tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30211059
Tiểu thuyết
16.05.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


5


Seo Mỉ gặp lại người bạn đường. Người mà chị đã mang


giúp chiếc ba lô phủ đầy bụi cát. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở một


nơi đáng ghi nhớ và xúc động: Cuộc họp chi bộ xã tối hôm


xưa. Đồng chí Nguyễn Văn Cối! Tên anh mộc mạc, như con


người anh.


Qua bí thư chi bộ, Mã A Dếnh, Seo Mỉ được biết quãng


đời quá khứ của Cối. Anh sinh ra, lớn lên ở một vùng đồng


chua nước mặn miền xuôi. Tuổi trẻ của anh trôi đi, hiền hòa


như dòng kênh, mương vắt trên cánh đồng làng. Không có


gì đáng chú ý. Có chăng ở chỗ anh ham đọc truyện miền núi.


Đọc đến những chỗ miêu tả những em đã đến tuổi thiếu niên


mà vẫn chưa có "chữ Cụ Hồ trong bụng", anh bùi ngùi. Và


anh tự coi mình có một phần trách nhiệm trong việc này. Bởi


vậy, khi đi học trường trung cấp sư phạm, anh đã trình bày


nguyện vọng đi dạy trên miền núi, cụ thể ở vùng cao. Sau


khi ra trường, anh toại nguyện. Anh đã dạy chữ phổ thông ở


nhiều xã trong huyện Mường Khương. Bây giờ đến xã Pha


Long. Không ồn ào, nhộn nhịp, năm, tháng và cuộc sống của


thầy giáo trẻ qua đi trên mảnh đất suốt ngày đêm mây phủ.


Chiếc ba lô anh đem theo, đã phai màu. Đôi dép lốp dày cộp


đã nhiều lần thay quai. Nhưng tấm lòng của anh đối với


đám trẻ ngơ ngác trước trang giấy trắng, vẫn nguyên vẹn.


Sau khi đi thăm hỏi các đồng chí trong chi bộ, tối hôm


nay Cối đến đây - nhà đồng chí Seo Mỉ. Anh ăn mặc như


chiều hôm nào, lúc gặp Seo Mỉ giữa đường. Chỉ có cái khác


là chiếc mũ lá đã được thay bằng chiếc mũ "biên phòng".


Nom anh càng chững chạc. Anh lễ phép chào hỏi bà


Thào Xóa và đặt vào bàn tay bà gói bánh làm quà. Của ít,


lòng nhiều. Hiểu lòng anh giáo trẻ, tay bà Thào Xóa run lên


vì cảm động.


Cối đi lại ngồi xuống trước mặt Seo Mỉ, bên bếp lửa. Lần


đầu tiên ngồi gần anh thanh niên chưa thân quen, Seo Mỉ


không khỏi bối rối. Khách đến nhà, chủ phải trò chuyện. Nói


chuyện gì bây giờ? Cũng may, chị chợt nhớ đến chiếc ba lô.


- Ba lô của anh giáo đựng cái gì mà nặng thế? - Seo Mỉ


liền hỏi.


- Chỉ có một bộ quần áo, ít đồ dùng lặt vặt còn thì toàn


là sách học của tôi với mấy chục quyển vở tôi mua ở


Mường Khương, đem về đây làm quà cho các em học sinh.


Sách vở thường nặng chị ạ.


Bất giác Seo Mỉ cảm động:


- Thế mà anh giáo đã đeo nó từ Cao Sơn về đây. Nó còn


nặng hơn cái lù cở gùi lúa, bắp của người Mèo chúng tôi


ngày mùa dưới nương về đấy.


Giọng nói của Cối vẫn thế, không mảy may kiểu cách:


- Hồi tôi còn đi học, ngày nghỉ tôi thường làm những


việc nặng giúp gia đình. Dần dần, quen đi, tôi không thấy


mệt nữa. Có thế các đồng chí bộ đội Trường Sơn mới đeo nổi


ba, bốn chục cân trên lưng, hành quân suốt đêm. Còn chị


Tuyển, dân quân ở Hàm Rồng, Thanh Hóa thì vác hai hòm


đạn nặng chín mươi bảy cân, tiếp đạn cho bộ đội bắn máy


bay Mỹ đến đánh phá cầu. Sau trận chiến thắng ấy, có


những nhà báo nước ngoài không tin chị Tuyển nặng độ bốn


mươi cân lại có thể vác hai hòm đạn nặng bấy nhiêu. Theo


họ, con người không vác được một trọng lượng quá hai lần


trọng lượng của bản thân mình. Chị làm lại động tác đó cho


họ xem. Lúc bấy giờ họ mới hiểu kiến thức của họ chỉ dựa


vào sách vở mà không có thực tế.


Dáng điệu, lời nói của Cối khiến Seo Mỉ cảm giác


nghiêm trang. Chị hỏi sang chuyện mà chị quan tâm:


- Trường học xã ta hãy còn ít học sinh phải không


anh giáo?


- Cả xã mới có chín, mười em đi học, như thế là ít. Hiện


nay, các trường ở trên núi cao, không cần có "cái chữ trong


bụng", mà phải có cái tay phát nương giỏi, vỡ ruộng cho


khỏe mới sống được. Cứ như thế, các dân tộc miền núi ta đời


nọ nối tiếp đời kia, sống tăm tối dưới sự đàn áp, bóc lột của


thực dân phong kiến. Bây giờ có Đảng, Chính phủ rồi nhưng


nhiều người vẫn chưa gột rửa được tư tưởng yên phận, tự ti


đã thành nếp trong đầu từ bao đời nay. Các thầy giáo, cô


giáo ta thì một số chưa thật kiên trì, nhẫn nại vận động các


gia đình cho con em đi học, chưa gây cho các em lòng tự tin,


chưa làm cho các em thấy hứng thú trong việc học hành.


- Bây giờ ta làm cách nào để trường học đông vui? Tôi


có thể đóng góp được cái gì trong việc này không?


Cối bỗng sôi nổi lên:


- Việc này tôi đã trao đổi với đồng chí A Dếnh. Tôi thấy


không có cách nào khác là phải kiên trì, nhẫn nại giải thích,


vận động tất cả các gia đình có con em ở trong xã. Đường lối,


chính sách của Đảng có rồi, ta chỉ có việc chấp hành cho


nghiêm chỉnh. Về phần tôi, tôi xin làm hết sức mình. Nhưng


chi bộ, ủy ban xã cần phối hợp với nhà trường, việc đó mới


có kết quả tốt được. Còn chị, chị vừa là chủ nhiệm hợp tác xã


vừa là đảng viên nữ duy nhất trong chi bộ, chị có nhiều điều


kiện đóng góp vào việc này, chỉ cần chị hết sức quan tâm.


Tục ngữ của người Kinh chúng tôi có câu: “Một cây làm


chẳng nên non; Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Đúng thế,


Seo Mỉ ạ.


Cũng như mọi tối, bà Thào Xoa ngồi chỗ ấy, xé lanh,


guồng lanh. Chợt bà hỏi với sang:


- Thầy giáo có vợ chưa?


Câu hỏi ngay thật bất ngờ làm cho Cối lúng túng. Anh


đưa tay sửa chiếc mũ "biên phòng" mặc dù nó đã ngay ngắn.


Seo Mỉ đỡ lời anh:


- Thầy giáo chưa có vợ con đâu bà à.


- Thầy giáo muốn lấy vợ Pha Long không? Con gái Pha


Long nhiều đứa đẹp như hoa đào nở Khe Lũng, đẹp đấy.


Seo Mỉ vội nói bằng tiếng dân tộc:


- Bà đừng nói nữa, thầy giáo xấu hổ.


Dường như Seo Mỉ cũng cảm thấy e thẹn. Gò má chị ửng


đỏ. Không chú ý, Cối trở lại câu chuyện vừa bị cắt ngang:


- Từ ngày ở trường về đây, chị có học bổ túc văn


hóa không?


- Tôi với mấy người nữa ở xã này muốn học bổ túc cấp


hai mà không ai dạy. Những lúc rỗi, tôi chỉ đọc sách về


nông nghiệp.


- Sao các chị không nói với chị Thoa? Chị ấy giảng dạy


tốt đấy.


- Cô giáo Thoa rất nhiệt tình nhưng không được khỏe,


lại bận con cái nên chúng tôi không dám đặt vấn đề.


Cối nhíu mày suy nghĩ. Giây phút sau, anh nói:


- Tôi có một thân một mình, ngoài những lúc làm việc


cho trường lớp, tôi còn thời giờ. Tôi sẽ báo cáo việc này với


chi bộ, ủy ban. Nếu đoàn thể, chính quyền xã đồng ý, tôi sẽ


tổ chức một lớp bổ túc văn hóa mỗi tuần dạy mấy buổi vào


ban tối để các anh các chị có thể đến học được. Trong lúc hợp


tác xã tiến lên sản xuất lớn, cán bộ cũng như xã viên cần có


văn hóa để tiếp thu và sử dụng khoa học kỹ thuật.


Niềm vui của Seo Mỉ đã bộc lộ trên đôi mắt đen mượt,


đuôi dài như cánh chim én. Chị nói, mắt chớp chớp:


- Tốt quá! Được như thế, tốt quá anh giáo à.


Từ nãy tới giờ, câu chuyện giữa hai người nghiêm


chỉnh, có phần khô khan. Vậy mà Seo Mỉ vẫn thấy niềm vui


xốn xang trong lòng mình. Có lẽ chị nhớ lại thời gian đi học.


Bạn bè, các thầy, các cô... Không khí trong trường lớp, ngôi


nhà tập thể đầm ấm làm sao! Tình cảm đẹp đẽ ấy, lúc này chị


dành cho anh giáo trẻ ngồi trước mặt mình.


Bỗng Cối choàng người:


- Thôi, xin phép chị, tôi đi về để chị đi họp. Hình như tối


hôm nay chị có cuộc họp với bà con xã viên?


Seo Mỉ như thể mơ mơ màng màng:


- Vâng, tối hôm nay tôi có cuộc họp nhưng hãy còn sớm.


Ở miền núi, thường họp muộn. Các ông già phải hút thuốc,


uống nước, các bà già tranh thủ dệt một vài suốt rồi mới


đi họp.


Cối lễ phép chào bà Thào Xóa, đoạn quay ra. Seo Mỉ tiễn


anh ra đầu ngõ. Dưới ánh trăng, bất chợt chị trông thấy một


bóng người vừa lướt qua. Ai như A Lử. Đúng A Lử. Hắn


tình cờ đi qua đây hay đến rình mò? Không rõ. Chỉ biết cái


bóng dáng lấm lét ấy đã làm nỗi vui của Seo Mỉ lắng xuống.


Chị lẳng lặng đi vào nhà.


*


Cái mõ làm bằng gộc bương, ồm ồm gióng lên một lần


nữa. Lần thứ ba, trăng đã thắp sáng. Bấy giờ các xã viên mới


từ các ngả lục tục đổ về trụ sở hợp tác xã.


Seo Mỉ đã đến đây một lúc lâu. Cuộc họp tối hôm nay


nhằm giải quyết vấn đề tập trung nương của toàn thể xã viên


vào hợp tác xã. Sau khi đến nhà Sùng Chí, chị đã đi thăm dò


ý kiến một số gia đình nữa. Người tán thành ngay, người còn


đắn đo nhưng không phản đối. Nhìn chung, công việc thuận


chiều. Tuy nhiên, mỗi khi nhớ đến những lời căn dặn của chị


phó bí thư Huyện ủy, sự nhận xét của A Dếnh, Seo Mỉ lại


băn khoăn. Pha Long chưa hẳn là đất lành. Trên lối mòn


chưa sạch cỏ trư xa... Chị ngồi im lặng. Cuốn sổ gài cây bút


máy, ấp trong bàn tay chị, đã ấm hơi tay. Thế rồi cuộc họp


bắt đầu.


Sau khi báo cáo chương trình, Seo Mỉ đi ngay vào vấn


đề trọng tâm của cuộc họp. Chị phân tích mọi mặt sự lợi ích,


sự cần thiết của việc tập trung nương trong khi hợp tác xã tổ


chức lại sản xuất. Chị dựng lên cái viễn cảnh ở bản Lù Chải


sau khi đi vào sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Một viễn cảnh


tươi đẹp chưa từng có ở cái bản cheo leo trên núi cao. Dường


như trước mặt chị đã hiện lên những ngôi nhà sáng sủa,


những bộ quần áo ấm, những bữa ăn ngon... Chị nói say mê.


Hơi ấm trong ba gian nhà om khói thuốc, hơi người khiến


chị nóng bừng. Giọng chị càng thiết tha. Ai nấy đều lắng


nghe. Họ hiểu đấy không phải là lời nói của người con gái


bản Mèo mà là lời nói tin yêu của Đảng. Nhưng căn nhà họp


đã có tiếng lào xào. Hình như có những người muốn phát


biểu ý kiến. Seo Mỉ ngừng lại. Chị bỗng thấy phấp phỏng.


Những giọt mồ hôi đã se lạnh trên mặt chị, khắc sâu cảm


giác đó. Chị hồi hộp.


Ai vừa lên tiếng? Ông hố pẩu họ Ma. Cách nói của ông


khác nhiều người trong bản. Ông hay nói văn hoa chữ nghĩa.


Được một cái, bụng nghĩ thế nào, miệng ông nói như thế, rất


thành thật, nên mọi người đều muốn nghe. Hãy nghe ông


trưởng họ nói:


- Ngày trước, người Mèo ta khổ hay sướng? Tôi nói, có


người già ngồi đây biết, người khổ nhiều như cây rừng còn


người sướng ít như cây đào, cây lê đứng ở góc vườn. Người


có ít nương, nương gầy, phải khổ. Còn người có nương mới,


nương rộng sao cũng khổ? Vì Tây đồn, quan châu, phỉ cướp


mất lúa, bắp. Tôi chưa quên cái năm ông trời làm hỏng lúa,


bắp để các bản ở vùng này phải đói. Đã đói lại còn nhiều


người chết, không mú cống đến, không tắc khuôi lê(1)


.


Tây đồn, quan châu lên tỉnh xin lúa, bắp để về phát chẩn


ở phố Pha Long. Ai được phát? Nhà nào có con gái đẹp được


phát nhiều. Nhà nào có con gái xấu được phát ít. Nhà nào


không có con gái, không được phát, còn bao nhiêu Tây đồn,


quan châu, ông đội, thầy cai chia nhau ăn hết. Có nhiều


người già chỉ tay lên trời, than: "Ông trời lòng độc ác! Ta đã


nghèo lại không cho ta một đứa con gái!". Tôi cũng chưa


__


(1) Tiễn biệt người qua đời - bài hát của thầy cúng ở những nhà


có người chết.


quên cái năm cách đây mấy mùa lúa, ông trời lại làm hỏng


lúa, bắp ở vùng này. Một hôm, tôi đang đi về xã Thảy Giàng


Sáng thì thấy một người phóng ngựa chạy đến. Tôi nhìn mãi


mới nhận ra ông chủ tịch huyện. Quần áo, mặt mũi ông đầy


bụi, hai con mắt sâu như hai hốc đá. Con ngựa thì mồ hôi


ướt lông. Tôi hỏi ông đi đâu, ông nói không kịp thở: "Tôi đi


cứu đói. Đảng ra lệnh không được để người nào trong huyện


chết đói. Để một người chết đói thì "mất đầu" với Đảng". Nói


xong, ông phóng ngựa chạy đi. Có người già, người trẻ ở đây


biết, năm ấy không một ai chết đói. Cũng không có người già


nào phải chỉ tay lên trời, oán ông trời lòng độc ác. Còn ông


chủ tịch huyện, ông không "mất đầu" mà còn được Đảng


khen. Bây giờ đưa nương vào hợp tác xã, ta có sợ đói không?


Có lý của Đảng rồi, ta không sợ đói. Lý của Đảng đúng lắm!


Ông trưởng họ Ma vừa dứt lời, ông Chín Sàng nói ngay:


- Tôi nghĩ giống hố pẩu tôi. Tôi đưa nương vào hợp tác


xã đấy.


Nhiều con mắt dồn về phía ông Chín Sàng. Ý kiến ông


chính là ý kiến hố pẩu. Biết thế, nhưng người ta vẫn tán


thưởng cử chỉ của ông. Ông lấy điếu hút thuốc. Sau những


đêm suy nghĩ đến dằn vặt, có lẽ lúc này lòng ông thảnh thơi.


Ông rít điếu thuốc một cách ngon lành.


Đến lượt ai phát biểu ý kiến đây? Ông Lý A Sáng. Ông


nói, nét mặt chưa hết đăm chiêu:


- Tôi có mảnh nương rộng, dân bản không ai có nương


rộng bằng. Ở đất Pha Long, đất không ba thước bằng, ngày


không ba ngày nắng, phát được mảnh nương như thế khó


quá. Cái tay người già lại không còn giỏi nữa. Vì thế, tôi


không muốn đưa nương vào hợp tác xã. Không ngờ con tôi


nó viết thư về. Nó còn ít tuổi mà nó nói lời tốt quá. Tôi nghĩ


suốt một đêm, con mắt không ngủ. - Ông quay sang con dâu.


- Con đọc thư chồng con cho dân bản cùng nghe!


Vàng lấy bức thư ra đọc thong thả. Lời lẽ của chồng chị


có lý có tình nên có sức thuyết phục như bố chồng chị nói,


thêm vào đấy, giọng bồi hồi cảm động của chị. Mọi người


đều chăm chú nghe. Nhất là ông A Sáng, ông nghe với niềm


tự hào ánh lên nét mặt. Khi con dâu đọc xong, ông nói tiếp:


- Tôi nhớ mãi chỗ thằng con tôi nó nhắc lại câu nói của


người già: Người Mèo ở nhà người Mèo ra, bụng không đói.


Đúng quá! Người Mèo ta khổ nhiều rồi nên biết thương


nhau, đùm bọc nhau. Nếu ai giỏi tay phát được nương rộng,


người ấy no, còn ai yếu tay, phát nương nhỏ, người ấy đói


thì không phải là người Mèo nữa rồi. Bây giờ ta tập trung


nương lại, cùng làm cùng ăn, như thế mới đúng cái lý của


Đảng, cái lý người Mèo. Con tôi nói lời tốt lắm.


Bí thư chi bộ A Dếnh chăm chú theo dõi cuộc họp. Sợ có


người hiểu lầm ý ông A Sáng, anh xen vào:


- Không phải người Mèo chỉ nghĩ đến người Mèo mà


còn nghĩ đến người dân tộc khác. Sách kể lại, dân tộc Mèo


luôn luôn kề vai sát cánh với các dân tộc anh em, đấu tranh


cho độc lập, tự do của đất nước. Thời Pháp thuộc, ông Sùng


Mí Chang ở Đồng Văn, ông Giàng Tả Chay ở Tây Bắc vũ


trang khởi nghĩa. Từ khi có Đảng, dân tộc Mèo cũng như các


dân tộc khác trong nước một lòng theo Đảng, Bác Hồ. Trong


kháng chiến chống Pháp, vùng dân tộc Mèo có những khu


du kích nổi tiếng: Long Hẹ, Cao Phạ, Pù Nhung. Khi giặc Mỹ


xâm lược nước ta, người già bảo con cháu: "Khi hổ đói vào


bản, con trai Mèo không được để chùng dây nỏ... ". Nhiều


con trai Mèo đã đi bộ đội chống Mỹ cứu nước. Các anh hùng


quân đội Sùng Phá Sình, Giàng Pà, Mùa A Páo là người Mèo.


Dũng sĩ diệt Mỹ Giàng Mí Vủ là người Mèo. Người Mèo ta


thế đấy.


Ông A Sáng nói tiếp:


- Bụng người trẻ nghĩ sáng hơn bụng người già. Ta phải


theo nó thôi. Tôi xin đưa nương vào hợp tác xã.


Ông Lý A Sáng, ông Ma Chín Sàng bỗng trở thành


những con chim đầu đàn. Khi chim đầu đàn đã cất cánh, bầy


chim vỗ cánh bay theo. Không ai có ý kiến gì nữa. Nhưng rồi


Sùng Chí giơ tay, xin phát biểu.


- Chủ trương của hợp tác xã đúng lắm. Phải tập trung


nương lại, tập trung tất cả ruộng nương của xã viên lại, áp


dụng khoa học kỹ thuật, hợp tác xã mới chóng thành nông


trang được. - Sùng Chí nói ngắn gọn mà hào hứng.


Có tiếng một người nào đấy hỏi:


- Nông trang là thế nào anh Sùng Chí?


- Nông trang ấy à? Dà! Nói không hết được, phải xem


phim mới biết. Nông trang viên có nhà đẹp, có vườn lê, táo,


có máy nước, có xe máy... Dà! Sướng lắm!


Im lặng, Seo Mỉ đứng bên chiếc bàn kê ở góc nhà. Chị


chăm chú nghe các câu nói, sự diễn biến trên nét mặt của


người phát biểu. Trống ngực chị lúc nhanh lúc chậm, nhịp


theo không khí cuộc họp. Cái việc đưa ra giải quyết tối nay


là cuộc xung đột giữa quyền lợi tập thể và quyền lợi cá nhân.


Nếu như nó không gay go, ngược lại, nó không thể dễ dàng.


Ngờ đâu nó lại xuôi chiều đến thế. Nỗi vui mừng pha lẫn sự


ngạc nhiên xâm chiếm lấy chị. Khi các cánh tay đã nhất loạt


giơ lên tán thành chủ trương của hợp tác xã, chị mới thật


yên tâm.


Bây giờ đến việc đưa nước về bản. Đây là một việc thay


đổi cả một tập quán đã cắm rễ vào đời sống người Mèo. Y


như món mèn mén bùi ngọt, khí trời thanh nhẹ đã nuôi con


người trên núi cao từ bao đời nay. Khác đấy. Dù sao nói vẫn


không khó bằng việc tập trung nương. Việc nọ còn làm được


huống hồ việc này. Vả lại, nó đã không va chạm quyền lợi


của một ai mà còn đem lại lợi ích cho mọi gia đình. Nghĩ


vậy, Seo Mỉ vững tâm. Chị diễn tả cái cảnh người phụ nữ


Mèo đi lấy nước ở con suối xa. Đường tối, gió lạnh, sương


rắc ướt vai áo. Mỗi thuồng nước là một thuồng khó nhọc. Làm


thế nào để chấm dứt tình trạng ấy? Phải có dòng nước lần.


Chỉ có dòng nước lần mới cất nổi gánh truyền kiếp đè nặng


trên lưng người phụ nữ Mèo. Sau đấy, chị trình bày cách đưa


nước về bản. Chị nói rõ sự giúp đỡ của Huyện ủy, ty Thủy


lợi, phần đóng góp của các xã viên. Hình ảnh dòng nước


trắng xóa từ sợi rêu con suối xa tuôn ra giữa bản, khiến chị


phấn khởi. Chị đang say sưa nói đến cảnh quay lưng đi,


ngoảnh mặt lại đã có thuồng nước cõng về nhà, thình lình có


một ông già vừa hắng giọng vừa đưa tay ra trước mặt xua


xua. Ông cụ muốn nói đấy.


Ai thế? Seo Mỉ im bặt, định thần nhìn. Ông Vàng Mí


Cháng! Bất giác Seo Mỉ nhíu mày. Ông Mí Cháng nặng đầu


óc mê tín dị đoan nhất bản Lù Chải. Chung quanh ông, chỗ


nào cũng có "cái ma". "Cái ma" ngự trị trong con người ông,


khủng khiếp như thằng tây đồn râu xồm, thằng quan châu


mặt nhẵn bóng ngày xưa. Trong nhà có người ốm, ông đón


mú cống về cúng "cái ma", giải bệnh. Gia đình gặp vận hạn,


ông nhờ mú cống gieo quẻ, bói. Ngày giỗ, ngày Tết, ông cắm


hương la liệt trong nhà, ngoài tàu ngựa, chuồng trâu. Được


"ngày tốt, giờ tốt" ông mới xách lồng chim họa mi đi chơi


chợ. Cuộc đời ông, "cái ma" là tất cả.


Chắc ông Mí Cháng lại nói đến "cái ma". Không, ông cụ


chỉ hỏi:


- Dân bản không muốn uống nước suối Pha Long nữa à?


- Nước đưa về bản chính là nước suối Pha Long, không


phải là nước mưa ở hốc đá hay nước sông La Hờ đâu, ông à.


Ông Mí Cháng lắc đầu, rung cả chiếc mũ quả dưa:


- Không phải nước suối. Phải đem cái thuồng ra suối, lấy


nước địu về mới là nước suối. Từ khi lập bản, dân bản Lù


Chải chỉ ăn mèn mén trồng trên đất Pha Long, uống nước


suối chảy trên đất Pha Long mà sống được đến bây giờ. Con


sóc ăn quả xá, không nhớ cây xá. Người Mèo uống nước suối


không quên con suối, - ông cụ buông tiếng thở dài. - Người


trẻ muốn quên con suối rồi.


Có tiếng một cô gái trả lời thay Seo Mỉ:


- Chúng cháu không quên con suối đã nuôi mình khôn


lớn đâu. Dù có đưa được nước về bản, nước ấy vẫn là nước


suối Pha Long. Nếu ông còn chưa tin, bao giờ có ống dẫn


nước về đây, cháu sẽ ra suối lấy một thuồng nước về để ông


so với nước trong ống. Cháu chắc ông sẽ thấy hai thứ nước


chỉ là một, nước suối Pha Long cả thôi.


Ông cụ đổi giọng, nghe gằn gằn:


- Nương có "cái ma" nương, suối có "cái ma" suối. Cái


ma suối không chui vào ống mà về đây đâu. Nước suối


không có cái ma suối, là nước suối được à? Chết khát thì


chịu, ta không uống nước trong ống.


Đến tiếng một anh thanh niên vừa cười vừa nói:


- Ông à! Không có ma nương, ma suối, ma cột nhà, ma


chuồng trâu cả đâu. Chỉ có "cái ma" tàu bay thằng Mỹ thì tên


lửa bộ đội bắn tan xác nó rồi. Thế là hết "cái ma".


- Mày nói chín phương tám hướng(1), ta nghe không lọt


tai. Không có cái ma, mày lớn được bấy nhiêu rồi à?


- Cháu lớn nhờ mèn mén của bố, nước suối của mẹ, muối


của Đảng chứ không phải nhờ "cái ma".


Ông Mí Cháng gườm gườm nhìn anh thanh niên


"càn rỡ":


- Mày bảo không có cái mà à? Đảng, Chính phủ phải còn


thả bao nhiêu "cái ma" ra phố Pha Long đấy.


Câu nói của ông Mí Cháng phút chốc làm mọi người


kinh ngạc. Sao ông ta dám ăn nói bậy bạ như vậy? Họ kinh


ngạc và phẫn nộ. Nhất là A Dếnh, anh nghiêm mặt:


- Đảng, Chính phủ thả "cái ma" như thế nào, ông nói rõ


ra đi!


Dường như mỗi khi nhắc đến, ông Mí Cháng lại chờn


chợn. Ông nói, giọng lẫn vào hơi thở:


- Năm ngoái, một lần tôi đi chơi chợ Pha Long rồi ở lại


đấy. Tối được một lúc, tôi thấy có nhiều người đi ra chỗ cái


bãi ở gần chợ. Tôi theo ra, thấy có cái lửa gì sáng lắm, sáng


___


(1) Nói ba hoa, không đâu vào đâu.


hơn đèn pin. Tôi nhìn lên, thấy nhiều người hiện ra. Người


Kinh, người Tày, có cả ông Tây râu che gần hết mặt cứ hiện


ra rồi biến đi. Tôi không hiểu ra sao, mới vòng ra đằng sau


xem họ biến đi đâu. Thì ra họ không phải là người như ta,


mà chỉ có bóng thôi. Bấy giờ tôi mới biết là cái ma. Tôi run


quá, chạy ngay về nhà người quen, cả đêm hôm ấy, con mắt


không dám ngủ. Sáng sớm hôm sau, bằng lúc đàn bà con gái


bản ta đi lấy nước, tôi chạy về đây. Từ phiên ấy đến giờ, tôi


không đi chợ Pha Long nữa. - Ông Mí Cháng hạ giọng. - Cái


ma còn quanh quẩn ở phố Pha Long. Tối hôm ấy, Đảng,


Chính phủ thả nhiều cái ma lắm mà.


Tiếng cười rộ lên trong căn nhà họp. Ông Mí Cháng ngơ


ngác. Thật tình ông không hiểu tại sao đám người trẻ lại


cười. Ông thì còn sợ những "cái ma" đêm hôm ấy nhiều lắm.


Thân hình nhỏ nhắn của ông bỗng như thu lại, lọt vào đám


đông. Tiếng cười vừa ngớt, anh bí thư chi bộ liền ôn tồn


giải thích:


- Tối hôm ấy, Đảng, Chính phủ cho chiếu phim cho


nhân dân xem để học tập, giải trí chứ không phải thả "cái


ma" ra đâu. Những bóng người mà ông trông thấy trên tấm


màn là người thật. Toàn là những người tốt đấy. Còn ông


Tây có bộ râu quai nón là một đồng chí chuyên gia người


nước Cộng hòa dân chủ Đức sang giúp ta đẩy mạnh sản xuất


nông nghiệp. Tối hôm ấy, cháu có đi xem chiếu phim. Nếu


cháu gặp ông ở bãi, chắc ông đỡ sợ "cái ma"; sáng hôm sau,


ông không phải chạy về đây từ lúc đường chưa rõ mặt. - A


Dếnh nghiêm giọng - Cháu là người Mèo, lại là Đảng viên.


Đảng không cho phép cháu nói chín phương tám hướng với


một ai. Vậy cháu xin nói với ông là ngày trước không có "cái


ma", bây giờ cũng không có "cái ma". Chỉ có người, người


tốt, người xấu mà ta cần phân biệt. Cháu khuyên ông từ nay


trở đi đừng tin "cái ma" nữa.


Ông Mí Cháng chưa tin hẳn ở lời nói của anh bí thư chi


bộ. Tất nhiên thế. Dẫu vậy, ông cũng đỡ sợ "cái ma" hơn


trước. Hỏi lại, ông sợ tiếng cười lại dội lên lần nữa. Ông từ từ


ngồi thẳng người lên. Trong khi đó, một ông già ngồi lấp ló


phía sau, lên tiếng. Ông rào đón trước:


- Tôi không tin có "cái ma" suối, không sợ "cái ma"


không chui vào ống, theo nước về đây với ta. Nhưng nói thật


bụng, nước trong ống uống không tốt đâu. Tôi được uống


nhiều lần ngoài thị xã rồi. Mùi nó giống cái mùi ở trạm y tế


xã. Đúng không chị chủ nhiệm?


Seo Mỉ chưa kịp trả lời, tiếng nói đã ran lên đây đó trong


căn nhà:


- Đúng đấy! Đúng đấy!


Giây phút sau, Seo Mỉ mới giải thích:


- Nước máy ngoài thị xã có sát trùng, bảo đảm vệ sinh


nên có mùi nồng nồng. Còn nước mà ta sẽ đưa về bản,


không có thuốc sát trùng nên nó vẫn là nước suối, không có


mùi gì đâu.


- Thế thì uống tốt thôi. - Ông già gật gù tán thưởng.


Vàng A Cấu, Vàng A Lử đều có mặt ở đây. Hai chú cháu


hắn ngồi kia, chỗ khuất ánh đèn. Từ nãy tới giờ A Cấu ngồi


im, hút thuốc vặt. A Lử thì lấy hai ngón tay làm nhíp, tỉ mẩn


nhổ từng sợi râu. Chợt A Cấu dọn giọng rồi đĩnh đạc nói:


- Chử lầu(1) không thương người nên ngày trước người


Mèo như con dế núp dưới chòm cỏ ngải. Đảng thương người


nên bây giờ người Mèo như con chim cứ cư gọi mùa bắp


chín. Đảng bảo ta làm gì cũng là để ta được sướng. Vì thế,


khi biết có việc tập trung nương, tôi bảo thằng A Lử đến nhà


chị chủ nhiệm xin đưa ngay nương vào hợp tác xã. Bây giờ


lại có việc đưa nước về bản. Tôi già yếu rồi nhưng xin đi chặt


cây, chôn cọc cùng với người trẻ.


- Hoan hô ông A Cấu!


Tiếng "hoan hô" đơn độc, cụt ngủn. A Cấu ngượng


nghịu, mặt dài ra. Ba gian nhà họp bỗng nhiên im ắng. Chỉ


còn tiếng rít thuốc ục ục. Và bên ngoài, tiếng đàn chim đi ăn


đêm vỗ cánh roàn roạt. Seo Mỉ đưa mắt nhìn quanh. Từ lúc


họp đến giờ chưa có tiếng nói của phụ nữ. Trong gia đình,


người đàn bà Mèo đã ít lời, đến chỗ này, còn ít lời hơn. Biết


vậy, Seo Mỉ liền gợi ý:


- Việc đưa nước về bản là lợi ích chung nhưng nó có ảnh


hưởng đến đời sống của người phụ nữ nhiều hơn. Xin mời


các bà, các chị phát biểu.


Bà bí thư phụ nữ xã đã chuẩn bị ý kiến. Bây giờ bà mới


chậm rãi nói:


- Từ trước đến nay, trong gia đình người Mèo, chồng


làm việc nặng, vợ làm việc nhẹ trong đó có việc đi lấy nước.


Ở bản ta, suối không xa như sông La Hờ, hai thuồng nước


không nặng như cái cây làm cột nhà, thế thì việc đi lấy nước


đúng là việc nhẹ rồi. Nhưng có đi ra suối lấy nước mới thấy


__


(1) Vua trời.


nó ra sao. Phải đi từ lúc con gà bắt đầu gọi sáng. Gió rét cắn


da. Đá nhọn cắt bàn chân. Hai thuồng nước đè xuống lưng.


Vất vả đấy. Không chỉ phải vất vả một ngày, mà vất vả ngày


này qua ngày khác. Khi tôi lớn rồi, mẹ tôi trao cho tôi hai cái


thuồng. Từ ngày ấy đến giờ, tôi đã thay bao nhiêu cái luồng


nhớ không hết. Vừa đây, tôi trao lại hai cái thuồng cho con


gái. Nếu tôi không có con gái, tôi phải ra suối lấy nước cho


đến lúc tuột sức. Vất vả lắm đấy. Bây giờ mà có nước về bản,


phụ nữ chúng tôi còn vui hơn đi chơi chợ. Chúng tôi sẽ có


thời giờ học văn hóa, văn nghệ, khoa học kỹ thuật để đời


người phụ nữ Mèo khỏi phải khổ như từ trước đến nay.


Đoàn thể phụ nữ chúng tôi xin người già, người trẻ cùng


một bụng ủng hộ việc này.


Lời phát biểu chân thành của bà bí thư phụ nữ xã quả đã


gây xúc động cho mọi người. Có những tiếng rít thuốc giữa


chừng ngừng lại. Và những tiếng thì thào nói chuyện riêng


bỗng dưng im bặt. Chợt một anh thanh niên trạc tuổi Seo Mỉ,


dáng dấp nhanh nhẹn mà tề chỉnh, đứng lên. Anh bí thư xã


đoàn thanh niên nói bằng cái giọng già dặn hơn tuổi


của anh:


- Xã đoàn Thanh niên chúng tôi nhất trí ủng hộ việc đưa


nước về bản Lù Chải cũng như các bản khác trong xã Pha


Long. Ngoài việc giải phóng các mẹ, các chị khỏi một công


việc vất vả, nó còn chấm dứt cái khổ vì thiếu nước từ bao đời


nay của người Mèo ta. Một chậu nước, vo gạo xong, rửa rau,


rửa bát, rửa chân tay. Một chậu nước, bố rửa mặt xong, mẹ


rửa rồi đến các con. Khổ quá! Mùa mưa, nước đọng trong


hốc đá, có nước tắm. Mùa khô, nước trong hốc đá cạn, không


có nước tắm. Khổ quá! Miền núi cũng có nhiều nguồn nước,


sao ta phải chịu khổ mãi? Bây giờ có cách của Đảng, Chính


phủ rồi, ta phải đưa bằng được nước về bản. Xã đoàn thanh


niên chúng tôi xin nhận những việc khó khăn nhất.


Không ai phát biểu nữa. Thế là đủ rồi. Vả lại, đêm đã


ngả về khuya. Khi mọi người đã ra về, Seo Mỉ khấp khởi nói


với anh bí thư chi bộ:


- Mọi việc đều tốt rồi, anh A Dếnh à.


- Tốt rồi! - A Dếnh láy lại rồi nói tiếp. - Nhưng mới là


bước đầu, còn phải xem quá trình thực hiện ra sao. Việc đưa


nước về bản cần tiến hành ngay. Việc này nhỏ mà có ý nghĩa


to. Trong khi còn kháng chiến cũng như khi đã hòa bình, lực


lượng phụ nữ quan trọng lắm. Phụ nữ được giác ngộ, giải


phóng rồi, có thể cùng với nam giới thúc đẩy ba cuộc cách


mạng Đảng đề ra.


Việc nhỏ mà có ý nghĩa lớn! Sau cuộc họp và lúc này


đây, Seo Mỉ thấy rõ thêm điều đó. Chị đi về, bước chân vui


như đã chơi chợ. Giữa đường, chị rẽ vào nhà bác Giàng


Sùng. Bác góa vợ đã hai năm nay. Từ bấy đến giờ bác sống


hiu hắt với đứa con gái nhỏ. Bác đang ốm nên tối hôm nay


không đi họp được.


Seo Mỉ vừa đến trước cửa ngôi nhà tường đắp đất, mái


lợp cỏ, le lói ánh đèn, bất chợt một cô gái đẩy cửa bước ra.


Cô khoảng ngoài hai mươi, má bầu bầu, trắng hồng nước da


con gái vùng cao. Seo Mỉ nắm lấy tay cô y tá xã người Pa Dí:


- Bác Giàng Sùng ốm đau ra sao em?


- Bác ấy bị cảm lạnh, ốm nhẹ thôi. Em vừa đem thuốc


đến cho bác ấy. Bác ấy uống vài ba hôm là khỏi, không sao


đâu, chị yên tâm.


- Bác ấy thức hay ngủ?


Biết ý Seo Mỉ, cô y tá nói:


- Bác ấy vừa ngủ, chị đi về, mai hãy đến thăm. Đối với


người ốm, giấc ngủ còn quý hơn thuốc bổ đấy.


Cô y tá về rồi, Seo Mỉ còn đứng đấy. Chị vừa nghe thấy


tiếng tập đọc chữ phổ thông từ trong nhà vẳng ra. Chị nhẹ


chân bước lại gần. Rồi qua khe cửa khép hờ, nhòm vào nhà.


Bác Giàng Sùng nằm trên giường, chiếc chăn chiên phủ kín


người. Có lẽ bác ngủ say. Tiếng ngáy nghe đều đều. Con gái


bác, cô bé lên chín có gương mặt buồn bã của đứa trẻ mồ côi,


phủ phục trên đống rơm, cạnh ngọn đèn tù mù. Mắt nó dán


vào trang sách, miệng ngập ngừng đọc. Ánh đèn với ra góc


nhà, chỗ đặt cối xay ngô. Ở cái chỗ tranh tối tranh sáng, cái


cối quay âm thầm, kêu gù gù như con mèo rên. Người đang


khom lưng, tay đẩy cái chàng cối là một người đàn ông mặc


bộ quần áo màu tím than, đầu đội mũ "biên phòng". Anh


giáo! Seo Mỉ căng mắt nhìn khuôn mặt, ánh đèn mù mờ rọi


vào một bên, nom gầy mỏng, vàng nhợt đi. Đúng anh giáo


Cối! Chắc biết tin bác Giàng Sùng ốm, anh đã đến xay ngô


giúp con bác. Đồng thời anh dạy cô bé học.


- Lờ ê lê. Lê là quả lê trong vườn, em vẫn ăn ấy mà.


Từ góc tối vẳng lên cái giọng dịu ngọt như quả lê vừa


được nhắc đến. Cô bé nhắc lại một cách khó nhọc.


- Em cứ đọc thong thả. Em đọc gần đúng rồi. Đến Tết là


em đọc được chữ phổ thông. Thầy sẽ mua cho em quyển


truyện Vừ A Dính để em đọc. Vừ A Dính là người Mèo ta,


hãy còn ít tuổi mà giỏi lắm.


Được thầy giáo động viên, cô bé nhắc lại, vẻ tự tin: “Lờ ê


lê!". Quả lê ngọt mà sao Seo Mỉ cảm thấy khóe mắt ran ran,


cổ họng khô se. Chị xúc động. Ánh đèn tù mù. Cái bóng âm


thầm cạnh chiếc cối xay. Cái bóng phủ phục trên đống rơm.


Đêm đã về khuya... Chị xúc động đến chảy nước mắt.


- Thế là em thuộc bài hôm nay rồi! - Cối nói như khẽ reo


lên, rồi ngồi xuống bên cô bé. - Thầy cũng xay xong cối ngô.


Sáng sớm mai, em có ngô đồ mèn mén ăn. Nồi cháo gạo, thầy


vần cạnh bếp cho nóng, lúc nào bố em muốn ăn, em múc vào


bát cho bố em ăn nhé!


- Sáng mai thầy có đến nhà em nữa không? - Cô bé


thủ thỉ.


- Có chứ. Sáng sớm mai thầy đến xay ngô để tối em có


mèn mén ăn chứ.


Seo Mỉ vẫn đứng nguyên chỗ ấy, nhìn vào. Nước mắt


chị trào ra, lăn xuống gò má. Chị đang nhìn đăm đắm chợt


Cối đứng dậy:


- Bây giờ thầy về để em đi ngủ.


Seo Mỉ vội quay đi. Chị không muốn gặp Cối ở đây, với


ngấn nước mắt trên mặt. Đi đến một chỗ khuất, chị mới bước


chậm lại. Bỗng nhiên từ đâu đây vọng về điệu hát gầu


phềnh(1): Anh về, anh về anh bẻ cành lau gài vệ đường. Nơi đứng


chờ em, anh gài đánh dấu. Em ở, em bẻ cành lau em gài bên lối. Gài


__


(1) Tiếng hát tình yêu.


đánh dấu chỗ em đứng đón anh(1). Tiếng hát quấn quýt bên


bước chân chị.


Về gần đến nhà, cây râm bụt ở rặng rào nhà ai chạm vào


Seo Mỉ. Thuận tay, chị ngắt một cành. Tiếc rằng không phải


cành lau để gài bên lối!


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »