dương cũng không thích gì mấy cái


việc người đọc bài mình phải khóc sụt sùi.


Nói tóm lại, dân tộc Trung Quốc là một dân tộc lớn, nói đẹp đẽ thì đẹp đẽ hơn bất cứ dân tộc


nào, nói xấu xí thì cũng xấu xí hơn bất cứ dân tộc nào.


Nhưng có lẽ nên nói ra cái xấu vẫn tốt hơn là ca tụng cái đẹp của nó. Nói một cách khác, cho


dù có xấu, cũng có cái đẹp của cái xấu chứ!


CÓ CÁI VĂN HÓA KHÔNG CÓ VĂN MINH?


Hồ Cúc Nhân


Báo "Luận đàn", Los Angeles, ngày 6/2/1985.


"Văn minh" và "Văn hóa" là hai khái niệm hay bị nhầm lẫn. Văn minh thật ra là gì? Còn cái gì


gọi là văn hóa? Định nghĩa như thế nào? Thường thường mỗi người mỗi cách.


Một vài người trí thức Trung Quốc sô-vanh có cách nói rất cổ quái ly kỳ là Tây phương không


có văn hóa, chỉ có văn minh. Hoặc xua tay một cách khinh miệt: "Nước Mỹ không có văn


hóa!", nhưng không hề nghe họ nói nước Mỹ không có văn minh.


Giả sử chúng ta lại hỏi một câu: Trung Quốc có một văn hóa ưu tú, nhưng không có văn minh


ư? Hoặc hỏi: Thế văn minh quan trọng hay văn hóa quan trọng? Không có văn minh làm sao


có văn hóa?


Kỳ thực văn minh và văn hóa tuy hai mà một, tuy một mà hai, không thể tách rời ra được.


Chúng ta có thể nói cái tương quan của chúng như sau: văn minh là sự thể hiện của văn hóa,


văn hóa là bà vú nuôi của văn minh.


Văn hóa khi được biểu hiện cụ thể trong sinh hoạt và xã hội, cái đó là văn minh. Lấy một ví dụ


giản dị nhất: lễ phép là sự biểu hiện của văn minh. Mà Khổng Tử hệ thống hóa chữ "lễ", chính


đó là văn hóa.


Tại Trung Quốc từ hơn 2.000 năm nay cái nghi lễ của Khổng giáo được thể hiện trong chế độ


xã hội, trong lời nói và việc làm, ở sinh hoạt thường ngày của nhân dân cũng như qua dịp lễ


tiết quanh năm bốn mùa và những nghi thức khác. Tất cả những cái đó chúng ta phải hiểu là


văn minh Trung Quốc. Văn minh chính là cuộc sống.


Nếu chúng ta chấp nhận cách nói này thì người Trung Quốc xem ra rất đáng bị chê cười. Vì


ngay cả văn minh Trung Quốc chúng ta cũng không có, nói gì đến có thể có cái thứ xa xỉ là


văn hóa. Bởi vì cái văn minh của chúng ta (nếu như có) thì đối với cái văn hóa của chúng ta nó


thật không tương ứng tý nào. Vậy làm sao nó thể hiện được cái văn hóa của chúng ta?


Nói thế có nghĩa là cái mà chúng ta thể hiện trong sinh hoạt hôm nay không phải là các giá trị


của văn hóa Trung Quốc mà chỉ là những thứ đến từ văn hóa khác.


Vì vậy văn minh Trung Quốc ngày nay, nếu có nó, thì nó là một thứ con tư sinh mà đối với mẹ


nó - văn hóa truyền thống Trung Quốc - không có gì gọi là liên hệ huyết thống nhiều lắm.


Gần đây tôi có đọc tác phẩm mới của ông Bá Dương là "Dẫm lên đuôi nó", trong đó nói đến


ấn tượng của ông khi sang thăm nước Mỹ. Ông thấy rằng nếu so sánh thì người Mỹ lễ phép


hơn người Trung Quốc. Điều này cũng là ấn tượng của tôi khi đi du lịch ở Mỹ.


Người Trung Quốc so sánh với người Mỹ - những người bình thường trong cuộc sống hàng


ngày - thì trở thành những người "nguyên thủy", "man rợ", vì chúng ta ngay cả "Cảm ơn!",


"Xin lỗi!" đều cũng không biết nói.


Điều này hoàn toàn không phải tôi đặt điều. Nhân dân Trung Quốc, về lễ độ - biểu hiện của


văn minh - không thể nào sánh được với nhân dân Mỹ, cũng không thể sánh được với Nhật


Bản và Nam Hàn.


Nếu không có cái văn minh sinh hoạt cơ bản, làm sao có thể còn huênh hoang được về cái văn


hóa của tổ tiên đã bị mai một rồi?


Không có văn minh làm sao có được văn hóa?


Cho dù có văn minh thì cũng chỉ là một thứ văn minh lai căng, còn nói cái văn hóa Trung


Quốc nào nữa?


KHÔNG THỂ BÔI NHỌ VĂN HÓA TRUNG QUỐC


Lưu Tiền Mẫn


Báo "Luận Đàn", Los Angeles, ngày 6/3/1985.


Tại Đài Loan, những người biết tiếng ông Bá Dương không phải ít. Ngay cả tôi, tuy chưa hề


đọc tác phẩm nào của nhà văn này, nhưng vì nghe đồn đại mãi về sự từng trải, cảnh ngộ của


ông rồi cũng thành ra biết.


Hai mươi năm trước Bá Dương viết tạp văn ở Đài Loan. Thời ấy xã hội Đài Loan còn là một


xã hội đóng kín, khô khan, nhạt nhẽo. Tạp văn của ông đương thời đã là một thang thuốc mát


mẻ thích ứng với những lòng người bị ngột ngạt. Chính vì thế tạp văn của ông đã làm ông nổi


tiếng.


Nhưng ở đời thường những sự thuận lợi dễ dàng nhiều khi vẫn mang lại cái rủi ro rất lớn. Ông


viết rất nhiều, trên trời dưới biển không chuyện gì không động đến, lại không biết che đậy dấu


diếm, sao tránh được việc xúc phạm vào vùng đất cấm, vào các húy kỵ của thời đại. Kết quả là


sau đó ông bị tống đi Lục Đảo để đóng cửa nghiền ngẫm sự đời.


Đến khi được phóng thích, tiếng tăm của ông lại càng lẫy lừng; thừa thắng xông lên, cái ngang


ngược của ông lại càng ghê gớm. Chửi bới một nhóm người chưa đã, ông bèn vung roi, phê


kim bình cổ. Ngay cả cái văn hóa 5.000 năm của Trung Quốc cũng bị ông đánh tơi bời.


Gần đây tôi được đọc trên báo "Luận Đàn" bài diễn thuyết của Bá Dương tại Đại học Iowa


(Mỹ) nhan đề "Người Trung Quốc xấu xí" ; đọc xong lòng đầy xúc cảm. Đúng thế! Một nước


to lớn như Trung Quốc, mà người cứ nghèo, chí cứ thấp, cùng quẫn lâu dài thì sẽ không thể


nào thống nhất được mãi, đến lúc nào đó sẽ không khỏi bị tan rã. Ngay ngày hôm nay cũng đã


có một bộ phận người Trung Quốc ở ngoài nước vượt được qua trình độ đại học đã không còn


thừa nhận mình là người Trung Quốc, và tuyên bố thẳng thừng là chẳng còn gì dính líu đến


nước này nữa.


Hiện nay trên thế giới có lẽ ngoài cái loại người như Bá Dương, không có một người dân


thường nào ở các quốc gia nghèo khổ, vì nịnh nọt hoặc oán hận lại vội vàng đi bôi nhọ đồng


bào và văn hóa mà mình vẫn còn sống nhờ vào đó.


Nhà khoa học lớn người Hy Lạp Ác-Si-Mét có nói: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy được


cả quả đất". Đại khái Bá Dương cũng mơ tìm được một điểm tựa - cái văn hóa hũ tương của


ông - và dùng điểm tựa này để tấn công vào vận mệnh văn hóa của một nước lớn hơn một tỷ


người.


Tại những nước giầu có, người dân nói về sự xấu xa của quốc gia mình thì cũng đã có hai


quyển sách đã chào đời. Sau Đệ nhị Thế chiến, có một vị người Mỹ viết một quyển gọi là


"Người Mỹ xấu xí". Một vị khác người Nhật sau đó vài năm cũng vội vàng viết cuốn "Người


Nhật xấu xí". Hai tác giả này cảm thấy người nước mình hoặc vì tính tình kiêu xa, hoặc vì


thiếu lễ độ đạo đức, mới viết văn cảnh tỉnh mọi người.


Đặc biệt để nhấn mạnh những điều không đồng tình, ông tác giả Nhật bất chấp đang ở giữa


nhiệm kỳ đại sứ tại nước ngoài, đã cho in luôn. Việc phải đến tất đến, cái hành vi sai trái của


một nhân viên nhà nước ấy đã làm ông mất chức. Nhưng qua việc này ta có thể thấy được tấm


lòng thành của ông ta đối với đất nước như thế nào.


Tôi đã sống ở Mỹ hơn 10 năm, không lạ gì chuyện người Mỹ khá bận rộn trong cuộc sống


thường ngày. Hàng ngày, vì việc này việc nọ bận đến không có thể rứt ra, nên một quyển sách


dẫu hay như quyển "Người Mỹ xấu xí" có lẽ cũng chẳng làm cho người Mỹ bình thường nào


cảm thấy thích thú được. Theo tôi, số người Mỹ biết đến quyển sách này không nhiều, đọc


được kỹ nó có lẽ còn ít hơn nữa.


Tình hình ở Đài Loan lại khác hẳn. Dù công thương nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, dù cuộc


sống thường ngày của người dân chẳng được nhàn hạ gì, nhưng cái thú tò mò hiếu kỳ nơi con


người lại không hề giảm thiểu.


Nếu các ngài không tin thì cứ đến khu chợ Tây Môn Đỉnh, vừa đi chầm chậm vừa ngửa cổ


nhìn lên trời, thì tôi bảo đảm với các ngài rằng chỉ trong khoảnh khắc những người chung


quanh cũng sẽ đều nghển cổ nhìn lên trời xem có gì không.


Người dân sống ở Đài Loan đối với những sự vật xung quanh mình đều rất tò mò. Cho nên


quyển sách của Bá Dương vừa ra đời một cái, dù không như giấy quý Lạc Dương, nhưng chắc


chắn bán rất chạy.


Nhiều người Trung Quốc khi cãi nhau mồm miệng thường thường không lựa lời, chửi nhau


đến cả ba đời tổ tông. Nguyên nhân vì người Trung Quốc rất trọng chữ hiếu, nên động đến tổ


tông tức có thể làm cho đối phương đau và giận nhất.


Nhưng Bá Dương - trong quyển sách ông viết - đã chứng tỏ kỹ thuật chửi của mình còn tinh


thâm hơn. Ông dè bỉu cả một nền văn hóa. Đó là cách trút giận hay nhất bằng cách tóm cổ cả


bọn Trung Quốc cùng một lúc.


Nếu rập khuôn theo công thức của Bá Dương mà nói thì "Đất nào quả nấy, xã hội nào nhân tài


ấy", và nhân tài Bá Dương đúng là đã làm được cái mình muốn. Ông đã chửi cả bàn dân thiên


hạ người Trung Quốc.


Lịch sử hiện đại Trung Quốc là lịch sử của một dân tộc đầy rẫy tai họa. Xâm lăng từ bên


ngoài, loạn lạc bên trong, nghèo khó, khổ nạn lâu dài làm cho đức tự tin dân tộc của người


Trung Quốc đã bị suy giảm.


Quốc gia chúng ta ngày nay bị chia đôi. Trung Cộng ở lục địa thì, ôi thôi, nghèo khổ, lạc hậu!


Ở Đài Loan tình trạng hiện nay có khá hơn với lợi tức trung bình hàng năm hơn 3.000 đô-la


Mỹ, nhưng so với hai nước Mỹ, Nhật thì thật ra vẫn còn là một xứ sở bần cùng.


Vì vậy người Trung Quốc ở giai đoạn này nên chú trọng đến một câu thích hợp với cái tình thế


của mình hơn, đó là "Bần nhi vô xiển" (nghèo nhưng không nịnh), còn cái câu "Phú nhi vô


kiêu" (giầu nhưng không kiêu), hoặc "Phú nhi hảo lễ" (giầu mà biết cư xử) chưa phải là


chuyện ngay trước mắt, e rằng cái đó còn phải chờ đến một nửa thế kỷ nữa. Đến lúc đó có nói


đến quyển "Người Trung Quốc xấu xí" của Bá Dương cũng vẫn chưa muộn.


Nhưng đáng tiếc là Bá Dương lại quá quan tâm đến danh lợi trước mắt nên không nghĩ như


vậy. Ông ta muốn bắt chước người Nhật, người Mỹ để làm người Trung Quốc đầu tiên bêu


riếu cái xấu của người Trung Quốc ra, càng sớm chừng nào càng tốt chừng đó.


Kế hoạch của ông ta rất lớn, ông không chỉ chuẩn bị nó theo kiểu một người một ngựa, mà hy


vọng mọi người cũng nhất tề xông vào cùng ông tham chiến, cùng giúp ông làm cái việc bôi


nhọ Trung Quốc cho được rầm rộ thêm.


Có lẽ vì có được cái kinh nghiệm phải trả giá đắt ở trong tù, Bá Dương biết rằng phàm việc gì


muốn thành công phải suy nghĩ kỹ và có mưu sâu. Ông mời mọi người cùng viết với ông, để


thứ nhất: gây thanh thế lớn, tăng thêm hiệu quả việc bôi nhọ này; thứ hai: nhỡ không may gặp


phải tai vạ sau này thì còn có người đưa cơm nước vào nhà lao cho. Đúng là nhất cử lưỡng


tiện.


Bây giờ chúng ta hãy thử xem chiến dịch bôi nhọ văn hóa Trung Quốc do Bá Dương tiến hành


gây ảnh hưởng đến những người dân lương thiện như thế nào bằng cách lấy ngay những ví dụ


mà Bá Dương đã đơn cử:


Chuyến đi Mỹ của vợ chồng Bá Dương đến Iowa một phần do chủ nhà hàng Yến Kinh là ông


Bùi Trúc Chương tài trợ. Bá Dương tuyên bố ông Bùi đã thổ lộ với mình như thế này:


"Trước khi đọc sách của ông, tôi cho rằng người Trung Quốc là ghê gớm lắm. Sau khi đọc


sách của ông xong, quan niệm của tôi đã thay đổi. Vì vậy tôi muốn mời ông đến để gặp mặt".


Bá Dương nói thêm:


"Lúc ông Bùi đã thấy văn hóa chúng ta có vấn đề mới tự hỏi phải chăng đấy là do phẩm chất


của người Trung Quốc chúng ta có vấn đề?"


Đối với câu hỏi của ông Bùi, Bá Dương đã dùng cái kiến thức uyên thâm để trả lời như thế


này:


"Tôi không nghĩ rằng phẩm chất chúng ta có vấn đề, đó không phải là một điều an ủi. Người


Trung Quốc có thể là một trong những dân tộc thông minh nhất thế giới. Tại các đại học Mỹ


những người xếp hạng đầu bảng thường là người Trung Quốc, nhiều nhà khoa học lớn - gồm


cả người cha đẻ của nền khoa học nguyên tử lực Trung Quốc Tôn Quan Hán, được giải Nobel


như Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo đều là những bộ óc hàng đầu.


Tôi cho rằng người Trung Quốc chúng ta vốn có phẩm chất cao quý".


Một phẩm chất cao quý? Thì ra cái phẩm chất mà ông ta muốn nói đó chỉ là thứ phẩm chất


sinh lý (sinh vật) chứ không phải là phẩm chất văn hóa.


Nhưng trên phương diện sinh vật học, các dân tộc và các giống người trên trái đất đều có một


bộ não không hơn kém nhau mấy về kích cỡ. Các nhà khoa học đều không tin vào thuyết có sự


sai biệt về phẩm chất của bộ óc giữa các dân tộc. Tại sao có dân tộc vào một thời kỳ nào đó lại


biểu lộ óc thông minh đặc biệt, nhưng về sau lại bị suy đồi, tàn lụi đi? Tại sao người Anh ở


thời đại Newton nhân tài không ngừng xuất hiện, mà bây giờ lại như tuổi già sắp chết, không


còn sinh khí nữa? Người Anh thời nay và người Anh ở thời đại Newton đầu óc không giống


nhau hay sao?


Chúng ta thấy một điều là người mù thường vẫn có một thính lực phi thường. Kỳ thực các tế


bào thính giác của họ cũng chẳng khác gì những người khác, chẳng qua vì người mù cần phải


khai thác tiềm năng thính giác của họ nhiều hơn so với người bình thường mà thôi.


Người Trung Quốc học rất giỏi. Năng lực trí tuệ vào bậc nhất. Nhiều nhà xã hội học, tâm lý


học, giáo dục học đang tìm hiểu xem việc này có phải do nguyên nhân văn hóa Trung Quốc


không. Hễ dân tộc nào mà uống vào cái văn hóa có đầy tính dẻo dai, bền bỉ mà mạnh mẽ cứng


cỏi này đều có khả năng trị được bệnh lười và bệnh ngu. Giống như Nhật Bản, Nam Hàn đều


là những ví dụ rành rành trước mắt.


Giở những tạp chí khoa học có uy tín của Mỹ như "Vật lý quan sát" ta sẽ thấy mỗi một kỳ số


lượng các bài người Trung Quốc gửi đăng nhiều kinh khủng. Cho nên có thể nói rằng văn hóa


là một yếu tố của phẩm chất thông minh.


Mỗi khi tôi đi trên mảnh đất lớn của Trung Quốc, bất kỳ ở xó xỉnh nào, đối diện với đám đông


người, nơi tâm linh tôi thường rạo rực cảm thấy một thứ trí tuệ mênh mông không bờ bến.


Cái "Hũ tương luận" của Bá Dương đã chà đạp văn hóa Trung Quốc rất nhiều. Nhưng muốn


mà vẫn không thể hạ thấp được trí thông minh của người Trung Quốc, nên ông đành phải tách


nó ra khỏi phẩm chất văn hóa của Trung Quốc. Đấy là vì Bá Dương không nhìn lại vấn đề


nhân quả, "Hũ tương luận" là hậu quả của một sự "xét đoán" thiếu suy nghĩ trên nhiều mặt.


Bá Dương nói rằng người Trung Quốc đã cống hiến rất ít cho văn hóa nhân loại. Từ thời


Khổng Tử về sau mấy nghìn năm cũng không sản sinh được thêm một nhà tư tưởng nào lớn


nữa. Cái văn hóa này như một đầm nước ao tù. Đó là cái hũ tương văn hóa. Hũ tương bị thối


làm cho người Trung Quốc biến thành xấu xa. Cái cách suy luận này nếu nói cho có vẻ thanh


nhã thì nó rất nghèo nàn, dung tục; còn nếu nói một cách sỗ sàng thì nó là một sự giỡn mặt,


đùa dai.


Học trò trung học đều biết: sau Khổng Tử có Mạnh Tử, sau đó lại có Chu Hy, Vương Dương


Minh, v.v...là những nhà lý học lớn (triết gia duy tân). Những vị này đều là những nhà tư


tưởng lớn, nhưng không phải không có thể đếm được trên đầu ngón tay.


Ta hãy thử bàn một tý về Mạnh Tử.


Tư tưởng chính trị của Khổng Tử được nói đến trong thiên "Lễ vận" của "Lễ ký" rất cụ thể, có


hệ thống; nhưng hệ thống tư tưởng này không phải không có chỗ sai sót, sơ hở, và nó đứng


vững được như một quốc sách hay không cũng vẫn còn là một vấn đề cần phải đắn đo, cân


nhắc.


Khổng Tử bàn về vua, luận về dân, nhưng đáng tiếc ông đã không làm sáng tỏ cái quan hệ


giữa hai bên với nhau. Đến thời Mạnh Tử, cái lý luận chính trị của nhà nho mới tiến lên một


bậc và đi đến được chỗ đột phá.


Mạnh Tử nói: "Vua sai lầm lớn thì phải can gián. Nếu lại cứ tiếp tục sai mà không nghe lời


can ngăn tức phải truất ngôi". (Quân hữu đại quá tắc gián, phản phục chi nhi bất thính, tắc dịch


vị). Lại nói: "Dân mới quý, và sau đó mới đến nước nhà, còn vua thì không có gì là quan


trọng" (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Mạnh Tử nói rõ rằng quốc gia và chế độ


quân chủ đều do dân mà ra, nếu làm vua một nước mà không xứng đáng với chức vụ của mình


thì phải phế bỏ đi.


Cái cơ bản nhất trong tư tưởng trác tuyệt của Khổng Tử là câu "Thiên hạ là của mọi người"


(Thiên hạ vi công), mà chủ nghĩa lấy dân làm gốc của Mạnh Tử đã nói rõ cái chữ "Công" này


nghĩa là "Dân". Vì vậy, "Thiên hạ vi công" có thể được tóm lược vào hai ý niệm dân chủ là


"của dân" và "vì dân".


Dân tộc Trung Quốc suốt 2.000 năm cùng xưng tụng Khổng Tử và Mạnh Tử vì thực ra Mạnh


Tử đã phát huy rộng rãi và làm sáng tỏ tư tưởng của Khổng Tử.


Nếu nói đến vấn đề người Trung Quốc cống hiến rất ít cho văn hóa nhân loại thì theo tôi cần


phải giải thích từ một góc độ khác. Sự truyền bá của văn hóa nhân loại hoàn toàn tùy thuộc


vào vấn đề thông tin. Mà ở thời cổ đại sự thông tin đều dựa trên sức người, qua lối giao thông


đường thủy hoặc đường bộ mà lan ra.


Cho nên yếu tố địa lý đối với sự phát triển, truyền bá văn minh cổ đại là một vấn đề then chốt.


Cho tới ngày nay tình trạng này cũng vẫn vậy. Một nước nhỏ ở dưới chân núi Hy-ma-la-ya


như nước Bu-Tan (Bhutan) thử hỏi làm sao có thể phát triển công thương nghiệp như Đài


Loan, Hồng Kông, Singapore ?


Địa thế Trung Quốc nằm ở đại lục Đông Á, phía tây có sa mạc lớn chạy dài, các đường giao


thông với Tây phương đều xa vời và hiểm trở. Cái điều kiện bất lợi về địa thế này làm cho


phạm vi hoạt động của Trung Quốc bị giới hạn vào một góc Á châu.


Từ mấy nghìn năm nay người Trung Quốc phàm việc gì cũng phải tự lực cánh sinh. Ở vào


hoàn cảnh thiếu sự tiếp xúc với bên ngoài, nền văn hóa Trung Quốc trở thành một thứ văn hóa


riêng biệt, rất lẻ loi, trơ trọi.


Thế giới Tây phương lại hoàn toàn khác hẳn. Các khu vực, các dân tộc cả nghìn năm có giao


lưu, nối liền với nhau, tập trung trí tuệ rộng rãi nên thu được nhiều kết quả lớn. Văn hóa Tây


phương vì vậy đã năm lần bảy lượt có những bước đột phá để đến được thành tựu như ngày


hôm nay.


Nếu ví thử từ xưa đến giờ không tồn tại những trở ngại địa lý đối với việc trao đổi văn hóa


giữa Đông-Tây, hoặc giả Trung Quốc là một nước nằm từ xưa ở Châu Âu, thì chúng ta có lý


do để tin tưởng rằng sự cống hiến của người Trung Quốc sẽ cực kỳ nhiều và trọng đại đối với


văn hóa nhân loại.


Cái tư tưởng lấy dân làm gốc của Nho gia Trung Quốc từ 2.000 năm nay chắc chắn có ảnh


hưởng tích cực đối với sự giải phóng các xã hội La Mã, Hy Lạp thời kỳ nô lệ. Tần Thủy


Hoàng sau khi bãi bỏ được chế độ phong kiến đã triển khai một chế độ chính trị trong đó


những người dân bình thường cũng được tham dự vào việc chính trị. Sự kiện này có lẽ cũng đã


thức tỉnh được Âu châu trong thời trung cổ phong kiến.


Lại còn có một loạt phát minh lớn lao của người Trung Quốc, như kỹ thuật ấn loát (in ấn), nếu


được đưa vào Âu châu sớm hơn 500 năm thì thế giới thế kỷ XX này chắc chắn không như


ngày hôm nay.


Văn hóa Trung Quốc phát triển đến một đỉnh cao nào đó thì ngừng lại, như đã nói, chủ yếu vì


bị hạn chế bởi hoàn cảnh địa lý; và vì thế mang lấy cái thiệt thòi của một nền văn hóa riêng lẻ.


Nhưng người Trung Quốc không phải là một dân tộc dẫm chân tại chỗ. Thật ra đối với văn


hóa tư tưởng từ bên ngoài đến, Trung Quốc không phải là nước bài ngoại mạnh. Một trăm năm


gần đây tại Trung Quốc phát sinh một loạt những sự kiện lịch sử đầy kịch tính. Cách đây bẩy


mươi năm, cái chế độ quân chủ lâu đời từ mấy nghìn năm đã sụp đổ chỉ bởi tiếng súng của


cuộc khởi nghĩa Võ Xương.


Khổng Tử - trong 2.000 năm đã thâm nhập và chiếm giữ cái địa vị tối cao trong lòng người


Trung Quốc - nhưng rồi đã không chịu nổi những tiếng hò hét của đám thanh niên học sinh


trong phong trào Ngũ Tứ, và phút chốc bị mất chỗ đứng.


Sau phong trào Ngũ Tứ, chủ nghĩa Mác có gốc gác từ Âu châu, vừa được đề xướng đã lập tức


vang dội khắp nước Trung Quốc để trở thành một loại học thuyết lẫy lừng. Chiến tranh Trung-


Nhật chấm dứt, sau bốn năm nội chiến, Chính phủ Quốc gia (Quốc Dân Đảng) rút ra Đài Loan


thì Trung Quốc lục địa đã trở thành một nước cộng sản chủ nghĩa.


Qua 34 năm của chế độ cộng sản, chính phủ của một tỷ người Trung Quốc lại tuyên bố một


cách chính thức với mọi người rằng chủ nghĩa Mác không thể giải quyết được những vấn đề


Trung Quốc vốn có.


Người Trung Quốc dám làm, dám chịu, dám thay đổi. Trung Quốc bây giờ mà thành ra nông


nỗi này không phải vì nó chỉ khư khư ôm lấy cái "hũ tương" của mình mà không dám đập vỡ.


Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc lại chính là một trường hợp trong đó người ta phủ nhận


hoàn toàn giá trị văn hóa truyền thống, cho nên mới chịu cái hậu quả khốn khổ đến như vậy.


Bá Dương bảo: "Cái bẩn của người Trung Quốc là một trong những cái xấu xí của họ", và lại


còn bảo: "Có lẽ so với người Ấn Độ lại còn bẩn hơn một tý". Tôi cho rằng tuyệt đại đa số


người Trung Quốc sẽ không đồng ý với cách nhìn của Bá Dương.


Nếu so sánh các nước ở Á Đông, ta thấy mức độ sạch sẽ của người Nhật chẳng thua bất cứ


nước nào trên thế giới, nước Trung Quốc dân quốc ở Đài Loan tuy có phần kém hơn, nhưng


Ấn Độ thì phải nói là tệ nhất.


Mấy năm trước, lúc tổng thống Mỹ Carter đi thăm nước Ấn, trong chương trình tin tức buổi


tối ở truyền hình Mỹ chiếu cảnh tiệc chiêu đãi của chính phủ, trong đó ai cũng thấy một chiêu


đãi viên ấn đứng sau lưng Các-tơ tay cầm một cái vỉ để đập ruồi cho vị thượng khách. Nếu


đem so sánh điều kiện kinh tế, Nhật Bản là nước giầu nhất, Đài Loan ở mức trung bình, còn


Ấn Độ thì vào loại nghèo. Như vậy chúng ta có thể nói tình trạng vệ sinh của một dân tộc gắn


liền với điều kiện kinh tế của nước đó.


Ở Los Angeles có hai khu phố Tàu (Chinatown), một cái ở trung tâm (nơi ông Bá Dương bảo


tất cả đều có xu hướng bẩn, loạn) và một cái ở khu công viên Mông-tơ-rây (Monterrey Park).


Khu phố Tàu thứ hai sạch sẽ hơn khu thứ nhất nhiều. Cả hai khu này đều do người Trung


Quốc làm ra, nhưng phải thấy là sự khác biệt giữa hai khu này lại tùy thuộc vào mức độ giáo


dục và thu nhập của người Trung Quốc ở mỗi nơi.


Người Trung Quốc khi tán gẫu rất ồn ào to tiếng. Cái chuyện không bình thường này cũng


được Bá Dương quét vào trong cái thùng tính xấu của người Trung Quốc. Ông bảo:


" ại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi trong lòng họ không cảm thấy được yên ổn.


Cứ tưởng tiếng càng to thì lý lẽ càng mạnh. Chỉ cần to tiếng, cao giọng thì lý lẽ sẽ về mình,


nếu không tại sao cứ phải gân cổ lên như thế?"


(còn tiếp)


Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »