tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29462599
Lý luận phê bình văn học
01.05.2019
Lê Quang Sinh
Dòng sông văn hóa trong “Sức bền của đất”


Đọc lại trường ca Sức bền của đất của Hữu Thỉnh


Sau gần 43 năm ngày trường ca Sức bền của đất của nhà thơ Hữu Thỉnh được giải A báo Văn nghệ, tôi mới có dịp đọc lại trường ca này lần thứ hai. Lần thứ nhất, khi đó tôi còn là cậu sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội, một cách vô thức tôi đã thuộc làu bản in thời đó. Cuốn hút, run rẩy, ngưỡng mộ là một phần những xúc cảm của tôi lúc bấy giờ về một Hữu Thỉnh mới lạ mà gần gũi. Anh am tường, rành rẽ văn hóa dân tộc, kiên trì đổi mới sáng tạo làm sâu sắc hơn văn hóa truyền thống. Chính vì lẽ đó, mà suốt mấy chục năm qua ấn tượng về sự sắc sảo ấy vẫn không hề phai mờ trong tâm trí tôi. Và lần đọc thứ hai này là bản trường ca năm khúc với gần 600 câu. Có thể khẳng định, với độ lùi ngần ấy năm trời, về mặt thời gian đủ cho thấy tầm mức che phủ của một tác phẩm văn học cũng như độ chín của người thẩm định. Từ đầu đến cuối trường ca đọc tới đâu tôi cũng cảm thấy ngây ngất bởi dấu vết của hơi ấm ca dao, tục ngữ cùng với những thăng hoa của chất liệu dân gian. Nó bung nở, cuộn chảy như dòng sông ngấn vàng phù sa văn hóa. Một tiết tháng ba ám ảnh “đóm đóm bay ra hoa gạo đỏ”, một miếng trầu cay môi mẹ “ấm một vùng tin cậy phía sau”, là “bát cơm bát rau đập đầu không chết”, là nỗi trớ trêu “con gái nhớ con trai qua bãi bom tọa độ”, là sự bao dung “Thay võ công bằng tâm công/ Rũ chinh chiến dưới áo dài đẫm lệ”, là “màu mạ non thành màu che chở”, là điệu trống quân, là lời cò lả, là câu xoan chìm nổi với sông Lô, là mọi giá trị văn hóa làm nên dân tộc Việt được đóng ấn bảo tồn, được hấp thụ truyền dẫn, được khơi thông lan tỏa.


 


Sức bền của đất là trường ca đầu tiên của Hữu Thỉnh, được biết anh viết trong một thời gian kỷ lục: “Tôi viết một mạch hết đêm giao thừa năm Ất Mão 1975, cả ngày mồng một và đến quá nửa đêm hôm ấy thì xong tại một tiểu đoàn xe tăng thuộc lữ đoàn tăng 273 anh hùng. Lúc đó, tiểu đoàn làm nhiệm vụ nghi binh chiến dịch phía Bắc thị xã Công Tum chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên. Tôi chép nó trong sổ tay và mãi đến khi kết thúc chiến tranh (30/4/1975) mới giở ra xem lại và gửi tới cuộc thi thơ 1975- 1976 của Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam”.


 


Vào thời điểm đó tác giả đã hơn mười năm tuổi quân, và cũng từng bấy nhiêu năm làm thơ. Trường ca Sức bền của đất ra mắt bạn đọc với giải thưởng cao nhất, uy tín nhất lúc bấy giờ là báo Văn nghệ, nó khẳng định một dấu mốc quan trọng của thơ Hữu Thỉnh.


 


Vẫn là hình ảnh chủ đạo người lính trong chiến tranh! Nhưng không phải cảnh “Tùng tùng trống đánh ngũ liên/Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”, cũng không phải là người lính áo vải “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm/Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó” của Nguyễn Đình Chiểu, hay của Hồng Nguyên “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”, và cũng không như của Chính Hữu “Súng bên súng đầu sát bên đầu/Đêm rét chung chăn thành đôi tri”, mà cái khác của trường ca này là ở chỗ Hữu Thỉnh khai thác sức mạnh vô hình nhưng vô cùng mãnh liệt làm nên khí phách và vẻ đẹp tâm hồn của người lính, làm nên sức mạnh nguồn cội của văn hóa dân tộc. Một thế hệ người lính được học hành, được trang bị những kiến thức văn hóa, kỹ thuật, hiểu biết lịch sử, có tư duy ẩn chứa nhiều sắc thái văn hóa “Nằm trên võng vẫn thèm nghe tiếng võng/Có một điều như thế dưới vòm cây”.


 


Mở đầu Trường ca Sức bền của đất là hình ảnh con sông quê in đậm bóng hình người mẹ, nơi diễn ra cuộc chia tay vừa hào hùng lại vừa bi tráng. Với giọng thơ khỏe, hoạt, hoàn toàn mới lạ khác với những gì ta từng được thưởng thức thời kỳ thơ trước đó - Không còn ồn ả, không phơi phới mà thay vào đó là những lắng đọng, trải nghiệm, với nhiều suy tư:


 


Đóm đóm bay ra hoa gạo đỏ


mẹ ở nhà đã cất áo bông


mẹ có ra bờ sông


qua bến đò tiễn con dạo trước


đường xuống bến có mười sáu bậc


mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu…


 


Tôi đã đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm về trường ca này, lần nào cũng phải dừng lại khá lâu ở mấy câu thơ sau:


 


Sức lực nào từ mạch đất ông cha


truyền đến tận chiến hào hăm hở thế


ánh sáng nào từ mênh mông lòng mẹ


soi cho ta qua khe ngắm đầu ruồi


 


Để đi đến một cách hiểu: Tác giả muốn lý giải ngọn nguồn mọi sức mạnh của chiến thắng! Một cách đặt vấn đề như thế thì việc chọn cách mở đầu như vậy là thích hợp và rất gợi. Ta để ý bên cạnh người lính, người mẹ có một dòng sông. Trong cả năm khúc của trường ca, khúc nào dòng sông cũng hiện ra thành một dòng chảy văn hóa xuyên suốt để tác giả tha hồ bay bổng, ngược xuôi, đi về với những liên tưởng, cảm xúc, tâm trạng đa thanh đa sắc…tạo nên một bản hợp tấu trữ tình của người lính.


 


Lúc thì nóng bức, khắc khoải:


 


Trận địa của con nối tới bến sông


Có cái khát của nhiều trận đánh


Có niềm vui trước mỗi cơn mưa


 


Lúc thì cuộn trào, phẫn nộ:


 


Sóng đánh cao trên mặt nước Sa Thầy


Pháo giặc hầm hầm Đắc Siêng, Đắc Mót


 


Lúc lại đầy tâm sự:


 


Anh như con sông vừa ở lại vừa đi


Những bến chia tay những bờ gặp gỡ


Có một điều ở trong chiều cháy đỏ


Đâu cũng gặp những người đang nhớ quê


 


Lúc lắng đầy ngẫm ngợi ưu tư:


 


Sông nhỡ đò là con sông rộng nhất


Là con sông tuổi trẻ vẫn thường qua


….


Với một dòng chảy văn hóa như thế thì sự lựa chọn cấu trúc, giọng điệu, ngôn ngữ, bút pháp mang đậm phong vị dân gian như trong trường ca này là hợp lý.


 


Đối diện với mạch cảm xúc về sông chảy từ đầu đến cuối trường ca là mạch xúc cảm về đất cùng song hành:


 


Cây cối thưa dần


màu ngụy trang cuối cùng là màu của đất


 


Hay:


 


Đất chiến hào như một người hay chuyện


ta chưa một lần thư thả đất ơi!


 


Hay:


 


Đất bận rộn quanh năm điệp khúc mùa màng


 


Hay:


 


Sức lực nào từ mạch đất ông cha


truyền đến tận chiến hào hăm hở thế


 


Một cách khác, nói đến sông, đến nước thì dứt khoát không thể không có bờ, có đất:


 


Anh như sông vừa ở lại vừa đi


những bến chia tay những bờ gặp gỡ


 


Nó gồm hai vế đối xứng gắn kết, hài hòa trong một thực thể thống nhất làm nên đất nước, làm nên văn hóa.


 


Nếu so với trường ca Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh viết sau đó hai, ba năm lấy cảm hứng trực tiếp từ chiến dịch Hồ Chí Minh mà nhân vật trữ tình và nhân vật tự sự kết hợp với nhau làm nên diện mạo trường ca, thì ở Sức bền của đất chỉ duy nhất nhân vật trữ tình làm xương sống cho mọi cảm xúc với bối cảnh là khoảng lặng của người lính trước giờ nổ súng bước vào chiến dịch. Những khắc khoải suy tư chộn rộn, vừa lặng lẽ bí mật, vừa sôi sục quyết liệt, nghiền ngẫm chiêm nghiệm về giá trị văn hóa, về số phận dân tộc bằng lòng lạc quan, niềm tin thắng lợi vào cuộc chiến đấu sắp diễn ra. Đó là thái độ yêu nước có trách nhiệm mang dấu ấn văn hóa của một người lính:


 


Kẻ thù làm cho ta thương nhớ nhiều hơn sôi sục gấp trăm lần


Con gái nhớ con trai qua bãi bom tọa độ


màu mạ non thành màu che chở


hang đá không đèn nuôi chí tạo thời cơ


 


Sau loạt “bom tọa độ” là khoảng lặng “rợn người” cho nỗi nhớ con gái con trai trở nên gay gắt, một chút “mạ non” giữa khét lẹt chết chóc cũng mang đến niềm hy vọng chở che. Người lính biết cách để tồn tại, chiến đấu, vượt lên mọi sự nghiệt ngã, khốc liệt của chiến tranh trong khát vọng hòa bình. Đó là ý chí của một dân tộc, là giá trị nhân văn của văn hóa truyền thống được Hữu Thỉnh cụ thể bằng những trường đoạn ở một tầm mức có độ khái quát cao:


 


Đất nước ngày có giặc


mẹ vẫn đỏ miếng trầu


ấm một vùng tin cậy phía sau.


 


Sự điềm tĩnh can trường của mẹ tổ quốc trước hiểm họa xâm lăng “Đất nước ngày có giặc/mẹ vẫn đỏ miếng trầu”, là nhân tố tạo dựng đức tin, sự tin cậy, sức mạnh chiến thắng của người lính trên chiến trường giúp họ chiến đấu, vượt qua thách thức. Đây cũng là nhân tố văn hóa tác động mạnh mẽ lên sự hình thành tính cách, tình cảm, lý tưởng của người lính hôm nay. Nhân tố đó phản ánh mối quan hệ tương hỗ, bền chặt vừa tự nhiên vừa trách nhiệm, nó như triệu triệu giọt máu hồng thấm đẫm cơ thể nuôi lớn tầm vóc dân tộc:


 


Đất chiến hào như một người hay chuyện


ta chưa một lần thư thả đất ơi


ta chưa một lần nói được nên lời


lòng của ta với mẹ!


 


Hay:


 


Cây cối thưa dần


màu ngụy trang cuối cùng là màu của đất


và mẹ là người chúng con thương nhớ nhất


 


Sự khốc liệt của chiến tranh, nơi sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, nơi cây cỏ trụi trơ cháy xém. Chỉ có đất vẫn tồn tại dù bị cày xới tơi bời và cũng chỉ có đất mới phản ánh một sức bền là màu ngụy trang cuối cùng (khi người lính chét bùn lên người) để che mắt quân thù giúp họ chờ thời cho một trận chiến quyết định. Hình ảnh đất và mẹ hiện lên khốc liệt, ám ảnh thường trực trong ý chí chiến đấu của người lính.


 


Ở khúc hai, Hữu Thỉnh trở về với nguồn cội văn hóa dân tộc - nhân tố làm nên sức bền của đất. Nếu như hình ảnh dòng sông trong khúc một là dòng sông của những hồi ức, tiễn đưa, của những nhớ thương, của những cuộn trào thì ở khúc hai cũng dòng sông ấy nhưng là dòng sông của tâm trạng chất chứa những nét văn hóa: Văn hóa tồn tại (bao nhiêu đám tang mới tìm được rau rền/người ăn phải lá ngón người quệt phải lá han/người vồ cóc chết vì gan cóc), văn hóa ứng xử (Kim chỉ có đầu hoa thơm có cội/bèo trôi lôi bến tiễn đưa nhau), văn hóa của những phong tục tập quán (quệt chìa vôi vạch ngang lời điêu hớt), những mỹ tục (con gái ở bền không chê tấm vá/ con trai ở bền như đá muối dưa), những kinh nghiệm truyền đời (tre làm nhà ba năm mới vớt/ớt cựa gà ba vụ mới cay), chuyện nhân tình thế thái (trời có mưa có nắng/ giếng có cạn có đầy), tôn giáo tín ngưỡng (cầu trời khấn phật/ kiếp người mong manh/cúng cơm cúng canh/ông bà ông vải) chuyện mở đất (ai đi mở đất phương xa/sáu câu vọng cổ sầu muốn khóc/ai bước qua điều phản phúc/vun một cành nhân nghĩa cuối chiều thu), chuyện đánh giặc giữ nước (sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông/núi ta lấy nâu giặc tràn qua núi), chuyện tình yêu (chúng ta với bạn bè cùng lứa/ vẫn yêu nhau thăm thẳm ở nơi nào), chuyện người (sợi chỉ bền từ cây tre cây trúc/sợi chỉ bền từ cây sui cây gai), chuyện đời (tối lửa tắt đèn/ người thấp nhìn lên/ kẻ trên trông xuống),… những giá trị vật thể, phi vật thể làm nên gương mặt văn hóa:


 


Đất ông bà


bước chân trâu lồng vào dấu chân voi


đi một bước đều kể bao sự tích


cây vối đứng bờ ao, cặp thừng treo gác bếp


bồ muối để dành vần cạnh bếp tro


cái cối cái chày đếm nhịp nhỏ to


bao truyền thuyết được kể ra từ đấy


 


Ông bà đi xa ruộng nương để lại


Làm sẵn ca dao dạy cách ở ăn


Nhà có anh, có em


Ruộng có sào có thước


 


Hay:


 


Đi qua chỗ lội


Bước lên nhịp cầu


Đâu cũng gặp những người hay làm phước


 


Đi qua chỗ lội, vượt qua hiểm họa, bước lên nhịp cầu đâu đâu ta cũng gặp những con người giàu lòng nhân ái, sẻ chia. Người Việt Nam coi đó là việc thiện, là tích phước. Thông qua ca dao, tục ngữ các thế hệ truyền lại cho nhau những kinh nghiệm sống, những tinh hoa được tích lũy, được sàng lọc làm nên nét riêng biệt đậm chất văn hóa Việt Nam.


 


Hữu Thỉnh thuộc nhiều ca dao, tục ngữ nhưng ông không dừng lại ở đó mà cố gắng làm mới, nâng tầm làm cho nó hay hơn:


 


Chết vì muỗi mới nhận ra muỗi sốt


Chết vì trèo mới biết mới biết sợ leo cao


(Có phúc đẻ con bơi lội, có tội đẻ con leo trèo)


 


Hay:


 


Con leo bão mẹ ở nhà giữ gốc


(Người leo cây không sợ bằng người dưới gốc)


 


Hay:


 


Ăn trông nồi, là nhường nhịn anh em


Ngồi trông hướng là biết thù bóng tối


( Ăn trông nồi, ngồi trông hướng)


……


 


Rõ ràng là trên nền những câu ca dao tục ngữ, câu thơ đã được làm mới, trí tưởng tượng được mở rộng biên độ. Hữu Thỉnh cố ý và có ý thức làm trường ca theo kiểu này, đó là cái bền của một cách cảm hay nói một cách khác là cách cảm của một sức bền, rất truyền thống mà cũng rất hiện đại, rất sáng tạo.


 


Lấy ví dụ câu“Ăn trông nồi, là nhường nhịn anh em/Ngồi trông hướng là biết thù bóng tối”. Đây là một câu thơ có tầm khái quát lớn, có biên độ rộng; nó không mang ý nghĩa nhất thời trong chiến tranh đánh thắng kẻ thù mà nó mang ý nghĩa bền như chính ý nghĩa Sức bền của đất. Một vấn đề được đặt ra: Trong chiến tranh cái gì là bóng tối? Trong hòa bình cái gì là bóng tối? Bóng tối ở đây là cái xấu cái ác, là “bão hắt ra từ những người đứng cạnh”. Như vậy, từ một câu tục ngữ “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” dạy ta cách ăn ở, làm người có tính thụ động đã được mở rộng chiều kích, sống động hơn dưới tư duy của Hữu Thỉnh.


 


Có những câu thơ ta soi thấy bóng dáng ca dao dân ca ở phía sau, nhưng có nhiều câu nhiều đoạn ta không thấy bóng dáng xuất xứ gì cả, nhưng nó vẫn làm ta đắm say trong cảm thức văn hóa dân tộc. Hóa ra ở trên là làm mới lại giá trị thành văn, còn những câu sau đây là làm mới chất liệu dân gian:


 


Tre làm nhà ba năm mới vớt


ớt cựa gà ba vụ mới cay


trời có mưa có nắng


giếng có cạn có đầy


con gái ở bền không chê tấm vá


con trai ở bền như đá muối dưa


 


Hay:


 


Bao nhiêu kiếp người mới tìm ra miếng ăn


trên ngọn hết thì lần xuống gốc


ở trên ngọn giành giật với chim


lần xuống gốc quần nhau cùng thú dữ


 


Này hạt này cây này mầm này củ


bao nhiêu đám tang mới tìm được rau rền


người ăn phải lá ngón người quệt phải lá han


người vồ cóc chết vì gan cóc.


 


Xưa đến nay chúng ta nói nhiều về cái chết, về sự hy sinh. Nhưng có bao nhiêu người đã chết lặng lẽ, bao nhiêu người đã ngã xuống vô tăm tích để tìm ra cái để mà ta ăn được, tìm ra cái để mà ta mặc được. Hữu Thỉnh thông qua số phận từng con người để tri ân quá khứ, đó là nét đẹp văn hóa, là cách nhìn xuyên thấu lịch sử.


 


Truyền thống là văn hóa, bản chất của tục ngữ ca dao cũng là văn hóa, cũng là sức bền. Làm sáng rõ nội dung sức bền của đất là yêu cầu của chủ đề tư tưởng, bằng cách dựa vào truyền thống, vào ca dao dân ca, vận dụng biến hóa làm mới nó là một lựa chọn đắc địa, khôn ngoan của Hữu Thỉnh, đồng thời nó cũng phản ánh tầm mức, “ độ ngấu” văn hóa truyền thống của ông.


 


Thơ ông tha thiết, miên man tinh khôi như suối vắng, lại nhiều lúc hồn nhiên mà rất gợi theo xu hướng thiên nhiên hóa con người:


 


Ta sang xóm chùa


giếng đông người tắm


con gái con trai đàn ông đàn bà


họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng


anh và em cùng nhau đến tắm


đứng như khoai như sắn giữa đông người


 


Thơ hay nhất là thơ có thể nhớ một cách vô thức, nó cất lên từ, được xây nên trên cơ sở liên quan đến một nhịp điệu trong vô thức. Hữu Thỉnh có lối tư duy lạ mà ở đó phần cảm lấn át phần nói nên hình ảnh trong thơ Hữu Thỉnh sống động, có sức ám ảnh cao. Các sắc thái văn hóa tương tác với nhau mang dấu ấn đời sống con người, giữa con người với đất đai, với thiên nhiên cây cỏ, vừa tồn tại để phản chiếu, vừa sinh sôi để trường tồn. Đó là bà bán dứa không chuyên gọt vỏ đứt tay, là ông hoạn lợn hay nổ muốn thiến cả trời, là điệu kèn đám ma buồn đến nỗi cây phướn muốn lăn mình xuống huyệt, là chuyện cổ tích cái túi tám gang răn đứa lọc lừa, là cuộc mưu sinh vì miếng ăn mà phải treo con trên cây tránh hiểm họa thú rừng thì lại gặp tai ương kiến bâu đầy mặt, là ông khổng lồ mà dấu chân thành giếng thành ao, là những vị anh hùng vì dân vì nước, đánh giặc lấy kế đầu tiên là kế nhân hòa, là ông đùng bà đoàng làm sấm làm chớp, là kẻ thù rình rập làm ta già trước tuổi…Đó là tất cả những chất liệu làm nên văn hóa, nó như những dòng suối nhỏ trong vắt dồn nước cho một dòng sông lớn làm nên tâm trạng cốt cách người lính giải phóng:


 


Ta hoãn cưới một năm rồi lại hai năm


đi đánh giặc chân trời in màu thiếp


có miếng cao nai không sao gửi được


mẹ đã ngoài bảy mươi!


 


Nguyên nỗi nhớ thương này


đủ nuôi lớn cho ta thành dũng sĩ


 


Chiến tranh đã đẩy cái “màu thiếp cưới” hiển nhiên thành nỗi ám ảnh, thành khát khao ở cuối chân trời. Không phải họ muốn vậy càng không phải họ cố tình làm vậy! Những người con trai con gái tự nguyện xa nhau, đất nước ngày có giặc không gì khác hơn là mọi con dân Việt phải ra trận, phải lấy việc đánh giặc cứu tổ quốc là hạnh phúc đầu tiên. Đó là lòng yêu nước vô bờ bến, là nếp văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam ngay từ những ngày đầu dựng nước.


 


Hữu Thỉnh dành cả khúc ba để phác thảo bộ mặt kẻ thù, dù không cụ thể một gương mặt nào như trong các trường ca ông viết sau này nhưng cũng đủ cho ta thấy rõ sự hèn nhát, tàn bạo đi liền với những mưu mô, xảo trá của chúng:


 


Kẻ thù lẩn nhanh hơn, thụt đầu trong vỏ cứng


lấy pháo và bom để xua cơn hốt hoảng


tung truyền đơn trắng dã những âm mưu


dây thép gai quấn dày bao nhiêu


đối với chúng vẫn còn quá trống



Kẻ thù không ưng ta gọi anh em


đừng chú bác ông bà gì ráo


muốn phá vỡ quê hương bền dai trong máu


chúng nhổ làng đi dồn vô ấp tân sinh


 


Cũng chính văn hóa xây dựng nên cách ứng sử, lòng nhân hậu vị tha thái độ nhân văn trong cách nhận diện, đối mặt với kẻ thù:


 


Những giọt sao trời sau mưa tạnh


nhắc ta hoài biển đang vỡ dưới kia


 


Hay ở khúc cuối trường ca:


 


Mây thật gần mà cũng quá xa xăm


có bao điều đáng quên mà thật khó quên


bão hắt ra từ người đứng cạnh


ta đã bao phen gọt mình và vót nhọn


bao dốc dựng vượt qua chẳng thú vị gì


 


“Nhắc ta hoài biển đang vỡ dưới kia”, “bão hắt ra từ người đứng cạnh”, “bao dốc dựng vượt qua chẳng thú vị gì” - Hữu Thỉnh hình như đã có linh cảm về một điều gì đó, một biến cố sẽ xẩy ra từ phía biển khi viết trường ca này. Cũng chính từ linh cảm đó đã tạo tiền đề cho những cảm xúc của ông sau này khi viết Đường tới thành phố và đặc biệt là Trường ca biển.


 


Văn hóa chính là nhân tố then chốt làm nên gốc rễ, diện mạo một dân tộc. Mỗi khi văn hóa được khơi thông biến thành sức mạnh vật chất, thì khi ấy văn hóa như lũ cuốn phăng đi tất cả mọi rác rều, không một thế lực đen tối nào đủ sức để cản phá, chà đạp danh dự dân tộc ấy. Không cần tìm đâu xa, mỗi cách đánh giặc của ngày hôm nay đều được rút tỉa, được làm mới từ nhưng chỉ vẽ của người xưa:


 


Diệt cứ điểm bắt đầu bằng bóc vỏ


phục kích bất ngờ bắn giặc xóc xâu


đánh bộc phá theo đội hình cuốn chiếu


đột kích xe tăng đập rắn trúng đầu


 


Văn hóa chính là cách hiểu lịch sử và cách tạo nên lịch sử. Cũng chính lịch sử phản chiếu gương mặt một dân tộc. Sự lôi cuốn, hấp dẫn của một câu ca dao, tục ngữ làm cho nó hấp dẫn và lôi cuốn hơn chính là cách mà Hữu Thỉnh nghĩ, Hữu Thỉnh cảm về lịch sử, về văn hóa truyền thống:


 


Kim nhể gai kim càng phải nhọn


mẹ dạy con như thế tự bao đời


 


Xa mẹ chúng con vỡ nhẽ trăm điều


ăn trông nồi là nhường nhịn anh em


ngồi trông hướng là biết thù bóng tối


 


Nếu so với Đường tới thành phố là bản hợp tấu của nhiều số phận (Những người mẹ, người vợ, người chị, người lính xe tăng, xạ thủ trung liên, vị tướng tư lệnh, về những thằng Đại Việt, lũ hội đồng, về hậu phương, về tổ quốc….) dội về khốc liệt hơn so với trong Sức bền của đất. Điều đó cũng không thể nói là người lính trong Sức bền của đất không có cái phong trần, từng trải, không chịu nhiều bão táp phong ba… Một vài chấm phá của Hữu Thỉnh đủ gợi lên tất cả:


 


Những đoàn xe


thét bụi


những đoàn xe


cuộc rồng rắn của tháng ngày khốc liệt


rút bó trăng ngàn ta đốt hết


soi nhưng binh đoàn vào chỗ ém quân


 


Và cũng có một điều dễ hiểu sức bền của đất mới là chủ đề chính của trường ca chứ không phải là trận mạc, là chiến tranh mà Hữu Thỉnh muốn đi sâu.


 


Sức bền của đất là sức bền của một dân tộc, được tạo bởi những phẩm chất văn hóa truyền thống đã nhuần thấm, lặn sâu vào từng phẩm chất cá nhân làm nên sức mạnh dân tộc. Cả khúc bốn của trường ca là sự cá thể hóa dòng chảy văn hóa thành tâm trạng của người lính, thay thế cách nhìn thấy bằng cách cảm thấy:


 


Sông nhớ đò là con sông rộng nhất


là con sông tuổi trẻ vẫn thèm qua


 


Hay:


 


Còn bao sách chúng ta chưa đọc đến


nhỡ hẹn liên miên với các giảng đường


nhỡ hẹn với mưa phùn ải Bắc


mai một cành thắt ruột kẻ tha hương.


 


Hay:


 


Người của đợi chờ mang chờ đợi ra đi


anh nhớ em thích một mình tha thẩn


thư thuộc hết rồi không có việc gì làm


cái cây trước nhà cao ba mươi thước


anh nhớ em như cơn mưa tích nước


cứ chực òa chỉ một cớ không đâu


 


Đối với dân tộc khát vọng của người lính lớn lao bao nhiêu, thì mong muốn cá nhân lại thật gần và giản dị bấy nhiêu:


 


Sau cuộc chiến tranh này


ta chỉ mang về một chiếc vỏ đạn


làm cối giã trầu cho mẹ của ta


 


Khúc năm là linh cảm của người lính về thời điểm kết thúc cuộc chiến đã đến gần. Ông viết:


 


Hình như là đã cuối cuộc chiến tranh


Nghe lá đạp trên đầu xao xác quá


 


Vấn đề được mã hóa để trả lời một câu hỏi: Tác giả lấy văn hóa làm nền tảng để giải quyết những vấn đề trong chiến tranh hay chiến tranh chỉ là cái cớ để trở về một nền tảng? Vượt qua cơn bão chiến tranh cũng có nghĩa làm giàu thêm về một sức bền hay là đem cả sức bền đó để giải đáp tất cả những thách đố trước mặt? Nếu xem văn hóa là sức khỏe của một dân tộc thì sức khỏe đó như máu dồn trên đầu ngón tay. Ngày mai, cuộc chiến đấu có thể nổ ra bất cứ lúc nào, linh cảm như mách bảo người lính “Hình như là đã cuối cuộc chiến tranh/ Nghe lá đạp trên đầu xao xác quá”!. Tại sao chưa chấm dứt cuộc chiến mà người lính đã cảm nhận “Nghe lá đạp trên đầu xao xác quá!”. Lá đạp là bão tố của cuộc chiến tranh, xao xác là cái giá phải trả sắp tới. Hữu Thỉnh đã chọn diễn tả cuộc chiến tranh theo một cách rất riêng, đầy dự cảm, không máu me, không tiếng bom đạn ùng oàng, nên anh vẫn giữ được cảm hứng nhân văn khi diễn đạt nhiều tình huống, nhiều khúc thức hướng đến việc đảm bảo cho sức khỏe tinh thần của văn hóa, sức khỏe tinh thần của người lính về đúng đích cuối cùng của mục đích. Và, vẫn là cách truyền dẫn của ca dao, tục ngữ Hữu Thỉnh đưa ta đến với nhiều cảm nhận bất ngờ trên những câu thơ sắc lạnh mà thấm thía:


 


Có bao điều đáng quên mà thật khó quên


bão hắt ra từ người đứng cạnh


 


Nhà thơ không trực tiếp truyền thông cảm xúc, họ tạo ra tình huống hay hình ảnh sao cho cảm xúc ấy khi được thể hiện sẽ được truyền thông một cách thành công và hiệu quả. Nền tảng sức mạnh văn hóa của người lính hôm nay hay nói rộng hơn nền tàng sức mạnh văn hóa truyền thống Việt Nam trải dài suốt bốn nghìn năm lịch sử được Hữu Thỉnh thể hiện bằng ngôn ngữ - tiếng nói Việt giàu xúc cảm. Bốn câu kết của Sức bền của đất không thể hay hơn cả theo mọi chiều kích:


 


Ta chao chân trên những mảnh bờ


lặng lẽ nhận sức bền của đất


đạp cứ điểm lần theo từng dấu dép


ta nhận ra màu bùn của những cánh đồng chiêm.


 


Đó là một cái kết thật bất ngờ và sáng tạo. Hóa ra dòng sông theo suốt trường ca đến đây đã hiện lên sức bồi của nó “đạp cứ điểm lần theo từng dấu dép/ta nhận ra màu bùn của những cánh đồng chiêm”.


 


Tôi kết thúc bài viết này và gấp lại bản trường ca trong một chiều tháng ba rực màu hoa gạo. Dòng sông tuổi thơ anh còn đó vẫn ngấn đỏ phù sa, mười sáu bậc dốc ám ảnh còn in dày dấu chân của mẹ. Chiến tranh đã lùi xa, cánh đồng chiêm đang rực mùa vàng. Bất giác, thơ anh lại ùa về:


 


Mẹ bảo: cơm chưa ăn thì gạo vẫn để dành


vâng thưa mẹ: chiến tranh đừng vô tận


Mùa hoa gạo 2019


LQS.


Lê Quang Sinh facebook ngày 30-04-2019


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một bộ ba toàn diện và căn bản về sự sống còn của loài người trên trái đất - Đỗ Quyên 20.09.2019
Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc - Châu Diên 20.09.2019
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
xem thêm »