tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27701194
Tiểu thuyết
20.05.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Ở Genève ngay trong buổi tối đầu tiên tôi gặp một nhóm nhỏ những người Pháp và người nước ngoài khác tập hợp quanh hai tờ báo độc lập La Feuille( ) và Ngày mai: P.J.Jouve, René Aréo, Frans Masereel. Chúng tôi trở thành bạn thân tình, với cái hăm hở nhanh nhảu thường chỉ nối các tình bạn của tuổi thanh niên. Nhưng chúng tôi bằng bản năng cảm thấy mình đang ở điểm khởi đầu của một cuộc sống hoàn toàn mới. Phần lớn những quan hệ xưa đều đã tan vỡ bởi lòng yêu nước mù quáng của bạn bè những ngày qua. Chúng tôi cần có những bạn mới và vì chúng tôi ở trên cùng một trận tuyến, trong cùng những chiến hào tinh thần, đấu tranh chống một kẻ thù chung, đã hình thành hồn nhiên giữa chúng tôi một thứ tình đồng chí say mê; trong hai mươi bốn giờ chúng tôi đã thân thiết với nhau như đã gặp nhau từ nhiều năm và như thông lệ ở tất cả các trận tuyến, chúng tôi đã cho phép gọi nhau bằng “mày tớ” chan chứa tình anh em. Chúng tôi tất cả đều cảm nhận - “We few, we happy few, we band of brothers”( ) - với nỗi nguy hiểm mà mình đang trải qua, sự táo bạo độc nhất của tình đoàn kết của chúng tôi; chúng tôi biết qua năm giờ đi tàu hòa rằng, mỗi người Đức rình mò một người Pháp, mỗi người Pháp dò xét một người Đức, đâm chết nó bằng lưỡi lê hoặc xé nát nó bằng một quả lựu đạn và có được một sự biệt đãi qua chiến công đó; rằng hằng triệu, hằng triệu người ở phía bên này và phía bên kia, chỉ mơ ước sát hại lẫn nhau và diệt trừ nhau khỏi mặt đất, rằng các nhà báo chỉ nói về “đối thủ” sùi bọt mép, trong khi đó chúng tôi, một dúm nhỏ giữa hàng triệu, hàng triệu người, không những chúng tôi ngồi vào cùng bàn, mà còn với một cảm xúc rất tự giác về tình anh em trung thực và say mê. Chúng tôi biết rằng chúng tôi tự mình đối lập với tất cả những gì là chính thống và bị chỉ đạo. Chúng tôi biết rằng khi tuyên bố một cách thành thật tình bạn của chúng tôi, cá nhân chúng tôi chịu một nỗi nguy hiểm về phía Tổ quốc mình, nhưng chính nỗi hiểm nguy đó lại nâng sự táo bạo của chúng tôi đến một cường độ có thể nói là xuất thần. Chúng tôi muốn mạo hiểm một cái gì đó và chúng tôi tận hưởng sự mạo hiểm đó vì chỉ có sự mạo hiểm mới đem lại sức nặng cho sự phản kháng của chúng tôi. Chính là bằng cách đó chúng tôi tổ chức ở Zurich (sự kiện độc nhất trong cuộc chiến tranh này) một buổi học công cộng chung với P.J.Jouve - ông đọc những bài thơ Pháp, còn tôi đọc một đoạn của Jérémie bằng tiếng Đức, - nhưng chính vì chúng tôi chơi ván bài lật ngửa, chúng tôi chứng tỏ rằng mình trung thực trong cuộc chơi táo bạo này. Người ta có thể nghĩ gì về điều này trong các lãnh sự quán và các đoàn đại diện của chúng tôi, chúng tôi không quan tâm, dẫu là bằng cách đó chúng tôi đã tự triệt đường rút lui như Cortez. Vì chúng tôi tin tưởng một cách sâu sắc rằng không phải chúng tôi là những “kẻ phản bộ”, mà là những kẻ khác, những kẻ đã phản bội bổn phận làm người của nhà thơ bằng cách hy sinh mình cho những ngẫu nhiên của thời cuộc. Và những người Pháp và những người Bỉ ấy, họ sống mới anh dũng làm sao! Có ở đấy Frans Masereel, đã khắc dưới mắt chúng tôi, trên những bản gỗ chống sự ghê rợn của chiến tranh, những trang đen trắng mà sự dữ dội và sự giận dữ không hề nhường bước cho cả Những thảm họa của chiến tranh của Goya. Ngày và đêm, con người cứng rắn này đã khắc không mệt mỏi trên gỗ câm lặng những hình ảnh mới và những cảnh mới; căn phòng nhỏ của anh và gian bếp đã chất đầy những khối gỗ, nhưng mỗi buổi sáng tờ “Tờ giấy” vẫn in một hình vẽ mới không nhằm lên án một quốc gia riêng biệt nào mà chỉ nhằm tấn công vào kẻ thù chung là chiến tranh. Chúng tôi mơ ước các máy bay ném xuống các thành phố và các đội quân, thay vì những quả bom, những Tờ giấy căm thù dữ dội này mà mọi người đều hiểu được, cả người thấp hèn nhất, người mù chữ và người vô học, chúng sẽ sớm giết chết chiến tranh - tôi chắc thế. Tiếc thay những hình khắc này chỉ được đăng trên tờ Tờ giấy không hề vượt ra ngoài khuôn viên thành phố Genève. Tất cả những gì chúng tôi nói và cố làm phải bị đóng khung trong các giới hạn chật hẹp của Thụy Sĩ và chỉ gây nên hiệu quả khi đã quá chậm. Thực ra chúng tôi cũng không ảo tưởng, chúng tôi biết rằng chúng tôi bất lực trước bộ máy to lớn của các ban tổng tham mưu và các bộ chính trị và nếu họ không truy tố chúng tôi có lẽ đó là vì chúng tôi không thể nguy hiểm đối với họ, lời nói của chúng tôi vẫn bị bóp nghẹt và hành động của chúng tôi bị cản trở. Nhưng chính là chúng tôi tự biết mình quá ít, quá đơn độc nên chúng tôi càng xiết chặt lại, ngực kề ngực, tim kề tim. Không bao giờ nữa, trong những năm trưởng thành hơn về sau, tôi còn có một tình bạn hứng khởi hơn trong những ngày Genève này, và những quan hệ này kéo dài qua nhiều năm tháng về sau.


*


 


Về mặt tâmlý và lịch sử (chứ không phải về mặt nghệ thuật), gương mặt kỳ lạ nhất của nhóm này là Henri Guilbeaux; ở con người anh tôi thấy được xác nhận một cách có sức thuyết phục hơn ở bất cứ con người nào khác quy luật không biến đổi này của lịch sử, nêu rõ rằng trong thời kỳ của những xáo trộn dữ dội, đặc biệt là trong một cuộc chiến tranh hoặc một cuộc cách mạng, sự quả cảm và sự táo bạo thường có hiệu lực trong cái hiện tại tức thì hơn là giá trị nội tại, và một sự can đảm sục sôi của người công dân có thể là quyết định hơn tính khí và sự kiên trì. Khi các sự kiện diễn ra dồn dập, những tính chất biết nhảy xuống nước không do dự luôn có ưu thế hơn những tính chất khác. Và biết bao nhiêu gương mặt thoáng qua, Bela Kim, Kurt Einer; lúc đó họ được nâng lên bên trên bản thân họ, đến một địa vị mà họ không thể nào gìn giữ được! Guilbeaux, một con người bé nhỏ, gầy yếu với cặp mắt xám, linh lợi, lo âu và một tài nói liến thoắng rất nhộn nhịp, nhưng trong bản thân hoàn toàn không có năng khiếu gì. Mặc dầu chính anh gần mười năm về trước đã dịch những bài thơ của tôi ra tiếng Pháp, tôi phải sòng phẳng thừa nhận rằng năng khiếu văn chương của anh rất hạn chế. Cách diễn đạt của anh không ở trên mức tầm thường, văn hóa của anh không một lĩnh vực nào đạt được sự sâu sắc. Tất cả sức mạnh của anh là bút chiến. Do một khuynh hướng đáng tiếc của tính khí anh, anh thuộc loại hình trí tuệ có nhu cầu luôn luôn tự tuyên bố “Chống”, chống cái gì thì không hệ trọng. Anh chỉ hạnh phúc nếu được đánh nhau như một thằng ranh con thực thụ và được lao vào một vật cản đang chống lại anh. Ở Paris trước chiến tranh, mặc dù anh thực ra là một người bạn đường tốt, anh không ngừng bút chiến với một số trào lưu văn chương và một số nhà văn, rồi anh bắt đầu đi tìm những đảng cấp tiến song không đảng nào đủ cấp tiến đối với anh. Thế mà bấy giờ anh, người chống chủ nghĩa quân phiệt, anh bỗng chốc tìm được một đối thủ khổng lồ: chiến tranh thế giới. Sự rụt rè, sự hèn nhát của số đông, sự quả cảm, sự táo bạo điên cuồng mà anh bộc lộ khi lao vào cuộc đấu tranh biến anh trong chốc lát thành một nhân vật quan trọng, cần thiết nữa. Anh bị lôi cuốn bởi cái làm những người khác sợ hãi: sự nguy hiểm. Việc những người khác dám quá ít và bản thân anh dám tất cả tạo cho con người văn chương tầm thường này một sự lớn lao bất ngờ và kích động các năng lực nhà báo, nhà bút chiến của anh lên trên mức vốn có - hiện tượng cũng có thể quan sát thấy thời Cách mạng Pháp ở những luật sư và luật gia của phái Girôngđanh. Trong khi những người khác im lặng và bản thân chúng tôi do dự và trong mỗi dịp suy nghĩ cẩn thận cái gì nên làm cái gì tránh, anh tấn công kiên quyết, và cái công lao lâu dài của Guilbeaux là đã sáng lập và điều khiển tờ tạp chí quan trọng độc nhất thuộc khuynh hướng hòa bình trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, tờ Ngày mai, tư liệu mà mỗi người phải đọc lại nếu muốn thúcwj nắm các trào lưu trí tuệ của thời đại. Anh đã cho ta cái mà lúc đó chúng ta cần, một trung tâm tranh luận quốc tế, siêu quốc gia giữa thời chiến tranh. Việc Rolland đứng đằng sau anh quyết định tầm quan trọng của tạp chí, vì nhờ uy thế đạo đức và các quan hệ của ông, ông có thể đem lại cho anh những cộng tác viên quý giá nhất của châu Âu, châu Mỹ và của Ấn Độ. Ngoài ra, những nhà Cách mạng lúc đó bị lưu đày khỏi nước Nga, Lênin, Trotski và Lounatcharski cũng tin cậy ở tính triệt để của Guilbeaux và viết đều đặn cho Ngày mai. Thế là trong vòng mười hai hoặc hai mươi tháng, trên thế giới không có tạp chí nào thú vị hơn, độc lập hơn và nếu nó còn tồn tại sau chiến tranh, có thể nó sẽ gây ảnh hưởng quyết định đến công luận. Đồng thời Guilbeaux đại diện ở Thụy Sĩ cho các nhóm tiến bộ của Pháp mà bàn tay cứng rắn của Clémenceau đã khóa miệng. Ở các cuộc hội nghị lịch sử Kienthal và Zimmerwald ở đó những người xã hội chủ nghĩa vẫn là quốc tế chủ nghãi tách khỏi những người xã hội chủ nghĩa trở thành ái quốc chủ nghĩa, anh đóng một vai trò lịch sử. Không một người Pháp nào kể cả đại úy Sadoul liên minh với những người bôlsơvich Nga, bị sợ và ghét trong các giới chính trị và quân sự Paris hơn là con người bé nhỏ tóc hoe này. Cuối cùng cơ quan mật thám Pháp thành công trong việc bắt anh phải từ bỏ công việc. Trong một khách sạn ở Berne, người ta lấy trộm của một nhân viên Đức những tờ giấy thấm và những bản sao xác nhận rằng những cơ quan Đức đã mua báo Ngày mai, thế thôi không có gì hơn. Sự việc trong bản thân nó hoàn toàn không gây liên lụy vì theo tờ Ý thức của phía Đức, những bản này dành cho các văn phòng và thư viện khác nhau. Song lý do đủ để Paris buộc tội Guilbeaux là tên gây rối được Đức mua chuộc và khởi tố anh. Anh bị kết án tử hình vắng mặt - hoàn toàn một cách bất công; quả vậy, vì mười năm sau bản án đó đã bị hủy bỏ trong một cuộc xử phúc thẩm. Nhưng chẳng bao lâu sau, vì sự hung hăng và sự cố chấp của anh bắt đầu trở thành một mối nguy cho Rolland và tất cả chúng tôi, anh đi vào xung đột với chính quyền Thụy Sĩ, anh bị bắt và bị bỏ tù. Lênin, người có cảm tình đặc biệt với anh và biết ơn anh vì sự giúp đỡ trong những thời kỳ khó khăn nhất, cuối cùng đã cứu anh bằng cách biến anh chỉ bằng một văn bản thành công dân Nga và đưa anh sang Moskva trong một chiếc tàu hỏa niêm chì thứ hai. Chính lúc này anh có thể phát huy các sức mạnh sáng tạo của mình. Vì ở Moskva lần thứ hai người ta tạo cho anh những khả năng hành động, cho anh, một người có tất cả những giá trị của một nhà cách mạng, đã bị tù và đã bị kết án tử hình vắng mặt. Như ở Genève với sự giúp đỡ của Rolland, anh đã có thể với sự tin cậy của Lênin góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng lại nước Nga. Hơn nữa vì thái độ can đảm trong chiến tranh, có lẽ không ai xứng đáng bằng anh, đóng một vai trò quyết định ở Pháp trong thời gian sau chiến tranh tại nghị viện và trong đời sống công cộng, vì tất cả các nhóm tiến bộ đều thấy ở anh một con người thực sự tích cực và can đảm, một thủ lĩnh bẩm sinh. Trên thực tế Guilbeaux không có chút bản chất nào của người cầm đầu, mà như nhiều nhà thơ của chiến tranh và nhiều nhà chính trị của Cách mạng, anh chỉ là sản phẩm của một thời khắc thoáng qua và những tính chất không cân bằng bao giờ cuối cùng sẽ sụp đổ sau một sự vọt lên đột ngột. Ở Nga, Guilbeaux, nhà bút chiến bất trị, hoàn toàn như trước đó ở Paris, tiêu phí những năng khiếu của mình trong những cuộc cái vã và kiện cáo và dần dần xích mích với tất cả những người đã kính trọng sự can đảm của anh, trước tiên với Lênin, sau đó với Barbusse và Rolland và cuối cùng với tất cả chúng tôi. Anh kết thúc như anh đã khởi đầu bằng những tập sách mỏng vô nghĩa và những điều phiền nhiễu ti tiện; anh mất hoàn toàn bị lãng quên trong một góc của Paris, ít lâu sau khi được ân xá. Người mà trong chiến tranh đã là đối thủ quả cảm nhất và kiên cường nhất của chiến tranh, người mà nếu biết sử dụng một cách xứng đáng cái đà do các sự kiện tạo ra cho mình có thể sẽ trở thành một trong những gương mặt lớn của thời đại chúng ta. Người ấy ngày nay hoàn toàn bị lãng quên, và có lẽ tôi là một trong những người cuối cùng còn nhớ với lòng tri ân chiến công của anh ở tạp chí Ngày mai.


Từ Genève tôi trở lại Zurich vài ngày sau để bắt đầu thương lượng về việc tổng duyệt vở kịch của tôi. Tôi luôn yêu mến cái thành phố này vì vẻ đẹp của nó ven hò dưới bóng những quả núi, mà còn vì nền văn hóa đặc sắc, hơi bảo thủ của nó. Nhưng nhờ nền hòa bình mà Thụy Sĩ được hưởng giữa các quốc gia tham chiến Zurich đã thoát ra khỏi sự yên tĩnh của nó và nhanh chóng trở thành đô thị quan trong trọng nhất của châu Âu, nơi gặp gỡ của mọi trào lưu trí tuệ và cả những nhà kinh doanh, những kẻ đầu cơ, những tênmật thám, những nhân viên tuyên truyền mà dân chúng bản địa, vì lý do của tình yêu đột ngột đó xem xét với một sự ngờ vực chính đáng…Trong các quán ăn, trong các tiệm cà phê, trong các tàu điện, trên đường phố, người ta nghe nói tất cả các ngôn ngữ. Đâu đâu người ta cũng gặp những người quen ; dễ chịu hay khôngk, muốn hay không ; người ta bị lôi cuốn vào một dòng thác tranh luận. Vì tất cả những người mà số mệnh dẫn đến đây có sự sống của mình gắn liền với kết cục của chiến tranh, những người này được chính phủ họ giao một sứ mệnh, những người khác bị truy hại và đày biệt xứ, tất cả đều tách khỏi cuộc sống thường ngày và hứng chịu mọi sự may rủi. Vì họ không có tổ ấm, họ luôn tìm cách nối các quan hệ bè bạn và vị họ không có quyền ảnh huwongr đến các sự kiện quân sự và chính trị, hok tranh cãi ngày dêm trong một thứ cơn sốt thần kinh vừa kích thích chúng tôi vừa làm chúng tôi mệt mỏi. Sau nhiều tháng và nhiều năm sống trong nước, cặp mội bị niêm phong, người ta khó từ chối niềm vui được nói, người ta được thúc đẩy viết lách và xuất bản từ khi lần đầu tiên người ta lại được nghĩ và viết không vị kiểm duyệt. Mỗi người sống trong một trạng thái căng thẳng cực độ, và ngay cả những tính cách tầm thường - như tôi đã chứng minh qua ví dụ của Guilbeaux, - cũng thú vị hơn là họ không bao giờ đã là như vậy trứơc đây và cũng không bao giờ sẽ là như vậy sau này. Giữa các nhà văn và nhà chính trị, người ta thấy có sự tập hợp theo nhiều sắc thái và nhiều ngôn ngữ. Alfred H.Fried, người được giải Nobel hòa bình, xuất bản ở Zurich  Đài quan sát Hòa bình của ông, Franz Von Unruh, đã từng là sĩ quan Phổ, đọc cho chúng tôi nghe những vở kịch của ông, Leonhard Frank viết ở đấy quyển sách đầy hưng phấn Con người là tốt, André Latzko gây ấn tượng với quyển Những người trong chiến tranh, Franz Werfel đến làm một cuộc diễn thuyết ; tôi đã gặp những ngừoi của mọi quốc gia trong khách sạn cũ kĩ Schoerdt của tôi, mà Casanova  và Goethe đã tới đó vào thời của họ. Tôi gặp những ngừoi Nga sẽ nổi lên trong cách mạng, mà tôi không bao giờ biết đuwocj tên thật, những người Italia, những linh mục Thiên chúa giáo, những nhà xã hội chủ nghĩa cố chấp và những đảng viên của đảng hiếu chiến Đức, trong sos những người Thụy Sĩ, mục sư Leonard Ragaz tuyệt vời và nhà văn Robert Faesi ở bên cạnh chúng tôi; ở hiệu sách Pháp tôi gặp ngừo đã dịch thơ văn của tôi - PaulMorisse, trong phòn hòa nhạc nhạc trưởng  Oscar Fried - tất cả đểu ở đấy, tất cả đều đi qua trước mặt chúng tôi, người ta nghe tất cả các ý kiến, từ phi lý nhất đến hiền minh nhất, người ta tức giận, người ta hứng khởi, người ta sáng lập các tạp chí, người ta dắt dẫn những cuộc luận chiến; những mâu thuẫn đụng nhâu hoặc lên án nhau; các nhóm được tạo thành hoặc chịu tan rã. Tôi không bao giừo gặp một hỗn hợp pha tạp và say mê đến như vậy của các ý kiến và các cá nhân, trong một hình thức đông đặc đến như vậy, có thể nói là sục sôi, bằng trong những ngày hoặc đúng hơn những đêm Zurich ấy (vì người ta tranh cãi đến lúc các quán cà phê Bellevue và Odéon tắt đèn, và sau đó còn đưa nhau về nhà). Không một ai trong thế giới huyền ảo đó còn thấy cảnh vật, núi, hồ và sự thanh bình êm dịu của chúng ; người ta sống trong báo chí, trong các tin tức và các lời đồn đại, trong dự luận, trong tranh luận. Và điều kỳ lạ, ở đây người ta sống bằng tinh thần cuộc chiến tranh với một cường độ lớn hơn là ở Tổ quốc đang tiến hành cuộc chiến tranh đó, bởi vì vấn đề tuồng như được khách quan hóa và hoàn toàn tách khỏi quyền lợi quốc gia mà ngừoi ta chú ý qua mỗi chiến thắng hoặc mỗi thất bại. Người ta không xem xét chiến tranh từ một quan  điểm chính trị mà từ quan điểm châu Âu, như là sự kiện kinh khủng và tàn bạo không phải chỉ để di chuyển một vài đường biên giới trên bản đồ, mà thay bộ mặt và tương lai của thế giới chúng ta.


*


 


Cảm động nhất trong những người đó đối với tôi -  hinh như tôi đã được một tiên cảm về số phận sắp đến của mình làm động lòng - là những người không tổ quốc hoặc tệ hơn nữa, những người có đến hai hoặc ba tổ quốc thay vì một và trong thâm tâm không biết mình thuộc tổ quốc nào. Tôi thoáng thấy phần nhiều là một mình, trong một góc của tiệm càphê Ôdéon, một ngừơi trẻ tuổi chòm râu cằm màu nâu, đôi mắt đen và sắc mang cặp kính dày đến ngạc nhiên. Người ta nói với tôi rằng đó là một nhà văn Anh rất có năng khiếu. Vài ngày sau, khi tôi đã làm quen với Jamesjoyce, anh từ chối bằng một giọng xẵng mọi biểu hiện thiện cảm với nước : anh là người Ailen. Quả thực anh viết bằng tiếng Anh, - Tôi những muốn, anh nói với tôi lúc đó, một ngôn ngữ ở trên mọi ngôn ngữ, một ngôn ngữ mà mọi người đểu sử dụng. Tôi không thể diễn đạt mình trọn vẹn bằng tiếng Anh mà không cùng lúc mhốt mình vào trong một truyền thống. Điều đó đối với tôi không hoàn toàn rõ ràng vì tôi không viết rằng lúc đó anh đã bắt tay sáng tác cuốn Ulyses của anh ; anh chỉ cho tôi mượn Chân dung một nghệ sĩ trẻ, bản độc nhất mà anh có, và một vở kịch nhỏ Exiles mà bấy giờ tôi có ý định dịch để giúp đỡ anh. Tôi càng tìm hiểu về anh, anh càng làm tôi kinh ngạc hơn về sự am hiểu huyền ảo các ngôn ngữ của anh ; dưới cái trán tròn nện chặt một cách rắn rỏi mà dưới ánh đèn điện nó cứ lóng lánh như bằng sứ, từ vựng của mọi tiếng nói tiến hành các điệu nhảy và anh sử dụng chúng một cách xuất sắc nhất. Một hôm anh hỏi tôi chuyển như thế nào sang tiếng Đức một câu khó trong Chân dung một nghệ sĩ trẻ của anh ; trước tiên chúng tôi thử đưa nó ra dưới dạng tiếng Italia và tiếng Pháp ; với mỗi từ, anh có ba hoặc bốn từ hoàn toàn sẵng sàng trong mỗi ngôn ngữ, cả những phương ngữ, và anh biết giá trị, trong lượng và đến những sắc thái nhỏ nhặt nhất của chúng. Một sự cay đắng nào đó ít khi rời bỏ anh, nhưng tôi tin là chính bản thân trạng thái hưng phấn tạo nên sức mạnh từ bên trong là anh trở nên dữ dội và sáng tạo. Nỗi oán giận của anh đối với Dublin, đối với nước Anh, đối với một số người đã mang trong anh dạng của một năng lượng sôi động và chỉ thực sự được giải phóng trong những tác phẩm thơ ca của anh. Nhưng hình như anh yêu thích sự cứng rắn của riêng mình; tôi không bao giờ thấy anh cười, tôi không bao giờ thấy anh vui thức sự. Anh luôn luôn gây cảm tưởng cảu một sức mạnh u tối cuốn mình lại ; và khi tôi thấy anh trên đường phố, cặp môi mỏng mím chặt, bước đi nhanh như có sẵn một mụch đích xác định, tôi cảm nhận còn hơn cả trong những cuôc đối thoại của chúng tôi, thái độ phòng thủ, sự cô độc bên trong của tính cách anh. Và về sau, tôi hoàn toàn không ngác nhiên là chính anh đã viết nên tác phẩm cô đơn nhất, không dính với cái gì hết, rơi xuống thời đại chúng ta như một sao băng.


Một người khác trong số những người sống kiểu lưỡng cư giữa hai quốc gia, đó là Feruccio Busoni. Italia do sinh ra và được giáo dục và Đức do sự lựa chọn lối sóng của anh. Ngay từ thời đàu tuổi thanh niên, tôi đã yêu một ngừoi kỳ tài như anh. Khi anh chơi pianô ở buổi hòa nhạc, cặp mắt anh đượm một vẻ long lanh mơ mộng kỳ ảo. Trên bàn phím, hai bàn tay anh không khó khăn làm vang lên tiếng nhạc hoàn hảo vô song, nhưng cái đầu đệp hơi ngửa ra phía sau mà tâm hồn anh rọi chiếu như đang nghe điệu nhạc bên trong. Anh như thay hình đổi dạng. Biết bao lần trong những phòng hòa nhạc, tôi đã ngắm nhìn như mê mẩn cái khuôn mặt rạng rỡ ấy, trong khi những âm thanh được bao phủ dịu dàng nhưng trong trẻo như tiếng bạc làm tôi rung động dến tận xương tủy. Ngày nay nhìn thấy lại anh thì tóc anh đã muối tiêu và mắt anh đã u tối vì tang tóc. Một hôm anh hỏi tôi: “Tổ quốc tôi là gì? Khi tôi mơ ban đêm và thức giấc, tôi biết là tôi đã nói tiếng Italia trong giấc mơ. Và sau đó khi tôi viết, tôi suy nghĩ bằng những lời Đức”. Học trò anh ở rải rác trên toàn thế giới - “và có lẽ giờ đây người này bắn người kia” - nhưng anh còn chưa bắt tay vào tác phẩm chân chính, vở nhạc kịch Tiến Fauxtơ, vì anh cảm thấy bối rối. Anh soạn một vở nhỏ và dễ, gần một màn để tự giải phóng cho mình khỏi những đám mây đang bao phủ trán anh chưa hề tan đi trong chiến tranh. Rất hiếm khi tôi còn được nghe thấy tiếng cười mãnh liệt và trang nghiêm mà tôi rất thích ở anh. Và một lần tôi gặp anh vào một giờ rất khuya của đêm trong gian phòng lớn của quầy ăn nhà ga. Anh đã uống một mình hai chai rượu. Khi tôi đi qua, anh gọi tôi. Anh lấy ngón tay chỉ vào cái chai và nói với tôi: “Khuây khỏa thôi! Đâu phải là uống. Đâu phải là uống, nhưng đôi khi phải khuây khỏa; nếu không, không thể chịu nổi. Âm nhạc không phải bao giờ cũng có thể… và công việc chỉ đến với ta vào những giờ tốt đẹp”.


Nhưng hoàn cảnh nhập nhằng đó đặc biệt nặng nề đối với những người Alsace, và nặng nề nhất trong những hoàn cảnh đó đối với những ai như René Schickele, có trái tim Pháp nhưng viết bằng tiếng Đức. Đây là vấn đề số phận của đất nước họ trong cuộc chiến tranh này và lưỡi hái đi qua đúng giữa trái tim họ. Người ta muốn kéo họ qua phải hoặc qua trái, cưỡng ép họ tự tuyên bố ủng hộ nước Đức hay nước Nga, nhưng họ ghê sợ sự cần thiết của một lựa chọn không thể được đối với họ. Như tất cả chúng ta, họ muốn một nước Đức và một nước Pháp anh em, đồng minh thay vì thù hận, và vì vậy họ đau khổ vì nước này và vì nước kia.


Và khắp nơi quanh vùng, đám đông vô định của những người chỉ dính có một nửa: những phụ nữ Anh lấy sĩ quan Đức, những bà mẹ Pháp của những nhà ngoại giao Áo, những gia đình mà một người con trai phục vụ một bên, đứa con trai thứ hai phục vụ bên kia, tại đó các bố mẹ đợi thư từ cả hai phía, tại đó một chút gì họ có ở một bên thì bị tịch thu, còn ở bên kia là tình cảnh khốn đốn. Tất cả những người bị chia lìa đó đều đến tỵ nạn ở Thụy Sĩ, để thoát khỏi những nghi ngờ theo đuổi họ ở tổ quốc cũ cũng như mới của họ. Trong nỗi lo sợ làm liên lụy đến những người này hoặc những người khác, họ tránh nói bằng một thứ tiếng nào và lướt đi như những cái bóng - những cuộc đời tan nát và bị phá hủy. Một người ở châu Âu đã sống càng như châu Âu hơn thì người đó càng bị trừng phạt nặng nề hơn bởi nắm đấm đánh châu Âu vỡ thành nhiều mảnh.


*


 


Tuy nhiên, ngày diễn vở Jérémie đã đến. Thành công khá tốt đẹp và tôi không quá lo ngại rằng tờ Nhật báo Frankfurt đã tố cáo tôi ở Đức bằng cách thuật lại rằng phái viên đặc biệt và bộ trưởng đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ cũng như những quan chức đồng minh khác đã dự. Chúng tôi cảm nhận rằng cuộc chiến tranh đã ở vào năm thứ ba, nó mất liên tục sức mạnh bên trong và sự chống lại việc kéo dài nó do độc nhất Ludendoff bắt buộc, không còn nguy hiểm như thời gian đầu của sự vinh quang đầy tội lỗi của nó. Mùa thu năm 1918 phải đưa lại sự quyết định. Nhưng tôi không muốn sống Zurich thời gian chờ đợi này. Vì đôi mắt tôi dần dần mở ra và trở nên cảm giác hơn. Trong sự hứng khởi ban đầu lúc mới đến, tôi lấy làm vui thích tìm thấy giữa những người hòa bình chủ nghĩa và chống chiến tranh này những người bạn chân chính chia sẻ những ý kiến của tôi, những chiến sĩ trung thực và kiên quyết khao khát hướng tới một liên minh châu Âu. Chẳng mấy chốc tôi thấy ngay rằng trong số những người tự cho là những người tỵ nạn và tự đặt mình thành những người hy sinh dũng cảm cho các niềm tin của mình đã len vào một vài nhân vật u tối thuộc cơ quan tình báo Đức và được trả tiền để dò xét và giám sát mọi người. Nước Thụy Sĩ yên bình và hiền minh, như mỗi người có thể biết ngay điều đó qua kinh nghiệm bản thân, đã tỏ ra bị gặm mòn bởi công việc chuột chũi của bọn mật thám ở cả hai phe. Cô hầu phòng đổ giỏ rác, cô điện thoại viên, người hầu bàn phục vụ bạn quá sát sao và không vội vàng..., tất cả đều giúp việc cho một trong những cường quốc thù địch và thường cùng một người duy nhất giúp việc cả hai bên cùng một lúc. Các hòm được mở ra một cách bí ẩn, các giấy phép được chụp lại, các bức thư biến mất trên con đường bưu điện lúc gửi đi cũng như khi vừa đến; những phụ nữ sang trọng mỉm cười với bạn một cách nằn nì ở đại sảnh của khách sạn, những người hòa bình chủ nghĩa đặc biệt nhiệt tình mà người ta không hề nghe nói tới, bất ngờ xin gặp và mời bạn ký những tuyên bố và giả dối xin người ta chuyển cho họ những địa chỉ của bạn bè “đã được thử thách”. Một “người xã hội chủ nghĩa” cung cấp cho tôi tiền thù lao cao - mà tôi ngờ ngay - về một cuộc diễn thuyết và tôi phải thực hiện cho thợ thuyền của La Chaux-de Fronds, là những người không nắm được gì về vấn đề đó. Phải luôn luôn cảnh giác. Tôi không mất nhiều thời gian để xác định một số ít những người mà người ta có thể xem là tuyệt đối chắc chắn và vì tôi không muốn để mình bị lôi cuốn vào chính trị, tôi luôn thu hẹp hơn nữa các quan hệ của mình. Mà ngay cả ở những người mà ta có thể tin cậy, tôi cũng chán sự cằn cỗi của các cuộc tranh luận không bao giờ dứt và việc thấy họ bền bỉ chia thành các nhóm cấp tiến, tự do, vô chính phủ, bolsêvich và không đảng phái. Lần đầu tiên tôi học quan sát kỹ điển hình vĩnh cửu của nhà cách mạng chuyên nghiệp. Người này, băng thái độ chống đối thuần túy, cảm thấy lớn lên trong sự vô nghĩa của mình và bám vào những giáo điều vì không tìm thấy ở bản thân mình một điểm tựa nào. Ở lại trong sự  mơ hồ lấp lửng lắm lời này, tức là rối trí, nuôi dưỡng những tình bạn không mấy chắc chắn và làm nguy hại tới sự an toàn đạo đức của những niềm tin của mình. Vì vậy, tôi rút lui. Trên thực tế, không một người trong những kẻ mưu phản ở quán rượu bình dân này không bao giờ liều tổ chức một cuộc bạo loạn và trong số tất cả những kẻ đồng lõa ngẫu nhiên này không một ai làm thứ chính trị mà người đời thực sự cần đến. Ngay khi bắt đầu công việc tích cực, việc xây dựng lại sau chiến tranh, họ vẫn để mình chìm đắm trong chủ nghĩa phủ định của những kẻ hay càu nhàu bắt bẻ, hoàn toàn như trong số những nhà thơ chống chủ nghĩa quân phiệt của thời đó, rất ít người sau chiến tranh thành công trong việc sáng tác được những tác phẩm có thực chất. Đó là thời kỳ mà trong cơn sốt họ tranh luận, làm thơ và làm chính trị và như các nhóm có được sự dính kết chỉ nhờ một chòm sao nhất thời chứ không vì một ý tưởng đã được trải nghiệm, nhóm những người lý thú và có năng khiếu đó tan rã không để lại dấu vết ngay khi cái mà họ chống lại là chiến tranh đã qua đi.


Tôi chọn một khách sạn nhỏ của Ruschlikon cách Zurich khoảng nửa giờ làm nơi thuận tiện nhất cho các ý định của mình. Từ quả đồi nơi khách sạn đứng có thể bao quát cả cái hồ và nhìn ra phía xa các tháp của thành phố. Ở đây tôi được phép chỉ gặp những người mà tôi mời đến chỗ tôi ở, những người bạn chân chính, và họ đã đến: Rolland và Masereel. Ở đây tôi có thể làm việc cho tôi và tận dụng thời gian đang trôi đi một cách khắc nghiệt. Việc Hoa Kỳ đi vào chiến tranh làm xuất hiện không thể tránh khỏi sự thất bại của nước Đức trước những người mà mắt chưa bị mù và tai chưa bị điếc bởi những trường thoại yêu nước, khi hoàng đế Đức bỗng chốc tuyên bố ngài sắp thiết lập một chính phủ “dân chủ”, chúng tôi đã biết giờ nào đang điểm. Tôi chân thành thú nhận rằng chúng tôi đây, người Áo và người Đức, dẫu cùng cộng đồng ngôn ngữ và tinh thần nóng lòng chờ đợi cái không tránh khỏi đến nhanh vì rằng nó đã trở thành cái không tránh khỏi. Và ngày mà hoàng đế Guillaume, đã thề chiến đấu đến hơi thở cuối cùng của người và ngựa, vượt biên giới và Ludendorff, đã hy sinh vì “nền hòa bình thắng lợi” nhiều triệu người, tỵ nạn ở Thụy Điển ngụy trang nhờ cặp kính xanh thì đó là niềm an ủi với chúng tôi - rằng qua cuộc chiến tranh này số phận của “chiến tranh” đã được giải quyết cho mọi thời đại và con thú đã phá hoại thế giới của chúng ta đã được khuất phục và hoặc thậm chí giết chết. Chúng tôi tin ở chương trình to lớn của Wilson; về mọi điểm nó cũng là chương trình của chúng tôi; chúng tôi trong những ngày này thấy mọc lên ở phương Đông một bình minh chưa rõ nét, trong khi Cách mạng Nga còn làm lễ đêm tân hôn với một ý thức hệ nhân văn và lý tưởng chủ nghĩa. Chúng tôi điên rồ, tôi công nhận điều đó. Nhưng chúng tôi không điên rồ một mình. Ai đã sống thời kỳ đó còn nhớ rằng các con đường của tất cả các thành phố vang dội những tiếng thét hoan hỉ đón tiếp Wilson như người cứu rỗi thế giới, rằng những người lính thù địch ôm hôn nhau, chưa bao giờ có ở châu Âu nhiều niềm tin như vậy trong những ngày hòa bình đầu tiên này. Vì cuối cùng đã có chỗ trên trái đất này cho triều đại đã từ lâu mong đợi của công bằng và hữu nghị; cuối cùng đây là giờ của châu Âu thống nhất mà chúng tôi đã mơ thấy. Địa ngục ở phía sau chúng tôi; còn ai có thể làm chúng tôi lo sợ? Một thế giới mới bắt đầu. Và vì chúng tôi còn trẻ, chúng tôi nói với nhau: nó là của chúng ta, cái thế giới mà chúng ta mơ ước, một thế giới tốt đẹp hơn, nhân đạo hơn.


 


 


TRỞ VỀ ÁO


 


Theo quan điểm của lôgic thuần túy, điều dại dột lớn nhất mà tôi có thể làm là, sau sự bại trận của quân Đức và quân Áo, trở về Áo, một nước Áo trên bản đồ châu Âu chỉ còn là một ánh hoàng hôn và là một bóng xám, vô định và không có sự sống của nền quân chủ đế chế cũ. Người Tiệp Khắc, người Ba Lan, người Italia, người Xlôvênia đã bứt đi khỏi Áo phần lãnh thổ của họ. Phần còn lại chỉ là một cái thân bị chặt cụt chân tay và đang chảy máu từ tất cả các tĩnh mạch. Trong số sáu hoặc bảy triệu mà người ta ép buộc phải tự tuyên bố là người “Áo-Đức”, chỉ một mình thủ đô đã tập hợp hai triệu người đói ăn và run lên vì rét; những nhà máy đã làm giàu đất nước đều ở phần đất nước ngoài, các đường tàu hỏa bị thu hẹp thành những đoạn thảm hại; người ta đã lấy đi vàng của nó ở nhà băng quốc gia và để đổi lại, người ta đã áp đặt gánh nặng khổng lồ của công trái chiến tranh. Các biên giới chưa được xác định vì Hội nghị hòa bình vừa mới bắt đầu công việc, chưa quy định những nghĩa vụ của mỗi người; không có bột, không có bánh mỳ, than, không còn dầu hỏa. Một cuộc cách mạng hoặc một giải pháp tai họa khác hình như không thể tránh khỏi. Theo những tiên đoán nhân đạo, nước này do những quốc gia thắng trận tạo lập một cách nhân tạo không thể sống độc lập và - tất cả các đảng phái: xã hội chủ nghĩa, tăng lữ, quốc gia cùng một tiếng nói - không muốn sống độc lập. Lần đầu tiên trong lịch sử, ít nhất là theo chỗ tôi biết xảy ra sự kiện nghịch lý là người ta ép buộc một nước nhận nền độc lập mà bản thân nước ấy từ chối một cách quyết liệt. Nước Áo mong muốn hoặc sáp nhập với các quốc gia láng giềng đã là bộ phận của nó hoặc với nước Đức có với nó một cộng đồng chủng tộc, và nó hoàn toàn không muốn trong tình trạng bị chặt cụt chân tay kéo dài một sự tồn tại nhục nhã và ăn xin. Các quốc gia láng giềng lại không muốn liên minh kinh tế với nước Áo nữa hoặc vì cho rằng nó quá nghèo hoặc vì sợ dòng Habsburg trở lại, mặt khác các nước đồng minh phản đối sự thống nhất Áo với Đức để làm nước Đức thua trận khỏi mạnh lên. Vì vậy người ta ra sắc lệnh: nước cộng hòa Áo - Đức phải tồn tại. Sự kiện độc nhất trong lịch sử: với một nước không muốn tồn tại, người ta ra lệnh: “Mày phải tồn tại!”.


Tôi không còn giải thích được rõ ràng cho mình những lý do khiến tôi quyết định tự nguyện trở lại nơi đó, trong khi những tai họa tồi tệ nhất giáng xuống nước này. Song xét cho cùng, chúng tôi người của thời kỳ trước chiến tranh chúng tôi được giáo dục một tình cảm nghĩa vụ mạnh hơn những người nối tiếp chúng tôi; người ta tin chắc rằng vào thời điểm khốn quẫn cùng cực người ta hơn bao giờ hết thuộc về tổ quốc mình, gia đình mình. Hình như tôi sẽ hơi hèn nhát né tránh một cách thuận tiện thảm cảnh đang sửa soạn ở nơi đó vì chính là với tư cách tác giả của Jérémie, tôi ý thức được trách nhiệm của mình: tôi phải bằng ngôn ngữ giúp vượt qua thảm họa. Trong khi tôi là thừa trong chiến tranh, dường như sau thất bại, chỗ đứng của tôi chính là ở nơi đó, vì lẽ rằng do sự phản đối của tôi về việc kéo dài chiến tranh, tôi có được một ảnh hưởng tinh thần nào đó, nhất là trong thanh niên. Và dẫu cho người ta không có sức làm gì cả cũng còn sự hài lòng được góp phần mình vào những nỗi đau chung mà người ta đã tiên báo.


Một chuyến đi về Áo lúc đó đòi hỏi những sự chuẩn bị như cho một đoàn thám hiểm địa cực. Phải có quần áo ấm và những thứ bằng len vì người ta biết bên kia biên giới không còn có than - và mùa đong sắp gõ cửa. Người ta thuê đắp lại đế giày vì ở nơi đó chỉ có những đế gỗ. Người ta mang theo sôcôla và số thực phẩm nhiều nhất được phép đưa ra khỏi Thụy Sĩ để khỏi chết đói trước khi được cấp những phiếu mua bánh mỳ và mua mỡ đầu tiên. Người ta gửi bảo đảm hành lý của mình vì phần lớn các toa đen chở hành lý đều bị cướp, mà mỗi chiếc giày da, mỗi tấm áo quần đều không thể thay thế; chỉ có mười năm sau, khi đi một chuyến sang Nga tôi mới có sự chuẩn bị kỹ càng như vậy. Tôi ngừng lại lưỡng lự trong chốc lát ở nhà ga biên giới Buchs, nơi tôi đã đến cách đây hơn một năm tràn đầy hạnh phúc; và tôi tự hỏi có tốt hơn không quay trở lại vào giờ chót. Đó là, tôi cảm nhận rất rõ điều ấy, một giây phút quyết định của đời tôi. Cuối cùng tôi chọn phần khó khăn nhât. Tôi lại lên tàu.


*


 


Khi tôi đến nhà ga biên giới Thụy Sĩ một năm trước đây, tôi đã sống một phút hứng khởi. Bây giờ trên đường trở về, một lúc khác, cũng hoàn toàn không thể nào quên, đợi tôi ở ga Áo Feldkirck. Khi vừa buống xuống khỏi tàu, tôi đã nhận xét thấy trong đám hải quan và cảnh sát một sự náo động khác thường. Họ không chú ý đặc biệt đến chúng tôi và giải quyết một cách khá cẩu thả việc khám hành lý; rõ ràng là họ chờ đợi một cái gì đó quan trọng hơn. Cuối cùng vang lên tiếng chuông báo hiệu có chuyến tàu từ phía Áo đến đang tới gần. Các cảnh sát dàn hàng, tất cả nhân viên vội vã ra khỏi cabin; các bà vợ của họ được báo trước chen lấn trên sân ga, trong số những người đứng đợi, một bà già mặc đồ đen với hai cô con gái làm tôi đặc biệt sửng sốt. Tư thế và cách ăn mặc của bà cho biết bà là một nhà quý tộc. Bà xúc động rõ rệt và dùng khăn tay thường xuyên lau mặt.


Con tàu tiến dần dần, tôi có thể nói là khá trang nghiêm, một chiếc tàu loại đặc biệt, không phải là những toa thường, dùng đã gần hỏng và mưa đã làm phai màu sơn, mà những toa rộng và đen, một chuyến tàu xa lông. Đầu máy dừng lại, một sự chuyển động có thể nhận thấy xảy ra trong các hàng người đứng đợi, tôi không biết tại sao. Lúc đó tôi nhận ra cái gương soi của toa tàu vóc người cao và thẳng đứng của hoàng đế Charles, hoàng đế cuối cùng của nước Áo và phu nhân của ngài mặc đồ đen, hoàng hậu Zita. Tôi giật mình: vị hoàng đế cuối cùng của nước Áo, người kế vị của triều đại Habsburg đã trị vì đất nước bảy năm, đang từ giã đế chế của mình! Mặc dù ngài chối một sự thoái vị đúng thủ tục, nước cộng hòa đã thuận để ngài ra đi với tất cả những vinh dự hoặc đúng hơn nó đã áp đặt mọi thứ đó cho ngài. Lúc này con người lớn lao và trang nghiêm đó đứng ở cửa sổ và nhìn thấy lần cuối cùng núi non, nhà cửa, con người của đất nước mình. Đây là giây phút lịch sử mà tôi được sống qua, và bội phần xúc động cho một con người được nuôi nấng trong truyền thống của đế chế, mà bài hát đầu tiên người ấy đã tập là bài hát ca tụng hoàng đế, về sau, trong quân dịch, đã thề với con người mặc đồ dân sự đang nhìn ra phía trước, trang nghiêm và đầy suy ngẫm: “Tuân lệnh trên đất, trên biển và trong không trung”. Tôi rất thường được thấy vị hoàng đế già trong vẻ huy hoàng đã trở thành truyền thuyết của những lễ hội lớn, tôi đã thấy ngài trên bệ lớn Schönbrunor, được gia đình và các vị tướng mặc quân phục rực rỡ vây quanh khi ngài nhận sự bày tỏ lòng tôn kính của tám mươi ngàn trẻ em các trường học ở Vienne, số này xếp hàng trên bãi cỏ lớn tươi xanh hát với cái giọng lanh lảnh một hợp xướng cảm động khúc “Chùa trời che chở” của Haydn. Tôi đã trông thấy ngài trong các cuộc khiêu vũ của triều đình, tôi đã thấy ngài mặc đồng phục trong các lần biểu diễn của nhà hát Paré, hoặc nữa ở Ischl, đội mũ xanh của người xứ Styrie( ) và đi săn; tôi đã trông thấy ngài cái đầu nghiêng nghiêng cung kính tiến đến nhà thờ Saint Etienne trong cuộc rước của lễ thánh thể, - và vào một ngày đông sương mù và ẩm ướt, tôi đã trông thấy cái nhà táng mà lúc đó đang giữa chiến cuộc, người ta hạ ngài xuống hầm mộ Capucins và đặt ngài yên nghỉ giấc ngàn thu ở đó. “Hoàng đế” từ đó đối với chúng tôi hội tụ tất cả quyền uy, tất cả sự giàu có, nó là biểu tượng của sự tồn tại dài lâu của nước Áo và từ bé người ta đã học đọc hai âm tiết đó với tất cả sự tôn trọng. Và lúc này tôi nhìn thấy người kế vị của ngài, vị hoàng đế cuối cùng của nước Áo từ biệt đất nước trong thân phận người đi đày biệt xứ. Cái dòng dõi Habsburg vinh quang, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, truyền cho nhau quả cầu và vương miện, kết thúc ở giây phút này đây. Tất cả những người vây quanh chúng tôi cảm nhận lịch sử, lịch sử nhân loại trong quang cảnh bi thảm này. Sen đầm, cảnh sát, binh lính trông có vẻ bối rối và hơi quay đi, hổ thẹn vì không biết có còn được phép thực hiện những nghi lễ danh dự cũ không; các phụ nữ không dám thẳng thắn ngẩng lên nhìn, không ai nói một tiếng và vì vậy người ta bỗng nghe tiếng khóc nhẹ nhàng của người đàn bà già mặc đồ tang đã đến có Trời mà biết được từ đâu để nhìn lần cuối cùng đức hoàng đế “của bà”. Cuối cùng, trưởng tàu ra hiệu lệnh. Mọi người bất giác giật mình, giây phút định mệnh đã điểm. Đầu máy bắt đầu kéo với một chuyển động mạnh, dường như nó cũng phải tự kiềm chế. Con tàu chầm chậm đi xa. Các công chức đưa mắt cung kính nhìn theo. Rồi họ đi vào phòng làm việc với một sự bối rối chỉ quan sát thấy trong các đám ma. Chỉ vào lúc đó, nền quân chủ kéo dài gần một ngàn năm mới thực sự kết thúc. Tôi biết là tôi trở về trong một nước Áo khác, trong một thế giới khác.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »