tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950969
Tiểu thuyết
07.03.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

XIV


Qua các ngõ hẻm của khu Khamốpniki chỉ có đoàn tù binh cùng đi với đội áp giải và những cỗ xe chở đồ của binh sĩ trong đội áp giải kéo theo sau, nhưng khi đi ngang qua các kho lương, họ lọt vào giữa một đoàn xe rất lớn của pháo binh đang trẩy thành một khối dày đặc, chen lẫn với những chiếc xe tải của tư nhân.


Đến sát cầu, tất cả đều dừng lại đợi cho những đoàn đi trước kéo qua. Đứng ở đầu cầu nhìn ra phía trước và về phía sau, đám tù binh có thể trông thấy những dãy xe vô tận đang trẩy đi. Bên phải, nơi con đường Culuga uốn vòng qua Nêskútsnôiê và mất hút ở phía xa, có những đoàn quân lính và xe tải kéo dài không dứt. Đó là những đạo quân thuộc lữ đoàn Bôhácne đã xuất phát trước tất cả các lữ đoàn khác. Ở phía sau, dọc theo bờ sông vào vắt ngang qua cầu Camenny, quân đoàn của Nây với những đoàn xe tải của nó đang lũ lượt trẩy đi.


Quân của Đavu, trong đó có các đoàn tù binh, đang lội qua quãng sông cạn Crưmski và một bộ phận đã đổ ra đường Caluga. Nhưng các đoàn xe kéo dài đến nỗi những cỗ xe đi sau cùng của đoàn Bôhácne chưa ra khỏi Mátxcơva và chưa tiến vào đường Caluga mà tiền đạo của Nây đã ra khỏi Bônsaia Ôrơđưnca rồi.


Khi lội qua chỗ cạn Crưmski, đoàn tù binh đi vài bước rồi dừng lại, rồi lại bước đi và bốn phía người và xe chen chúc nhau mỗi lúc một thêm dữ dội. Hơn một tiếng đồng hồ họ mới vượt qua cái khoảng cách một trăm thước giữa cầu và đường Caluga, đi đến quảng trường nơi hai con đường Damôskơvôrêtsie và Caluga gặp nhau, đoàn tù binh ùn lại thành một cụm, dừng lại và đứng yên ở chỗ ngã ba này mấy tiếng đồng hồ liền. Bốn bề đều nghe tiếng bánh xe lăn ầm ầm, tiếng giày dẫm rầm rập và những tiếng quát tháo chửi rủa hòa với nhau thành một tiếng ào ào không lúc nào ngớt, nghe như tiếng sóng bể.


Pie tựa sát người vào tường một ngôi nhà cháy dở lắng nghe âm thanh ấy; trong trí tưởng tượng của chàng, nó pha lẫn với tiếng trống.


Mấy người sĩ quan tù binh muốn xem cho rõ hơn đã leo lên trên tường của một ngôi nhà cháy dở, nơi Pie đang đứng.


- Đông quá! Chà đông ghê thật...! Đồ đạc được chất cả lên đại bác! Xem kìa, nó chở cả những bộ da lông. Quân khốn kiếp, chúng nó cướp nhiều thật... Xem chiếc xe tải của cái thằng ở phía sau kia kìa... Đúng là lấy ở tượng thánh ra rồi! Hẳn đó là bọn Đức. Có cả một lão mugích nhà ta nữa kia, đúng thế...! Chà quân khốn mạt...! Xem kìa. Chất nhiều đến nỗi không đi được nữa...! Kìa nữa, cả xe đrôski chúng cũng lấy! Xem thằng kia ngồi trên đống rương hòm kìa...! Cha mẹ ơi!... A chúng nó đánh nhau!...


- Nó đánh vào mõm thằng kia, đúng vào mõm! Cứ thế này thì đợi đến tối cũng chưa đi được. Xem kìa, các ông xem kìa... Chính Napôlêông đây rồi. Thấy không, toàn ngựa quý, có mang phù hiệu mũ miện! Một ngôi nhà xếp! Thằng kia đánh rơi cái đẫy mà không biết. Lại đánh nhau... Cái bà bế con kia, trông khá đáo để! Nhìn mà xem, đi mãi không thấy hết. Bọn đĩ Nga kia, đúng rồi! Chúng ngồi trên xe rất chễm chệ...


Cũng như khi đi qua nhà thờ Khamốpniki, một làn sóng tò mò lại dồn tất cả những người tù binh ra đường, và Pie, nhờ vóc dáng người cao lớn, đã nhìn được qua đầu những người khác và trông thấy cái điều đã thu hút lòng tò mò của đám tù binh. Trên ba chiếc xe ngựa, lạc vào giữa những chiếc thùng đựng đạn có mấy người đàn bà ăn mặc diêm dúa, màu áo lòe loẹt, mặt đánh phấn tô son, đang ngồi chồng chất lên nhau, mồm kêu the thé.


Từ cái phút Pie thấy hiển hiện cái sức mạnh huyền bí kia, chàng không còn thấy cái gì kỳ lạ hay khủng khiếp nữa: dù là cái xác mà người ta đã lấy bồ hóng trát vào mặt để làm trò đùa, hay những người đàn bà kia, đang vội vã đi đâu không rõ, hay cảnh Mátxcơva cháy tan hoang cũng vậy. Bây giờ tất cả những điều mà Pie trông thấy hầu như không gây nên một ấn tượng gì trong lòng chàng nữa; - tưởng chừng như trong khi sửa soạn bước vào một cuộc vật lộn khó khăn, lòng chàng không chịu tiếp đón những ấn tượng có thể làm cho nó suy nhược đi.


Đoàn xe chở đàn bà đã đi qua. Theo sau lại có những đoàn xe chở đồ, những toán lính, những xe chở lương, những toán lính, những chiếc xe kiệu, những toán lính những hòm đạn, lại những toán lính và thỉnh thoảng lại có những tốp đàn bà.


Pie không thấy rõ từng người riêng biệt, chàng chỉ thấy sự chuyển động của họ.


Tất cả những đoàn xe người ngựa ấy tựa hồ như đang bị một sức mạnh vô hình nào xua đi. Trong khoảng một tiếng đồng hồ, thời gian Pie đứng nhìn họ, tất cả những đoàn người ngựa ấy từ các phố đổ ra, cùng chung một nguyện vọng duy nhất là làm sao đi qua cho chóng; mỗi khi chạm phải nhau, họ đều phát cáu lên, đánh nhau; những hàm răng trắng nhe ra, những đôi lông mày cau lại, những câu chửi bới ấy lại ném vào mặt nhau, và trên tất cả các gương mặt đều có cái vẻ cương quyết lạnh lùng và tàn nhẫn mà sáng nay Pie đã trông thấy trên gương mặt của tên hạ sĩ trong khi tiếng trống đổ dồn.


Đến chiều, viên sĩ quan chỉ huy đội quân áp giải tập hợp đơn vị lại và luôn mồm quát tháo cãi vã, y mở một con đường trong đám xe cộ. Đoàn tù binh len ra con đường Caluga.


Họ đi rất nhanh, không nghỉ và mãi đến khi mặt trời đã bắt đầu lặn họ mới đứng lại. Những đoàn xe được xếp sát vào nhau, và đám người bắt đầu sửa soạn nghỉ đêm. Ai nấy đều có vẻ tức giận và cau có. Hồi lâu, bốn phía đều nghe những tiếng chửi rủa, nhưng tiếng quát tháo hằn học và những tiếng ẩu đả. Chiếc xe kiệu đi ở phía sau đội lính áp giải húc càng xe vào chiếc xe chở đồ của đội này, làm cho thùng xe vỡ toác ra. Từ bốn phía có mấy người lính chạy lại, người thì đánh vào đầu những con ngựa kéo chiếc xe kiệu và bắt chúng quay lại, người thì đánh nhau. Pie thấy rõ một người lính Đức bị trọng thương vì một nhát đoản kiếm chém vào đầu.


Hình như bây giờ, khi đã đứng lại giữa cánh đồng trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo của một chiều thu, tất cả những con người ấy đều cùng có một cảm giác kích động khó chịu vì cái tình trạng vội vã và phải di chuyển gấp gáp đến một nơi nào không rõ, cái cảm giác đã bao trùm lên mọi người khi xuất phát. Khi đã dừng lại, ai nấy đều đã hiểu ra rằng chưa biết mình sẽ còn đi đâu nữa và trong chuyến đi này sẽ gặp nhiều khó khăn cực nhọc.


Ở trạm nghỉ đêm này, lính áp giải đối xử với tù binh còn tệ hơn khi ra đi. Lần đầu tiên người ta phải thịt ngựa cho tù binh ăn.


Từ các sĩ quan đến người lính mạt hạng, ai nấy hình như đều có một mối thù riêng với mỗi tù binh. Sự thay đổi đột ngột trong thái độ rất thân mật trước kia của họ khiến cho người ta có một cảm giác rõ rệt như vậy.


Thái độ thù hằn này càng lộ rõ thêm khi họ điểm danh các tù binh và nhận thấy rằng sau khi rời Mátxcơva, một người lính Nga đã thừa lúc lộn xộn giả vờ đau bụng trốn mất. Pie thấy một tên Pháp đánh một người lính Nga vì anh ta đi ra xa v­­­à nghe tiếng viên đại úy, bạn "chàng", trách mắng một viên hạ sĩ quan về tội đã để cho người lính Nga tẩu thoát và hăm dọa sẽ đưa hắn ra tòa. Khi viên hạ sĩ quan phân trần rằng người lính kia ốm không đi được, viên sĩ quan trả lời là đã có lệnh bắn chết những người tụt lại sau. Pie cảm thấy cái sức mạnh oan nghiệt đã đè bẹp chàng trong buổi hành hình và đã tạm thời bị che khuất đi trong thời gian giam cầm, nay lại hiện ra khống chế cuộc sống của chàng. Chàng thấy sợ hãi, nhưng chàng lại cảm thấy rằng cái sức mạnh oan nghiệt ấy càng ra sức đè nén chàng bao nhiêu, thì cái sinh lực trong tâm hồn chàng, không lệ thuộc vào sức mạnh kia, càng lớn mạnh lên bấy nhiêu.


Pie ăn xúp bột mì đen nấu với thịt ngựa và nói chuyện với các bạn.


Pie cũng như các bạn đồng hành của chàng không ai nhắc đến những điều họ đã trông thấy ở Mátxcơva, đến thái độ thô bạo của quân Pháp hay đến cái lệnh bắn chết những người thụt lại sau: dường như để đối phó với tình cảnh hiện tại, mọi người đều vui vẻ và phấn chấn. Họ nói đến những kỷ niệm riêng, đến những câu chuyện buồn cười đã xảy ra trong khi chiến dịch và mỗi khi câu chuyện đả động đến tình cảnh hiện tại họ nói lảng sang chuyện khác.


Mặt trời đã lặn từ lâu. Lác đác trên nền trời, vài ngôi sao đã bắt đầu lấp lánh; một cái ráng đỏ giống như một đám cháy hiện lên ở chân trời, mặt trăng rằm từ từ mọc lên, và quả cầu đỏ ối, to tướng ấy rung rinh một cách kỳ lạ trong bóng tối màu xám. Trời sáng dần lên. Buổi chiều đã tàn, nhưng đêm vẫn chưa xuống. Pie đứng dậy, rời khỏi những người bạn mới và len giữa các đống lửa đi sang bên kia đường, nơi chàng nghe nói là các binh sĩ Nga bị bắt đang ngồi nghỉ. Chàng muốn nói chuyện với họ. Trên đường cái, một tên lính canh Pháp chặn chàng lại và ra lệnh cho chàng phải quay về. Pie quay lại, nhưng không trở về đống lửa của các bạn tù binh mà lại đến cạnh một chiếc xe tải đã tháo ngựa. Ở đây không có ai cả. Chàng xếp chân ngồi xuống mặt đất lạnh lẽo bên cạnh bánh xe, đầu gục xuống. Chàng ngồi hồi lâu không nhúc nhích, trầm ngâm suy nghĩ. Hơn một giờ trôi qua, không ai đến quấy rầy chàng cả. Bỗng chàng cất tiếng cười hồn hậu, chàng cười to đến nỗi mọi người đều quay lại nhìn xem ai cười một mình mà nghe lạ lùng như vậy.


- Ha ha ha! Pie cười lớn. Và chàng nói to lên một mình: - Tên lính kia không cho ta đi. Chúng nó bắt ta, giam ta. Chúng nó giữ ta lại làm tù binh. Ai! Ta! Ta à? Phải, ta, linh hồn bất diệt của ta! Ha ha ha!... - Chàng cười đến nỗi trào nước mắt ra.


Có ai đó đứng dậy và lại gần để xem cái người to béo và kỳ quặc kia có chuyện gì mà ngồi cười một mình như vậy. Pie im bặt, đứng dậy bỏ đi để tránh con người tò mò kia và đưa mắt nhìn quanh.


Khu trại lộ thiên khổng lồ vô tận nãy giờ ầm ĩ những tiếng nói chuyện, tiếng củi lách tách nay đã im lặng; những đống lửa đang lụi dần. Vầng trăng tròn trĩnh treo cao trên nền trời trong sáng. Những khu rừng và những cánh đồng mà lúc nãy đứng trong phạm vi khu vực hạ trại không thể trông thấy, nay đã hiện rõ ra ở phía xa. Và xa hơn những khu rừng và những cánh đồng này nữa có thể thấy những khoảng không vô tận, sáng sủa, rung rinh, đang như kêu gọi lòng người về với nó. Pie nhìn nên trời, dõi theo những ngôi sao đang lấp lánh và như đang xa dần mãi. "Và tất cả những cái đó đều là của ta, đều ở trong ta, tất cả những cái đó đều là ta! - Pie nghĩ - Và tất cả những cái đó đã bị chúng bắt nhốt vào một gian nhà bằng ván!" Chàng mỉm cười và trở về dọn chỗ ngủ bên cạnh các bạn tù binh.


XV


Vào những ngày đầu tháng mười lại có một sứ giả đem thư của Napôlêông đến gặp Cutudốp đề nghị giảng hòa. Bức thư đề là gửi từ Mátxcơva, nhưng thực ra bấy giờ Napôlêông đang ở cách Cutudốp không xa, trên con đường Caluga cũ. Cutudốp cũng phúc đáp bức thư này giống như đã phúc đáp bức thư trước đây do Lôristôn đưa lại. Ông trả lời là không thể nói đến chuyện hòa giải được.


Ít lâu sau, có tin của đội du kích Đôlôkhốp, bấy giờ đang hành quân ở phía trái Tarutinô, báo về là quân địch xuất hiện ở Phôminskôiê: đó là sư đoàn của Bruxiê; sư đoàn này cách biệt với các đơn vị khác khá xa, cho nên có thể tiêu diệt nó một cách dễ dàng. Binh lính và sĩ quan lại đòi hành động. Các tướng tá ở các bộ phận tham mưu, được trận thắng dễ dàng ở Tarutinô khích lệ, nằng nặc đòi Cutudốp thi hành lời đề nghị của Đôlôkhốp. Cutudốp cho rằng lúc này không cần phải tấn công gì cả. Rốt cục người ta có được một cái gì nửa vời: đó chính là những việc sẽ được thực hiện. Một đội quân nhỏ được phái đến Phôminskôiê để tấn công Bruxiê.


Do một sự ngẫu nhiên kỳ lạ, công việc này - một công việc hết sức khó khăn và quan trọng, như sau này người ta đã thấy rõ, - được giao cho Đốcturốp, chính cái ông Đốcturốp nhỏ bé, khiêm tốn mà không có ai miêu tả là đang ngồi soạn kế hoạch tác chiến là, đang phóng ngựa như bay trước các binh đoàn hay đang ném huân chương chữ thập lên các trận địa pháo, vân vân, con người vẫn bị coi là thiếu cương quyết, thiếu sáng suốt, nhưng lại chính là người mà trong suốt thời gian diễn ra những cuộc chiến tranh Nga - Pháp, từ Aostéclích cho đến năm 1813, hễ nơi nào tình thế khó khăn là ta thấy đứng ở vị trí chỉ huy. Ở Aostéclích, ông ta đã ở lại sau cùng bên đê Aoghết, tập hợp các trung đoàn, cứu vãn những gì còn cứu vãn được, trong khi mọi người đều đã bỏ chạy hay gục hết và ở hậu quân không có lấy một viên tướng. Chính ông ta, trong khi đang ốm đau, đang lên cơn sốt, đã đem hai vạn quân đến Smôlen để bảo vệ thành phố này, chống cự với toàn thể đại quân của Napôlêông. Ở Smôlen, trong khi đang nằm thiu thiu ngủ ở gần cửa Malakhôpski trong một cơn sốt cực kỳ dữ dội, tiếng đại bác oanh tạc Smôlen đã đánh thức ông ta dậy và Smôlen đã kháng cự suốt một ngày ròng rã. Ở trận Bôrôđinô khi Bagrachiôn đã tử trận, các đơn vị ở cánh trái quân ta thương vong chỉ còn một phần chín và pháo binh Pháp tập trung hết hỏa lực bắn vào đấy, người ra chẳng cử ai ngoài cái ông Đốcturốp thiếu cương quyết và thiếu sáng suốt ấy; Cutudốp cũng đã toan phái người khác, nhưng lại vội vàng chữa lại sai lầm. Và Đốcturốp, con người thấp bé hiền lành ấy đã phi ngựa đến đấy và trận Bôrôđinô đã trở thành áng vinh quang lớn nhất của quân đội Nga. Người ta đã ca ngợi bằng văn xuôi và bằng thơ nhiều vị anh hùng trong trận Bôrôđinô, nhưng Đốcturốp thì hầu như chẳng có ai nhắc đến một câu.


Và chính Đốcturốp đã được cử đến Phôminskôiê rồi từ đấy lại được cử đến Malô Yarôsláp, nơi đã xảy ra trận đánh cuối cùng với quân Pháp và là nơi mà quá trình diệt vong của quân đội Pháp đã bắt đầu. Và người ta lại ca ngợi nhiều vị anh hùng và nhiều nhà cầm quân thiên tài đã lập công trong thời kỳ này, nhưng Đốcturốp thì chẳng ai nói đến, hoặc chỉ nói rất ít, hoặc nói với một thái độ hồ nghi. Và việc họ tảng lờ Đốcturốp như vậy chính là bằng chứng hiển nhiên nhất tỏ rõ tài năng và công lao của ông. Lẽ tự nhiên khi một người không hiểu hoạt động của máy móc mà nhìn vào bộ máy đang chạy, thì có thể tưởng đâu bộ phận quan trọng nhất là cái mảnh vỏ bào tình cờ rơi vào máy đang chạy loạn xạ giữa các bánh xe và cản trở hoạt động của máy. Một người không biết rõ cơ cấu của máy thì không thể hiểu rằng bộ phận quan trọng nhất trong máy không phải là cái mảnh vỏ bào kia, vốn chỉ làm cho máy khó chạy và hư hỏng đi, mà là cái trục chuyển tiếp nhỏ đang quay đều không tiếng động.


Ngày mồng mười tháng mười, chính cái ngày mà Đốcturốp đã đi được nửa đoạn đường dẫn đến Phôminskôiê và dừng lại ở thôn Aristôvô chuẩn bị thi hành một cách chính xác mệnh lệnh đã nhận được, quân đội Pháp lúc bấy giờ trong cuộc hành quân hoảng hốt đã đi đến vị trí của Mayara, có vẻ như định mở một trận đánh, thì bỗng nhiên vô cớ quay về bên trái, tiến về con đường Caluga mới và bắt đầu tiến vào thôn Phôminskôiê nơi mà trước đây chỉ có một mình Bruxiê đóng. Lúc ấy dưới quyền chỉ huy của Đốcturốp, ngoài đội du kích của Đôrôkhôp ra còn có hai đội quân nhỏ của Phicnê và Xêslavin.


Tối hôm mười một tháng mười Xêslavin đem một tù binh trong đội cận vệ của Pháp vừa mới bắt được đến gặp thượng cấp ở Aristôvô. Tên tù binh cho biết rằng những đạo quân đến Phôminskôiê hôm nay là tiểu đạo của đại quân, rằng Napôlêông hiện có mặt ở đấy, rằng toàn quân đội đã ra khỏi Mátxcơva được năm hôm nay. Cũng như tối hôm ấy, một người gia nô ở Bôrôpska đến kể lại rằng y đã thấy một đạo quân rất lớn tiến vào thành phố. Những người lính Cô dắc trong đội du kích của Đôlôkhốp báo cáo rằng họ đã trông thấy đội quân cận vệ của Pháp đi trên con đường dẫn đến Bôrôska. Qua tất cả những tin tức ấy có thể thấy rõ rằng nơi mà trước đây người ta đã dự tính sẽ gặp một sư đoàn, thì nay là toàn thể quân đội Pháp từ Mátxcơva đến theo một hướng đi bất ngờ - theo con đường Caluga cũ. Đốcturốp không muốn quyết định tiến hành một việc gì hết vì bây giờ ông ta không thấy rõ nhiệm vụ của ông là thế nào. Ông đã được lệnh tấn công Phôminskôie. Nhưng trước đây ở Phôminskôiê chỉ có một mình Bruxiê mà nay thì lại là toàn thể quân đội Pháp, Yécmôlốp muốn hành động theo ý mình, nhưng Đốcturốp một mực nói rằng ông ta cần phải có lệnh của điện hạ tối quang minh. Họ bèn quyết định gửi báo cáo về đại bản doanh.


Với mục đích này họ chọn một viên sĩ quan thông minh, tên là Bônkhôvitinốp, ngoài việc đưa thư ra còn có nhiệm vụ trình bày hết tình hình hiện tại. Vào khoảng gần nửa đêm, Bônkhôvitinốp nhận phong thư và những lời căn dặn, rồi đem theo một người lính Cô dắc và mấy con ngựa dự bị, phi nước đại về đại bản doanh.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »