tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27161479
Tiểu thuyết
08.05.2019
Đỗ Quang Tiến
Làng tề


Tự ngồi thu hình ở đầu nhà bếp đã một lúc lâu. Cụ Chữ vẫn chưa đi lên. Bỗng nhiên Tự lại bồn chồn. Chắc ông cụ đang nói chuyện với Khắc. Nhưng chuyện gì? Hay lại những chuyện làm Khắc nghĩ ngợi? Đêm mai, Khắc đi rồi, Từ giờ đến lúc ấy,Tự không muốn Khắc phải băn khoăn về gia đình Tự.


Tự nhìn đăm đăm ra buị tre. Vẫn chưa thấy bóng cụ Chữ. Tự bứt dứt đứng dậy toan đi ra. Bớt chợt có tiếng chó sủa ở ngoài cổng. Đoạn tiếng chó xô ra đầu ngõ. Tự lắng nghe. Hình như có tiếng mẹ gọi ở trong nhà. Tự vội vã quay vào.


Bà cụ Chữ đang thập thò ở cửa, vạch cánh liếp ngó ra sân. Nhác thấy Tự, bà cụ loàng choàng:


- Ai đấy?


Tự khẽ đáp:


- Con ... con...


- Mày đi đâu về đấy?


- Con vừa ra ... đi giải.


- Thế thầy mày đi đâu?


- Con .. con không biết.


Bà cụ vịn vào cánh liếp, rên rẩm:


- Chết mất chứ chả sống được! Chó cắn sa sả như có người rình ở ngoài cổng, thế mà trong nhà không có lấy một người. Gọi bố, chả thấy thưa, gọi con, cũng chả thấy thưa. Ra nhà ngoài, vào trong buồng, chả thấy ai, nhà cửa cứ như nhà ma. Thế mày với thầy mày đi đâu? Giá lúc nãy, tuần giờ chúng nó ập vào, hỏi thì ăn nói thế nào với chúng nó? Thế mày chết chứ chả sống được.


Tự lẳng lặng thụt vào buồng. Bà cụ ngớ mặt trông theo. Rồi bà mẹ lại lẩm bẩm một mình như khấn ma só. Một lát, có tiếng xịch cánh liếp. Bà cụ ở trong buồng lại men mén đi ra:


- Ông đã về đấy à?


Cụ Chữ hỏi lại:


- Đi đâu mà đi về?


- Thế từ nãy đến giờ ông đi đâu?


Cụ Chữ làm ra vẻ bực:


- Ra xem gà qué thế nào mà nó cứ queng quéc như có kẻ trộm vào bắt, chứ còn đi đâu. Thật khổ với bà! Đêm hôm động rạng, đi ra chuồng gà một tí, bà cũng phải lục vấn!


Bà cụ nín thinh, thấp thóang đi vào buồng. Cụ Chữ ngả lưng xuống giường. Túp nhà trở lại yên lặng. Tự ngồi lên, lẻn ra bụi tre. Vừa để tay vào nắp hầm, bất thần có tiếng chân rào rạo ở đầu ngõ đi lại. Tự nhón gót bước vội về nhà.


Vào đến buồng, Tự đứng lại thở rốc. Gian đầu chái tối như hũ nút. Có tiếng gì đập thình thịch. Tự lắng nghe. Trong nhà, ngoài sân không có một tiếng động nhỏ. Tự lại chú ý nghe. Chỉ có tiếng trống ngực Tự đang đập mạnh.




Lão Mấu xách cái lệnh lầm lì bước ra sân, gióng một hồi ba tiếng. Phèng... phèng... phèng...! Ba tiếng sau ngắt quãng, và rộ lên cái lệnh như rạn nứt ra. Tự choàng dậy. Trời chưa sáng hẳn. Ánh sáng mập mờ, lạnh như tấm vải liệm, rọi vào các khe liếp. Tiếng lệnh rùng rợn khiến tất cả rã rời, bủn rủn vẳng ra cánh đồng, bãi đê, bờ sông, âm vang rùng rùng một giấy lâu mới tắt lịm. Tự đã tỉnh ngủ, nhưng người vẫn dính xuống giường. Đầu chị nhức nhối. Ở sân nhà Duyên bỗng có tiếng lao xao. Chắc sắp cất đám Mộc. Tự gượng dậy bước ra cầu ao, rửa mặt. Bên kia, cỗ áo quan đã khiêng ra đặt giữa sân. Tự toan đi sang chợt cụ Chữ gọi giật lại.


- Đi đâu đấy, Tự?


- Con đi đưa đám anh Mộc


- Thôi ở nhà, một mình thầy đi đủ rồi. Hai bố con cùng đi, u mày lại rền rĩ lên bây giờ. Ở nhà làm bữa quàng lên, ăn rồi còn đi tát nước.


Tự còn đang dùng dằng, bà cụ Chữ đã ở trên hè bước xuống, nói lủng bủng trong miệng:


- Tôi van chị, chị thương tôi được phận nhờ. Trời đất này, chị đua đòi vừa vừa chứ. Một mình bố chị đi đưa, tôi cũng lo thắt gan thắt ruột rồi, chị không phải đi nữa.


Tự quày quả quay vào. Rồi cắp rá gạo bước ra cầu ao. Trời đã sáng rõ mặt người. Bóng người lố nhố bên sân nhà Duyên. Thình lình lão Mấu lại gióng ba tiếng lệnh nữa. Tiếng lệnh rè rè, thưa và đều vừa dứt, ông Điền liền cất giọng:


- Một tiếng bỏ đi, hai tiếng lên vai này! Cách... cách! Tiếng hai thanh tre khắc vào nhau vừa im bặt, quan tài được đưa lên vai, lừ lừ tiến ra cổng. Tiếng lệnh lại lảnh lên gióng một.


Tự nghếch mặt nom theo cái quan tài khuất dần sau rặng rào. Chị bâng khuâng tưởng chừng cỗ áo vừa ở sân nhà mình khiêng ra. Bỗng dưng chị cảm thấy buồn, buồn rã rượi.


- Làm gì ở ngoài ấy, Tự? - bà mẹ ở trong nhà, hỏi với ra bờ ao.


- Con đang vo gạo


- Có nắm gạo, vo từ đầu giờ dần đến cuối giờ dậu chả xong. Cứ như đứa mất hồn ấy. Thật khổ.


Tự nhúng rá gạo xuống nước, xát lia lịa. Nước vo gạo trắng đục loang trên mặt ao xanh biếc. Đàn cá mại ngoi lên đớp tóp tép. Mấy bông hoa súng nổi lập lờ, xoè những cánh nhọn màu tím nhạt. Trên tàu lá trang mịn mượt, giọt sương lonh lanh, trong muốt như hạt trai. Mọi sáng,vo gạo xong,Tự thường khẽ đập tay xuống nước, rung rung tàu lá trang rồi mải mê nhìn giọt sương động đậy trong lòng lá. Nhưng sáng hôm nay cũng như mấy buổi sáng vừa qua, vo gạo xong chịu quên khuấy trò chơi thuở nhỏ. Chị đứng dậy, cắp rá gạo lẳng lặng quay vào bếp nhóm lửa nấu cơm.


Tự vừa vần cơm xong, cụ Chữ đã đi về. Bà cụ đang ngồi tết chổi ở đầu hè, ngước mặt hỏi chồng.


- Đám ma có đông không ông?


- Đông đấy. Bà con ở xóm Đình, xóm Chùa đều đi cả - Ai cũng có lòng thương tiếc anh ấy.


Bà cụ chép miệng:


- Trời đất này thương nhau để bụng. Đi đưa đi đón, lính tráng chúng nó dòm ngó thêm rầy.


- Ai cũng như bà thì người nào nằm xuống, cứ gọi là chết chương trong nhà, chả ai dám khiêng vác ra đồng đâu. Nghĩa tử là nghĩa tận, người làng người nước với nhau, đi đưa đám nhau một tí, bà cũng sợ run lên - cụ Chữ dằn giọng: Chúng nó có giỏi cứ triệt hạn cái làng Phượng - lâu này đi xem nào?


Bà cụ lại cúi xuống tết chổi, mi mắt buông sụp, nét mặt lộ vẻ lo buồn. Thật ra, nghe chồng con, hàng xóm láng giếng nói, lúc bà cụ cũng nghĩ ra. Song, nhớ đến những lần chúng nó khám nhà áp giải bắt người, cán bộ lên gốc gạo bắn, bà cụ lại hết hồn. Cụ Chữ biết tính vợ nên không mảy may bực giận. Cụ leo lên giường, kéo điếu hút thuốc. Lát sau, bà cụ đi vào buồng lấy nắm thóc dặt rồi đi ra chuồng gà.


Cụ Chữ hổi với theo:


- Bà làm gì đấy?


- Cho gà ăn chứ làm gì.


- Để đấy tôi. Đừng mở chuồng vội


Dứt lời, cụ Chữ rít nốt hơi thuốc, quăng xe điếu xuống giường, nhảng ra chuồng gà. Cụ lách tay vào cửa chuồng, bắt con gà trống cưỡng. Con gà trống đập cánh phành phạch. Con gà mái di và đàn gà con táo tác lao xuống sân.


Bà cụ Chữ ngần mặt, nắm thóc ở tay rơi lả tả:


- Ông bắt gà làm gì thế?


- Thịt.


- Sao lại thịt? Ông rồ à? Cả nhà có mỗi một con gà trống để cho nó ấm chuồng sao lại đem thịt?


- Ôi dà! Chả thịt thì cũng chả nuôi được nữa. Chiều hôm qua nó quấy bếp, tôi bực mình phạt một cái, nó gẫy một chân rồi. Chả thịt, mấy hôm nữa nó cũng chết toi. Đến hôm ấy thì có ăn xương với da.


Bà cụ xuýt xoa:


- Ông đưa tôi xem nào! Để tôi lấy cơm nóng bóp vài bận, nó khắc khỏi. Chó liền da, gà liền xương, việc gì phải thịt?


Bà cụ giơ tay định giằng lấy con gà, cụ Chữ đã quay ngoắt vào bếp. Vừa đi cụ vừa lẩm bẩm:


- Gãy lìa chân ra rồi, lại còn bóp với nắn. Tí nữa, bóp cho nó nắm lá chanh, nó mới mau liền xương.


Bà cụ đờ đẫn bước lên hè. Rồi làu bàu:


- Con giống con má nào cũng thế, cứ nuôi bén chân bén tay là lại mất. Con gà trống trước, lính trên bốt lùa ra đồng bắt nghiến. Hai năm trời mới gây được con này, lại đem giết thịt. Còn con gà mái hôm nào thịt nốt cho nó quang chuồng.


Cụ Chữ cười xoà:


- Tiếc gì cái con gà què không biết! Tôi đã bảo bà cụ Vấn hệ để cho con gà choai làm giống rồi. Giống gà nhà cụ ấy, chân cao, ức nở, nghềnh ngành như con trâu cà, chứ lại loắt choắt như cái của nợ này ấy à.


- Giống gà này mà còn chưa được to à?


Cụ Chữ làm thnooefh, cụ gại con dao vào chôn đĩa rồi đè con gà xuống; con gà quật cánh giẫy giụa. Cụ loay hoay mãi vẫn chưa cắt tiết được. Tự xán lại:


- Thầy đưa con giữ cho


- Được rồi! Đi đun ù xanh nước lên.


Con gà giãy chết, mào tím bàm lại, tiết bắn tung téo.


Tự cũng tiếc con gà chị cúi xuống mân mê. Bỗng chị ré lên:


- Thầy này, chân nó có việc gì đâu.


Cụ Chữ giật mình ngoảnh lại. Cụ nói té tắt:


- Lạ gì con gà mà phải cầm tay vào! Chân nó thế kia lại còn chưa gãy. Làm lông xong, nó sẽ gãy cả hai chân ấy. Thôi đem nước ra đây, nhanh lên!


Con gà béo lẳn, da vàng như sát nghệ. Tự sực nhớ đến Khắc. Ba bốn hôm nay, bữa nào Khắc cũng chỉ được vài bát cơm đi hơi với một ít muối vừng hay máy quả cà thâm đen. Đêm nay, Khắc phải đi. Giá được ăn một bữa ngon miệng anh sẽ đỡ mệt mỏi bao nhiêu. Tự nong nắm rạ cho ngọn lửa cháy bùng lên. Ngọn lửa liếm quanh cái xanh, nước đã bắt đầu reo. Một cảm giác ấm áp mem lên trong lòng chị.


- Bưng xanh nước ra đây! Chắc sôi già rồi đấy - Cụ Chữ nói với lên nhà trên - Bà này! Nhà còn nếp không nhỉ?


Bà cụ còn đang ngơ ngẩn tiếc con gà, lơ đãng đáp:


- Còn sét đấu đấy. Ông làm gì?


- Đồ đĩa xôi ăn. Lâu lâu không ăn của nếp cũng thèm.


- Còn một tít để dành, mấyhôm nữa có giỗ đấy.


- Xà! Cứ ăn đi, nắm nếp vay đâu chả được.


Bà cụ chỉ ra vẻ ngạc nhiên. Ông cụ vốn ăn nhịn để dành, sao hôm nay lại đốc chứng ra như vậy? Bà cụ ngước mắt nhìn chồng. Thôi, cũng như cái ăn mừng ông ấy tai qua nạn khỏi! Nghĩ thế, bà cụ lại cúi xuống làm, chẳng nói chẳng rằng.


Tự bưng xanh nước ra rồi ngập ngừng


- Thầy cứ lên nhà đi... để con làm cho chóng.


- Để đấy! Vác gầu ra tát một lúc đi rồi về ăn cơm chả mất buổi.


- Thầy để con làm cho có được không?


- Ôi dà! Mày làm mân ra, bao giờ xong mà ăn?


Tự nhìn con gà nằm rũ dưới đất rồi bần thần vác gầu ra đồng. Chị bước thủng thỉnh. Cỏ nằm ẹp xuống; giọt sương đậu trên ngọn cả tan ra, in những vệt bàn chân nhỏ nhắn trên bờ ruộng. Nỗi băn khoăn, theo bước chân lại cuộn lên trong tâm trí chị. Lúc này Khắc ra sao? Khắc ra sao? Khắc đã cắt cơn sốt chưa? Đêm qua, ông cụ nói chuyện gì với anh? Từ sáng đến giờ nhiều lúc chị định hỏi nhỏ cha, rồi lại thôi, chị nhớ lại, từ lúc ở dưới hầm lên, dường như vẻ mặt ông cụ vừa đăm chiêu suy nghĩ, vừa hồ hởi một cách kín đáo. Nhất là từ lúc bắt gà làm thịt ông cụ tươi tỉnh hẳn lên. Nghĩ đến đấy, chị lại yên lòng.


Tự ra đến bờ sông lúc nào không hay. Mặt trời đỏ như hoa vông, ngâm nửa mình dưới sông. Những tia sáng lấp lánh ngả dần trên mặt nước khiến dòng sông đỏ dậng lên. Bên kia, lô-cốt, ụ súng, hàng rào dây thép gai, cái nòng súng đen ngòm và lạnh ngắt nghếch mắt nhìn sang làng Phượng-lâu suốt một đem, giờ cũng ửng hồng. Cánh đồng bãi đê, cây gạo sần sùi, con đê ngoằn ngoèo, cái nhà thờ lạnh lẽo và buồn tẻ... tất cả đều nhuộm một màu đỏ tươi. Bỗng nhiên Tự cảm thấy vui vui.


Xóm Giếng, xóm Đình, xóm Chùa lác đác có người ra đồng. Có bóng người, có tiếng nói chuyện lao xao, cái cánh đồng rộng dường như thu hẹp lại, ấm áp hẳn lên. Mặt trời nhô khỏi mặt sông; tia nắng đỏ lửă dịu đi. Tự buộc dây gầu, đoạn bước xuống nước. Ánh nắng rọi xuống, vũng nước loang loáng như giát kim nhũ. Nước phù sa mát lạnh ngấm vào chân ruộng làm bật lên những tiếng xèo xèo rất nhỏ. Nghe tiếng nước ì uồm xối xả đổ lên luống cây và tiếng hát văng vẳng ở đằng xa, lòng chị rộn ràng.


Bấy giờ mặt trời đã cao bằng nóc gác chuông nhà thờ bên kia sông. Ánh nắng đã rát vai. Tự đang dẻo tay tát nước, chợt có tiếng mẹ gọi về ăn cơm. Chị bước lên bờ, lững thững đi về.


Đến cổng nhà Duyên, vợ Mộc Tự rẽ vào. Duyên không có ở nhà. Hai chị em cái Kim, cái Chỉ ôm nhau ngồi ở ổ rạ. Gọi mẹ mãi không thấy cái Chỉ khóc ti tỉ. Cái Kim dỗ em không được, cũng nước mắt vòng quanh. Thấy Tự, nó mừng quá nhổm ngay dậy:


- Cô Tự ơi! U cháu đi đâu chả về, để cái Chỉ nó khóc mãi.


Ngó hai đứa trẻ mồ côi, chiếc khăn sô quấn lắt lẻo trên đầu, Tự lặng người.


- Mẹ cháu còn đưa bố cháu ra đồng.


- Bao giờ u cháu mới về hở cô?


- Lát nữa.


- Lát nữa, thầy cháu có về không? Sáng ngày thầy cháu nằm ở trong cái hòm to tướng cô ạ. Nằm ở trong ấy ấm, cô nhỉ?


Tự rùng mình:


- Sang nhà cô chơi, lúc nữa thầy u cháu về.


Cái Kim thủ thỉ:


- Sang làm gì cơ, cô Tự?


- À, sang nhà cô ăn xôi, thịt gà.


Cái Chỉ nín bặt. Nó nhìn Tự, mắt tròn xoe và long lanh nước mắt. Tự cúi xuống bé nó, dắt cái Kim, vòng bờ ào về nhà.


Cụ Chữ, ông Điền đang ngồi nhắm rượu trên phản. Bà cụ thì ngồi cạnh mâm cơm ở dưới đất, đợi Tự. Thoáng thấy con gái đi vào bếp, cụ Chữ cầm cái đĩa đi xuống, vừa đi vừa dóng:


- Nhà còn muối không biết?


Cụ Chữ đưa mắt nhìn trộm lên nhà trên rồi chỉ vào xó trạn, bảo nhỏ Tự.


- Có gói xôi thịt gà, thầy giấu chỗ kia kìa! Khuya khuya mang xuống cho anh ấy ăn. Khéo không u mày biết.


Nói xong cụ Chữ bốc dúm muối, lảng lên nhà trên. Tự sờ tay vào góc trạn lấy cái gói ra. Cái gói còn ấm tay. Có đến một bát xôi to và nửa con gà. Chị bồi hồi. Đến lúc này, chị mới hiểu tại sao con gà "gẫy chân" và càng thấy thương cha.


- Tự ơi! Lên ăn cơm chả nguội! Cho cả cái Kim, cái Chỉ lên đây! - Tiếng bà cụ gọi vọng xuống bếp.


Tự nhét vội cái gói vào trong cùng trạn rồi dắt hai đứa trẻ đi lên. Giữa lúc ấy, cụ Chữ nhấp hớp rượu, "khà" một tiếng, bảo ông Điền.


- Ông lấy đi, chả nguội! Ăn ngô, ăn khoai mãi cũng nóng ruột, không mấy khi có tí thức nhắm, ông xơi tự nhiên cho vui. Cái anh gà trống cưỡng tưởng là dai, thế mà cũng mềm thịt đấy chứ, ông nhỉ?


Gương mặt, dáng điệu ông cụ làm bà cụ vui lây. Bà cụ kéo cái Kim, cái Chỉ ngồi xuống bên cạnh, âu yếm nói:


- Các cháu ăn vã thịt cho thích đi!


Cơm nước xong, bà cụ Chữ ra đồng, vơ gốc rạ. Tự ra chân đê, tát nước. Ở nhà, cụ Chữ, ông Điền ngồi uống nước trên tấm phản.


Dân làng đã đổ ra ngoài đồng, bãi đê. Xóm Giếng vắng lặng. Chỉ còn tiếng trẻ con bấm be gọi mẹ. Và đôi lúc tiếng kẻng gác từ cái bốt bên kia sông đưa sang, át tiếng khóc rời rạc và tiếng bụi tre đánh võng.


Cụ Chữ đưa mắt nhìn xung quanh. Rồi thì thầm kể lại chuyện lúc gần sáng cho ông Điền nghe. Chợt có bóng người lướt qua cổng. Cụ Chữ ngừng lại, nghe ngóng đoạn nói tiếp:


- Anh ấy đòi về đơn vị đêm nay, tôi giữ mãi nhưng anh ấy nhất định xin đi vì có công tác cần. Tôi khó nghĩ quá ông ạ.


Ông Điền vừa hút thuốc vừa nhìn cụ Chữ. Nét mặt ông cụ nghiêm trang, điềm tĩnh khác hẳn đêm qua, khiến ông rất đỗi ngạc nhiên.


- Chân anh ấy như thế, không thể để anh ấy đi đêm nay được. Cụ nên giữ anh ấy ở lại, chạy thuốc cho anh ấy lành mạnh đã.


Cụ Chữ nhíu mày:


- Thì bụng dạ ai chả phải nghĩ thế. Tôi bảo mãi rồi, anh ấy vẫn cứ một mực xin về đơn vị đêm nay. Khó nghĩ thế chứ lại!


Ông Điền trầm ngâm giây lát rồi hỏi:


- Anh ấy đã cố tình xin đi, cụ nghĩ thế nào?


- Cũng đành phải để anh ấy đi, chứ biết làm thế nào. Đêm qua, tôi có bảo anh ấy, nếu cái thể không nán lại được thì đêm nay, tôi đưa anh ấy đi qua mấy làng tề, đến khu du kích, tôi hãy về, nhưng anh ấy khăng khăng xin đi một mình. Rầy thế kia chứ! Từ lúc ở dưới hầm lên, đến lúc có tiếng lệnh cất đám anh Mộc, tôi nghĩ mãi vẫn không biết làm cách nào cho ổn.


Cụ Chữ im lặng, châm lửa, hút thuốc. Vừa rít thuốc, cặp lông mày lốm đốm sợi bạc vừa nhíu lại, nếp nhăn in hình chữ "thọ" trên trán. Cụ có vẻ nghĩ ngợi gay cấn, song nét mặt vẫn bình tĩnh. Rít xong điếu thuốc, cụ ngửa mặt lên mái nhà, nhả khói và nói trong cuống họng:


- Khó nghĩ quá!


Giữa lúc ấy lý Mực ở đằng sau vườn, bước nhẹ chân đi vào trong nhà.


Nhác thấy hắn, ông Điền giật mình. Nhưng rồi ông trấn tĩnh được ngay. Ông làm ra vẻ không chú ý đến hắn:


- Khoai đất lạ, mạ đất quen, cái mảnh ấy cứ đặt một món dây lang, thế nào cũng được ăn. Cụ cứ nghe tôi, chả phải tính toán gì nữa. Các cụ đã dạy thế, ta cứ thế ta làm.


Cụ Chữ ngẩn mặt nhìn ông Điền, không hiểu ông ta vừa nói chuyện gì. Cụ toan quay lại chuyện Khắc thì lý Mực ngồi ghé xuống mép phản. Cụ toát mồ hôi, lúng túng bưng cái điếu đặt trước mặt hắn:


- Ông ... ông lý vào chơi!.. Mời ông xơi thuốc.


Lý Mực cười nhạt:


- Có chuyện gì mà khó nghĩ thế cụ?


Cụ Chữ khề khà đáp:


- À ... vẫn chuyện cái mảnh ruộng chằm ở gốc ruối đấy ạ. Tôi định cấy món rau muống, vừa có rau ăn vừa có cái bán, ông Điền lại cứ bảo giồng khoai lang... tôi khó nghĩ quá.


Ông Điền nói xen vào:


- Cái mảnh sào hai của tôi, vụ này, tôi cũng giồng khai lang. Mảnh ấy xốp đất, nhất định được ăn...


Lý Mực liếc mắt dò xét rồi ngắt lời ông Điền. Cụ Chữ đỡ lời ông Điền:


- Ấy tôi còn đợi cháu Tự tát nốt buổi sáng nay, chiều mới đủ nước bừa. Ông Điền cũng đang đợi để kéo bừa đổi công cho tôi.


Lý Mực đằng hắng rồi hỏi, giọng tự nhiên như không:


- Nhà ta có khách hay sao mà ban sáng quật gà sớm thế?


Cụ Chữ rót nước mời lý Mực sau đấy thủng thẳng đáp:


- Khách khứa nào đâu, con gà mò vào bếp quấy, tôi quăng cái đòn ngất, chả may nó gãy mất một chân. Sáng nay nó củ rủ không ăn uống gì cả, thế là đành phải thịt, cho ông Điền đánh đụng một góc. Anh em chúng tôi vừa làm tí tửu cho ấm bụng xong.


Lý Mực lảng sang chuyện khác:


- Cụ định đặt dây lang ở mảnh ruộng chằm đấy à? Ruộng chằm, đất nhão, đặt dây lang ăn thua gì?


- Định đặt thì phải vượt đất cho cao lên, nhưng lại sợ tốn công. Khó nghĩ thế!


Lý Mực lừng khừng đứng dậy:


- Thôi, ông với cụ ngồi chơi, tôi phải đi đằng này một cái.


Cụ Chữ, ông Điền đều tíu tít:


- Ông xơi điếu thuốc đã!


- Ông xơi chén nước, nước đang nóng.


Lý Mực đã ra đến cổng. Cụ Chữ dấp dính mắt nom theo. Rồi lẩm bẩm:


- Nhẽ chết! Nó đi ra thế nào mà chả nghe thấy tiếng gì cả. Mẹ bố cái quân Tây đoan, mật thám! Từ ngày nó ra lập tề, thật tôi mất ăn mất ngủ với nó. Mẹ cha cái quân mất giống!


Ông Điền nghiêm mặt:


- Cả làng này mất ăn mất ngủ với nó chứ riêng gì ai. Thằng này, rồi đến phải khử như thằng lý Khuể bên Phú-Cốc, dân làng mới sống được. Đã sống dở với cái bốt, lại còn chết dở với nó.


Cụ Chữ co chân ngồi bó gối, nếp trán xếp lại. Có lẽ cụ chưa hết băn khoăn về chuyện Khắc. Chợt ông Điền hạ giọng:


- Lý Mực nó cứ thì thụt như chuột ngày thế này, đêm nay, anh ấy đi làm sao được?


Cụ Chữ thần mặt:


- Tôi định đêm nay anh ấy cố tình về đơn vị, thế nào tôi cũng phải đưa anh ấy đi. Vì dân vì nước cán bộ mới dấn thân về đất này. Mà người ta có tin ở mình thì mới vào nhà mình. Giá anh ấy khoẻ mạnh, nó đi một nhẽ; đằng này anh ấy lại bị thương, để anh ấy đi một mình, vạn nhất có chuyện gì, mình còn mặt mũi nào trông thấy bà con dân làng. Tôi nghĩ cả đêm qua rồi. Thế nào tôi cũng phải đưa anh ấy đi. Tôi chả già cũng lấy làm già, nhỡ có xa xẩy, chết cũng đáng đời. Đến như anh Hoạt, anh ấy còn trai trẻ, vợ dại con thơ, còn chả tiếc đời nữa là mình đã quá nửa đời con người.


- Anh ấy bị thương nặng, cụ lại già yếu, đêm hôm vượt làm sao được mấy làng tề?


Giọng cụ Chữ bỗng rung rung vì xúc động:


- Tôi nghĩ chín rồi ông ạ. Bà nó nhà tôi nhút nhát, cháu Tự nó có lớn nhưng chưa có khôn, tôi không đi thì ai đi? Để anh ấy đi một mình, nhỡ xẩy ra chuyện chẳng lành, tôi đắc tội với Cụ Hồ. Còn thằng cháu Nghĩa, bao giờ yên hàn nó về, biết chuyện, nó nói cho một câu thì nhục với nó. Chết thì chết, tôi cũng phải đưa anh ấy đi.


Cụ Chữ, ông Điền cũng lặng im. Hình như mỗi người đang hướng theo chiều tâm tư của mình. Ông Điền xây lưng nhìn ra sân. Ánh nắng đã phủ kín mảnh sân đất nện và đang rọi chếch lên thềm hè. Những hạt bụi nhỏ li ti quay cuồng trong tia nắng sớm mai. Ông lim dim mắt, đôi lông mày giao liền thành một vệt dài. Tâm trí ông lúc này cũng đang quay đảo như những hạt bụi trong tia nắng.


Trong khoảnh khắc, ông Điền nghĩ đến cuộc đời mình. Ông nhớ lại cái làng quê, quanh năm nước trắng đồng. Ngày hai bữa, dúm ngô, củ khoai cõng hạt cơm. Đến ngụ cư ở đất Phương- lâu, ruộng vườn tuy màu mỡ vẫn bữa no bữa đói. Rồi đến cái năm đói ngã người. Vợ chết, mấy đứa con chết. Cả nhà tan nát. Tất cả chỉ còn lại cái hốc cối trên nền đất cũ. Thế rồi Cách mạng tháng Tám. Mới được no lành vài năm thì giặc Tây lại cho thằng xếp Duật về đóng bốt. Trong làng, thằng lý Mực đứng ra lập tề. Đời ông lại cực nhục. Ông biết đời mình, đời bà con dân làng cực nhục vì đâu. Không chung lưng đấu sức lại để nhổ cái bốt, còn khốn khổ với chúng nó.


Nhưng đêm nay, đi với Khắc là đi vào mũi súng của bọn tề bốt! Bất giác ông Điền rùng mình tựa hồ hơi thép lạnh toát ở lưỡi lê cắm ở đầu súng vừa thấm vào người.


Ông Điền vẫn đăm đăm nhìn ra sân. Một lúc sau, ông ngoảnh lại:


- Cụ nghĩ như thế là chí phải, nhưng cụ đi không tiện. Đi đường chả may gấp khúc, cụ đã không đỡ đần gì được, lại còn làm bấn thêm cho anh ấy. Thôi, cụ để tôi đưa anh ấy đi cho.


Ông Điền nói bằng một giọng điềm đạm, dường như đã suy tính kĩ. Cụ Chữ vội gạt đi:


- Chết, chết! Tôi không dám để ông đi đâu. Anh ấy ở nhà tôi, lại để ông đi thì còn ra thế nào.


Giọng ông Điền vẫn chậm rãi:


- Sao cụ lại nghĩ như thế? Anh ấy là cán bộ, là bộ đội Cụ Hồ chứ có phải khách của nhà ai đâu. Cán bộ về làng, tiện ai người ấy phải lo nuôi nấng, che giấu, không phải việc riêng của ai cả. Bà con mình ở vùng tề thật, nhưng ăn cơm còn biết trở đầu đũa nữa là cái đại sự này. Cán bộ vì dân làng thì dân làng cũng phải vì cán bộ, có thế mới mong nhổ được cái bốt. Cụ cứ để tôi đi.


Cụ Chữ bối rối. Ông Điền nó thật có lý có tình, song trong lòng cụ vẫn cứ thấy lấn cấn thế nào. Cụ nâng chén nước lên lại đặt xuống:


- Nhưng mà...


- Cụ cứ để tôi đưa anh ấy đi - ông Điền ngắt lời cụ Chữ - cảnh tôi dễ hơn cảnh cụ. Nhà tôi với ba cháu chết đói năm Ất-dậu cả. Bây gìơ tôi, anh trên không có, em dưới thì không, chỉ có một thân một mình, nếu tôi chết cũng không bận đến ai. Vả lại sức tôi còn khoẻ hơn cụ. Trong lúc đi đường, nếu có chuyện gì, tôi còn xoay xở được. Mạng mình chả nói làm gì nhưng mạng cán bộ có phải chuyện chơi đâu. Lòng vả cũng như lòng sung, ai uống nước cũng phải nhớ nguồn. Sớm muộn làng ta sẽ được giải phóng. Lúc bấy giờ mình muốn ngẩng mặt nhìn cán bộ, bà con dân làng hay muốn cúi mặt xuống đất như bọn Việt gian?


Cụ Chữ lặng thinh, không biết nói câu gì nữa. Cụ kéo điếu, dạt thuộc nhưng rồi ngồi đờ ra, cặp mắt nhỏ teo khẽ chớp chớp. Ông Điền lại ngoảnh mặt nhìn ra cổng. Tia mắt ông đăm đăm, các thớ thịt nổi hẳn dưới làn da đơ sát lại. Đêm nay, phải thoát ra lối này rồi men lối khác ra bờ sông... rồi đi con đường...


- Đêm nay phải không, cụ? Ông Điền quay lại khẽ hỏi cụ Chữ.


- Đêm nay đấy.


- Có chắc không, cụ?


- Chắc. Anh ấy có lời rồi, thế nào anh ấy cũng phải đi.


Tự đã về đến cổng. Qua khe hàng rào, chị bắt chợt ông Điền nhìn ra rặng cúc tần, vẻ tư lự. Cụ Chữ ngồi chõng tre, ngước mắt nhìn lên xà nhà, ra ý cũng đang suy tính. Nom nét mặt và dáng điệu, chị biết hai người mải nghĩ ngợi chuyện gì. Có lẽ chuyện Khắc vờ ngồi xuống, buộc lại bó cọc chống gầu.


Chị vừa làm vừa đưa mắt dòm vào trong nhà. Cụ Chữ, ông Điền bỗng ngồi nhích lại, môi mấp máy, đầu gật gật. Lại chuyện gì đây? Chuyện lành hay chuyện dữ? Gương mặt hai người hình như dãn ra, tuy vẫn đăm chiêu. Chắc chuyện lành! Tự trút một hơi thở dài.


- Tự vác gầu và bó cọc lên vai, thong thả đi vào sân. Chị toan bước xuống bếp thì cụ Chữ xoa tay vào nhau, cất tiếng gọi:


- Tự


Tự còn đang hồi hộp, cụ Chữ đã hể hả nói tiếp:


- Nước nhạt rồi đấy! Ra vườn ngắt nắm chè, nấu ấm nước cho ngon mà uống, con ạ!


Tự cất gầu, thoăn thoắt bước ra vườn.


Lửa cháy chập chờn. Có ánh lửa, chái bếp trở nên ấm cúng. Đêm nay, Khắc đi. Có người này người nọ, chắc Khắc đi trót lọt. Chị nong nắm rạ cho cháy bùng lên. Nắm rạ cháy xèo xèo, ấm ran gò má chị


Tối đã một lúc lâu lắm. Xóm Giếng im lìm. Không một ánh lửa. Không một tiếng động mạnh. Chỉ còn tiếng bước chân bọn dõng đi tuần, đôi lúc gờn gợn trên mặt đường. Và ánh đèn pin của toán lính bốt đi ba tuần loang loáng ngoài bờ sông.


Ông Điền vạch rào lẻn sang, thì thầm với cụ Chữ. Rồi ông cụ rón rén đi vào buồng, nói nhỏ với Tự. Phút sau, ông Điền biến ra ngõ. Cụ Chữ ngồi thu hình dưới đất chăm chắm nhìn qua khe liếp ra cổng. Tự xuống bếp lấy gói thức ăn, lỏn ra bụi tre.


Tự khẽ nâng nắp hầm. Mùi hơi người, mùi máu ở chiếc áo trấn thủ quyện vào mùi rạ mới, theo cửa hầm xộc lên. Mấy đêm nay, chị đã quen với cái mùi ngai ngái, nồng nồng đầm ấm ấy. Nhưng lúc này, tự nhiên chị cảm thấy bồi hồi và chị nghĩ miên man. Lát nữa.. Dòng suy nghĩ của chị bất thần bị cắt ngang bởi câu nói khe khẽ trong bóng tối vẳng ra:


- Ai đấy?


- Tôi


- Chị Tự đấy à?


- Vâng.


Giọng Khắc nghe tỉnh táo hơn mọi đêm. Niềm vui dạt dào trong lòng Tự. Chị đánh diêm, thắp đèn, ánh đèn vừa leo lên, chị nhìn Khắc. Khắc đang mải sửa lại những nét gạch trên tường hầm.


- Anh làm gì đấy?


Khắc tươi tỉnh đáp:


- Tôi đánh dấu mấy đêm tôi ở đây. Đêm nay nữa là năm đêm. Chóng quá chị Tự ạ!


- Anh đỡ đau chưa?


- Cũng hãy còn đau, nhưng chống nạng thì đi được. Chị làm cho cái nạng tốt quá, những không, tôi cũng không nghĩ ra.


Gò má Tự ran lên vì cảm động. Chị ngập ngừng:


- Hay là ... anh ở lại một ngày nữa cho khoẻ, đêm mai hãy đi?


-Chị cho tôi đi đêm nay nhẹ không, đêm mai chả may tôi lại sốt như đêm qua thì lỡ việc. Đêm qua, cụ xuống đây, tôi đã thưa chuyện với cụ rồi. Mọi việc tôi đã sắp xếp xong xuôi. Giờ chỉ còn đợi chị xuống đây là tôi đi.


Tự nín lặng. Thế là đêm nay, Khắc đi. Thật ra, Tự cũng mong Khắc về đơn vị để bộ đội chóng về diệt bốt. Song, nhớ đến vết thương của anh và mấy làng tề ác rải ở ven hà, chị không khỏi lo chị mở gói thức ăn, tay run run:


- Có ít xôi, anh ăn hết đi lấy sức mà đi.


Nhìn gói thức ăn, Khắc ngạc nhiên. Anh ngước nhìn Tự, không giấu nổi vẻ xúc động. Tự cúi đầu tránh tia mắt của Khắc. Nhớ đến những lần đưa cho Khắc nắm cơm nguội tanh và mấy quả cà đen nước, thâm xì, chị lại xót xa trong lòng.


- Anh ăn đi! - Tự khẽ giục.


- Tôi vừa ăn cơm xong, hãy còn no. Chị đã cho, tôi xin đem theo, lúc nào đói, tôi sẽ ăn.


Tự không nài ép Khắc như mọi lần. Việc Khắc sắp ra đi còn đang vấn vương trong tâm trí chị. Chị buộc gói thức ăn lại, để bên cạnh Khắc.


- Lúc nào đi, anh nhớ mang theo nhé!


Nhìn bàn tay Tự nắn nót sợi lạt, một cảm giác ran ran lướt trên người Khắc. Anh lại bồi hồi cảm động.


- Đêm nay, liệu anh có đi được đến nơi không?


Khắc khẽ choàng người:


- Cái gì hở chị? À ... thế nào tôi cũng phải có gắng đi đến nơi.


Hai người ngồi yên, dáng điệu cùng ngỡ ngàng. Ánh lửa vàng nhạt xiên qua những giọt nước lấm tấm đậu trên bóng đèn, toả ra khoảnh hầm. Có hơi lửa, những giọt nước tụ lại, ròng xuống như những giọt mồ hôi chảy trên gò má. Tự đang mải nhìn, chợt có tiếng rin rít. Chị ngẩng đầu lên. Khắc đang thít lại các nút lạt ở cái nạng tre. Đêm nay, trông anh gầy rộc đi, gò má vêu vao, nước da tái xanh, mắt trũng sâu. Chỉ có ánh mắt là vẫn rắn rỏi. Nỗi xót thương anh bộ đội lại xâm chiếm lấy chị.


Tự lâm râm như nói một mình.


- Về đến đơn vị, anh cố thuốc thang cho chóng lại người.


Khắc đặt cái nạng xuống, vui vẻ đáp:


- Về đến nơi, chắc đơn vị sẽ cho tôi đi quân y. Ở đấy thuốc men đầy đủ, các đồng chí ý, bác sĩ lại hết lòng chăm sóc, chỉ độ một tháng là tôi khoẻ.


- Chỗ chân gãy ... liệu có lành hẳn được không?


- Chắc sẽ lành hẳn. Có nhiều đồng chí bị thương còn nặng hơn tôi, thế mà điều trị ở quân y có mấy tháng lại đi tác chiến được.


Ánh mắt Tự ấm lên. Chị đăm đăm các nét gạch, Khắc đánh dấu mấy đêm ở dưới hầm. Năm nét gạch khắc sâu vào tường phút chốc gợi lên trong ký ức chị bao nhiêu chuyện kinh hoàng. Những lúc ấy, chị cảm thấy một cái gì bừng bừng trong lòng. Chị vui sướng, kiêu hãnh. Niềm vui thầm kín mà sôi nổi lạ thường. Nhưng một lúc nữa thôi, Khắc sẽ đi khỏi nơi đây. Cảm giác khác lạ ấy sẽ không còn nữa. Bỗng chốc chị thấy nhớ tiếc.


- Chị Tự ạ!


Bàng hoàng Tự ngẩng đầu lên. Và chị ngạc nhiên. Khắc đang nhìn thẳng, nét mặt hơi se lại, trông nghiêm nghị và xúc động khác hẳn mọi lúc.


- Chị Tự ạ! Giữa lúc tôi bị giặc bắn bị thương, sắp bị chúng bắt, chị đã cứu tôi rồi chăm sóc tôi bốn năm hôm nay ở dưới hầm. Ở những làng tề ác như làng ta, che giấu cán bộ là một việc rất nguy hiểm. Vậy mà chị vẫn che giấu tôi ở dây. Mấy hôm nay, không lúc nào tôi không nghĩ đến tấm lòng thương yêu cán bộ của chị và hai cụ. Đêm nay, tôi phải trở về đơn vị. Trước khi lên đường, tôi không biết nói gì hơn là sẽ ghi nhớ mãi công ơn gia đình nhà ta và tôi xin hứa sẽ chiến đấu quên mình để góp phần giải phóng quê hương chúng ta khỏi bàn tay giặc.


Khắc ngừng lại, cố nén cơn xúc động bất thần. Bỗng anh kinh ngạc. Tự đang nhìn anh, ánh mắt như hờn trách. Phút sau chị mới nói:


- Anh nói thế thì còn gì tình nghĩa quân dân nữa. Bộ đội về đây vì nhân dân thì nhân dân phải hết lòng giúp đỡ bộ đội, sao anh lại nói ơn với huệ?


Tự mấp máy nơi tựa hồ muốn nói thêm rồi lại thôi. Chị im lặng, nét mặt hơi tái đi. Khắc luống cuống đưa tay vuốt mái tóc xoã xuống trán và cũng lặng im.


Tiếng dế trũi, tiếng giun khoang vẳng lên, râm ran trong hầm. Giây phút nặng nề trôi qua. Tự đã nguôi nguôi và chỉ còn thấy thương mến Khắc.


- Anh đi một mình, tôi không đành lòng..


Tự chưa nói hết câu, Khắc đã ngắt lời:


- Xin chị yên tâm, tôi đi một mình được. Đời bộ đội chúng tôi nhiều lúc gặp nguy hiểm rồi. Nhưng bình tĩnh, tin tưởng cuối cùng chúng ta đã qua.


Tự thong thả nói tiếp:


- Thầy tôi bàn với tôi là để ông Điền đưa anh đi.


- Ông Điền là ai hả chị? - Khắc lấy làm lạ, hỏi.


- Ông Điền ở bên hàng xóm nhà tôi. Anh bình tâm, ông ấy tốt lắm.


- Tôi thành thật cảm ơn chị nhưng tôi e, vì tôi mà ông Điền có thể gặp chuyện chẳng lành.


- Nếu anh không để ai đưa anh đi đến khu du kích, thế nào thì thế tôi cũng không để anh đi đêm nay - giọng Tự cương quyết.


Lại im lặng một hồi lâu. Tự cúi đầu, cắm tựa lên đầu gối, ngón tay miết xuống đất. Thỉnh thoảng chị lại ngước nhìn và bắt gặp tia mắt trầm lặng trước mặt. Khắc sắp đi xa rồi! Lòng chị bỗng nao nao. Có lẽ Khắc cũng đang bồi hồi vì mối tình cảm mới lạ vừa len vào lòng mình. Anh nói bâng khuâng như trong giấc mơ:


- Tôi đi, bao giờ diệt được cái bốt này tôi sẽ về thăm chị và gia đình nhà ta...


Câu nói của Khắc thốt ra qua hơi thở không đều. Nhưng Tự vẫn nghe rõ từng lời. Chị cúi mặt, vê về tà áo, ngập ngừng:


- Vâng, bao giờ quê tôi được giải phóng, mời anh về thăm. Lúc ấy sẽ vui hơn bây giờ.


Đột nhiên giọng Tự nghẹn lại. Hai giọt nước mắt trào ra, loáng trên tròng mắt. Khắc vội nhìn đi chỗ khác. Cơn xúc động mạnh mẽ cũng đang cuốn lên như cơn lốc trong anh. Không khí trong căn hầm bỗng nhiên xao động. Ánh đèn tù mù bùng lên, sáng rực.


Chợt Khắc giật mình ngoảnh lại. Rồi nói với Tự:


- Thôi, tôi đi chị nhé!


Tự như vừa tỉnh giấc mơ. Chị nhìn quanh căn hầm, ánh mắt ngỡ ngàng:


- Anh để tôi lên xem tình hình ra sao đã.


Nói rồi, Tự tắt đèn, nâng nắp hầm đi lên.


Trong nhà, cụ Chữ vẫn ngồi nép vào bóng tối, hé cánh liếp nhìn ra sân. Và lắng nghe các tiếng động bên ngoài. Nhác thấy Tự, cụ hỏi nhỏ:


- Anh ấy thế nào?


- Anh ấy cất cơn sốt rồi ạ.


- Có thể đi đêm nay được không?


- Anh ấy muốn đi ngay bây giờ.


- Được rồi, đợi ông Điền sang đã.


Tự toan hỏi thì ông Điền bước vào. Ông ngồi xuống bên cụ Chữ, thì thầm:


- Chưa đi được đâu. Tôi vừa vòng một lượt về đây. Lý Mực với bọn dõng đang đi tuần các xóm. Ngoài bờ đê cũng có một toán lính bốt đi dạo. Đợi tí nữa xem thế nào. Sao đêm nay chúng nó tuần giờ riết thế? hay là lại có bốt nào vừa bị ta diệt không biết.


Lo lắng Tự ngó ra cổng. Tiếng bước chân thình thịch, tiếng còi lanh lảnh, tiếng báng súng lách cách... dội lên trong bóng đêm. Chị vịn vào cột đó, ngồi xuống, im lặng.


Ngoài đê, con cú đậu trên ngọn cây gạo cất tiếng kêu. Cú rúc... cú rúc... Đêm đã ngả về khuya.




Chôn cất Mộc xong, mặt trời cao bằng con sào. Lão Mấu về nhà Duyên, ăn cơm. Thật tình lão ta không muốn ăn, sợ tốn kém cho nhà đám. Cái "máu" lão ta vẫn thế. Nhưng rồi Duyên nói mãi, lão ta nể đành ngồi xuống ăn vài lưng bát cơm. Ăn xong, ngậm cái tăm, lão ta đi một mạch về miếu.


Qua một đêm không ngủ, đến lúc trời còn tối đất lại phải khiêng vác, hạ huyệt, lấp đất tinh tươm mới ngơi tay, lão Mấu mệt lử. Vừa nằm vật ra cái ổ rạ, lão ta đã ngáy khò khò. Mãi đến lúc trong làng đã lên đèn và cơn rượu nhớ thì, nạo ruột nạo gan, lão ta mới bật dậy. Mắt nhắm mắt mở lão ta lúc cúc đến hàng rượu nhà mụ Luyến.


- Cụ Mấu cụ ấy vào uống rượu đấy, có mở cửa ra không nào! Lão Mấu phởn, bóp mũi nói khác giọng rồi đẩy cửa bước vào.


Hàng mụ Luyến tối nay vắng khách. Lúc bấy giờ chỉ có hai tên lính bốt ngồi ngất ngưởng ở bàn. Chúng có vẻ đã ngà ngà say. Mụ Luyến ngồi rãi thẻ trên chiếc chõng tre, nhai trầu.


Lão Mấu ngồi ghé xuống mép giường, xoa chân vào nhau, đập mấy cái, "rửa chân cạn" rồi lão vào cái góc lão ta vẫn thường ngồi. Mụ Luyến mải tán chuyện với hai tên lính, không chú ý đến lão ta. Lão ta liền hắng giọng:


- Thế nào, có bán rượu hay không thì bảo?


Mụ Luyến ngoải lại nom thấy lão Mấu, mụ bĩu cặp môi đỏ mọng quết trầu, nói đùa:


- Ai chứ cụ Mấu thì không bán


Lão Mấu nhắm một bên mắt, kéo xếch một bên mép, tay chỉ vào trán:


- Không bán, có sợ không? Trông bốn cái sẹo đây này! Sừng sỏ như thằng trưởng bạ Khoan còn ăn mày dở với mấy cái sẹo ấy đấy!


Mụ Luyến nheo mắt cười, để lộ hàm răng luôm nhuôm, lấp loé mấy chiếc răng vàng:


- Có hoạ cụ doạ bà Chóp thì được, chứ dọa tôi, nước non gì. Đến thuồng luồng ba ba, thổ công hà bá, tôi còn chả coi ra mùi gì nữa là cụ.


- Nếu thế thì nhất bà, nhì tôi, thứ ba mới đến thổ công hà bá.


Mụ Luyến thích chí cươì híp mắt. Hai tên lính bốt đang ngồi đờ ra thành ghế, cũng cười khề khề. Hàng rượu nhộn lên được một tí rồi lại ỉu sìu như lúc nãy. Ánh đèn vàng nhệch hắt lên những chiếc chân bàn, chân ghế gãy chằng dây thép, đống bát đĩa sứt mẻ. Không khí lạnh lẽo trong gian nhà vẫn phảng phất mùi máu tanh hơn xối ra đêm qua, lúc bọn lính say rượu đánh nhau.


Lão Mấu lầm lì nhấp từng hớp rượu. Hai tên lính bốt đã gục xuống bàn thở như kéo bễ. Mục Luyến quay lại thủ thỉ nói chuyện với con gái. Tất cả lắng xuống, hoà vào bóng đêm.


Tối đã lâu lắm rồi. Lão Mấu vừa đánh hết cút rượu với mấy quả chuối xanh. Lão ta nằm kềnh ra giường, phanh áo, ngửa mặt lên mái nhà, gãi bụng sồn sột. Một lát, lão ta nhỏm dậy:


- Cho tôi cút nữa, bà Luyến! Vất với cái đám ma này quá. Phải làm cút nữa, con tì con vị mới nằm được.


Mụ Luyến tủm tỉm:


- Làm một cút thôi. Làm cút nữa về miếu chả về, lại đâm vào buồng bà Chóp thì được.


- Sợ cái đếch! Say quá có vào nhầm nhà, bà ấy hỏi thì nói đi mượn cái quạt về quạt cho mát. Bà ấy lại không thích mê đi chớ kể.


Mọi người cười ồ. Lão Mấu đỡ lấy cút rượu, ngồi ngay ngắn lại. Rồi lại nhấp từng hớp, miệng chẹp chẹp một cách khoan khoái. Lát sau, cút rượu thứ hai cũng hết nhẵn. Mắt lão ta đỏ ngầu, mặt bự ra, dãi dớt chảy xuống cằm. Mình mẩy lại ngứa ran. Lão ta gãi sồn sột một thôi nữa rồi mới đứng dậy chuệnh choạng mò vào xóm Giếng.


Trong xóm hãy còn le lói ánh đèn. Và lác đác tiếng chày giã giạo, tiếng chó sủa gióng một. Đêm nay, lão Mấu uống gấp đôi cái ngữ mọi đêm. Lão ta say, say khướt. Lưỡi lão ta líu lại, không hát hỏng gì được, và cũng không ba hoa thiên địa được nữa. Nhưng lão ta vẫn chưa chịu quay về cái miếu trơ trọi ở giữa cánh đồng, đánh một giấc cho hả hơi rượu.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 20.05.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.05.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 16.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 06.05.2019
xem thêm »