tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27700079
Tiểu thuyết
10.06.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Chiếc tàu chưa kịp chạy khuất vào phía xa mà người ta đã mời chúng tôi rời các toa Thụy Sĩ sạch sẽ tươm tất để lên những toa tàu Áo. Và chỉ cần đi vào các toa tàu của nước Áo này để biết trước cái gì đã đến với đất nước này. Những kiểm soát viên chỉ chỗ cho bạn kéo lê từng bước, gầy, đói, gần như rách rưới, các bộ đồng phục rách bươm và sờn đến từng sợi bay lượn quanh những đôi vai rủ xuống. Ở các cửa, những đai dùng để nâng và hạ các tấm kính đều bị cắt vì mỗi miếng da thuộc là một vật quý hiếm. Dao phay và lưỡi lê của bọn cướp cũng tấn công vào các ghế. Cả những mảnh da ở các đệm nhồi cũng bị một kẻ vô liêm sỉ lấy đi để dùng da thuộc chữa đôi giày của mình đã hỏng. Cũng vậy, các gạt tàn cũng bị lấy cắp vì một lượng nhỏ đồng và nikel có thể rút ra từ chúng. Qua những cửa sổ gãy, ngọn gió cuối thu đem đến bồ hóng và bụi than của chất than màu khốn khổ dùng để đốt đầu máy. Nó làm đen sàn và các thành tàu, song mùi thối của nó ít nhất cũng át đi mùi iôđôform nặng nhắc nhở lại những đoàn thương bệnh binh mà người ta đã chở trong những bộ xương toa tàu này. Dẫu sao chỉ việc chiếc tàu còn tiến lên được đã là một kỳ tích, nhưng là một kỳ tích kéo dài rất lâu. Mỗi lần các bánh không tra dầu kêu ken két yếu hơn, chúng tôi lo sợ hơi thở hụt đi ở cái máy đã mòn đó chăng. Với một đoạn đường chỉ chạy trong một giờ, nó phải chạy mất bốn năm giờ và vào lúc hoàng hôn, cả con tàu chìm trong bóng tối hoàn toàn. Các bóng điện đã bị ném vỡ hoặc bị đánh cắp, ai muốn tìm cái gì phải sờ soạng đánh diêm lên. Nếu người ta không bị cóng, đó là vì ngay từ lúc khởi hành người ta đã ngồi chen nhau sáu hoặc tám người một ghế băng. Nhưng ngay từ ga đầu tiên, những hành khách mới lại chen vào các toa, luôn có thêm người, tất cả đều đã bơ phờ vì chờ đợi. Các hành lang càng lúc càng đầy thêm; ngay ở chỗ bậc lên xuống cũng có những người ngồi trong đêm đã giá lạnh. Hơn nữa, người nào cũng lo sợ ôm chặt vào người hành lý và gói lương thực thực phẩm nhỏ nhoi của mình; không ai dám liều buông trong bóng tối dù chỉ một phút cái đang cầm trong tay. Từ nơi ẩn náu của hòa bình, tôi lại trở về trong cảnh ghê rợn của chiến tranh, mà người ta tưởng là đã kết thúc.


Trước khi đến Tunsbruck, đầu máy bỗng bắt đầu thở hổn hển một cách nặng nhọc và dẫu đã phì phò và rúc còi nó không vượt nổi một đoạn dốc ngắn. Các nhân viên lo lắng đi lui đi tới trong bóng tối với những chiếc lồng đèn bốc khói. Phải đợi trong một tiếng một đầu máy dự phòng cũng đã quá mệt mỏi; nhưng cũng lại phải mất mười bảy tiếng thay vì bảy tiếng để đến được Salzburg. Không thấy một người khuân vác nào ở sân ga, cuối cùng một vài người lính ăn mặc nhếch nhác bằng lòng đưa hành lý của tôi tới một chiếc xe, nhưng con ngựa kéo xe quá già và nuôi dưỡng quá kém đến nỗi tưởng như nó được các càng xe nâng lên chứ không phải nó có nhiệm vụ kéo các càng xe. Tôi không có can đảm bắt con vật như một bóng ma đó phải cố gắng thêm nữa để kéo các hòm của tôi nên tôi gửi chúng lại ở ga, tất nhiên là với nỗi lo sẽ không bao giờ thấy lại chúng nữa.


Trong chiến tranh tôi mua một ngôi nhà ở Salzburg vì sự xa rời những người bạn cũ do những ý kiến khác nhau về chiến tranh đã đánh thức trong tôi ý muốn thôi không sống ở các thành phố lớn giữa đám đông người nữa; về sau công việc của tôi càng tỏ ra có hiệu quả hơn ở nơi xa lánh này. Salzburg đối với tôi, trong số tất cả các thành phố nhỏ của nước Áo, là nơi ở lý tưởng nhất không phải chỉ vì vẻ đẹp của phong cảnh mà còn vì vị trí địa lý: nằm ở biên giới nước Áo, cách Munich hai giờ rưỡi tàu hỏa, cách Vienne năm giờ, cách Zurich hoặc Venise mười giờ và cách Paris hai mươi giờ, nó thực sự là điểm xuất phát đi châu Âu. Chắc chắn nó chưa là nơi hẹn hò của những sự “lừng danh”, nổi tiếng về những lễ hội và mùa hè sẽ đông đúc những kẻ đua đòi (tôi đã không chọn một nơi như thế để làm việc), đây là thành phố cổ thơ mộng và lù đù nằm trên hoành sơn cuối cùng của dãy Alpes, với các núi và đồi của nó chạy thoai thoải nổi tiếng với đồng bằng nước Đức. Cái đồi con rợp bóng cây trên đó có ngôi nhà của tôi, có thể nói là làn sóng cuối cùng đang tan của dãy núi hùng vĩ đó. Người ta không thể đi đến đó bằng ô tô, chỉ có thể lên đó theo một con đường chữ thập cũ đã ba trăm năm và gồm trên một trăm bậc phải leo, nhưng để thưởng cho sự nhọc mệt đã phải chịu, nó dành cho du khách từ bồn đất của nó một cái nhìn thần tiên lên những mái nhà và những đầu hồi nhà của các thành phố lắm tháp này. Ở phía sau, toàn cảnh mở rộng đến dãy núi Alpes quang vinh (cũng như đến Salzberg, gần Berchtesgaden, tại đó một con người lúc bấy giờ còn chưa ai biết đến, tên là Adolph Hitler sắp đến ở ngay trước mặt nhà tôi. Ngôi nhà của tôi bản thân nó cũng nên thơ nhưng kém thuận tiện. Chái săn của một tổng giám mục thế kỷ XVII, và tựa lưng vào bức thành rất lớn của một pháo đài, ngôi nhà được chắp thêm ở hai cánh, vào cuối thế kỷ XVIII, mỗi cánh một phòng; một thảm treo tường lộng lẫy và một hòn sơn màu mà năm 1807 hoàng đế François cầm trong tay khi chơi sky dọc hành lang ngôi nhà này bây giờ là nhà chúng tôi cùng với mấy cái bằng sắc liên quan đến các quyền khác nhau của lãnh chúa chứng thực cho cái quá khứ khá sang trọng quyền quý. Ngôi nhà tạo nên một quang cảnh tráng lệ bởi mặt tiền rất dài của nó, nhưng chỉ có không quá chín phòng vì nó không phát triển theo chiều sâu. Việc lâu đài nhỏ này trở thành một thứ đồ cổ kỳ dị sau này làm cho các khách của chúng tôi vô cùng thích thú; nhưng vào thời kỳ này nguồn gốc có tính lịch sử của nó gây cho chúng tôi không ít điều phiền nhiễu. Chúng tôi tìm thấy ngôi nhà trong tình trạng hầu như không ở được. Mưa thánh thót thành những ao nước; và việc chữa lại cái mái cho tốt không làm được vì thợ một không có gỗ để làm rui, thợ sắt tây không có chì để làm các máng nước mưa; những khe nứt lớn nhất chỉ được nút lại một cách rất khó khăn bằng các tông tẩm nhựa đường, và khi có tuyết rơi xuống, chỉ còn cách leo lên mái và kịp thời dùng xẻng xúc đi vật nặng đầy nguy hiểm đó. Điện thoại tỏ ra bất trị vì người ta đã thay dây đồng bằng dây sắt; vì không ai đến giao vật gì cả, chúng tôi phải tự mình mang lên đến đỉnh đồi những đồ vật nhỏ nhặt mà chúng tôi cần đến. Nhưng tồi tệ nhất là cái lạnh, vì không có than trong cả vùng; gỗ trong vườn quá tươi và rít như con rắn thay vì sưởi ấm và vừa phun nhựa vừa kêu răng rắc thay vì cháy êm. Trong sự cần thiết đó, chúng tôi dùng than bùn, nó cung cấp ít nhất một chút nhiệt. Nhưng trong suốt ba tháng tôi viết tất cả các công trình ở giường, những ngón tay xanh đi vì rét và mỗi lần viết xong một trang tôi lại ủ ấm bàn tay trong chăn. Nhưng còn phải bảo vệ chỗ ở kém tiện nghi này, vì cùng với sự khan hiếm lương thực thực phẩm và chất đốt, còn có thêm trong những năm tai hại ấy sự khan hiếm nhà ở. Trong bốn năm ở Áo người ta không xây dựng gì, nhiều nhà đã đổ nát và bỗng chốc đám đông không kể xiết những lính phục viên và những tù binh không nơi nương tựa quay về, đến nỗi phải theo nhu cầu cho ở cả một gia đình trong mỗi phòng còn trống. Bốn lần các thư giới thiệu được đưa đến nhưng chúng tôi đã nhường một cách hồn nhiên hai phòng. Vừa cái vẻ không thuận tiện, vừa cái lạnh trùm lên ngôi nhà mà trước đây chúng tôi khốn khổ vì chúng thì nay lại quay ra có lợi cho chúng tôi: không ai còn muốn leo một trăm bậc để đến chết cóng ở trên ấy.


Mỗi chuyến đi ra phố là một công việc ngao ngán; lần đầu tiên tôi nhìn kỹ những con mắt vàng võ và nguy hiểm của cái đói. Bánh mỳ đen tự rã vụn và có mùi nhựa dính và keo mạch, cà phê là một thứ nước đại mạch rang, bia là nước vàng, sôcôla là cát ngào đường, khoai tây bị sượng, nhiều người nuôi thỏ để khỏi quên hoàn toàn mùi thịt; trong vườn chúng tôi một đứa trẻ bắn những con sóc cho bữa ăn ngày chủ nhật; và những con chó hoặc con mèo được nuôi tốt hiếm khi trở về nhà sau những cuộc đi dạo hơi dài. Cái mà người ta cung cấp làm vải trên thực tế là một thứ giấy được trau chuốt, thứ phẩm của thứ phẩm; những người đàn ông lê chân qua thành phố đều mặc duy nhất những bộ đồng phục, thường là của Nga, mà họ đã tìm được ở một nhà kho hoặc một bệnh viện ở đó nhiều người đã chết; những chiếc quần may bằng những cái túi cũ không phải hiếm. Trên các đường phố ở đó các quầy hàng nhìn như đã bị cướp phá hết, vữa trát vữa ra và rơi xuống như những sâu nhộng từ các căn nhà đã sụp đổ, những con người rõ ràng là ăn không đủ no lê bước mệt nhọc để đến nơi làm việc, mỗi bước đi của họ gây sự bối rối trong tâm hồn bạn. Tình trạng ăn uống ở nông thôn khá hơn; với sự hạ chấp chung của trình độ đạo đức, không một nông dân nào nghĩ đến việc bán bơ, trứng, sữa của mình theo giá tối đa quy định. Họ cất kỹ trong vựa tất cả những gì có thể cất được và đợi những người mua đến tại nhà và mua với giá cao hơn. Chẳng mấy chốc người ta thấy đẻ ra một nghề mới, nghề “hamster”( ) như người ta gọi. Những người không có công việc đèo trên lưng một hoặc hai cái túi to và tìm đến nhà các nông dân, nhà này rồi nhà khác; họ đi cả bằng tàu hỏa, đến những nơi có quan hệ tốt để gom góp bằng những cách bất hợp pháp mọi thứ lương thực thực phẩm rồi đem bán lẻ ở thành phố với giá gấp ba gấp tư giá mua. Trước tiên, nông dân vui sướng với khối lượng giấy bạc mưa vào nhà mình để đổi trứng và bơ của họ và họ cũng gom góp chúng lại. Nhưng khi họ ra thành phố với ví căng phồng, họ cay đắng khám phá ra rằng trong khi họ chỉ bắt buộc gấp năm đối với hàng thực phẩm của họ, các giá của cái hái, cái búa, cái chảo mà họ muốn mua đã là hai mươi lần, năm mươi lần cao hơn so với dự tính của họ. Từ đó họ chỉ còn nghĩ đến việc mua những đồ vật chế biến bằng công nghiệp và đòi hỏi trả bằng hiện vật, hàng đổi hàng. Sau khi nhân loại với những hầm hào của mình đã sung sướng lùi về đến thời đại hang động, nó cũng loại bỏ ước lệ ngàn đời của tiền tệ và trở về với chế độ nguyên thủy của đổi chác. Một sự thương mại thô thiển bắt đầu trong cả nước. Người đô thị mang đến cho nông dân những gì mà họ có thể chưa thật cần đến, những lọ sứ Trung Quốc và những chiếc thảm, những cái kiếm và những súng cacbin, những máy ảnh và những quyển sách, những cây đèn và những đồ trang trí; như vậy là khi người ta vào một trang trại của vùng Salzburg người ta có thể nhìn thấy ở đây một tượng Phật Ấn Độ với cái nhìn đăm chiêu hoặc một tủ đựng sách kiểu rôcôcô dựng ở một góc, với những quyển sách Pháp đóng bằng da thuộc, mà những chủ nhân mới rất thận trọng và không phải ít tự hào. “Da thuộc chính cống! Nước Pháp” họ nói, làm bộ làm tịch và phồng đôi má rộng. Lấy cái thực chất, không lấy tiền, đó là khẩu hiệu. Nhiều người phải rút chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay và cái thắt lưng da khỏi vòng bụng để có gì nhét vào cái bụng đói.


Cuối cùng chính quyền can thiệp để chặn đứng trò mua bán lén lút đó, mà sự thực hiện chỉ có lợi cho những người giàu. Từ tỉnh này sang tỉnh khác, người ta bố trí cả những lô nhân viên đi xe đạp hoặc đi tàu hỏa, có nhiệm vụ chộp hàng hóa của bọn “hamster” chống lại bằng cách tổ chức như ở miền Far West( ) những cuộc chuyên chở ban đêm hoặc bằng cách hối lộ những nhân viên được giao việc giám thị mà bản thân họ ở nhà cũng có những đứa con bị đói; thường người ta đi đến những cuộc chiến đấu thực sự bằng súng lục hoặc bằng dao, mà các chàng trai sau bốn năm rèn luyện ở mặt trận, am hiểu việc sử dụng và biết che giấu việc chạy trốn của mình theo đúng các nguyên tắc của nghệ thuật quân sự. Tuần lại tuần, sự hỗn loạn tăng thêm; dân chúng càng thêm bị kích động. Vì ngày lại ngày, sự mất giá của đồng tiền càng thêm rõ rệt. Các quốc gia lân cận đã thay giấy bạc của Ngân hàng Áo - Hung bằng giấy bạc của riêng họ và ít nhiều họ đã ép nước Áo chịu trách nhiệm chính trong việc hoàn trả đồng “cuaron” cũ. Dấu hiệu đầu tiên của sự ngờ vực mà dân chúng đang cảm nhận là sự biến mất của đồng tiền kim loại vì dù sao một mẩu đồng hoặc kẽm nhỏ vẫn luôn biểu hiện một “thực chất” so với giấy in đơn thuần. Thực ra, nhà nước đã cho chạy với công suất tối đa các máy rập tiền để in ra nhiều nhất thứ giấy bạc nhân tạo đó theo thu nhập của Méphistophélès( ), nhưng nó không có khả năng theo dõi sự vận động của lạm phát và như vậy là mỗi thành phố nhỏ hoặc lớn, và cuối cùng mỗi làng bắt đầu in “tiền dự phòng” của riêng mình, tiền này đã bị từ chối ngay ở làng bên cạnh và về sau khi người ta thừa nhận là nó không có giá trị thì thường chỉ bị vứt đi mà thôi. Một nhà kinh tế biết mô tả một cách sinh động tất cả các giai đoạn lạm phát của Áo trước tiên, rồi đến của Đức sẽ theo ý tôi có sức cuốn hút hơn bất cứ nhà viết tiểu thuyết nào bởi vì sự hỗn loạn mang những hình thức càng lúc càng hư ảo hơn. Chẳng bao lâu không ai còn biết giá một vật là bao nhiêu. Giá cả nhảy những bước hoàn toàn vỡ trán; một bao diêm ở một cửa hàng đã nâng giá lên đúng hai mươi lần cao hơn ở một cửa hàng khác mà anh chàng còn ngây thơ bán hàng của mình theo giá ngày hôm trước, để thưởng sự lương thiện của anh ta, cửa hiệu của anh sẽ trống trơn trong một tiếng đồng hồ vì người ta truyền miệng nhau và mỗi người chạy tới và mua cái đang bán, dù có cần dùng hay không. Ngay một con cá vàng hoặc một kính viễn vọng cũ cũng còn là “thực chất” và mọi người ưa thực chất thay vì giấy. Hoàn cảnh giả trá này gây nên những hậu quả lố bịch trong vấn đề giá thuê nhà; chính phủ, để bênh vực những người thuê nhà, (đại diện cho quảng đại quần chúng) làm thiệt cho các chủ sở hữu, đã cấm tăng giá thuê nhà. Thế là tức thì ở Áo giá thuê hằng năm một ngôi nhà trung bình thấp hơn giá một bữa ăn, tất cả nước Áo có thể nói là được ở không mất tiền trong năm hoặc mười năm (vì về sau mọi sự hủy bỏ hợp đồng đều bị cấm). Trong sự hỗn loạn điên cuồng này, tình huống ngày càng trở nên tuần này sang tuần khác phi lý hơn và vô đạo đức hơn. Người nào đã tiết kiệm trong bốn mươi năm và hơn nữa đã vì lòng yêu nước đặt tiền mình vào công trái chiến tranh, bị lâm vào cảnh phải đi ăn mày. Ai đã vay nợ thì được thoát. Ai giữ đúng sự phân phối lương thực thực phẩm thì chết đói, chỉ người nào tránh nó một cách trâng tráo thì ních đầy bụng. Ai biết hối lộ thì công việc trôi chảy; ai đầu cơ thì người đó kiếm được lãi. Ai bán mà điều chỉnh theo giá mua thì bị mất trộm; ai tính toán cẩn thận thì bị lột da. Không có tiêu chuẩn, không có giá trị cố định trong dòng chảy này và sự bốc hơi này của đồng tiền. Chỉ còn độc nhất một phẩm chất là phải khéo léo, mềm mại, không e dè đắn đo và nhảy lên mông con ngựa hung hăng thay vì để nó dẫm lên mình.


Thêm vào đó, trong sự suy sụp các giá trị không chỉ con người ở Áo mất hết mọi mức độ, mà rất nhiều người nước ngoài cũng đã công nhận ở nước chúng ta rất có lợi là được câu cá nước đục. Những giá trị độc nhất còn giá trị ở đây trong trong thời kỳ lạm phát - kéo dài ba năm và lao tới với một nhịp điệu ngày càng nhanh - đó là những đồng tiền nước ngoài. Vì đồng cuaron Áo tan đi giữa những ngón tay như chất keo động vật, ai cũng thích đồng franc Thụy Sĩ, đồng đôla Mỹ và một đám khá đông người nước ngoài khai thác thời cở này để nuốt chửng xác chết đang phập phồng của đồng cuaron Áo. Người ta “phát hiện” ra nước Áo đang trải qua một “mùa những người nước ngoài” tai hại. Tất cả các khách sạn ở Vienne đều đầy những con chim kền kền đó; chúng làm trống rỗng các bộ sưu tập của các tư nhân và các cửa hàng đồ cổ, trước khi các chủ sở hữu, trong tuyệt vọng, biết rằng mình bị tước đoạt và cướp bóc. Những người gác cổng bé nhỏ đến từ Thụy Sĩ, những người đánh máy tốc ký đến tà Hà Lan sống trong những căn hộ đế vương của các khách sạn của Ring. Sự việc tỏ ra không thể tin đến đâu, tôi cũng có thể chứng thực vì tôi đã chứng kiến: khách sạn châu Âu nổi tiếng và sang trọng của Salzburg được những người thất nghiệp Anh thuê trong một thời gian kéo dài; những người này nhờ trợ cấp mà nước Anh cấp một cách rộng rãi cho những người không có việc làm sống ở khách sạn đây rẻ hơn là ở nước họ trong những quán trọ tồi tàn. Tất cả những gì không được sắt và đinh đóng giữ lại đều biến mất; dần dần lan ra càng xa hơn tiếng đồn rằng người ta có thể sống ở Áo và mua với giá rẻ mạt. Những khách tham lam mới đến từ Thụy Điển, Pháp; ở Vienne, trên những đường phố trung tâm, người ta nghe nói tiếng Italia, tiếng Pháp, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Rumani nhiều hơn tiếng Đức. Ngay nước Đức, ở đó lạm phát lúc đầu tiến triển chậm hơn nhiều - quả thật là để sau đó đạt đến một đỉnh triệu lần cao hơn ở nước chúng ta - nước Đức cũng sử dụng đồng Mác của mình đổi đồng cuaron đang tiêu tan. Thành phố biên giới Salzburg cho tôi dịp tốt nhất để quan sát những chuyến đi cướp bóc hằng ngày này… Hằng trăm, hàng ngàn người xứ Bavère đến từ cách thành phố và các làng lân cận và tràn qua thành phố này. Họ thuệ may áo quần, thuê sửa chữa ô tô, vào các hiệu thuốc và đến nhà các thầy thuốc, nhiều nhà hàng lớn ở Munich gửi từ Áo thư và điện ra nước ngoài để hưởng sự chênh lệch về bưu phí, cuối cùng, do sự xúi giục của chính phủ Đức, người ta lập một sự giám thị ở biên giới để ngăn cản việc người Đức thay vì mua các đồ vật cần thiết hàng đầu ở các hiệu nước mình lại đi mua ở Salzburg giá rẻ hơn và ở đó đổi một đồng mác có thể lấy bảy mươi cuaron Áo - và tất cả hàng hóa từ Áo sang đều bị cơ quan hải quan kiên quyết tịch thu. Một loạt hàng, tuy nhiên, vẫn tự do lưu hành không thể bắt được, đó là bia mà người ta đã uống vào bụng. Và những người nghiện bia của xứ Bavière tính toán hằng ngày bằng cách tham khảo giá hối đoái xem ở vùng Salzburg, họ có thể, nhờ sự mất giá của đồng cuaron, uống năm hoặc sáu, hoặc mười lít với giá mà họ trả ở nước họ cho một lít không. Người ta không thể tưởng tượng một mưu toan cám dỗ hơn và vì vậy, những đoàn dân cư các địa phương gần Freilassing và Reichenhall đi qua biên giới với vợ con và tự cho phép nốc hết tất cả bia mà bụng họ có thể chứa. Mỗi buổi tối, nhà ga phơi bày quang cảnh một Diêm phủ thực sự với những đoàn người say rượu uống, ợ, khạc nhổ, nhiều người trong số họ vì ních quá đầy được đưa đến các toa trong những xe tải thường dùng để chở hành lý, và con tàu ầm ĩ những tiếng la hét và những bài ca thần rượu lại quay trở về nước họ. Hẳn là họ, những người vui nhộn của xứ Bavière ấy, không ngờ tới một sự trả đũa dữ dội đang đe dọa họ. Vì khi đồng cuaron ổn định lại, và đồng mác sụt giá theo những tỉ lệ khủng khiếp thì chính những người Áo ra đi từ cái ga ấy để đến say sưa rẻ tiền ở nơi đối diện, và cùng một cảnh tượng ấy diễn lại lần thứ hai, nhưng lần này theo hướng ngược lại. Cuộc chiến tranh vì bia này trong hai cuộc lạm phát là một trong những kỷ niệm kỳ lạ nhất của tôi, bởi vì với tính chất gợi tả và lố bịch của nó, nó cho thấy tuy nhỏ nhưng rất hùng hồn tất cả tinh thần lầm lạc đang hoành hành trong những năm đó.


*


Điều kỳ lạ nhất là với ý muốn tốt đẹp nhất trên đời này, tôi vẫn không sao ngày nay nhớ lại được cách thức mà chúng tôi đã quản lý ngôi nhà của chúng tôi trong những năm đó, lúc mà mỗi người ở Áo có thể luôn kiếm được hàng ngàn, hàng chục ngàn cuaron và về sau ở Đức những triệu mà người ta tiêu mỗi ngày để sống nhì nhằng. Nhưng cái bí ẩn là người ta có số tiền đó. Người ta làm quen, người ta thích nghi với sự hỗn loạn. Một cách lôgic, một người ngoại quốc không sống ở thời kỳ đó phải tự hình dung rằng trong một thời gian mà một quả trứng giá ở Áo bằng một chiếc xe hơi hảo hạng trước chiến tranh và về sau ở Đức giá một tỷ mác - số tiền đủ để ngày xưa mua được tất cả các ngôi nhà của Berlin Lớn, - những người đàn bà đầu bù tóc rối chạy như những người điên qua các đường phố, những cửa hiệu đều vắng ngắt vì không ai còn có thể mua được gì và trước hết các nhà hát và các nơi vui chơi giải trí đều hoàn toàn trống không. Nhưng dù có đáng ngạc nhiên đến đâu, chính điều trái ngược đã xảy ra. Ý chí đảm bảo sự tiếp nối của cuộc sống mạnh hơn sự không ổn định của đồng tiền. Ngay giữa sự hỗn loạn tài chính, cuộc sống hàng ngày tiếp tục hầu như không rối loạn. Những hoàn cảnh cá nhân biến đổi sâu sắc, người giàu nghèo đi vì tiền gửi ngân hàng hoặc cho nhà nước vay tiêu tán đi. Nhưng tay lái vẫn tiếp tục quay cùng một nhịp điệu, không lo lắng đến số phận những cá nhân; không gì ngừng lại. Người thợ bánh mỳ vẫn nướng bánh, người thợ giày vẫn đóng các đôi giày, các con tàu lưu thông đều đặn; mỗi sớm mai, tờ báo vẫn được đặt trước cửa vào giờ quen thuộc và những nơi giải trí, những quán rượu, nhà hát đều chật ních. Nhưng bởi trong hoàn cảnh bất ngờ này cái giá trị trước đây ổn định nhất là đồng tiền bị mất giá từng ngày mà con người đã đi đến chỗ càng trân trọng hơn những giá trị đích thực của cuộc đời là lao động, tình yêu, tình bạn, nghệ thuật và thiên nhiên và toàn dân tộc sống giữa cơn hoạn nạn với một cường độ mạnh hơn bao giờ hết. Con trai, con gái đi vào núi trở về da sạm nắng, các buổi khiêu vũ công cộng vang tiếng nhạc đến một giờ rất khuya trong đêm, khắp nơi người ta thành lập những nhà hàng mới và những nhà máy mới; bản thân tôi không tin có lúc sống và làm việc hăng say hơn trong những năm đó. Cái mà trước chiến tranh có vẻ quan trọng đối với chúng tôi trở nên càng quan trọng hơn; chưa bao giờ ở Áo chúng tôi đã yêu nghệ thuật nhiều hơn trong những năm hỗn loạn đó vì, thấy tiền bạc phản bội chúng tôi, chúng tôi cảm nhận rằng duy nhất cái gì đã có vĩnh cửu trong chúng tôi là thực sự vĩnh hằng.


Chẳng hạn tôi không bao giờ quên một buổi biểu diễn ở nhà hát nhạc kịch trong những ngày tuyệt vọng cùng cực này. Người ta đi sờ soạng qua các đường phố nửa chìm trong bóng tối, bởi vì phải hạn chế sự chiếu sáng do thiếu than, người ta trả chỗ ngồi của mình ở ban công với một bó giấy bạc ngân hàng, ngày trước đủ để mua một lô cho cả năm, người ta không cởi áo khoác ngoài vì nhà hát không được sưởi ấm và người ta ngồi sát lại người ngồi bên cạnh để có thêm chút hơi ấm, và phỏng khán giả trước đây lộng lẫy đồng phục và áo quần đắt tiền bây giờ buồn tẻ và xám xịt. Không ai biết tuần sau còn có thể tiếp tục biểu diễn nữa không, trong trường hợp sự hạ nhục đồng tiền vẫn tiếp tục, việc cung cấp than một tuần nào đó có thể bị cắt… Mọi thứ dường như hai lần thất vọng hơn trong ngôi nhà sang trọng và đầy vẻ lộng lẫy của vua chúa. Những nhạc công của Hội nhạc ngồi sau giá nhạc - những bóng xám, họ cũng thế, trong những áo dài hẹp tà cũ đã sờn, gầy gò và kiệt sức bởi mọi sự thiếu thốn, và bản thân chúng tôi cũng là những bóng ma trong cái nhà hát này cũng đã trở thành một bóng ma. Nhưng người nhạc trưởng vung gậy lên, màn tách ra và thật huyền diệu hơn bao giờ hết. Mỗi ca sĩ, mỗi nhạc công đều cố hết sức mình vì tất cả cảm nhận rằng đây có thể là lần cuối cùng họ biểu diễn trong ngôi nhà thân thương này. Và chúng tôi lắng nghe với tất cả lỗ tai mình vì biết đâu không phải là lần cuối! Tất cả chúng tôi, hàng ngàn người, hàng trăm người sống như vậy đó. Mỗi người cho hết cả sức mình trong những tuần lễ ấy, những tháng ấy, những năm ấy mà sự sụp đổ chỉ cách trong gang tấc. Chưa bao giờ tôi cảm thấy trong một dân tộc và trong bản thân mình, ý chí sống hùng mạnh bằng lúc đó nó có liên quan đến tất cả: sự tồn tại và sự sống còn.


*


Tuy nhiên, dẫu sao tôi vẫn bối rối trong việc giải thích làm sao nước Áo nghèo hèn và khốn khổ và bị vặt trụi đã có thể tự bảo toàn được lúc đó. Ở bên phải, ở Bavière, đã thiết lập nước cộng hòa cộng sản tiêu biểu, ở bên trái nước Hunggari đã trở thành bolsêvich với Belakun; cho đến ngày nay tôi cũng không hiểu nổi tại sao cách mạng không xảy ra ở Áo. Các chất nổ thực ra không thiếu. Trên các đường phố, những người lính từ mặt trận trở về đi lang thang sống dở chết dở vì đói, trong những bộ áo quần rách rưới và cay đắng ngắm nhìn sự xa hoa trớ trêu của những người lợi dụng chiến tranh và lạm phát; trong các trại lính, một tiểu đoàn “cận vệ đỏ” sẵn sàng nổ súng và không có một phán - tổ chức nào. Hai trăm người quyết tâm đã có thể lúc đó làm chủ Vienne và cả nước Áo. Nhưng không xảy ra điều gì nghiêm trọng. Chỉ một lần một nhóm vô kỷ luật tìm cách gây ra một manh động, song đã bị năm hoặc sáu tá cảnh sát vũ trang dập tắt không khó khăn. Bằng cách đó kỳ tích đã trở thành hiện thực: đất nước này bị tách khỏi các nguồn năng lượng của nó, các nhà máy và mỏ than của nó, các cánh đồng cây cải dầu của nó, cái đất nước bị vặt trụi với đồng tiền giấy sụp đổ bằng tốc độ một trận tuyết lở đã giữ vững được, đã củng cố được - có lẽ nhờ ngay ở sự yếu đuối của nó bởi vì những con người này quá kiệt sức, quá đói để chiến đấu cho một sự nghiệp, nhưng có lẽ cũng nhờ ở sức mạnh tàng ẩn nhất và điển hình Áo nhất của nó: tinh thần hòa hợp bẩm sinh của nó. Vì cả hai đảng hùng mạnh nhất: Xã hội Dân chủ và Thiên Chúa giáo - xã hội đoàn kết lại trong những giờ khó khăn này, mặc dầu có những bất đồng sâu sắc - để thành lập một chính phủ chung. Mỗi bên nhân nhượng bên kia để tránh một tai họa có thể lôi kéo theo sau nó toàn châu Âu. Tuy nhiên các quan hệ bắt đầu được sắp xếp lại, được củng cố và xảy ra điều không thể tin được làm chúng tôi hết sức ngạc nhiên: quốc gia bị chặt cụt chân tay này tiếp tục tồn tại và về sau tỏ rõ ý chí bảo vệ nền độc lập của mình, sẵn sàng mọi hy sinh và nêu cao một tinh thần dũng cảm tuyệt vời giữa các thiếu thốn, khi Hitler đột ngột đến để tước linh hồn của dân tộc trung thành này.


Nhưng chính là chỉ ở bề ngoài và trong ý nghĩa chính trị mà sự xáo trộn triệt để đã được tránh khỏi; ở bên trong, một cuộc cách mạng rất lớn đã được thưc hiện vào những năm sau chiến tranh. Một cái gì đó đã khuỵu xuống với các đội quân, niềm tin ở sự không thể sai lầm của các quyên lực, mà tuổi trẻ ta được giáo dục trong niềm tin đó với một sự nhún nhường thái quá. Nhưng người Đức còn có thể ca ngợi hoàng đế của họ được nữa không - người đã thề đấu tranh “đến hơi thở cuối cùng của người và ngựa” và đã đi qua biên giới ban đêm và trong sương mù, hoặc ca ngợi những người cầm đầu quân đội, những nhà chính trị và những nhà thơ đã không ngừng ghép các vần thơ hy sinh với quang vinh, cố gắng với chiến thắng? Lúc này khi mà khói thuốc súng đã tan đi trên cả nước, những tàn phá của chiến tranh lại hiện ra trong toàn bộ sự khủng khiếp của nó. Làm sao một quy tắc đạo đức còn có thể được xem là thiêng liêng khi nó đã cho phép trong bốn năm sự giết người và trộm cắp vũ trang tồn tại dưới những cái tên chủ nghĩa anh hùng và sự trưng dụng? Làm sao một dân tộc có thể tin ở những lời hứa của Nhà nước khi nó bãi bỏ những nghĩa vụ của nó đối với người công dân mà nó thấy không thuận tiện? Và lúc này, cũng những người ấy, cũng bè lũ những người già ấy mà người ta gọi là có kinh nghiệm đã vượt qua sự điên cuồng của chiến tranh bằng sự bôi bác hòa bình của họ. Ngày nay mọi người đều biết - và lúc đó một số ít trong chúng ta cũng đã biết - nền hòa bình đó là một trong những khả năng đạo đức lớn nhất, nếu không là khả năng đạo đức duy nhất của lịch sử. Wilson đã thừa nhận điều đó. Trong một cái nhìn rộng rãi, ông đã vạch kế hoạch của một liên minh chân chính và lâu dài. Nhưng các ông tướng già, các chính khách già, những quyền lợi cũ đã xé thành những mảnh vụn, biến thành những giẻ lau bằng giấy không có giá trị cái quan niệm lớn đó. Lời hứa thiêng liêng trước hàng triệu người rằng cuộc chiến tranh này sẽ là cuộc cuối cùng, đã bị hy sinh một cách trơ trẽn cho lợi ích của những người chế tạo vũ khí và cho sự cuồng nhiệt chịu chơi của các nhà chính trị, những người này, trước sự ép buộc hiền minh và nhân đạo của Wilson, đã biết cứu vớt một cách thắng lợi cái chiến thuật nguy hại của những thỏa thuận bí mật và những cuộc thảo luận sau những cánh cửa đóng chặt. Trong chừng mực mà ông có con mắt rộng mở, thế giới thấy rằng ông đã lầm lẫn. Lầm lẫn những người mẹ đã hy sinh con cái mình, lầm lẫn những người lính trở về như những hành khất, lầm lẫn tất cả những ai vì lòng yêu nước đã ghi tên dự phần vào công trái chiến tranh, lầm lẫn tất cả những ai đặt lòng tin cậy của mình vào một lời hứa của nhà nước, lầm lẫn tất cả chúng ta đã mở rộng một thế giới mới được chấn chỉnh và ngày nay nhận ra rằng cuộc chơi cũ mà cuộc đời của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta, thời đại của chúng ta, cải cải của chúng ta được dùng làm cá cược đã được cùng những người phiêu lưu ấy và những người phiêu lưu mới lấy lại. Có gì đáng ngạc nhiên là cả một thế hệ trẻ tuổi chỉ nhìn nhận một cách cay đắng và khinh bỉ những người cha của mình đã trước tiên lấy đi chiến thắng và sau đó lấy đi nền hòa bình. Ai đã làm sai mọi chuyện, ai đã không dự kiến gì và tính toán sai trong mọi việc? Không hiểu được sao rằng mọi hình thức kính trọng biến mất trong thế kỷ mới? Cả một lớp thanh niên mới không còn tin ở bố mẹ, ở các nhà chính trị, ở các thầy giáo; mỗi mệnh lệnh, mỗi tuyên bố của nhà nước đều được đọc với cặp mắt ngờ vực. Đột ngột thế hệ sau chiến tranh được giải phóng một cách tàn nhẫn khỏi những gì đã được coi là có giá trị và quay lưng lại với mọi truyền thống, quyết tâm nắm lấy trong tay mình số mệnh của mình bằng cách xa rời tất cả quá khứ và lao vào tương lai với một cái đà lớn. Với nó phải bắt đầu một thế giới tuyệt đối mới, một trật tự hoàn toàn khác, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống; và tất nhiên tất cả những thứ đó đều bắt đầu bằng những phóng đại dữ dội, tất cả những người và tất cả những vật cùng một tuổi với bố mẹ, những trẻ mười một mười hai tuổi ra đi đến Italia, hoặc tới biển Bắc với những băng được “Wandervögel”( ) tổ chức và làm cho bạo dạn và hoạt bát hẳn lên. Trong các trường hợp người ta tổ chức theo mô hình Nga những hội đồng lớp để giám sát giáo viên; “Kế hoạch học tập” bị bãi bỏ vì trẻ chỉ phải và chỉ muốn học những gì chúng thích. Người ta nổi loạn chống những hình thức đáng giá, duy nhất chỉ vì ý thích nổi loạn, chống lại ngay cả những ý nguyện của tự nhiên, chống lại tính đối cực của các giới. Các cô gái thuê cắt tóc ngắn, ngắn tới mức với cái đầu con trai của họ không thể phân biệt họ với những đứa con trai thực thụ, những chàng trai về phần mình cạo râu để tỏ vẻ con gái hơn; sự đồng tính luyến ái và các tập quán của người đàn bà loạn dâm đồng giới là cái mốt lớn, không phải do một khuynh hướng bẩm sinh mà do tinh thần chống lại những hình thức cổ truyền, những hình thức hợp pháp và bình thường của tình yêu. Mỗi biểu hiện của cuộc sống cố gắng tự khẳng định một cách khiêu khích. Hội họa mới tuyên bố lỗi thời tất cả những gì mà Rembrant, Holbein và Vélaquez sáng tạo ra, và tiến hành những thử nghiệm lập thể và siêu thực điên rồ. Khắp nơi người ta bài trừ yếu tố dễ hiểu, giai điệu trong âm nhạc, sự giống nhau trong một chân dung, sự trong sáng trong ngôn ngữ. Các quán từ “le, la, les” bị loại bỏ, cấu trúc câu đặt đít lộn lên đầu, người ta viết các từ “hiểm trở” và “dốc đứng” theo phong cách điện tín với những thán từ rất hăng; rút cục tất cả văn chương không thuộc “hành động” tức là không bao giờ các lý thuyết chính trị đều đáng vứt vào sọt rác. Âm nhạc kiên trì tìm kiếm một sắc diện mới và phân chia các khuôn nhịp; ngành kiến trúc quay bên trong các ngôi nhà ra bên ngoài; trong các phòng khiêu vũ, điệu valxơ biến đi trước các hình ảnh Cuba và người da đen, thời trang bằng cách để lộ ra những sự trần truồng, chế tạo không ngừng những phi lý mới; trên sân khấu người ta diễn Hamlet mặc áo dài hẹp tà và người ta làm những thử nghiệm về tính kịch bùng nổ, ở tất cả các lãnh vực, mở ra một thời kỳ thực nghiệm táo bạo nhất và người ta cho rằng, với một bước nhảy hăng, sẽ vượt tất cả những gì đã làm ra, đẻ ra, sản xuất ra; một người càng trẻ, càng ít học, càng được hoan nghênh bởi điều duy nhất là họ không nối mình với một truyền thống nào; - cuối cùng sự báo thù lớn của tuổi trẻ nổ ra thắng lợi chống lại thế giới của cha mẹ chúng ta. Nhưng giữa hội cacnavan man rợ đó, không gì cung cấp cho tôi một cảnh tượng bi-hài hơn là thấy biết bao trí thức của thế hệ trong sự lo sợ kinh hoàng bị vượt quá và tỏ ra “không cập nhật”, đã sáng tác nhăng nhít với một sự vội vàng tuyệt vọng, một sự dã man giả tạo và tìm cách đi theo phong trào với bước đi nặng nề và khập khiễng đến tận những con đường lệch lạc một cách lộ liễu nhất. Những ông lão kinh niên lương thiện và dũng cảm phục hồi các “tĩnh vật” cũ của họ đã trở thành không bán được, những hình lục lăng và hình lập phương tượng trưng, bởi vì những người bảo thủ trẻ (dầu đến ngày nay người ta cũng tìm những người trẻ tuổi hoặc tột cùng hơn nữa, những người trẻ nhất) đã lấy đi trong các nhà trưng bày tất cả những bức tranh khác bị coi là quá “cổ điển” và đem xếp vào kho. Những nhà văn, trong hàng chục năm đã viết một thứ tiếng Anh trong sáng và trơn tru; bây giờ ngoan ngoãn chặt vụn câu của họ và nói quá lên về “chủ nghĩa tích cực”; những cố vấn tư người Phổ sống thoải mái dạy những giáo trình về Các Mác, những nữ diễn viên ba lê già của nhạc kịch ba phần tư trần truồng nhảy với những điệu tháo rời “gập ghềnh” Appassionata của Beethoven và Đêm biến thân của Schönberg - khắp nơi những ông già bối rối chạy theo sau cái mốt cuối cùng, người ta bỗng chốc chỉ có một tham vọng duy nhất là được “trẻ” và tạo ra nhanh chóng, sau cái hôm qua còn là hiện đại, một xu hướng còn hiện đại hơn, triệt để hơn và lạ lùng hơn.


Thời kỳ man rợ, vô chính phủ, huyễn hoặc biết bao là những năm mà với sự mất giá của đồng tiền, tất cả các giá trị khác đều bắt đầu trượt ở Áo và ở Đức! Mọi thời kỳ ngất ngây hứng khởi và lường gạt xấu xa, một sự trộn lẫn độc nhất của sự nôn nóng và sự cuồng tín. Đó là thời hoàng kim của tất cả những gì là ngông cuồng và không thể kiểm soát: thuyết thần trí, khoa huyền bí, thuật thông linh, sự mộng du, thuyết nhân học, thuật xem tướng tay, thuật xem tướng chữ, thuật yôga Ấn Độ và chủ nghĩa thần bí của Paraselae( ). Tất cả những gì hứa hẹn những nỗi lo sợ mà người ta chưa từng trải nghiệm, mọi thứ làm tê mê sững sờ, moocphin, côcain và hêrôin được tiêu thụ nhanh; ở sân khấu sự loạn luân và tội giết cha, trong chính trị chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít là những chủ đề độc nhất có tính cực đoan mà người ta đón nhận thuận lợi; trái lại người ta bài trừ không thương tiếc tất cả những gì là bình thường và có mức độ. Nhưng tôi không muốn rằng thời kỳ hỗn độn này thiếu vắng đối với kinh nghiệm của riêng tôi cũng như thiếu vắng đối với sự phát triển của nghệ thuật. Dẩy về phía trước theo cách được thần rượu gây hứng khởi trong sự cất cánh đầu tiên, cũng như trong mọi cuộc cách mạng tinh thần, nó làm cho không khí trong lành thoát khỏi mọi chướng khí truyền thống, nó giúp vào việc gỡ bỏ những căng thẳng trong nhiều năm và dẫu sao, từ những thử nghiệm táo bạo vẫn còn lại những thúc đẩy sinh sôi. Mặc dù chúng tôi bàng hoàng với quá nhiều những điều thái quá, chúng tôi không cảm thấy có quyền lên án chúng và khinh bỉ đẩy lùi chúng bởi vì thực ra lớp tuổi trẻ mới này tìm cách sửa sang lại - dẫu là cũng quá mãnh liệt và quá nôn nóng - cái mà thế hệ chúng ta còn thiếu do quá thận trọng và quá cô độc. Ở trong cả chiều sâu bản năng của nó không lừa dối nó khi dạy cho nó rằng thời kỳ sau chiến tranh phải khác với thời kỳ trước chiến tranh; và một thời kỳ mới, một thế giới tốt hơn - chúng ta những người anh người chị, chúng ta đã không mong ước nó trước chiến tranh và trong chiến tranh đó sao? Chắc hẳn cả sau chiến tranh, chúng ta, những người anh, người chị, chúng ta đã một lần nữa chứng tỏ sự bất lực của chúng ta trong việc kịp thời đưa một tổ chức siêu quốc gia ra chống lại việc phục hồi đầy nguy hiểm thế giới theo kế hoạch của chính trị. Trong những thương thuyết về hòa bình Henri Barbusse mà tiểu thuyết Khói lửa đã bảo đảm một địa vị trên thế giới đã từng, quả vậy, mưu toan tạo ra một sự đoàn kết của tất cả những người trí thức châu Âu trong ý nghĩa của một sự hòa giải. Nhóm đó phải được gọi là Sự trong sáng - nhóm những người có trí tuệ trong sáng - và phải thống nhất những người nghệ sĩ và những nhà văn của tất cả các quốc gia bằng một cam kết long trọng chống lại trong tương lai mọi sự kích động các dân tộc. Barbusse giao cho tôi và René Schickele lãnh đạo nhóm Đức và qua đó, giao phần công việc khó khăn nhất vì ở Đức còn sục sôi vị cay đắng mà Hiệp ước Versailles đã gây ra. Ít có khả năng thuyết phục những người Đức đẳng cấp cao đến với sự nghiệp của chủ nghĩa quốc tế khi mà Rhénanie, Sarre và đầu cầu Mayence còn bị quân đội nước ngoài chiếm đóng. Tuy nhiên người ta có thể lập một tổ chức như tổ chức mà sau này Galsworthy thực hiện với câu lạc bộ P.E.N nếu Barbusse còn giữ lời hứa với chúng tôi. Rất không phải lúc, một chuyến đi Nga mà ở đó sự hứng khởi của quảng đại quần chúng nổ ra quanh con người ông, đã đưa ông đến niềm tin rằng các quốc gia tư sản và các nước dân chủ không có khả năng làm nảy nở một tình anh em chân chính giữa các dân tộc và một tình anh em phổ biến chỉ có thể quan niệm được trong chủ nghĩa cộng sản. Từ từ ông đã tìm cách biến Sự trong sáng thành một công cụ đấu tranh giai cấp, nhưng chúng tôi từ chối trượt về cực tả, điều sẽ làm cho hàng ngũ của chúng tôi yếu đi. Và thế là dự án đó, lớn lao trong tự thân nó, sớm sụp đổ. Một lần nữa chúng tôi thất bại trong cuộc đấu tranh cho tự do của trí tuệ bởi một tình yêu quá lớn đối với sự tự do và sự độc lập của bản thân mình.


Chỉ còn một con đường: làm việc cho sự nghiệp của mình trong im lặng và trong ẩn dật. Đối với những người theo chủ nghĩa biểu hiện và - nếu tôi có thể diễn đạt như vậy - những người theo chủ nghĩa cực đoan, tôi đã nói với tuổi ba mươi sáu đi vào thế hệ cũ và nói chung là chết, bởi vì tôi từ chối thích nghi với họ bằng cách bắt chước họ. Những công trình xưa không làm vui lòng bản thân tôi nữa. Tôi không in lại một cuốn nào của thời kỳ “mỹ học” của mình. Vấn đề là phải bắt đầu lại và chờ cho làn sóng thiếu nhẫn nại của tất cả các “chủ nghĩa” lui đi và sự hoàn toàn thiếu tham vọng cá nhân của tôi phục vụ rất tốt cho ý muốn cam chịu nhẫn nhục. Tôi bắt đầu cái loạt lớn Các kiến trúc sư của thế giới, với niềm tin nó sẽ làm tôi bận bịu trong nhiều năm. Tôi viết những truyện vừa Amok và Bức thư của người đàn bà không quen, tất cả những chuyện đó đều trong sáng và không hề có một bóng vết của “chủ nghĩa tích cực”. Đất nước, thế giới quanh tôi dần dần trở lại với trật tự; vì vậy tôi không thể do dự nữa. Thời gian mà tôi có thể tự cho những gì mình làm là tạm thời đã qua rồi. Tôi đã đi tới nửa đường, tuổi của những hứa hẹn giản dị đã chấm dứt, bây giờ đã đến lúc biện minh cho những hy vọng mà người ta có thể đặt ở tôi, tự khẳng định mình hoặc từ bỏ dứt khoát.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »