tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27191841
Tiểu thuyết
13.05.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


Seo Mỉ tủm tỉm:


- Ông đừng sợ. Phỉ sợ ông trưởng đồn công an Pha


Long, phải đi phát nương kiếm ăn rồi, không dám đi bắt


trộm ngựa nữa.


Ông Chín Sàng nhìn Seo Mỉ, vẻ nghi ngờ:


- Tôi nghe nói, có người ở Xù Ua Tủng vừa mất trộm


ngựa mà.


- Chuyện đấy không đúng đâu ông à! Con ngựa ấy,


người ở Xù Ua Tủng mua ở một nơi xa. Nhớ tàu cũ, nó chạy


suốt một đêm, sáng hôm sau nó về đến nơi. Người bán đã


dắt nó trả cho người mua rồi.


Ông Chín Sàng khẽ xuýt xoa:


- Ầy da! Con ngựa khôn quá.


Vui miệng, ông Chín Sàng kể cho chị chủ nhiệm nghe về


con ngựa của ông thời Châu Quáng Lồ hùng cứ đất này. Biết


ông có con ngựa khôn, một hôm một toán lính phỉ ập vào


nhà ông. Chúng vừa dắt con ngựa ra khỏi tàu, nó liền phá


chạy. Giận dữ, chúng nổ súng bắn theo. Con ngựa trúng đạn


nhưng chạy thoát. Chúng giao hẹn trong ba ngày, ông phải


tìm kỳ được con ngựa đem nộp nếu không chúng sẽ đến đốt


nhà, xẻo tai ông. Hai ngày liền, ông đi tìm con ngựa từ sáng


sớm đến nửa đêm. Không thấy. Sang ngày thứ ba, vợ chồng


ông đành bỏ nhà đến một khe núi rất xa. Đêm hôm sau,


đang ngủ say, ông chợt thức giấc, và nghe thấy tiếng ngựa hí


rất khẽ. Ông vùng dậy chạy ra, thấy con ngựa của mình nằm


phủ phục dưới đất. Nhận ra tiếng chủ vừa gọi vừa khóc, nó


rên rỉ hí một hơi dài. Phút sau, nó tắt thở...


Kể đến đây, ông Chín Sàng bùi ngùi:


- Tôi tiếc con ngựa, mấy đêm liền con mắt không ngủ


được. - Ông nhìn sang phía con ngựa bây giờ đã đứng yên,


đám da hai bên hông rùng rùng đuổi những con muỗi vừa


bám vào nó. - Người Mèo ta quý nhất con ngựa, mảnh


nương tốt.


Seo Mỉ liếc nhìn ông Chín Sàng. Gương mặt ông có đôi


mắt chậm chạp, các vết nhăn cằn cỗi rõ ra vẻ cần cù, chất


phác. "Người Mèo quý nhất con ngựa hay mảnh nương


tốt…". Con ngựa hay, ông nói rồi. Còn mảnh nương tốt?


Chắc ông quý nó không kém con ngựa hay. Chứng cớ là gần


đây nhiều người trong bản, trong đó có ông, đua nhau đi


phát nương. Ông có hai mảnh nương, đất còn màu mỡ. Vậy


mà ông còn nhờ mú cống chỉ đường đi phát nương mới.


Seo Mỉ thấy câu chuyện mà chị định nói với vợ chồng ông tối


nay, rõ ràng không đúng lúc. Chị định đi về, đợi dịp khác,


ông Chín Sàng đã ngước cặp mắt sùm sụp, hỏi:


- Ông Lý A Sáng bảo tôi, hợp tác xã muốn tập trung


nương của các xã viên lại. Có đúng không, chị chủ nhiệm?


Seo Mỉ như người vừa ẩn vào khe núi, tránh cơn gió


thốc. Bất ngờ gió đổi chiều, táp vào khe núi. Không né tránh


được nữa.


- Đúng thế ông à! Ta nên tập trung nương lại như ta đã


tập trung ruộng. Có đông người làm, ta đỡ vất vả, nương lại


tốt, cho ta nhiều lúa, bắp hơn.


Ông Chín Sàng buông đôi mí mắt nặng trĩu xuống, lặng


ngắt. Phút sau, ông mới nói, nét mặt khó đăm đăm:


- Phát được mảnh nương khó lắm chị chủ nhiệm à!


Đến lượt Seo Mỉ im lặng. Điều mà ông Chín Sàng vừa


nói, rất đúng. Lù Chải núi cao, đèo sâu, mây mù cản lối đi.


Trong khoảng trời mịt mù mây núi, tìm đâu cho thấy mảnh


đất tương đối rộng, bằng phẳng để phát nương! Phải đi tìm.


Có khi tàu lá soi bọc thức ăn đem theo đã phải thay nhiều


lần mới tìm ra. Tìm thấy rồi thì vung con dao, phát. Bao giờ


hai cánh tay đã mỏi rã, lưỡi dao lẹm dần vào sống, lưỡi búa


cùn, mới phát ngả hết cây. Sau đấy, xới cỏ. Khi nào cây cỏ


thật khô mới đốt. Đốt xong, phải dọn đá, đám cây cháy lỏi.


Chỉ đến khi mảnh đất đã quang, nhẵn nhụi, đen xám tro


than, nó mới biến thành mảnh nương. Biết bao nhiêu công


sức! Chỉ có vòm trời sà xuống đỉnh núi mới thấy hết những


giọt mồ hôi đã nhỏ xuống mảnh nương mới. Mồ hôi và


nước mắt...


- Cháu đi phát nương rồi, cháu biết. Phát được mảnh


nương khó lắm. Bây giờ ta đưa nương vào hợp tác xã làm


của chung, cùng làm cùng ăn, bao giờ nương gầy, ta cùng đi


phát thì đỡ khó nhọc hơn phát nương riêng. - Seo Mỉ lựa


chiều nói với ông Chín Sàng.


Ông Chín Sàng lẳng lặng với cái điếu, hút thuốc. Ông


hút mấy điếu liền. Rồi ngồi yên, các vết nhăn khía sâu xuống


da mặt. Từ nãy tới giờ chủ nhà vừa lặng lẽ xé lanh vừa lắng


nghe. Biết ý chồng, bà xen vào:


- Không đưa nương vào hợp tác xã được không, chị


chủ nhiệm?


- Đã là xã viên, ta phải làm theo hợp tác xã. Vả lại, hợp


tác xã chỉ làm tốt, không làm hại xã viên. - Giọng Seo Mỉ


bỗng run run. - Cháu cũng là người Mèo, ăn mèn mén, uống


nước suối, cháu không biết nói sai.


Cũng như lúc thuyết phục ông A Sáng, Seo Mỉ vừa nói


vừa nhìn nét mặt ông Chín Sàng. Khác với ông A Sáng, nét


mặt ông Chín Sàng lúc này hầu như không thay đổi. Có lẽ


ông thấy lý phải rồi! Seo Mỉ nghĩ thầm và khấp khởi chờ đợi


ông nói ra điều đó.


Ông Chín Sàng lại nạp thuốc, châm lửa hút. Mới bập


bập chưa kịp rít, ông đã lấy tay bịt miệng điếu, nhìn đám


khói bếp bay vật vờ. Rồi thủng thẳng nói:


- Bụng tôi không muốn làm hợp tác xã nữa rồi, chị chủ


nhiệm à.


Giọng ông Chín Sàng bình thản không lộ vẻ gì khác


thường. Vậy mà Seo Mỉ choáng váng. Ông ta nói thật không?


Từ xưa tới nay, ông ta có nói khác bụng mình nghĩ bao giờ.


Chị thoáng nhìn ông ta. Ông đang lặng lẽ rít điếu thuốc hút


dở. Bất thần chị nhớ đến câu nói của chị phó bí thư Huyện


ủy. Ông Chín Sàng có phải là khóm cỏ trư xa không? Không


phải. Ông A Sáng cũng không phải là khóm cỏ trư xa rình


lấn cây lúa như chị Chấn Hoa nhắc nhở. Đây chỉ là đám


sương mù phủ lên vệt đường mòn. Lúc nào mặt trời dậy,


sương sẽ tan, trả lại lối đi. Nghĩ vậy, chị trấn tĩnh lại.


- Ông bà làm xã viên từ khi hợp tác xã còn nghèo. Bây


giờ hợp tác xã sắp giàu rồi, sao ông bà không muốn làm xã


viên nữa? Ông bà nên nghĩ lại. - Seo Mỉ nói với ý định nhờ


bà Chín Sàng đỡ lời cho mình.


Bà Chín Sàng lặng thinh. Bà vốn nể sợ chồng.


- Tôi nghĩ rồi, nước chảy được, nước chảy. Đất không


chảy được, đất đứng... Vợ chồng tôi không làm xã viên được


nữa đâu.


Seo Mỉ trút một hơi thở dài cố nén mà không được. Giữa


lúc ấy, một người bước vào nhà. Một ông già khoảng ngoài


sáu mươi, dáng dấp đạo mạo.


- Chào bác hố pẩu! - Vợ chồng ông Chín Sàng cùng cất


tiếng chào với một vẻ kính cẩn.


Cử chỉ của vợ chồng ông Chín Sàng đối với người vừa


đi vào không làm cho Seo Mỉ ngạc nhiên. Hố pẩu là trưởng


họ. Ông đứng đầu dòng họ Ma ở bản này. Tất cả những


trưởng họ Mèo đều được mọi người trong dòng họ mình


kính trọng, tin yêu. Họ có uy quyền, uy tín trong dòng họ.


Tất nhiên ông Chín Sàng quý trọng người có chức vị cao


nhất dòng họ Ma của ông.


Ông trưởng họ Ma chào chị chủ nhiệm, đoạn ngồi


xuống chiếc ghế chủ nhà vừa bưng đến. Ông Chín Sàng và


ông trưởng họ ở cùng một bản, thỉnh thoảng lại gặp nhau.


Dù vậy, mỗi khi ông trưởng họ đến nhà, ông Chín Sàng vẫn


coi ông như khách quý. Trong khi khách đã yên vị, chủ nhà


lật đật lấy dúm chè để trong cái ống bương gác trên gác bếp,


pha nước. Uống xong chén nước, ông trưởng họ mới thân


mật hỏi Seo Mỉ:


- Cháu chủ nhiệm đến chơi hay có việc gì?


Seo Mỉ đoán ông trưởng tộc đã biết việc này. Vả chăng,


việc đó chẳng có gì phải giữ bí mật. Chị liền nói lại chủ


trương của hợp tác xã đối với phần đất làm riêng rẽ của các


xã viên. Nghe xong, ông trưởng họ quay sang chủ nhà, đĩnh


đạc hỏi:


- Chú Chín Sàng nghĩ sao?


Ông Chín Sàng đã ngồi vào chỗ cũ, bên bếp lửa. Ông trả


lời, không phải suy nghĩ thêm:


- Người Mèo ta quý nhất mảnh nương tốt, con ngựa


hay, bác hố pẩu à.


Ông trưởng họ gật gù:


- Chú nói đúng cái lý của người Mèo. Có mảnh nương


tốt, con ngựa hay, người Mèo ta không phải khổ.


Seo Mỉ bỗng hồi hộp. Trong mọi việc của dòng họ, ý


kiến người trưởng họ thường là ý kiến quyết định. Về việc


này, ý kiến ông trưởng họ Ma ra sao? Nếu ông ủng hộ, rất có


thể ông Chín Sàng nghe theo. Trái lại, ông mà phản đối, chắc


chắn ông Chín Sàng sẽ quay lưng lại hợp tác xã. "Đất không


chảy được, đất đứng... ". Đứng lại, không đi theo hợp tác xã


nữa! Ông ta nói rồi. Seo Mỉ sực nhớ ra, ông trưởng họ có


người con trai út đi bộ đội hiện đóng ở Hà Giang. Anh mang


quân hàm chuẩn úy và được đứng trong hàng ngũ của


Đảng. Người con tiến bộ không thể không ảnh hưởng đến tư


tưởng của người cha. Trong nỗi hồi hộp của Seo Mỉ bỗng


nhen lên một niềm hy vọng.


Ông trưởng họ nhẩn nha nói tiếp:


- Nhưng có đúng là có mảnh nương tốt, con ngựa hay


rồi, người Mèo ta hết khổ không? Hạt muối bé mà nó làm ta


khổ to đấy. Thời Tây đồn, quan châu, người ta phải cho lái


buôn một con lợn, con ngựa thồ còn nặng, lái buôn mới cho


một ống muối. Người ta phải thồ nửa mã làn gà ra chợ


Mường Khương mới đổi được một bát muối. Lúc đi làm


nương, người ta chỉ đem theo vài ba hạt bọc vào tàu lá. Đến


bữa ăn, ngồi cùng với dân bản, người ta phải quay mặt đi


rồi mới bỏ một hạt vào mồm. Nhiều người ốm sắp chết,


người ta bỏ vào mồm họ mấy hạt, họ sống lại. Phỉ đón


đường người đi chợ về, cướp muối. Ai không nộp, chúng


nó cắt cổ. Dà! Nghĩ đến hạt muối, con mắt người Mèo lại


muốn khóc.


Xúc động, ông trưởng họ ngừng lại. Được dịp, ông Chín


Sàng góp chuyện:


- Có lần nhà tôi đói muối quá, tôi phải cho thằng dõng


một lù cở bắp, nó mới cho một cục muối bằng hai hạt bắp.


- Giữa lúc ấy, Việt Minh về Pha Long hoạt động. Cán bộ


bảo: "Đi theo Đảng thì người Mèo cũng như người các dân


tộc miền núi, có đủ muối ăn... " Biết người Mèo sướng, khổ


vì hạt muối, sống, chết vì hạt muối, Tây đồn, quan châu rồi


đến quan Nhật chúng nó bảo: "Ai cắt đầu cán bộ Việt Minh


đem nộp, được thưởng một tạ muối; xẻo hai tai cán bộ Việt


Minh đem nộp, được thưởng nửa tạ muối... ". Người Mèo


không lạ gì cái mồm con hổ đói, con rắn xanh. Họ đốt nứa, rễ


cỏ gianh thay muối, đi theo cán bộ. Bây giờ hạt muối ra sao?


Đảng có nhớ lời nói với người Mèo, người các dân tộc miền


núi không? Đảng nhớ lắm. Bây giờ ta không phải đổi lợn,


đổi gà mới có muối. Ta không phải ra chợ Mường Khương,


chợ Pha Long mới có muối. Ngay cửa hàng hợp tác xã mua


bán ở xã này cũng có bán. Ta mua bao nhiêu cũng được,


muốn ăn bao nhiêu cũng có. - Ông trưởng tộc bỗng nghiêm


sắc mặt. - Cái lý của Đảng đúng quá!


Seo Mỉ chép miệng:


- Không ngờ ngày trước, người Mèo ta khổ đến thế. Khi


cháu đi học, dân tộc ta nhờ ơn Đảng, Bác Hồ, đã đỡ khổ


nhiều nên cháu không biết hết.


Ông trưởng họ nhìn Seo Mỉ:


- Ta được nhiều tuổi rồi còn chưa biết hết, làm sao cháu


biết hết được cái khổ của người Mèo khi ăn bắp trồng trên


hốc đá, uống nước dưới khe suối, đi mỏi chân mới đến!


Người Dao thường nói: "Cái khổ của người Dao như sợi


dây rừng. Càng rút, nó càng dài không bao giờ hết". Người


Mèo nói khác: "Cái khổ của người Mèo như mây mù trên


núi cao. Lớp này chưa tan, lớp khác đã đến, suốt ngày đêm


mờ mịt". Chỉ có ông trời ở trên đỉnh núi mới biết hết cái khổ


của người Mèo. Nhưng ông trời lòng không công, muốn


người Mèo khổ mãi. Cũng may người Mèo gặp được Đảng.


Đảng thay ông trời, cất cho người Mèo cái khổ đi, trên lưng


từ đời tổ tiên đến giờ nặng như cái lù cở đựng đất đắp vào


hốc đá.


Dường như ông Chín Sàng đang suy nghĩ. Mi mắt


buông sụp, ông rít điếu thuốc ngắt ra từng quãng. Vợ ông có


lẽ cũng nghĩ ngợi. Nhiều lúc đang xé lanh, bà ngừng tay, mặt


thần ra. Hố pẩu nói nhiều lời hay lời tốt đấy!


Nhưng ông trưởng họ chưa hết lời. Uống xong chén


nước ông Chín Sàng đưa tận tay, ông nói bằng một giọng


hào hứng:


- Không phải Đảng chỉ cho người Mèo hạt muối mà còn


cho những cái quý hơn hạt muối nhiều lắm. Hôm vừa rồi, tôi


đi chợ Mường Khương. Tôi đến được một lúc thì chị Chấn


Hoa địu con ra chợ. Khi biết chị phó bí thư Huyện ủy là


người Mèo, bao nhiêu người Mèo, người Phù Lá, người Pa


Dí, người Giáy, người Hán... kéo đến vây quanh chị. Có bà


sờ mặt, nắn chân tay chị. Có bà cấu vào tay chị xem chị có


biết đau không. Sau đấy, họ mới tin chị là người thật, không


phải "cái ma". Nhiều bà bụng mừng quá, nước mắt chảy ướt


mặt. Chị Chấn Hoa cũng khóc.


Bóng dáng chị phó bí thư Huyện ủy người Mèo khiến


ông Chín Sàng phấn chấn lên. Ông châm một câu:


- Chức chị Chấn Hoa to bằng chức quan châu ngày


trước đấy.


Seo Mỉ xen vào:


- Ngày trước, quan châu làm tay sai cho thực dân Pháp,


phát xít Nhật, đàn áp, bóc lột nhân dân. Bây giờ chị


Chấn Hoa được Đảng, nhân dân tín nhiệm, đứng ra phục vụ


nhân dân. Chị Chấn Hoa với quan châu khác nhau.


- Khác nhau nhiều đấy. - Ông trưởng họ tiếp lời Seo Mỉ,


- Quan châu, người các dân tộc đều thù ghét nó. Chị Chấn


Hoa, người các dân tộc đều yêu mến chị. Ngày trước, có


những ông già xách lồng chim họa mi đi đến đầu chợ rồi,


nhưng nghe nói quan châu ở đấy, các ông quay về không


thèm vào chợ nữa. Còn chị Chấn Hoa, khi chị ra chợ, người


ta kéo đến vây quanh chị. Khác nhiều lắm! - Nét mặt ông


trưởng tộc nghiêm lại. - Khi Việt Minh hoạt động vùng này,


cán bộ bảo: "Người Mèo cũng như người các dân tộc, chỉ có


con đường đi theo Đảng, tiêu diệt bọn Tây đồn, quan châu,


quan Nhật, phỉ mới hết khổ, mới ngẩng đầu lên được... ".


Bây giờ người Mèo có chị Chấn Hoa. Không phải chỉ có một


mình chị mà tỉnh Hoàng Liên Sơn còn có nhiều người con


gái Mèo như chị. Cái lý của Đảng đúng quá!


Ông trưởng họ lặng im. Seo Mỉ chờ đợi ông lấy lời hố


pẩu nói thẳng với ông Chín Sàng về việc tập trung nương.


Song ông không nói gì nữa. Ông đứng dậy chào mọi người,


đoạn ra về. Ông Chín Sàng theo chân hố pẩu ra đến sân rồi


mới quay vào. Trong gian nhà om mùi khói bếp, chỉ còn một


mình Seo Mỉ với vợ chồng ông chủ nhà. Dáng điệu họ đã


mất vẻ tự nhiên. Nói gì bây giờ? Chị thấy không cần nói


thêm nữa. Trên núi cao giờ đây chẳng phải có mây mù. Mà


còn có ánh mặt trời. Có ánh sáng soi rọi, đầu óc con người


không tối tăm mãi được.


Ra đến đường, Seo Mỉ rải bước, mắt lơ đãng nhìn các


tảng đá nhấp nhô trên lối đi. Lúc đến đây, lòng chị phấp


phỏng. Giờ thì niềm vui nhẹ nhõm quẩn vào bước chân chị.


Gió đang lao xao trên các mỏm đồi. Hơi lạnh phả vào người,


xua tan mùi khói bếp khiến chị tỉnh táo ra. Ngày mai đến


nhà ai? Seo Mỉ đang suy nghĩ, thình lình có tiếng gì nghe


đánh vèo một cái. Cùng lúc đó, chị loạng choạng ngã ngồi


xuống đất. Sau giây phút bàng hoàng, chị trấn tĩnh lại được.


Chị nhặt chiếc đèn pin bắn ra một bên, đứng phắt dậy. Ánh


đèn như chiếc chổi dài quét một vòng sáng giần giật. Không


có một bóng người. Không có một bóng nhà. Chị đang đứng


ở chỗ khuất nẻo. Chung quanh chị chỉ có đồi núi, bụi rậm,


bóng cây im lặng. Bây giờ chị mới cảm thấy đau. Chị đưa tay


sờ gò má. Một bên gò má chị sưng lên, đau nhói. Có người


vừa ném mình! Đoán thế, chị soi đèn và trông thấy một hòn


đất to bằng nắm tay ở gần chỗ chị đứng. Chị nhặt lên, ngắm


nhìn. Có lẽ chị đoán đúng. Chị vừa bị một kẻ nào đấy ném


hòn đất này vào mặt. Hòn đất trong tay chị còn âm ấm. Chắc


kẻ đó đã cầm hòn đất một lúc lâu mới ném. Nhưng kẻ đó là


ai? Nó cố ý hay vô tình? Phút chốc, nhiều ý nghĩ, suy đoán


len vào trong đầu Seo Mỉ. Dù sao đây cũng là một việc


không bình thường. Chị không đi về nhà mà rẽ sang đường


khác, đến nhà đồng chí bí thư chi bộ.


*


Xã Pha Long chỉ có một chi bộ. Bí thư chi bộ là


Hà A Dếnh. Năm nay anh mới ngoài ba mươi. Thanh niên


nam nữ trong xã không mấy ai không biết một câu chuyện


đáng ghi nhớ trong quãng đời dĩ vãng của anh. Anh xung


phong đi bộ đội từ năm mười bảy tuổi. Tám năm sau, trong


một trận quần nhau với lính thủy đánh bộ Mỹ suốt mấy


tiếng đồng hồ, anh thượng sĩ trẻ ấy diệt được hai tên giặc,


sau đấy bị thương nặng. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm ở


trạm quân y. Theo bản năng của người lính bị thương vừa


tỉnh lại, anh giơ hai tay lên. Cánh tay trái hẫng đi, nhẹ bẫng.


Cuộc sống của anh ngoài mặt trận thế là hết. Anh không


khỏi buồn. Buồn hơn nữa, khi anh nhớ đến người yêu ở một


bản xa. Người con gái Mèo đi lấy chồng chẳng phải chỉ vì


tình yêu. Mà cô gái còn trông vào người chồng trong những


việc nặng nhọc trong nhà. Anh chỉ còn một tay. Nếu cô gái


kia chung thủy với anh, cô sẽ vất vả suốt đời. Sau mấy đêm


thao thức, anh nhờ một người nằm cùng phòng giả làm một


người bạn trong đơn vị anh, viết thư cho cô gái, báo tin anh


đã hy sinh. Anh thành thật mong người yêu quên mình. Và


khi nào trở lại nhà, anh sẽ thấy cô đã cưỡi ngựa đi chơi chợ


với chồng. Hơn một năm sau, các vết thương của anh đã


lành. Đơn vị muốn đưa anh về trại thương binh an dưỡng


nhưng anh quyết tâm xin trở về địa phương. Anh về đến Pha


Long vào một ngày phiên chợ. Chặng đường trèo đèo, đổ


dốc từ Mường Khương vào đây đã làm anh mệt mỏi. Bộ


quân phục trên người, chiếc ba lô đeo sau lưng phủ đỏ bụi


đất. Bất ngờ giữa lúc ấy, anh gặp người yêu. Người yêu của


anh cưỡi ngựa đi chơi chợ, song cô đi một mình. Nhận ra


người yêu, cô gái nắm lấy cánh tay còn lại của anh, khóc. Rồi


cô đỡ anh trèo lên lưng ngựa của mình. Còn cô, cô nắm đuôi


ngựa đi một bên. Cô gái tự nguyện làm vợ anh thương binh


từ buổi đi chơi chợ ấy. Và câu chuyện nhỏ mà đẹp như cánh


hoa mai nở kín đáo bên khe núi, đã được ghi dấu bằng đứa


con trai kháu khỉnh của họ…


Lúc bấy giờ họ quây quần bên bếp lửa. A Dếnh chăm


chú đọc tờ báo. Vợ anh nướng bắp ngô non cho con. Thằng


A Páo nép vào cạnh mẹ, mắt ho hó nhìn bắp ngô phải lửa,


bốc khói thơm ngọt. Seo Mỉ đi vào. Chị vốn quý mến vợ


chồng anh bí thư chi bộ. Ngược lại, vợ chồng anh coi chị như


cô em gái. Họ rất thân nhau. Nhác thấy chị, chị A Dếnh


bảo con:


- A Páo, cô Seo Mỉ đến đấy, con mời cô ăn bắp ngô


nướng đi!


Seo Mỉ lẳng lặng ngồi xuống bên họ. Dáng điệu khác lạ


của chị khiến A Dếnh chú ý. Bỗng anh thốt lên:


- Mặt cô sao thế, cô Seo Mỉ?


Bây giờ chị A Dếnh mới nhìn kỹ. Một bên gò má Seo Mỉ


sưng lên tím bầm. Luống cuống, chị nhắc lại câu hỏi


của chồng:


- Sao thế, cô Seo Mỉ? Cô ngã à?


Seo Mỉ đặt hòn đất trước mặt, chậm rãi nói:


- Lúc chập tối, em đến nhà ông Chín Sàng, vận động ông


bà ấy đưa nương vào hợp tác xã. Ông ấy không phản đối ra


mặt như ông A Sáng nhưng tỏ ý không tán thành. Khi đi về,


em vừa đi đến cái đồi có cây long não thì bị một người cầm


hòn đất này ném vào mặt…


- Ai ném? - A Dếnh dằn giọng ngắt lời Seo Mỉ.


- Em rọi đèn nhưng không thấy ai.


- Hay là trẻ con trong lúc đùa nghịch, lỡ tay ném


phải cô?


- Em chắc không phải vì các cháu trong bản đều ngoan.


Chỗ ấy xa nhà, trời lại tối lâu rồi, các cháu không đùa nghịch


ở đấy. Em đoán người lớn ném thôi.


Chị A Dếnh nói nhỏ với chồng, mắt nhìn vết bầm tím


trên má Seo Mỉ:


- Em đi tìm cô y tá đến đây cho thuốc cô Seo Mỉ nhé! Cô


ấy đau nhiều đấy.


A Dếnh vội gạt đi:


- Làm thế, chuyện này chạy đi khắp các bản, không có


lợi. Qua cái mồm xấu, hòn đất thành hòn đạn. Cô ấy không


đau lắm đâu. Em đun nước cho cô ấy chườm là đỡ ngay.


Chị A Dếnh lật đật đặt ấm lên bếp. Chồng chị mân mê


hòn đất có hơi lửa đã lại âm ấm. Hơi ấm truyền sang anh.


Phút chốc, anh có cảm giác nóng bừng trên mặt. Và mạch


máu hai bên thái dương giật mạnh.


- Mấy năm nay, các bản trong xã đều yên ổn, không có


chuyện gì xảy ra. Bây giờ lại có chuyện rồi. - A Dếnh lẩm bẩm.


- Hay là các gia đình mà em đã đến vận động tập trung


nương, phản ứng? Em nghi đấy, anh A Dếnh à! - Seo Mỉ đắn


đo rồi nói.


A Dếnh nín lặng, tia mắt xoáy vào hòn đất cầm ở tay:


- Tôi có nghĩ đến nhưng sau đấy, tôi không tin như thế.


Ông Lý A Sáng, ông Ma Chín Sàng đều là người tốt. Họ chưa


tán thành vì bụng họ còn tối. Nếu có phản ứng, họ chỉ nói


những lời không tốt chứ không hành động như phỉ thế này.


Pha Long ngày trước là đất phỉ mà…


Nét mặt Seo Mỉ thốt nhiên buồn lặng đi. Không chú ý, A


Dếnh thủng thẳng nói tiếp:


- Làm công tác của Đảng ở đâu, ta phải biết rõ đặc điểm


ở đấy. Ngày trước Pha Long là đất của Tây đồn, quan châu,


trùm phỉ, lái buôn thuốc phiện, súng đạn lậu. Thằng nào


cũng muốn làm vua ở đất này. Sau Cách mạng Tháng Tám,


chúng nó hết đất sống. Song đám tàn quân phỉ vẫn ẩn nấp


trong hang sâu, rừng rậm nên mới có Châu Quáng Lồ. Năm


1952, nó bị ta diệt nhưng tàn tích vẫn còn. Bởi thế, ngày


mồng ba, tháng chín, năm 1960 mới xảy ra vụ Ly Seo Tả, Lìu


Dính Sình cướp đồn công an, cửa hàng mậu dịch phố Pha


Long, chiếm giữ một ngày một đêm. Sau đấy, chúng phải


đền tội. Từ ngày ấy đến giờ khu Pha Long yên ổn. Nhưng


chính quyền, đoàn thể, nhân dân phải luôn luôn cảnh giác


như Huyện ủy thường nhắc nhở. Mầm mống phỉ do Châu


Quáng Lồ gieo rắc, giặc Pháp nuôi dưỡng chưa chắc đã hết


hẳn. Nó như cái đầu gai nằm sâu trong bàn chân mà ta chưa


lấy ra được.


Buồn lặng, thù hận lẫn lộn trên mặt Seo Mỉ. Trên gương


mặt tối sầm, vết đau trên gò má càng bầm lại. A Dếnh nói,


giọng nghe xa vắng:


- Thuốc phiện cũng là cái gai cắm sâu vào bàn chân ta


đấy. Người già thường kể lại, trước kia Pha Long cũng như


nhiều vùng khác ở Mường Khương, cây thuốc phiện mọc


nhiều như cây chó đẻ. Người ta trồng thuốc phiện để làm


thuốc, bán cho lái buôn đưa về miền xuôi, chủ yếu là để hút.


Nhiều người nghiện lắm. Đàn bà, trẻ em cũng nghiện. Đến


bữa, nhiều nhà vợ chồng, con cái nằm quanh bàn đèn, lần


lượt hút. Có những đứa bé chưa biết đến hút mà đã nghiện


khói. Mỗi ngày, người mẹ phải phà khói thuốc vào mồm con


vài lần không thì nó ốm. - A Dếnh ngừng lại để trút một hơi


thở nặng nề. - Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền,


đoàn thể địa phương hô hào nhân dân không trồng thuốc


phiện nữa. Người nghiện thì được tập trung từng đợt trên


huyện để bệnh viện giúp họ bỏ thuốc. Số người nghiện giảm


dần. Nương thuốc phiện ít đi. Cách đây mấy năm, chính


quyền, đoàn thể vận động nhân dân triệt để thay cây thuốc


phiện bằng cây đậu tương. Cây thuốc phiện biến mất, nhưng


nó biến hẳn chưa? Người nghiện hết hẳn chưa? Việc này, con


mắt chính quyền, đoàn thể còn phải theo dõi.


Một chuyện tưởng chừng đã chết bỗng dưng sống lại


trong ký ức đồng chí bí thư chi bộ. Năm đó, anh và một


người bạn trong xã rủ nhau xung phong tòng quân. Khi hai


người đi khám sức khỏe, chỉ có một mình anh trúng tuyển.


Trước ngày lên huyện đội tập trung, anh nhận được thư của


bạn. Trong khi bạn thú thật với anh, sở dĩ mình không đủ


sức khỏe vì đã trót nghiện thuốc phiện. Bạn anh tỏ ý hối tiếc


và muốn tìm cái chết để chấm dứt cuộc sống buồn tẻ, tội lỗi


của mình. Anh vội vàng tìm đến nhà bạn ở một bản kia. Đến


nơi, anh được biết bạn vào rừng hái củi từ sáng sớm. Anh


phóng vào khu rừng mà anh và bạn đó thường đến lấy củi.


Bạn anh ở đấy. Nhưng người bạn đáng thương ấy chỉ còn là


cái xác có bộ mặt xám đen vì ngấm lá độc. Anh đã cắt đứt


cuộc sống buồn tẻ như mảnh nương gầy không còn cho lúa,


cho bắp được nữa, - như anh ta nói trong thư.


Bất chợt A Dếnh cau mày, ánh mắt đanh lại:


- Thuốc phiện ác không kém gì thằng phỉ? Thằng phỉ


giết người bằng mã tấu. Thuốc phiện giết người bằng khói


độc. Nó bắt người ta khổ lâu lắm rồi mới cho chết. Ác lắm!


- Cũng may bản ta không còn ai nghiện nữa! - Seo Mỉ


nói, tay ấp chiếc khăn mặt bốc khói vào má.


- Trong bản đúng là không có ai hút nữa. Nhưng trong


rừng sâu, khe núi, hang đá có còn ai hút không? Ta chưa biết


đâu. “Cái ma” thuốc phiện khôn lắm. Nó chỉ hiện ra ở những


chỗ kín, không có dân quân, bộ đội, công an. “Cái ma” sợ các


lực lượng vũ trang mà.


Seo Mỉ nhìn hòn đất nằm yên lặng bên bếp lửa. Một ý


nghĩ bất thần đến với chị. Cỏ trư xa! Có phải bàn tay cầm


hòn đất kia ném trong bóng tối là cỏ trư xa như chị phó bí


thư Huyện ủy nói không? Có lẽ đúng! - Chị nhủ thầm.


- Thằng phỉ còn phục trong khe núi. Cây thuốc phiện


còn mọc ở chỗ khuất. Bọn buôn lậu cũng còn, còn nhiều đấy.


- A Dếnh khoát tay tựa như muốn bao quát mảnh đất hẻo


lánh, bốn mùa mây ở với người, núi luồn dưới bước chân. -


Pha Long vốn nó là đất dữ. Đảng, Chính phủ, nhân dân đã


biến nó thành đất lành. Nhưng ta phải cảnh giác, nếu không


nó lại là đất dữ. Thằng phỉ như con rắn độc. Phải đánh giập


đầu nó không thì có lúc nó hồi lại, cắn ta.


Chị A Dếnh vừa chất thêm củi vào bếp. Ánh lửa nhảy


nhót trên tròng mắt, khiến mắt A Dếnh nom hừng hực. Anh


nhìn Seo Mỉ:


- Cô giữ lấy hòn đất. Có lúc phải cho nó nói cái lý của ta


với bọn phản động.


Vết đau trên mặt Seo Mỉ đã dịu. Chị cảm ơn chị A Dếnh,


và toan đi về, chợt A Dếnh ngăn lại:


- Lúc này cô về một mình không nên đâu. Tôi đưa cô về.


- A Dếnh lấy khẩu súng treo trên tường, khoác vào vai. - Ra


đến đường, cô đi thong thả, bấm đèn. Tôi đi phía sau xem có


chuyện gì xảy ra nữa không.


Seo Mỉ làm theo lời A Dếnh dặn. Trên đường về, không


có việc gì xảy đến với chị. A Dếnh đợi chị vào nhà, gài cửa


lại rồi mới quay đi. Anh đến từng nhà trong bản. Không nhà


nào có khách hoặc người lạ mặt ngủ nhờ. Anh có đến nhà


Vàng A Cấu. Hắn đi thăm con gái ở bên kia chưa về. Còn A


Lử? Hắn ốm từ ban chiều. Hắn ốm thật không. Không rõ.


Chỉ biết khi anh bí thư chi bộ bước vào nhà thì hắn rên rẩm,


cái giường ngoãm hắn nằm, vặn mình cót két.


Bản Lù Chải đã yên ngủ. A Dếnh còn thức. Trong bóng


tối đã ướt đẫm sương đêm, anh sục vào các bụi, các hang


chung quanh bản. Không có một bóng người. Chỉ có tiếng


đàn dơi đang treo ngược đầu trong các hang đá, giật mình


choàng dậy bay loạn xạ. Và tiếng gà trong bản vọng ra nghe


xa lắc. Bấy giờ anh mới quay về. Anh về đến nhà vào lúc


mấy bông hoa râm bụt ở rặng rào nom đã rõ mặt. Sáng rồi.


4


Gà đang xô tiếng gáy giục sáng về. Seo Mỉ thức giấc.


Đàn bà con gái trong bản đều đã tỉnh dậy cùng với Seo Mỉ.


Người đàn bà Mèo từ năm mười hai, mười ba - cái tuổi làm


vợ(1), đã phải thức dậy sớm. Thức đến lúc bóng đêm đã sâu,


dậy vào lúc bóng đêm còn dày. Ngày này qua ngày khác,


bóng đêm vắt ngang suốt cả cuộc đời người đàn bà sống trên


núi cao.


Người già càng ít ngủ. Bà Thào Xóa đã dậy từ lúc nào.


Theo lệ thường, bà đang cặm cụi xay ngô. Bếp đã đỏ lửa.


Chõ đồ mèn mén đón hơi nước. Seo Mỉ vác hai cái thuồng(2)


lên vai, đẩy cửa bước ra.


Bên ngoài còn tối đất. Bóng tối chưa trả lại lối đi. Nhưng


Seo Mỉ thuộc đường. Chị nhớ từng gốc cây, mỏm đá, khóm


lau trên con đường đã đi mòn gót chân. Chị rảo bước. Có ai


đi bạn với Seo Mỉ không? Chẳng có ai. Chị len lỏi một mình


trong bóng tối, sương đang miên man rắc xuống. Một lát


sau, đằng trước, đằng sau chị lố nhố bóng người. Bóng các cô


gái vác thuồng. Vào lúc đêm rạo rực sáng, người già ở nhà


làm bữa, người trẻ đi lấy nước. Họ lẳng lặng bước đi. Trong


bóng tối im lặng, bóng các cô gái trườn đi, bước chân


gọn nhẹ.


Sương vẫn rắc xuống như mưa bụi. Vai áo Seo Mỉ đã ẩm


ướt. Khi nào hơi nóng trong người toát ra, vai áo bốc hơi chị


mới đi đến nơi. Một lúc lâu sau, vai áo chị se se. Con suối


gần nhất bản đây rồi. Bóng tối xao động trong tiếng nước


chảy rì rầm. Tiếng cá quẫy trong khe đá, làm mặt nước vẩn


lên những vệt sáng nhờ nhờ. Seo Mỉ dìm hai chiếc thuồng


__


(1) Ngày trước tục tảo hôn khá phổ biến trong dân tộc Mèo.


(2) Ống bương dùng để đựng nước.


xuống suối. Dường như chị mải nghĩ chuyện gì. Tiếng nước


chui vào ống ục ục tắt lịm từ lúc nào chị không hay.


- Thuồng đầy rồi đấy, chị Seo Mỉ à! - Có tiếng ai đấy nhắc.


Seo Mỉ khẽ choàng người. Chị vội vàng cúi xuống, xốc


hai ống nước nặng trịch lên lưng, quay về. Lúc về khác với


lúc đi. Chị bước thong thả, người ngả về phía trước, giữ


thăng bằng. Vậy mà nước trong ống vẫn sánh ra, ròng xuống


người chị, lạnh buốt. Vừa rồi, chị nghĩ gì? Chị nghĩ đến việc


này đây: Việc dân bản đi lấy nước ăn. Khó nhọc quá!


Có lẽ không có mấy bản Mèo ở gần dòng nước. Đi xuống


nương đã lâu, đi cõng được thuồng nước về còn lâu hơn.


Cơ hồ người Mèo phải dành nửa đời mình cho những


bước chân rải trên vệt đường dẫn đến suối, sông, đến mảnh


nương xa nhà. Chỉ đến mùa mưa, nước đọng trong hốc đá,


cái chân mới được nghỉ ngơi. Nhưng rồi mùa khô trở về, hốc


đá cạn nước, cái chân lại lần theo đường cũ, tìm đến con suối


xa. Và hàng ngày phải đi vào lúc này, lúc bóng đêm còn đằm


mình trong giấc ngủ.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 20.05.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.05.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 16.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 06.05.2019
xem thêm »