tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30176076
Lý luận phê bình văn học
23.05.2019
Thu Tứ
Tô Thùy Yên


Anh hùng tận


Hề, ta trở lại gian nhà cỏ


Trường Sa hành


Trời mưa đêm xa nhà


Góa phụ


Đãng tử


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Qua sông


Vườn hạ


Em nhỏ, làm chi chim biển bắc


Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai


*


Tô Thùy Yên khởi thi nghiệp trong nửa sau của thập kỷ 1950, chủ yếu làm thơ tự do, là hình thức thơ đang "nóng" ở Miền Nam lúc bấy giờ. Đến khoảng giữa thập kỷ 1960, Tô Thùy Yên chợt bắt đầu làm nhiều thơ luật. Về nghệ thuật, Tô Thùy Yên rất thành công với thơ luật và không mấy thành công với thơ tự do.


Thơ Tô Thùy Yên chứa thứ nội dung gì? Võ Phiến bảo nó "có chủ đề triết lý".(1)


Triết có mấy "quan". Tô Thùy Yên chuyên trị vũ trụ quan. Cái nhìn vũ trụ của ông ra sao? "Tôi hoàn toàn không tin vào Thượng Đế như một Đấng Toàn Thiện, Toàn Năng."(2) Tức ông không tin Chúa. Mặt khác, tuy Tô Thùy Yên thỉnh thoảng có dùng một đôi từ trong kinh Phật, thậm chí có "đi về" "suốt bãi sông Hằng"(3), nhưng hình như trước sau Phật cũng không xuất hiện lồ lộ trong thơ ông lần nào. Không Phật không Chúa, cũng không xướng lên một triết thuyết mới... Lại Võ Phiến: "Băn khoăn siêu hình là chủ yếu (...) Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ."


Thế thì đối với vũ trụ Tô Thùy Yên có thái độ giống Chế Lan Viên sao? Tưởng không hẳn. Chế Lan Viên thiên về nghĩ, trong khi Tô Thùy Yên thiên về cảm, tuy không cảm nhiều như Huy Cận. Ông Tô lại đặc biệt "nhạy" với thời gian, như ông từng tâm sự: "Thời gian (...) là nỗi ám ảnh lớn lao thường trực của tôi."(4) Vậy người gần ông nhất chính là Võ Phiến chứ ai!(5)


Vẫn về nội dung, Võ Phiến bảo vì thơ Tô Thùy Yên có nội dung siêu hình nên ông "gần gũi miền Bắc tận trong tâm hồn". Như chúng tôi có lần bàn, "nội dung siêu hình có hai loại. Thơ Tô Thùy Yên thuộc loại ngoài truyền thống, tức tâm hồn ông gần Trung, không phải gần Bắc. Thơ ấy gần với thơ Hàn, thơ Chế, thơ Huy, thơ Võ v.v. hơn là với thơ Phạm Thiên Thư chứ. Nó ít giống Ba Vì, mà giống Trường Sơn đi lạc xuống đồng bằng sông Cửu!"(6)


Không Bắc về nội dung, nhưng thơ Tô Thùy Yên có chỗ chia xẻ với văn học miền Bắc. Ấy là việc sử dụng tiếng Việt hết sức điêu luyện. Dĩ nhiên đó không do tình cờ. Nhà thơ đã nhận thức đúng: "Những chữ trong một câu thơ thành công (...) là những chữ (...) không thể thay thế bằng những chữ tương tự nào khác được"(7), và đã ra công thực hiện cho được cái lý tưởng văn chương.


... Tô Thùy Yên là người Nam. Cái chất Nam nó nằm đâu trong thơ ông nhỉ? Ở ngôn ngữ và ở hình tượng, tuy nói chung không rõ ràng lắm.


Tô Thùy Yên làm thứ thơ tiếng Nam cảnh Nam, nội dung Trung, với lời điêu luyện như lời Bắc! Thơ ấy có những bài hay vào bậc nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam.


Vì thơ Tô Thùy Yên nhiều bài rất dài, cho tiện phổ biến phải chia làm mấy tuyển. Sau đây là tuyển 1, chọn từ những bài làm trước 1975.


Anh hùng tận


"Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt", chính giữa là rừng "anh hùng tận" "dô, dô tở mở" đến nỗi "muỗi thủy triều" cũng phải tạm rút!


"Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi...".(8)


Dĩ nhiên các "hào sĩ" bạn bè không tên của "ta" đã nâng nắp bi-đông đựng rượu đế mà "túy ngọa sa trường"!


Lời bài thơ toát ra được rất mạnh mẽ cái cảm xúc độc đáo trong một buổi chiều đã có thể cuối cùng...


*


Dựng súng trường cởi nón sắt


Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều


Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt


Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều


Đây ngã ba sông, làng sát nước


Xuồng ba lá đậu kế chân bàn


Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt


Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang


Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn


Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng


Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn


Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương


Thiệt tình tên bạn ta không nhớ


Nhưng mà trông mặt thấy quen quen


Hề chi, ta uống cho say đã


Nào có ra gì một cái tên...


Tới đây toàn những tay hào sĩ


Sống chết không làm thắt ruột gan


Cũng không ai nhắc về thân thế


Có vợ con mà như độc thân


Bạn hỏi thăm ta cho có lệ


Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:


Còn mươi tháng nữa lên trung úy


Có thể ngày mai chửa biết chừng


Mặt bạn mặt ta còn trắng cả


Như mặt trời chiều mới tạnh mưa


Tiếng hò mời "dô, dô" tở mở


Muỗi thủy triều chừng cũng giạt ra


Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt


Sông không bờ, trời cũng không chân


Người thuở trước tìm vàng khẩn đất


Tiêu xác thân, để lại oan hồn


Ngày nay, ta bạn đến đây nữa


Đất thì không khẩn, vàng không tìm...


Bạn nhủ ta: đừng hỏi khó


Uống mất ngon vì chuyện loạn tâm


Ta chắt cho nhau giọt rượu sót


Tưởng đời sót chút thiếu niên đây


Giờ cất quân, đưa tay bắt


Ước cõi âm còn gặp để say.


Hề, ta trở lại gian nhà cỏ


Đọc tên thi phẩm sau đây, sực nhớ truyện Tam Quốc. Do "bị" Lưu Huyền Đức "tam cố", Khổng Minh phải rời "thảo lư" lên đường giúp Lưu săn hươu. Mấy chục năm đầy sóng gió, quân sư đôi khi có nhớ "gian nhà cỏ"?


Vào năm làm bài Hề... (trước 1975) Tô Thùy Yên đi chưa xa, thế mà ông đã tưởng tượng ngày trở lại. Nói tưởng tượng, vì thời cuộc lúc ấy đâu dễ dàng cho bất cứ ai "lẳng lặng đi đi khuất, trong lãng quên xanh hút thời gian".


Dù sao, thi sĩ "trở lại gian nhà cỏ" là để vui thú điền viên, để "lòng ta vô sự, ta vui vẻ", có thực chăng? E không đâu. Vô sự lối gì mà, chẳng hạn, đứng "ngắm gốc cây nứt nở vỏ" lại "nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn (mà) trí ta không đủ lực đo lường"! Thường xuyên bị "bao điều thầm lặng lớn" ám ảnh, là Tô Thùy Yên đó. Đi hay về, vẫn cứ bị "ám" nặng thôi.


Quân sư tính toán chuyện quân, đánh được một trận Xích Bích thích chí. Nhà thơ băn khoăn chuyện cây nứt vỏ, viết nên trăm câu thơ một hơi, chắc cũng thích chí.


*


Hề, ta trở lại gian nhà cỏ


Giữa cánh đồng không, bên kia sông


Trống trải hồn ta cơn gió rã


Tiếng tàn tàn rụng suốt mênh mông


Hừng đông hùng vĩ và thanh thản


Sương hứa nguyên ngày nắng rực say


Ta dậy khi gà truyền nhiễm gáy


Chân mây rách đỏ vết thương dài


Ta ngồi trước ngõ nghe xao động


Trời đất bào thai cựa cựa nhanh


Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực


Con chim chèo bẻo hót lanh chanh


Ta ngồi cho đến khi trời trắng


Đồng ruộng xanh đông đúc tiếng người


Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm


Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi


Ở đây, ta có dăm người bạn


Phúc tự tâm, không lý đến đời


Ở đây, ta có dăm pho sách


Và một dòng sông, mấy cụm mây


Dòng sông u hiển trôi vô lượng


Dòng sông hiền triết chảy vô tâm


Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ


Mà ta thân thiết tựa tri âm


Lòng ta vô sự, ta vui vẻ


Bướm với hoa cùng bay nhởn nhơ


Mùa hạ tàn trôi trôi đóm lửa


Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ


Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp


Thiên cổ mang mang, thế sự nhòa


Trận lốc cười tròn trên quá vãng


Ta làm lại cả tâm hồn ta


Buổi trưa như buổi trưa nào đó


Tiếng võng đưa đưa tịch mịch mùi


Điệu hát ầu ơ hoa cỏ lịm


Nước mây buồn bã chợt quên trôi


Ta thiếp trong vòm xanh đại thọ


Đời đời giương rộng lượng bao dung


Ví dầu ta ngủ không còn dậy


Ắt hẳn lòng ta cũng dửng dưng


Chuyện trần thế bấy lâu thanh thỏa


Sống một ngày, ta rõ một ngày


Thôi vướng mắc dài duyên với nợ


Ân oán đời, phong kiếm rửa tay


Còn lại chăng cây đàn lở tróc


Gảy mình nghe đôi điệu xưa xưa


Còn lại chăng chút u hoài mốc


Pha cùng rượu uống đến say thua


Gặp buổi trời mưa bay phới phới


Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân


Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn


Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân


Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá


Vậy mà ta sống có kỳ không?


Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới


Những người đã chết, chết như rơm...


Gặp buổi trời trong dàn bát ngát


Ngọn cây ô! đã giát hoàng hôn


Cơn gió mơn man bờ bụi rậm


Kể dạo quanh vườn chuyện trống không


Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ


Gốc cây to đến mấy người ôm


Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn


Trí ta không đủ lực đo lường


Nên ta phó mặc cho trời đất


Trời đất vô ngôn lại bất nhân


Nên ta lẳng lặng đi đi khuất


Trong lãng quên xanh hút thời gian


Đêm tối êm ru lời thủ thỉ


Bên hè có tiếng dế ca ran


Vầng trăng ta thấy thời thơ ấu


Mọc lại cho ta thuở xế tàn


Hình như mọi sự đều như thế


Kể cả lòng ta cũng thế thôi


Các việc vô công làm miết miết


Quên tiệt đời ta như nấm mai


Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ


Ta thức đêm nay chơi với trăng


Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi


Trên mồ ta, trăng phải lang thang


Hề, ta trở lại gian nhà cỏ


Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa


Trên dốc thời gian, hòn đá tuột


Lăn dài kinh động cả hư vô


Xa nghe đợt gió lên cơn bão


Nhân loại quay cuồng biến đổi sâu


Bầy chó năm châu cắn sủa rộ


Quỉ ma cười khóc rợn đêm thâu


Cuộc cờ kỳ lạ không bày tướng


ăn sạch quân, trừ lính được thua


Hỡi ai tráng sĩ mài dao nhọn


Xin nhớ đời không mỗi sắc vua


Hề, ta trở lại gian nhà cỏ


Tử tội mừng ơn lịch sử tha


Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ


Ngày qua ngày, cho hết đời ta.


Trường Sa hành


Có lần bảo Hát Ngao Trên Tuyết của Cao Tần là bài hành xuất sắc thứ tư của thơ Việt Nam. Bảo thế là lỗi trầm trọng: năm 1974 Tô Thùy Yên có bài "hành Trường Sa" tuyệt vời.


Lỗi to, vì nỗi: hành Cao Tần cùng loại nội dung với hành Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Thanh Nam, trong khi hành Tô Thùy Yên khác hẳn, khiến đầu óc người đọc tự nhiên xếp nó vào một chỗ khác...


Trong khi bốn "hành sĩ" kia không lúc nào rời mặt đất, Tô Thùy Yên hay đi lạc tận... cõi Vô Biên.


Ngoài Vô Biên, thân "hữu hạn" tha hồ "tủi nhỏ nhoi", tha hồ "đập hoảng" mà gọi "đất liền", mà cố mở cho kỳ được "khoảng cách đặc"!


Trường Sa, có phải bất quá một cái vỏ đặc biệt thích hợp cho ông Tô tuôn những cảm xúc vũ trụ độc đáo của mình vào...


Cảm xúc mạnh, thơ dài mà như làm một hơi. Còn thơ nào hơn.


*


Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng


Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề


Lính thú mươi người lạ sóng nước


Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi


Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi


Khiến cả lòng ta cũng rách tưa


Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn


Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ


Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ


Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên


Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh


Lên xác thân người mãi đứng yên


Bốn trăm hải lý nhớ không tới


Ta khóc cười như tự bạo hành


Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục


Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh


Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế


Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?


Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ


Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời


Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt


Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi


Đám cây bật gốc chờ tan xác


Có hối ra đời chẳng chọn nơi ?


Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng


Những cụm rong óng ả bập bềnh


Như những tầng buồn lay động mãi


Dưới hồn ta tịch mịch long lanh


Mặt trời chiều rã rưng rưng biển


Vầng khói chim đen thảng thốt quần


Kinh động đất trời như cháy đảo...


Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân


Ta ngồi bên đống lửa man rợ


Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi


Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp


Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi


Chú em hãy hát, hát thật lớn


Những điệu vui, bất kể điệu nào


Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ


Cho mái đầu ta chớ cúi sâu


Ai hét trong lòng ta mỗi lúc


Như người bị bức tử canh khuya


Xé toang từng mảng đời tê điếng


Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê


Ta nói với từng tinh tú một


Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng


Bãi lân tinh thức âm u sáng


Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng


Đất liền, ta gọi, nghe ta không ?


Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng


Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc


Con chim động giấc gào cô đơn


Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa


Ánh sáng vang lừng điệu múa điên


Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ


Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên


Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp


Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh


Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã


Hay đến ngày bờ tái tạo xanh


San hô mọc tủa thêm cành nhánh


Những nỗi niềm kia cũng mãn khai


Thời gian kết đá mốc u tịch


Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.


Trời mưa đêm xa nhà


Đêm mưa lạnh, "góc ga thưa", có một cái... tượng ngồi chờ tàu.


Gần tượng, có "đường sắt phân ly mấy cành", có "gỗ tênh hênh" trong vòng tay cỏ, có "đèn le lói (như) vết thương tươi".


Xa tượng, nhưng không xa lắm, có núi "khoác rừng dày ngồi lì".


Núi dầm mưa không biết có lạnh không, chứ người không dầm mưa, không bị "giọt cường toan" nào nhỏ trúng, mà tim cứ "quằn quại hàng hàng"...


*


Ga dầm mưa chịu co ro


Cưu mang tàu thấm rét chờ sáng đi


Khoác rừng dày núi ngồi lì


Vân vi đường sắt phân ly mấy cành


Vài thân súc gỗ tênh hênh


Cỏ ôm ấp hẳn lãng quên tay người


Đèn le lói vết thương tươi


Trời da thi thể mưa ngùi chấm than


Hiên ga nhỏ giọt cường toan


Xuống tim quằn quại hàng hàng ưu tư


Trong cơ thể máu chần chừ


Ngoài trời khói thuốc vật vờ ngại bay


Làm gì đây để giải khuây


Ngắm tay mới biết mình gầy hơn xưa


Ngồi chờ tàu góc ga thưa


Nghe hồn ẩm mốc một mùa lạnh căm.


Góa phụ


Ai khóc ai đêm khuya, trong tiếng "chó tru thăm thẳm ngây thiên địa"?


Có là không, "em khóc hoài chi" cái nỗi có hóa không.


*


Con chim nhào chết khô trên cửa


Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm


Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ


Sao người khai giải chưa về thăm?


Em chạy tìm anh ngoài cõi gió


Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn


Tiếng kêu đá lở long thiên cổ


Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn


Em độc thoại lời kinh ánh xanh


Trăng lu khuya mỏi nén nhang tàn


Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa


Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn


Ngọn đèn hư ảo chong linh vị


Thắp trắng thời gian mái tóc em


Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh


Hồn xa con đóm lạc sâu đêm


Cỏ cây sống chết há ta thán


Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh


Thảng như con ngựa già vô dụng


Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình.


Đãng tử


Vào lúc làm bài thơ này, khoảng cuối thập kỷ 1960 đầu thập kỷ 1970, "đãng tử" Tô Thùy Yên đã "tuần du" được mấy đâu, "một đời" đã "biến đổi" được "bao" đâu, thế mà đã tưởng tượng đến ngày "trở lại ngôi Nhà Lớn"!


Từ bấy đến nay, "vũ trụ miên man chuyển động", người "đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê", vừa chèo vừa "thuận tay (...) ngắt một cành sậy" "làm cây sáo thổi cạn hồn sầu", thổi thành thơ "bay tản" khắp trong ngoài nước...


Thiết tưởng "ngày kia" trong "ngôi Nhà Lớn", nếu (hồn) thi sĩ được ngồi đọc lại tất cả mình, đọc đến những bài như Đãng Tử, chắc "lòng những bằng lòng một kiếp thơ"!


*


Ngày kia trở lại ngôi Nhà Lớn


Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.


 


Bạn có nghe, này bạn có nghe


Ở bìa rừng bên gió sửa soạn


Tuần du - cuộc tuần du bất tận


Bạn có nghe, này bạn có nghe


Giữa tầng trời cao chim giục giã


Từng giàn như những thủy triều sôi


Bạn có nghe, này bạn có nghe


Trên đỉnh non nhòa, mây xôn xao


Về nơi hẹn nào không định trước


Bạn có nghe, này bạn có nghe


Vũ trụ miên man chuyển động đều


Chim đã bay quanh từ vạn cổ


Gió thật xưa, mây thật già nua


Nên với một đời bao biến đổi


Mà trong vô hạn có chi đâu


Ly rượu rót mời, xin uống cạn


Bài ca ta hát đến đâu rồi


Xin hát nốt - còn đi kẻo muộn


Cho úp ly - bóng xế đường dài


Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn


Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê


Đến ngả ba, đành theo một lối


Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia


Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm


Lược sử ta trong bí lục nào


Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn


Thiên thu lóe tắt vệt phù du


Thuận tay, ta ngắt một cành sậy


Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu


Bay tản khắp vô cùng trống trải


Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau...


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Đào Tiềm thì về thật, nên viết Qui Khứ Lai Từ. Còn Tô Thùy Yên thì chỉ mới tưởng tượng đến về, nên viết...


Ông Đào với ông Tô về hay muốn về, đều do không chịu được chuyện xảy ra nơi đang ở, chứ không phải do "nợ tang bồng" đã "trang trắng" mà "vỗ tay reo" mà về như ông Nguyễn (Công Trứ).


Ông Đào trả ấn từ quan về vui thú ruộng vườn. Ông Tô mơ về "bản trạch", nhưng trong giấc mơ ít nhất lúc đầu ông chưa vui:


"Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Là rồi một chuyện kể chưa xong",


"Ta bằng lòng phận que diêm tắt


Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông".


Vì lòng không vui, nên lắng tiếng sóng ông nghe tiếng "biển cử ai rần bãi rã rời", trông hình "tàu chuối xác xơ" ông thấy "nỗi đời bi thiết xé lưa tưa"...


Thơ Đào Tiềm người ta hay nói tuy có cái vẻ bình dị, điềm đạm, nhưng không phải là không gọt giũa mà chính là "gọt giũa đến mức tự nhiên".


Tô Thùy Yên trau chuốt thơ mình cũng rất thành công. Có điều, người có bình dị thì tự nhiên mới là bình dị. Tô Thùy Yên không bình dị, nên thơ Tô Thùy Yên sau khi đến mức tự nhiên vẫn không bình dị.


Cái đẹp muôn vẻ, thơ sao cho lộ được cái vẻ của mình!


*


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Gió đưa nhớ rải dọc trần gian


Trên đồng ngọn cỏ tranh khom mỏi


Đời nặng cơn bi lụy dịu dàng


Rồi thôi, im mãi, im vô vọng


Ta tiếc dài sao đã đến đây


Lờn rờn bóng lá đong đưa nắng


Thảm thiết dây leo quấn quít cây


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Ơn dày chôn trả đất bao dung


Cụm mây trôi rã trong trời lớn


Như giấc chiêm bao thấy giữa chừng


Con đường đi mỏi mà không tận


Lượn sóng trên ghềnh nhọn rách tơi


Ai thở dài chi cho não nuột?


Cơn mưa hư tưởng mơ màng rơi


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Về luôn như một tiếng kêu khơi


Đã buông trong bạt ngàn xanh ngắt...


Biển cử ai rần bãi rã rời


Chuồn chuồn vui đậu trên nhành lúa


Để lại bay đi lúc kịp buồn


Điệu hát nào lan man vướng vất


Như hơi ẩm mục mặt hồ sương


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Đóa hoa buông cánh khi tàn hương


Tiếng rụng tuyệt âm rền tịch mịch


Dòng sông tới biển nức tuôn, tuôn...


Các mùa chuyển động trong trời trống


Di điểu qua sông xẻ luống sầu


Ly biệt chẳng từ hạt cát ngọc


Tuần hoàn đến cả giọt sương châu


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Là rồi một chuyện kể chưa xong


Mùa hè cọ sát điên kim loại


Con quạ kêu ran giữa quãng không


Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất


Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa


Hòn ngói lia bay bay mặt nước


Chìm sâu dĩ vãng đục không dò


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui


Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn


Càng nhẹ tênh trên cõi ngậm ngùi


Ta bằng lòng phận que diêm tắt


Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông


Thôi nói, bởi còn chi để nói


Núi xa, chim giục giã hoàng hôn


Tưởng tượng ta về nơi bản trạch


Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng


Mùa xuân bay múa trên trời biếc


Ta búng văng tàn thuốc xuống sông.


Qua sông


Bờ sông thường cao hơn mặt sông rõ ràng. "Đứng trên bờ nhìn xuống", "đến bến, lên bờ" v.v. Nhưng ở trong Nam có những nơi bờ sông thấp gần sát mặt nước. Đứng ở những nơi ấy, thấy mặt sông cao như ngang... mặt mình, thấy như đã gần dinh... Hà Bá, sợ lắm!


"Mùa mưa đã tới", ở "châu thổ mang mang trời nước sát" giữa người đã gục với người chưa gục có "độ cao" gì đáng kể đâu. Cho nên trông "đám", người trông rất dễ


"... Nao nao mường tượng bóng mình


Mịt mùng cõi tới u minh tiếng rền".


U minh "trào lên mắt ngời" trước mặt. Bước tới vài bước, coi như "đời đã bỏ quên"...


*


Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện


Mưa lâu trời mốc buồn hôi xưa


Con đường đáo nhậm xa như nhớ


Chiều mập mờ, xiêu lạc dáng cò


Quán chật xanh lên rừng lính ướt


Mặt bơ phờ dính gió bao la


Khí ẩm mù bay, mùi thuốc khét


Chuyện tình cờ nhúm ấm cây mưa


Vang lên những địa danh huyền hoặc


Mỗi địa danh nồng một xót xa


Giặc đánh lớn - mùa mưa đã tới


Mùa mưa như một trận mưa liền


Châu thổ mang mang trời nước sát


Hồn chừng hiu hắt nỗi không tên


Tiếp tế khó - đôi lần phải lục


Trên người bạn gục đạn mươi viên


Di tản khó - sâu dòi lúc nhúc


Trong vết thương người bạn nín rên


Người chết mấy ngày chưa lấy xác


Thây sình mặt nát lạch mương tanh...


Sông cái nước men bờ sóng sánh


Cồn xa cây vướng sáng mơ màng


Áo quan phong quốc kỳ anh liệt


Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang


Quê xa không tiện đường đưa tiễn


Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh


Thêm một chút gì như hối hả


Người thân chưa khóc ráo thâm tình...


... Nao nao mường tượng bóng mình


Mịt mùng cõi tới u minh tiếng rền


Xuống đò, đời đã bỏ quên...


Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.


Vườn hạ


Tô Thùy Yên năm ấy mới 36 tuổi, sao lại "Tím hận một đời..." với "Tuổi già gom lại..."? Coi vậy, chớ "mùa hạ trước" qua cũng đã hăm mấy năm rồi. "Mai kia mốt nọ", tính đại thêm hăm mấy năm nữa, để khi "anh về chơi" cho đủ tuổi!


Tính năm tính tháng đùa chút thôi, chớ cũng biết người trẻ hồn già là chuyện có xảy ra. Hồn một khi đã "chín" thì thời gian có khi không trôi nữa:


"Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc


Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh


Ngoài quãng chói chang hư ảo múa


Dường như ai réo ấu danh anh...".


"Mai kia mốt nọ anh về chơi", nằm một mình dưới gốc cây nghe "ve kêu như biển lâng lâng dậy", nghe "mương nước rì rào sao sáng thở", nghe "thủy triều lui bậc bậc sầu", có lúc cất bước loanh quanh khiến "chú dế giang hồ (quen) hát say sưa dưới cỏ buồn" sợ, nín hát, làm "cô tịch bưng ồn như máu tuôn"...


"Anh", thiệt ngộ hết chỗ nói!


"Thơ ấu, dậy đi, mừng dụi mắt


Cùng anh chạy nhảy tiếp thời vui"!


*


Mai kia mốt nọ anh về chơi


Vườn ủ đêm dư, nắng mật ngời


Thơ ấu, dậy đi, mừng dụi mắt


Cùng anh chạy nhảy tiếp thời vui.


ăn trái chín cây mùa hạ trước


Thấy nhành ớt động bóng chim quen


Hỏi em, em lấy chồng xa xứ


Hỏi bạn, bạn lìa quê bặt tin


Thời gian đứt quãng dài vô định


Như sợi dây diều băng mất tăm


Lòng anh thảng thốt, sông chao sóng


Kỷ niệm buông tay rú ngất chìm


Ai ngắt giùm anh cây cỏ sướt


Làm đôi gà đá, đá ăn cười


Mùa hè đi khuất kêu không lại


Bãi mía điêu tàn gốc cháy thui


Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc


Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh


Ngoài quãng chói chang hư ảo múa


Dường như ai réo ấu danh anh


Hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc


Đất ẩm vương hương cỏ trở màu


Ai cúi soi mương rong khỏa mặt


Thấy hồn mùa cũ đọng xanh xao


Còn đợi cây mưa lớn bất thần


Ấu thơ, mừng nhá, chạy la rân


Đá bong bóng nước cơn vui vỡ


Mưa tạnh, ngồi nghe tuổi hạ tàn


Ve kêu như biển lâng lâng dậy


Xô giạt hồn anh mộng chập chờn


Ngủ chín giấc chiều trên xác lá


Tàn măng âu yếm đắp thân đơn


Mênh mang lưu thủy trường trăng lạnh


Con chó tung tăng giỡn bóng mình


Mương nước rì rào sao sáng thở


Đài hoa sương nạm hạt lân tinh


Đây rồi, chú dế giang hồ ấy


Vẫn hát say sưa dưới cỏ buồn


Nghe tiếng chân người chợt nín lặng...


Cô tịch bưng ồn như máu tuôn


Thấp thoáng ánh đèn rây lưới lá


Đàn ai lên cổ khúc hoài lang


Tình ơi, ta hát thầm theo nhạc


Lời nhớ, lời quên, dạ xốn xang


Đêm lịm chầy khuya, trăng nhợt sương


Liễu đi đâu tóc xõa canh trường


Con chim lạc bạn kêu trời rộng


Hồn chết trôi miền dạ lý hương


Nằm đây phủ sáng hằng hà sao


Nghe thủy triều lui bậc bậc sầu


Nghe tiếng mõ chùa khô khốc khóc


U minh ngày tháng bóng lao đao


Cát bụi đã đành thân tấm mẳn


Thì danh với phận kể mà chi


Cảm thương con cá thia lia bại


Có sót huy hoàng cũng xếp vi


Cọc xu thảy hết ra ngoài mức


Đồng cái, thua buồn cũng liệng sông


Tím hận một đời tay cứng vụng


Chơi cầu âu cả cái tâm ngông


Em có tìm không mùa hạ trước


Chiếc vành xưa đánh lạc về đâu?


Đám tranh thuở ấy cao là vậy


Vành lạc, chân không ngại bước vào...


Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi


Chờ nhau cho đáng kiếp chờ thôi


Tuổi già gom lại bao thương tưởng


Như cuối vườn chiều mót củi rơi.


Em nhỏ, làm chi chim biển bắc


Đọc mấy câu "(em) biệt xứ ra đi, trời bắt tội", "còn anh hệ lụy chằng trăm rễ", "em đẩy làm chi cửa não nề", chợt nhớ một cái truyện ngắn cũng của Tô Thùy Yên. Trong Nơi Chốn Đi Qua, "tôi" và Phụng rất thân nhau, hoàn cảnh khiến xa nhau, cả hai cùng bất như ý trong cuộc sống, một hôm tình cờ gặp lại...


Tôi trách "em nhỏ, làm chi chim biển bắc", nhưng thực ra tôi đâu có đi tìm em ở biển nam. Thực ra, chuyện em và tôi không quan trọng gì cả.


"... Còn vọng hằng hà sa số kiếp


Lai sinh trời đất cũ chưa quên".


Yêu em, chẳng qua tôi yêu trời đất! Nhớ em, chẳng qua là tôi tưởng niệm thời gian!


*


Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc


Xa rồi đám lửa cuối thiên thu


Cửa thần phù dựng trường sơn sóng


Mỗi ngọn xô chìm một giấc mơ


Ôi những con đường đến tự đâu


Một lần gặp gỡ ngã tư nào


Rồi trong vô hạn chia lìa miết


Có cuốn theo mình bụi của nhau?


Biệt xứ ra đi, trời bắt tội


Dài tơ tưởng rụng tóc mai xanh


Trôi mòn vóc đá tào khê thức


Nhướng mỏi ngàn sao đáy lặng thinh


Còn anh hệ lụy chằng trăm rễ


Cam phận cây rừng tối đẫm rêu


Nấm tủa tầng tầng thân mục tới


Như mùa hoa trối tuổi già xiêu


Em đẩy làm chi cửa não nề


Bản lề khô kẽo kẹt hôn mê


Nhện giăng tơ mốc nhà hoang lạnh


Tiếng gọi rền vang gỗ đá ê


Dựng dậy hồn oan dĩ vãng nào


Con chim thần thoại mắt khoen sâu


Giật mình như đã ngàn năm ngủ


Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào


Có nhớ không em rừng bóng lạnh


Gốc cây ngời giọt nắng sao thưa


Gió ru mê mệt trưa tàn tạ


Hạnh phúc đùa xa tiếng thực hư


Khép mắt cho hồn bay diệu vợi


Mà yêu đến khóc, đến u mê


Để khi mở mắt, ta nhìn thấy


Cả cuộc đời ta có đáng chi


Cây rách sâu thân chắt giọt lòng


Nghiệp hờn trả nghĩa đất bao dung


Mùa hè cháy hực cơn cuồng nộ


Ồ, máu thơm còn ứa chẳng ngưng


Đồi lộng đưa nhau xuống cuối ngày


Thấy âu sầu hiện mỗi thân cây


Cỏ cao quấn quíu chân chùng bước


Ghim xót xa đầy vạt áo bay


Làm sao đi hết những con đường


Gió với cây cùng khóc hợp tan


Mỗi đóa hoa trên đồng chói lọi


Cũng xui phù thế ngậm ngùi thân


Cầu hân hoan chết như mưa lũ


Nước kéo nhau đi trẩy khắp miền


Còn vọng hằng hà sa số kiếp


Lai sinh trời đất cũ chưa quên.


Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai


Đọc "những người..." sau đây, nhớ "thập loại chúng sinh".


Xưa đại loạn qua, phần ai nấy tế. Nguyễn Văn Thành xông pha trận mạc, tế riêng tướng sĩ. Nguyễn Du "trải qua một cuộc", chắc "trông thấy" không sót "điều" gì, nên tế chung tất cả cô hồn. Bài tế "mười loài" kết thúc với nội dung tôn giáo rõ ràng:


"Ai ơi lấy Phật làm lòng


Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi"


Hồi Tô Thùy Yên làm thơ, đại loạn chưa qua. Thi sĩ không tế, lại hình như không có niềm tin nhất định, bèn chọn "biểu dương". "Biểu dương cùng tận" xong, "rồi tất cả sẽ nguôi ngoai"...


Hoặc sau bể dâu hoặc trong bể dâu, hoặc đậm màu tôn giáo hoặc không, "cảm sầu dội, xuyên suốt tâm linh" nên thơ để đời.


Để ý, trong thơ xưa chỉ toàn "cô hồn thất thưởng dọc ngang", trong thơ nay ngoài người kia kẻ nọ "thương thay" còn sừng sững "ta lớn lao và ta cô đơn"!


*


Ra đi như nước ao lền đặc


May gặp ngày mưa lớn thoát tràn


Râu tóc rạng ngời, gậy trúc bóng


Nẻo thơm trần thế, gió hân hoan


Ra đi như một bình minh lạ


Trên kỷ nguyên chưa kịp hiện hình


Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp


Ba trăm năm lịch sử làm thinh


Ra đi như một âm thanh sáng


Xuyên suốt tâm linh, dội cảm sầu


Hỡi gã du hành, hãy cất tiếng


Bài ca thiên cổ chẳng thành câu


Tự do, ta thết mừng điên đảo


Cuộc tiệc trăm năm nhục thánh thần


Dưới bóng bao trùm hạt cát tỏa


Đền rêu, miếu cỏ lạnh ma hoang


Con đường vô định chưa ai tới


Hay tới nơi, thôi chẳng trở về


Hỡi gã du hành, hãy nói lại


Những điều ngươi thoáng thấy như mê


Ta mò đoán nghĩa dòng hư tự


Mòn nét trong thiên địa ngập ngừng


Ta thấy mặt tinh cầu xếp nếp


Như lằn nhăn tuổi tác hư không


Những người thuở trước giương cung cứng


Cưỡi ngựa điên, hoa kích ngàn cân


Một trận tan tành ba triệu địch


Nửa chiều chết đứng hận giai nhân


Những người thuở trước đi tìm mộng


Lạc suối mê, hoa giạt ngược dòng


Theo tiếng kinh quan san biệt dạng


Buộc sầu, xõa tóc, thả thuyền rong


Những người thuở trước say vô hạn


Mơ thuốc trường sinh lạc xác phàm


Níu cánh chim bằng qua biển gió


Cây minh linh tốt mấy ngàn năm


Những người thuở trước tham chung đỉnh


Áo mũ xênh xang chốn ngọ môn


Sơ thất, thương thay thân xuống lính


Đày ra quan ngoại, chết không chôn


Những người thuở trước như là mộng


Diễm tuyệt dung nhan thảo mộc sầu


Hương phấn bay lừng xa khỏi kiếp


Tiếng cười xé rách núi sông đau


Những người thuở trước bây giờ lạc


Trong dã sử nào như bóng mây


Trong trí nhớ nào như giọng hát


Hỡi ôi, trời đất lạnh tình thay!


Hỡi ôi, gió nổi lên cùng khắp


Giục gã du hành rảo bước thôi!


Ta uống giếng hoang, ăn trái lạ,


Tâm hồn mãi mãi mới tinh khôi


Nhiều khi ta ngước lên ngơ ngẩn


Nghe tiếng chim quen bay trớt qua


Bóng thoáng như bàn tay dịu mát


Lau nhanh hơi mỏi mặt mày ta


Hoàng hôn xô bóng ta trên cát


Ta lớn lao và ta cô đơn


Ngưỡng mộ cây xương rồng gắng gượng


Thân trần đứng lẻ giữa đồng trơn


Bình minh như một làn da phỏng


Ta dạo men bờ sóng tuyệt mù


Cảm phục bồi hồi biển nhẫn nại


Bắt đầu mãi mãi lượn thiên thu


Biểu dương - hãy biểu dương cùng tận


Vinh dự lầm than của kiếp người


Hi hữu một lần trên trái đất


Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai.


________


*Bài này trong bộ Văn học Miền Nam, phần Thơ.


(2) TTY trả lời phỏng vấn, đăng trong Lê Quỳnh Mai, Tác giả, với chúng ta, nxb. Khôi Nguyên, Mỹ, 2004.


(3) Đi Về và Suốt Bãi Sông Hằng là tên hai bài thơ của TTY.


(4) TTY trả lời phỏng vấn, xem chú thích 2.


(5) Xem bài Nét Siêu Hình Trong Văn Miền Trung của TT, đăng trên trang gocnhin.net.


(6) Xem bài Đất Nào Văn Nấy của TT, đăng trên trang gocnhin.net.


(7) TTY trả lời phỏng vấn, xem chú thích 2.


(8) Bài Lương Châu Từ của Vương Hàn: "Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi/ Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi/ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi".


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »