tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27161609
Những bài báo
30.03.2019
Vũ Từ Trang
Nhà văn Lê Bầu và ba người đàn bà đức hạnh


Câu chuyện về nhà văn Lê Bầu như tưởng đã được khép lại. Tôi không nghĩ ông lại ra đi quá sớm như vậy. Khi phát hiện bạo bệnh, thì căn bệnh ung thư của ông đã vào giai đoạn cuối. Lại là ung thư tủy. Tủy hỏng, phá hỏng máu. Vậy làm sao sống được nữa, hỡi nhà văn cần mẫn một đời?!


Tạo hóa lại bắt ông chịu đựng thử thách cho đến phút chót. Nói theo cách nói văn hoa, là “Dù đã được gia đình và các bác sỹ tận tình cứu chữa, nhưng bệnh trọng, nên ông đã ra đi…”


Ông mất ngày mười ba tháng giêng âm lịch, tức ngày 7 tháng 2 năm 2009 hưởng thọ bảy mươi chín tuổi. Theo nguyện vọng của gia đình, mong được mai táng ông tại quê Bắc Giang, vào ngày rằm tháng giêng. Nhưng ngặt nỗi ngày rằm là Ngày Thơ Việt Nam, nên Hội Nhà Văn Việt Nam đành để sáng ngày mười sáu tổ chức tang lễ cho ông tại nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội), trước khi chuyển cữu về quê ông.


Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, nhà thơ Hoàng Việt Hằng và tôi theo xe đưa ông về mai táng tại quê ông. Đấy là xóm Thùng Đấu, thành phố Bắc Giang.


Chúng tôi gặp bà quả phụ của nhà văn Lê Bầu. Ấy là người đàn bà giản dị, phúc hậu, còn đậm nét người phụ nữ nông thôn. Có lẽ bà hơn ông hai tuổi. Theo tập tục lấy vợ gả chồng ở nông thôn ngày trước, là chọn tuổi “ gái hơn hai, trai hơn một” . Bà vận áo cánh gụ, quần đen, khoác ngoài áo xô trắng và chít khăn trắng để tang chồng. Căn nhà cấp bốn thưở nào, mới được xây lại tươm tất. Bà dọn gian nhà chính giữa, trang trọng nhất để rước ông về thờ cúng. Theo tập tục chung của vùng quê Bắc Giang, cũng như nhiều quê khác, khi người chết ngoài nhà thì thường không đưa xác về nhà thờ cúng, vì sợ trùng tang và xúi cho con cháu sau này. Vậy mà bà đã quyết sửa sang gian nhà trang trọng nhất để đưa linh cữu ông về thờ cúng, lo tang. Bà khóc giàn giụa, mà nom miệng như cười. Có lẽ bà mãn nguyện vì được lo tang cho ông. “Ông nhà tôi vất vả cả đời . Thôi thì thế nào cũng xin các ông các bà cho mẹ con tôi được rước ông nhà tôi vào nhà. Xin để ông nhà tôi được ngủ thêm một đêm trong căn nhà này, rồi hôm sau hãy đưa ông ra đồng !”


Sinh thời, ông đã lao động hết mình với con chữ, để nuôi vợ nuôi con. Có thể chưa bao giờ ông ngồi đọc cho bà nghe một trang văn mình viết. Vả lại, tâm trí bà cũng chả hiểu ông viết văn để làm gì, ngoài ý nghĩ giản dị là ông viết văn lấy tiền nuôi vợ con. Vì thế, bà cũng chỉ có niềm hạnh phúc giản dị của người phụ nữ nông thôn, là đi làm vợ, để đẻ một đàn con cho chồng và sống được lo tang cho chồng. Tập tục quê bà, người chết được ở nhà thêm một đêm cuối, được làm lễ quay cữu vào lúc nửa đêm, thì hồn mới thanh thản về với đất. Mọi người khuyên gàn bà không để linh cữu chồng bà thêm đêm nữa. Làm như thế trái quy định của xóm, phường về vệ sinh ma chay. Bà chấp tay cúi lạy mọi người, nếu không được để ông qua đêm thì xin được để qua giờ ngọ, để làm lễ quay cữu cho ông, coi như ông đã được ở nhà thêm một đêm nữa rồi. Tấm lòng mộc mạc và giản dị của người vợ dành cho người chồng, làm chúng tôi cảm động ứa nước mắt.


Cũng trong đám tang, chúng tôi được thấy một người phụ nữ tóc bạc, nhỏ thó, tuổi ngoại bảy mươi, xăn xắn chạy chỗ này chỗ kia lo công việc. Xem ra, mỗi việc làm của bà đều được những người con gái của nhà văn Lê Bầu răm ráp làm theo. Sau phút làm lễ quay cữu vào lúc giữa ngọ, bà lại xăn xắn cùng người con gái nhà văn Lê Bầu mang hương và đồ lễ lên chùa gần đó, để làm lễ cầu siêu cho nhà văn.


Những ngày ông nằm trong bệnh viện, bà xăn xắn chạy đi chạy lại lo cho ông. Lúc lấy kết quả xét nghiệm, lúc đấy xe đưa ông đi tiêm, đi chụp chiếu. Khi ông nằm ngủ mê man, bà lặng lẽ giở chiếc giường gập nhỏ bé nằm bên cạnh. Bà chăm cho ông một phút cựa mình, một tiếng ho, hoặc đổ bô, hoặc thay đồ cho ông. Có bà, các con ông như cũng được yên tâm bao phần. Hỏi chuyện, mới vỡ lẽ, nhà bà tận dưới thành phố Hải Phòng. Cứ cách ngày, bà lại đi ô-tô khách lên chăm ông. Gia đình bà dưới đó cũng khá giả, con cháu thành đạt và đã yên bề gia thất. Biết nhà văn Lê Bầu trọng bệnh không qua khỏi, những ngày cuối của ông, bà càng muốn dành hết cả tâm sức để chăm nom ông.


Mãi rồi tôi mới biết, bà biết ông và quý trọng ông cũng vì qua đọc văn của ông. Có thể với người đọc khác, văn chương của ông chưa phải đỉnh cao chói lọi gì; nhưng với bà, qua các trang văn của ông, đã khơi gợi bao cảm xúc thiêng liêng lạ kỳ cho bà. Văn chương, tưởng như thứ vô tích sự, như một thứ nghề để kiếm sống, nhưng không hiểu sao, qua các trang sách của ông viét ra dịch ra, đã đem lại cho bà niềm an ủi và bà nhận ra một tấm lòng chân tình nào đó. Bà đã quý ông và chăm sóc ông, cũng từ những nguyên do đó. Chính vậy, những ngày ông ốm nặng và ngặt nghèo nhất, ông đã được hưởng niềm thương cảm và sự chăm sóc chân tình của người đàn bà vốn là người độc giả mê văn của chính mình.


Còn một người đàn bà khác, mà cũng có liên quan đặc biệt tới cuộc đời của nhà văn Lê Bầu, ấy là một nữ họa sỹ. Mấy chục năm về trước, khi tôi còn làm biên tập ở một tờ báo, tôi đã từng được tiếp xúc với người nữ họa sỹ này. Dĩ nhiên, khi ấy nhà văn Lê Bầu còn trẻ, nữ họa sỹ còn trẻ. Tôi đã đôi lần loáng thoáng được ngồi nghe họ bàn về vẻ đẹp của bức tranh này hoặc sự sâu sắc trong cuốn sách nọ. Có lần, tôi thấy chị ngồi tẩn mẩn khâu lại gấu quần đã rách của anh, hoặc đơm lại chiếc cúc vừa đứt ở tấm áo anh vừa mặc. Có buổi chị đi chợ mua cho anh mớ rau, con cá, mấy quả trứng. Anh thì ngồi chăm chú mổ cò máy tính, dịch sách. Chị cậm cụi bắc bếp vo gạo, nấu canh. Cơm sắp chín, chị lại vội vã đạp xe về lo cơm nước gia đình nhà chị.


Tình cảm bình dị ấy đã kéo dài suốt mấy chục năm, từ khi họ còn là tuổi anh chị, cho mãi tới khi thành tuổi ông bà. Có lẽ người nữ họa sỹ kia, cuộc sống riêng tư có nhiều uẩn khúc, chị đã đồng cảm cảnh sống độc thân của nhà văn, nên họ đã dành sự quan tâm cho nhau như vậy. Và quan hệ hình như cũng chỉ dừng ở mức độ chừng mực như vậy thôi. Không có gì quá đà, quá giới hạn. Ấy vậy, mà rất bền bỉ và sâu lắng. Đã đôi lần, ông đưa những sáng tác mới của mình cho người nữ họa sỹ kia đọc. Rồi người nữ họa sỹ kia nêu những nhận xét, góp ý theo lối cảm lối nghĩ của mình. Ông đã nghe và lặng lẽ ngồi viết, ngồi sửa lại.


Những ngày nhà văn nằm điều trị ở bệnh viện, người nữ họa sỹ kia cũng phải đi điều trị bệnh. Bà mắc chứng suy tim. Mọi người thân của ông quá biết mối quan hệ trong sáng kia của ông, vì muốn không để bà phân tâm, nên dấu chưa muốn cho bà biết ông đang trọng bệnh. Cho tới một bữa, bà biết tin ông năm cấp cứu ở bệnh viện, mặc đang bệnh tim nặng, bà thuê xe chở ào tới thăm ông. Bà yếu, mà chạy băng băng cầu thang bộ, không kịp đợi chờ cầu thang máy. Bà đẩy cửa phòng, lao vào ôm chầm lấy ông, trong khi ông đang nằm mê man bất tỉnh; các dây gen truyền máu, truyền đạm vẫn đang chằng chịt quanh người ông. Sự xuất hiện đột ngột của bà, làm người nhà và bác sỹ đang túc trực bên ông hoảng hốt không trở tay kip. Một bác sỹ trẻ bữa đó phải đứng dậy, gạt phắt bà ra ngoài, như gạt một người thần kinh. Nếu không nhanh tay, bà ôm xốc ông, làm đứt dây gen đang truyền máu kia, thì tính mạng ông không lường nổi. Khi bị gạt ra, bà càng khóc lóc thảm thiết “ Anh Lê Bầu ơi, sao bệnh tình anh đến mức này? Sao anh dấu bệnh em mãi đến bây giờ? Anh Bầu ơi, có phải em thương anh hơn bất cứ ai trên đời này không?..” Một nhà văn bạn thân của ông đã phải kéo dìu bà ra ngoài phòng, sợ bà ở đó, cơn đau tim của bà lại bột phát, thì nguy hiểm. Mấy bác sỹ trực trong khoa, khi được nghe kể đầu đuôi ngọn ngành về cuộc đời và các mối quan hệ của ông Lê Bầu, thì họ nể ông vô cùng. Họ không bình luận, mà chỉ nói rằng ông là người hạnh phúc. Rõ ràng ông đã sống tốt thế nào với mọi người, thì mới được hưởng những tình cảm cao đẹp như thế.


Trong chuyến xe về Hà Nội bữa đó, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, người bạn chí cốt của nhà văn Lê Bầu, cùng mấy anh em chúng tôi chỉ nhắc chuyện về ông. Nhà thơ nữ, tuổi đã trung niên, phải kêu lên: “Em chịu không hiểu nổi chuyện của các cụ!”


Vâng, nhà văn Lê Bầu sinh thời đã sống như thế nào thì khi ốm đau và phút lâm chung mới được hưởng tình cảm nông đượm của người thân như thế. Tôi không muốn nói ra một thực tế trần trụi đáng buồn, là quanh chúng ta, có rất nhiều người, chợt nhìn ngoài tưởng họ sống rất chu đáo và rất tình cảm với những người thân. Nhưng thực tế, họ sống rất nhạt nhẽo và tẻ nhạt vô cùng. Đương nhiên, họ cũng chỉ được hưởng sự nhạt nhẽo và tình cảm ước lệ của những người thân mà thôi. Lại không ít những cặp nam nữ yêu nhau, họ gắn bó và tưởng như cùng đi tới cuối cuộc đời. Ấy vậy, người nam chẳng may gặp hoạn nạn, hoặc ốm đau, người nữ vội bỏ đi với người tình khác. Không phải vì quá yêu quý nhà văn Lê Bầu, mà tôi bảo vệ ông. Nhưng tôi xin khẳng định rằng, nhà văn Lê Bầu đã sống, đã xứng đáng được hưởng những tình cảm chân tình và cao đẹp mà những người thân đã dành cho ông như thế. Vậy ông là người thật hạnh phúc. Vậy mà trước kia, tôi cũng như nhiều anh em khác vẫn tưởng ông sống cô đơn, nhiều thiệt thòi.


Chuyện ba người đàn bà từng gắn bó và ảnh hưởng tới cuộc đời sáng tạo của nhà văn Lê Bầu, nó như một vĩ thanh đẹp về ông, dành tặng ông.


Chỉ e, cuộc sống thực dụng bây giờ lấn lướt, biết mấy ai hiểu đúng gía trị câu chuyện này?


Phải, có thể nhà thơ nữ kia nói đúng, chịu chuyện của các cụ. Liệu thế hệ trẻ có cho là chuyện vớ vẩn, xa lạ không?


VTT


Nhà văn, dịch giả Lê Bầu


Các tác phẩm viết: Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Đèn kéo quân, Sau mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân, Ngã ba cô đơn, Độc hành...


Các tác phẩm dịch: Ô-sin, Tể tướng Lưu Gù, Quê cũ, Thành phố hoa, Hoài niệm sói...


Giải thưởng văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 cho tiểu thuyết Quỷ thành. Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội cho tiểu thuyết dịch Trở về.)


Nguồn: Facebook của Trang Vu Tu ngày 29-03-2019


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về đại hội “Đối thoại văn minh châu Á” - Hà Phạm Phú 20.05.2019
Mười năm xa - Nhớ Bế Kiến Quốc - Nguyễn Văn Thọ 20.05.2019
Vĩnh biệt anh Hoàng Ngọc Biên, nhớ lại vài kỷ niệm - Hoàng Hưng 17.05.2019
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 15.05.2019
Truyện ngắn "Truyền thuyết về Quán Tiên" của nhà văn Xuân Thiều lên phim - Tư liệu 15.05.2019
Chuyện chị em đi “cave” - Tư liệu 13.05.2019
Thay lời nói đầu của bộ sách "Đỗ Quang Tiến - Tác phẩm chọn lọc" - Đỗ Quang Hưng 11.05.2019
Đỗ Quang Tiến và ký ức tuổi thơ - Trương Công Thành 08.05.2019
Nhà báo đã đưa Phạm Xuân Ẩn 'ra ánh sáng' - Tư liệu 07.05.2019
Chiêu lừa đảo: Dụ mua sách dòng họ qua điện thoại - Quỳnh Yên 04.05.2019
xem thêm »