tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30224711
Tiểu thuyết
03.02.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ năm


NƯỚC VỐI CẦU TIÊN


Người kể câu chuyện huyền thoại thứ năm bắt đầu bằng mấy câu khiến cho tất cả người ngồi nghe đều bực.


Đó là Kiếm, một ký giả chừng ba mươi ba, ba mươi tư, đã hoạt động tích cực chống Pháp, đả Nhật từ lúc kháng chiến còn ở trong bóng tối và anh đã có tiếng là một người có công với văn học vùng giải phóng ngay từ thời đó. Sau một thời gian Nhật bắt rồi trốn được, anh xung vào bộ đội đi đánh nhiều trận. Đến trận Đầm Muống, anh bị thương mất một vành tai và bị mổ vì có nhiều miếng đạn xiên vào lưng và bụng. Khỏi, anh khiêm tốn và bình dị xin trở lại mặt trận, nhưng anh em khuyên anh nên trở lại đời văn công vì những bài báo, bài thơ anh viết không những là một sự thách thức thực dân, vẽ ra bức tranh chân thật về xã hội mục nát do thực dân và đế quốc câu kết dựng lên lúc bấy giờ, mà còn đem lại cho các anh em ở sơn cùng thủy tận, ở miền Nam xa xôi, những hy vọng sáng sủa về tiền đồ cách mạng.


Trong cuộc hành trình này, Kiếm không có một chức vị gì rõ rệt, nhưng anh em có cảm giác Kiếm phụ trách công việc thu thập tài liệu để sáng tác, đồng thời giúp đỡ cho các đồng chí cán bộ trong chiến dịch nâng cao văn hóa và tìm hiểu mong ước của họ để xây dựng một nền đạo đức cán bộ hoàn chỉnh hơn.


Anh Kiếm nói:


- Câu chuyện tôi sắp kể đây là một chuyện huyền thoại có thực.


Mọi người cười vẻ chế nhạo:


- Đùa dai quá. Đã là huyền thoại mà lại là chuyện có thực! Thôi đi, đừng có đề tựa dằng dai làm gì. Cứ nói thẳng vào chuyện cho anh em nghe, chứ nghe tựa mất thì giờ nhiều quá.


- Vẫn biết thế, nhưng dù các anh em muốn vậy tôi cũng cứ phải phân trần đôi câu: nói đến huyền thoại tức là nói đến vai trò của yếu tố tưởng tượng. Yếu tố tưởng tượng đó vừa là vấn đề hình thức nghệ thuật, vừa là vấn đề nội dung của huyền thoại. Trong huyền thoại nào cũng có phần hoang đường quái đản và cũng có cả phần lãng mạn tức là “mong sẽ xảy ra như thế”. Nguyên tắc như vậy, kể chuyện huyền thoại không thể coi là kể chuyện hoang đường quái đản để mị dân, mà phải nghĩ rằng kể chuyện huyền thoại tức là kể cho nhau nghe những chuyện đầy hình tượng đẹp Việt Nam, những chuyện mà chúng ta không có quyền không biết, vì chuyện huyền thoại đã được các nhà sử học dành cho một niềm tin cậy xứng đáng bởi trong các chuyện ấy chan chứa những nhận xét, những tiếng nói của nhân dân về một sự kiện lịch sử, về sự hình thành người, vật, hoa lá, đồi núi trên đời và cả về một số hoạt động của những nhân vật lịch sử đáng cho chúng ta theo gương học tập.


“Vậy là vấn đề hoang đường, quái đản của huyền thoại không đáng làm cho chúng ta bận tâm, nhưng trước khi kể câu chuyện “Nước vối Cầu Tiên”, tôi phải nói trước: trong chuyện huyền thoại đó, có tôi là nhân chứng.


Một người tự nhiên cười hô hố:


- Anh Kiếm là nhân chứng chuyện huyền thoại anh sắp kể? Trời ơi là trời, nói giỡn cái gì cũng được, nhưng đừng giỡn đến như thế thì hơi quá đấy!


- Không quá tí nào. Các anh chị nghe sẽ thấy. Nhưng tôi phải nói trước, trong đời sống đấu tranh, đã đành ta có bổn phận không nói những chuyện gì không có tính cách “hai năm rõ mười”, ta phải loại trừ những gì có tính cách “phản khoa học”, “phản tiến bộ”, nhưng các anh các chị phải chấp nhận cho tôi, nhân lúc hợp nhau trò chuyện giải trí như lúc này, được tự do kể một câu chuyện huyền thoại có thực hoàn toàn – và các anh chị phải hứa là không chê trách người kể nếu anh chị xét ra là vô lý, tuy là có thực – có thực hoàn toàn như tôi đã nói ở trên kia.


Hai ba người vò đầu:


- Trời! Sao mà nói dài dòng thế? Đây là anh em họp giải trí, chứ không nhằm tuyên truyền, sách động tinh thần ai… Anh thích cái gì, cứ nói: quái đản, huyền bí cách gì cũng được, mà càng phản khoa học thì càng thú, chứ sao. Thôi, xong rồi, kể đi.


Kiếm hắng giọng, kéo thêm mấy hơi thuốc sâu kèn rồi thong thả bắt đầu câu chuyện “Nước vối Cầu Tiên”.


 


Tôi không nhớ rõ lúc ấy là vào năm nào nhưng biết chắc là vào thời kỳ Nhật đổ bộ lên Đông Dương và ăn gỏi người Pháp trong một đêm ngắn ngủi. Pháp hàng liền không ho he, song các phần tử yêu nước Việt Nam thì hăng hái chiến đấu chống Nhật đồng thời diệt Pháp thực dân sợ sệt. Trong khi ấy thì Đồng minh, nói cho thực, không làm được gì ngoài việc trông cậy hết cả vào kháng chiến Việt Nam đánh Nhật, trừ việc đưa tàu bay đến ném các căn cứ quân sự Nhật. Nói thế mà thôi, chứ họ ném vớ vẩn, ném tào lao, ném lếu láo, chứ có phải lúc nào cũng nhắm được các căn cứ của Nhật đâu. Chứng cứ lúc bấy giờ tôi ở Hàng Da Thầy Bói, một mặt đường trông sang Nhà Thương Phủ Doãn còn một mặt trông ra nhà chiếu bóng “Địa Đàng” và chợ, bói hàng cây số không ra cơ quan nào có Nhật, thậm chí đến một tư gia Nhật cũng không, ấy thế mà họ cứ bắn như điên và ném bom xả láng làm cho bao nhiêu nhà thường dân tan nát.


Vì thấy Đồng minh ném vô trách nhiệm như thế, ném một cách vô lương tâm như thế, vợ chồng tôi bèn mua một căn nhà nhỏ ở Cầu Tiên dùng làm chỗ tránh bom rơi đạn lạc của Anh và Mỹ ném xuống Việt Nam. Nhà ở ngay mặt đường Quốc lộ số I, trước mặt là đầm Linh Đường nổi tiếng nhiều sen, lắm cá. Những người chạy loạn đều đi qua đó trước khi đến Bằng Vồi. Thỉnh thoảng, có những bạn bè quen thuộc tạt vào nhà chơi, uống một chén chè vối, ăn một bữa cơm rau dưới mấy gốc bưởi, gốc nhãn ở ngoài vườn, trò chuyện với vợ chồng chúng tôi thú lắm.


Cầu Tiên ở cách Hà Nội chừng mười cây số. Đường sá phẳng lì, xe đi nhiều lắm, mất độ một tiếng là cùng. Hôm nào nghe có vẻ yên yên, vợ chồng lên phố ngó vào căn nhà mình cửa đóng then cài xem có gì lạ không, đến chiều lại trở về Cầu Tiên với lũ con sống quây quần ở đó, không được bén mảng về Hà Nội.


Riêng tôi có chiều tôi không về Cầu Tiên. Lúc ấy, đất nước tiêu điều xơ xác vì chiến tranh, ở chung quang Hà Nội đã có nhiều làng mạc bắt đầu chết đói: ai còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chơi bời chè rượu. Những đêm phải ở lại Hà Nội không về đều bắt nguồn từ việc phải lo vấn đề sinh sống. Lo bom đạn, lo sinh kế, lo Nhật khủng bố, đàn áp những người nổi lên chống chúng và cả những người không có tội tình gì: ngần ấy thứ đủ chết rồi, ấy thế mà ông con và mẹ nó lại giở quẻ không để cho mình yên, quả quyết bảo rằng cái nhà mình ở Cầu Tiên “dữ” lắm, không thể nào chịu được.


Thâm tâm tôi tính toán thế này: Hà Nội dưới ách Nhật chẳng vui gì cả, ăn Tết làm quái gì cho thêm buồn (bởi vì lúc đó gần đến Tết).


Tôi bàn với vợ, hai mươi chín, ba mươi thì về ở hẳn Cầu Tiên, kho một nồi cá, muối một vại dưa hành, mua ít đồ nấu xì xằng gì cúng kiếng gia tiên, quây quần lại với nhau ăn uống rồi rút bất, đánh tam cúc với nhau cho nó xong ba ngày Tết nhất đi. Chương trình dự liệu nghe được, ấy thế mà vào khoảng rằm tháng Chạp thì xảy ra chuyện căn nhà ở Cầu Tiên “dữ” lắm.


Chịu! Mẹ con nhà nó quả quyết như thế, tôi còn biết nói lại làm sao cho được.


Thoạt đầu, tôi cũng tưởng là chuyện mơ ngủ, nói xong rồi bỏ đấy. Nào ai có ngờ đâu suốt cả một mùa đông năm ấy, thằng Lăng cứ vài ngày lại đem chuyện ấy ra đề cập. Tôi cố trấn an tinh thần của con trai. Nhưng qua tiết đông chí thì không còn cách gì khả dĩ cứu vãn được tình thế nữa: nhất định mẹ con nó không ăn Tết ở Cầu Tiên. Mà không ăn Tết ở Cầu Tiên là cả một vấn đề đối với tôi, bởi vì lúc ấy Đồng minh ném bom ở Hà Nội mỗi ngày một dữ hơn; về ăn Tết ở căn nhà trên phố, nói dại xảy ra chuyện gì thì chạy làm sao cho kịp. Lại nữa, khu vực Hàng Da tôi ở đã bị các phi công mù ném lung tung, bậy bạ một lần rồi, rất có thể họ bị choáng mắt trở lại oanh tạc nữa.


Mới nghe thấy mẹ con nó nhắc lại, tôi cười không trả lời. Nhưng hai lần, ba lần, rồi bốn, năm lần thấy vợ con nói sa sả vào tai, tôi cũng đâm bán tín bán nghi, nhưng vì có bổn phận phải giữ vững tinh thần cho cả gia đình, tôi phải làm bộ anh hùng và bảo:


- Trời đất này mà còn nói chuyện đất lành đất dữ! Sao mà “quê” thế?


- Ờ, cậu không tin, đêm nào thức mà xem.


Tôi thức hai ba đêm liền, không thấy có gì khác lạ. Nhưng mẹ con thằng Lăng quả quyết như đinh đóng cột là có nhiều đêm đã trông thấy rõ ràng ở cái chuôm sau nhà có những người đàn ông, già có, trẻ có, trông như các bậc văn nhân thời trước, từ dưới nước đi lên bờ cỏ, ngửng mặt lên trời làm thơ rồi ngâm vang trong đêm tối, tiếng ngâm lanh lảnh vọng sang tận căn gác mẹ con thằng Lăng nằm ngủ.


Tò mò, mẹ con nó he hé cửa sổ ở trên gác nhìn ra đêm tối thì thấy suốt cả một cái chuôm rộng ở sau nhà tưng bừng một cách kỳ lạ ở dưới ánh trăng xanh – mà lúc ấy lại chính là giữa mùa đông, đêm nào cũng có gió bấc mưa phùn.


Sợ lầm, mẹ nó đưa tay qua cửa sổ xem sao thì quả là lúc ấy, ở vườn hoa nhà tôi, đương có mưa phùn rả rích! Tại sao chỉ có riêng cái khoảnh đất ấy có ánh trăng mờ mờ? Không hiểu. Mẹ nó sợ, đóng cửa lại, nhưng con trẻ tò mò chưa chịu ngủ, lại he hé cánh cửa sổ ra nhìn thì bấy giờ thấy một sự việc còn kỳ bí hơn thế nữa: có những văn nhân quấn khăn lượt trên đầu có búi tóc, mặc áo vàng, đỏ, xanh, nâu, viết những cái gì không biết vào những mảnh hoa tiên rồi treo lên các cành cây, đoạn rủ nhau vào một quán nước ở gần đó, tay phe phẩy quạt.


Rồi một người trong bọn họ đứng dậy đi ra dưới một gốc lão mai, lấy ở trên lưng ngựa một túi gấm da đồng, thong dong đi lại phía chuôm, mở ra lấy một cái chai, rồi nằm xuống bờ cỏ múc đầy nước vào trong chai, giơ lên ánh trăng cười lặng lẽ. Thế thì nước chuôm ấy là nước gì mà chàng văn nhân nọ giữ gìn đến thế? Nước thánh để chữa bệnh hiểm nghèo? Là nước suối Ôn  Tuyền để uống cho mát ruột sau những đêm thức để ngâm thơ, vịnh phú?


Nghe thấy vợ con nói mãi như thế, tôi đâm ra nghi ngờ cái óc tưởng là khoa học của tôi (xin các anh chị tha thứ vì chuyện nhắc lại đây là một chuyện mà tôi nói ra với tất cả lòng thành thực để xả hơi). Tôi không biết đối phó ra thế nào. Ờ thì muốn ăn Tết ở căn nhà phố Hàng Da cũng được, nhưng dù sao cũng phải biết những văn nhân, nho sĩ đi đi lại lại ở cái chuôm sau nhà mình là ai đã chứ? Họ muốn gì? Họ chơi cái trò gì vậy? Và cứ ở luôn cái nhà chúng tôi đương ở lúc đó thì có đụng chạm gì đến các vị ấy không?


 


Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không hiểu tại sao trong đời sống lại có thể có những sự việc lạ lùng đến thế, khiến cho mình cố không tin những chuyện dị đoan mà lắm lúc cảm thấy không tin không được.


Để dàn hòa với chính mình mà cũng là để dứt khoát về vấn đề đất lành, đất dữ với vợ con, tối hăm ba tháng Chạp năm đó, tôi đề nghị cầu cơ để xem các thầy cử, thầy tú, các nho sĩ văn nhân hiện lên ở cái chuôm sau nhà là những người gì, là ma hay quỷ, là thánh hay thần mà có ý định đòi hỏi gì người mới đến ở hay không.


Từ trước tôi vẫn nghe thấy nói đến cầu cơ, nhưng chưa bao giờ thí nghiệm. Lần này, nhân năm hết Tết đến, không có công việc gì bận rộn, tôi muốn thử xem sao. Tôi nhớ dường như lúc đó đã hai giờ sáng. Tất cả làng Pháp Vân ở Cầu Tiên im lặng. Bên ngoài chỉ nghe thấy tiếng mưa rơi rầu rĩ trên giàn hoa đậu. Vợ chồng và con trai thắp một ngọn nến lên ở trên căn gác lạnh, ngồi chung quanh một cái bàn tròn nhỏ. Lăng đã trải sẵn một cái khăn bàn có viết hai mươi bốn chữ cái bằng phấn xanh. Con gái tôi để sẵn một tập giấy và cây bút để ghi. Giữa bàn, đặt một miếng cây nhỏ. Mỗi người chúng tôi đặt một ngón tay lên miếng cây đó, cùng lẩm nhẩm cầu xin các vị ứng quẻ, phá ngu trừ mê, giúp chúng tôi là bọn người trần mắt thịt được biết đường ngay mà đi, đường tà mà tránh.


Đến đây, xin nhấn mạnh một điều, tôi không bao giờ ngu muội để đến cái độ đi tuyên truyền cho bất cứ cái gì phản khoa học, phản tiến bộ, nhưng tôi đã thấy và thấy như thế thật, bắt tôi không được nói ra, tức không thể nào chịu nổi.


Vì thế, tôi cứ nói. Cảm giác của tôi chừng hai mươi phút sau khi đặt một ngón tay lên miếng cây hình tròn để giữa bàn là một cảm giác tôi chưa từng thấy bao giờ. Đầu ngón tay tê tê một chút, óc tôi chơi vơi như một người không quen đi sóng nước mà phải ngồi một ngày thuyền để vượt trường giang, còn mắt thì có vẻ mờ đi một chút và dường như có những tia sáng màu sắc cầu vồng lóe lên rồi tắt đi rồi lóe lên. Tôi cố cưỡng, nhắm lại.


Hư hư, thực thực, tôi nghe thấy tiếng vợ tôi nói một cách bé bỏng, như van xin, như lạy lục: “Vị nào về ứng quẻ này đấy? Xin chỉ bảo cho chúng tôi được biết. Xin phá ngu trừ mê cho chúng tôi. Xin chỉ dạy cho chúng tôi là lũ người trần mắt thịt để chúng tôi sửa lễ cúng các ngài”.


Trong khi ấy, tôi cảm thấy như có ai đẩy ngón tay tôi đi. Tôi cố giữ lại không được.


Uất thật! Tôi mở mắt xem sao. Ngón tay của vợ và con tôi cũng động đậy và đẩy miếng gỗ vào những mẫu tự viết bằng phấn trên cái khăn trải bàn.


Vụ cầu cơ kéo dài mãi tới lúc trời mờ mờ sáng. Tôi cầm lấy tờ giấy ghi chép những mẫu tự mà cái cơ đã chỉ do con gái tôi ghi lại thì thấy đại khái như thế này: Người ứng quẻ hôm đó là một thiếu nữ tên Hậu Tú. Ở đâu? Tại sao mà lại hiện về được ở đây? Có biết những văn nhân mặc áo xanh đỏ ở cái chuôm gần nhà chúng tôi không? Chúng tôi có làm phiền gì đến các vị ấy không?


Người thiếu nữ tự nhận là Hậu Tú cho biết nàng là người mở quán bán nước vối ở Cầu Tiên, ngày xưa, bị một ông quan cậy thế cậy thần bắt đem đi, nhưng nàng giữ được vẹn toàn danh tiết. Những tao nhân mặc khách hiện lên ở bờ chuôm không hề có ý hại ai, mà cũng chẳng muốn làm phiền người ở đó xuân thu cúng lễ, chẳng qua là thương tiếc một người bạn gái ngày xưa bị chết oan vì tay một viên chức nhà nước đại gian đại ác vào một đêm gần Tết, nên họ đến đây để tưởng niệm người xưa và cũng là để nhớ lại một quãng thời gian thần thoại mà người ta không giết chóc lẫn nhau bằng bom đạn, chỉ biết ngâm thơ vịnh phú như những thần tiên nho nhỏ. Những người như thế không làm hại ai bao giờ.


 


Tôi không biết tin dị đoan thì tai hại ra sao, riêng tôi thấy trong vụ này tất cả gia đình tôi đều vững lòng sau vụ cầu cơ đêm hai mươi ba tháng Chạp năm tao loạn đó.


Nói cho thật đúng, tôi không tin gì hết, nhưng thấy cơ lên nói một cách có lợi về phía mình, tôi cứ nhất định là cái hồn ứng vào quẻ cơ đó rất linh, và bảo vợ con:


- Thôi thế là mình yên tâm. Cơ bảo các vị hiện lên ở cái chuôm sau nhà mình là hiền sĩ tao nhân, không hề có ý hại ai hay gây buồn phiền cho ai. Mình cứ ở, mình cứ ăn Tết, không lo âu gì hết. Hơn thế, có khi các vị lại còn phù hộ cho mình cũng nên.


Thâm tâm tôi không hề có ý định đẩy vợ đẩy con vào vòng mê tín; nhưng quả lúc nào tôi cũng nghĩ rằng người ta cần phải tin tưởng một cái gì hoặc thần bí hoặc cao cả, cần phải kính Phật, sợ Trời, cần phải thương yêu cả người sống lẫn người chết và tôn trọng đời sống của người khác, kể từ con muông con thú kể đi.


Thế là êm. Năm ấy, chúng tôi ăn một cái Tết thanh đạm nhưng vui vẻ ở căn nhà cỏ ở Cầu Tiên. Thế rồi là những ngày Nhật bước khỏi Đông Dương. Việt Nam giành lại chủ quyền được ít lâu thì Pháp quay lại gây loạn ly tang tóc.


Cũng như tất cả những người biết suy nghĩ, chúng tôi bỏ Hà Nội chạy về ở Cầu Tiên, trong căn nhà cũ có một hồi đóng cửa bỏ vườn, bỏ sân hoang phế.


Cho rằng chuyến này sẽ ở lâu, tôi dọn dẹp vườn tược cho sạch sẽ hơn một chút, treo ở trước cửa nhà một cái biển gỗ nhỏ đề ba chữ Nho “Vạn Lý Trình”. Ở giữa hai cây cột nhà trông xuống sân, có dán một đôi câu đối không lạc khoản:


Bổ thiên vô lực, đàm thiên dị,


Tế thế phi tài, tị thế nan.([1])


Một hôm, có một cụ già râu tóc bạc phơ chạy loạn qua đó, dừng bước nhìn vào nhà tôi, ngắm lại gốc tùng la hán và cặp tiễn xuân la cổ thụ chưng ở ngoài vườn. Thấy người mến cảnh, tôi mời cụ vào chơi xơi một chén nước trà. Xong một tuần, cụ đứng dậy xem bộ tứ bình treo ở chỗ ngồi chơi rồi đọc đi đọc lại đôi câu đối và mấy bài thơ treo trên tường:


- Hay. Nhưng mà…


Cụ già không nói hết, bắt sang chuyện khác.


Cụ nói:


- Vậy ra thầy là nhà văn… Tôi cũng có một người con trai làm văn, viết báo. Có lẽ thầy cũng biết. Bút hiệu nó là Tảo Trang.


Thì ra ông cụ này là thân phụ một người bạn cùng làm mấy tờ báo với tôi. Cụ ở Thanh Hóa ra chơi Hà Nội, không may gặp biến cố ở thủ đô, phải chạy tạm lánh về Bằng Vồi, tại nhà một người bà con. May quá, không ngờ lại gặp người quen biết. Cụ coi tôi như là con cái trong nhà.


- Thưa cụ, khi nãy khi xem câu đối cụ bảo là hay, nhưng sau đó lại có nói “nhưng mà…”. Bây giờ đã được coi là hàng con cháu, có thể mạn phép xin cụ nói tiếp câu nói nửa chừng đó không?


- Thầy đã hỏi, tôi xin nói. Câu đối này hay thật, nhưng mạn phép thầy, tôi thấy có ngụ một ý ngông – nếu không muốn nói là hơi bắc bậc làm cao một chút. Ở một nơi khác, tôi nghĩ cũng chẳng làm sao; nhưng ở đây, ở cái đất Cầu Tiên này có tiếng là lắm người hay chữ… mà dám dán giữa nhà một đôi câu đối như thế… nếu ở địa vị tôi thì tôi không làm!


Đây là lần đầu tiên từ khi trở về Cầu Tiên, tôi nghe thấy một người nói thế.


Tôi hỏi cụ:


- Bẩm, đất Cầu Tiên này cũng là đất văn học hay sao?


- Ồ, thế ra thầy không rõ đấy nhỉ! Tôi nhớ có vài lần đã kể chuyện này cho Tảo Trang nghe. Nó không nói với thầy?


“Vâng, thầy ạ, đất này có một thời đã nổi tiếng là nơi hội họp của nhiều danh sĩ thủ đô. Tôi nhớ cha tôi khi trước có bảo tôi là các cụ ngày xưa đã ghi chép giai thoại văn chương đó trong nhiều sách vở, nhưng lâu ngày, mất mát đi, tuy nhiên tình tiết câu chuyện tôi còn nhớ.


 


Ngày trước, dưới thời vua Lê Thánh Tôn, thiên hạ sống trong cảnh an lạc như vẫn tả trong các truyện thần kỳ: trời trong và đẹp, trẻ con hát đồng dao ngoài đường, còn các văn nhân thi sĩ thì đi tha thẩn trên những vùng cỏ thơm uống rượu, ngâm thơ họa lại những vần của các thi thánh trong hội Tao Đàn mới thành lập ở Đế Kinh. Vào khoảng đầu niên hiệu Hồng Đức, một hôm giao mùa có một nàng con gái đẹp như mây trời, da trắng như san hô, có cặp mắt biêng biếc sầu như núi đồi mùa thu, theo con lộ Thiên Trường về làng Pháp Vân, xin với chức sắc cho một miếng đất nhỏ trông sang đầm Linh Đường để mở một quán nước bán cho khách qua đường.


Chỗ cái quán mà cô mướn người dựng lên không cách xa đây mấy chút, bây giờ người ta kêu là Chuôm Cô Tú, nhưng lúc đó thì là một bãi cỏ thơm có liễu rủ và nhiều gốc mai già, hàng ngày dập dìu mặc khách tao nhân đến để xướng họa với nhau và uống nước chè của cô gái mỹ miều, nền nếp, có một sức quyến rũ lạ lùng, kỳ ảo.


Sức quyến rũ đó phát sinh từ cô hàng bán nước đã khéo ăn nói mà lại có một cái vốn chữ Nho kha khá, tạm đủ dùng để thưởng thức những vần hay ý đẹp của các thi sĩ văn nhân? Từ vẻ đẹp não nùng của cô? Hay sức quyến rũ đó bắt nguồn từ cái cười đậm đà và đuôi con mắt đẹp có lúc như là lẳng lơ mà có khi lại nghiêm nghị làm cho người đàn ông nào cũng e dè không dám thốt ra những lời chọc ghẹo?


Cô Tú – bởi vì không ai được biết tên thật cô ta là gì, chỉ thấy dân làng ở đó gọi là cô Tú thì người ta cứ thế mà gọi theo – rất có thể hấp dẫn các văn nhân về ba điểm đó, nhưng sau này có người ngồi suy nghĩ, quả quyết rằng sức quyến rũ của cô Tú còn nằm ở trong một điểm khác kỳ bí hơn: họ đến hàng cô đông đảo mỗi ngày là vì nước vối cô nấu có một hương vị khác thường, chè và nụ vối của bất kỳ hàng quán nào khác không có cách gì sánh được với nước vối của cô Tú rót bằng cái gáo dừa sang bát đàn trắng màu ngà voi, quái! Sao trông cứ vàng ong óng như là hổ phách, chưa bưng lên nhắp đã thấy thơm phưng phức rồi, mà uống xong, cứ cầm cái bát ở tay, sao hương thơm của vối cứ thoang thoảng, cứ chơi vơi mãi như thể không bao giờ hết?


Nhưng bao nhiêu cái đó, thực ra, chưa lạ.


Lạ là nước vối của cô Tú, không hiểu do một sức huyền bí thiêng liêng nào, hình như lại giúp cho các tao nhân mặc khách có nhiều tứ để làm thơ, vịnh phú.


Nhiều người quả quyết hôm nào không uống nước vối của cô Tú thì trông vào gương thấy mặt mũi mình xấu xí hẳn đi, còn nói gì đến thơ văn chữ nghĩa, không những đã không hay mà có nhiều khi mạch văn lại nghèo nàn, khô cạn.


Do đó, tất cả những người uống nước của cô Tú đều ghiền, không có không chịu được. Quán nước vối của cô lần lần thành ra một nơi hội họp đẹp như một hội quần tiên, vì thế về sau này người ta gọi là Quán Tiên hay Cầu Tiên – vì ở gần quán có một cái cầu tre bắc ngang một cái lạch, hai bên trồng toàn thanh liễu.


Đẹp đến như thế rồi, các văn nhân thi sĩ vẫn còn cho là chưa đủ: họ làm không biết bao nhiêu là câu đối, họ vịnh không biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, thất ngôn cổ phong, hát nói, liên ngâm ca ngợi… Có nhiều câu được truyền tụng đến bây giờ và cũng có nhiều câu khác đã thành tục ngữ, như: “Chè Quán Tiên, tiền Thanh Nghệ”, “Nước vối Cầu Tiên, bánh dầy Quán Gánh” hay “Đi thời nhớ cháo làng Ghề, nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Cầu Tiên”.


 


Tiếng đồn cô Tú là người đẹp trời sai xuống để an ủi các văn nhân, thi sĩ cùng với nước vối của cô là sản phẩm hi hữu ở thế gian đồn vào tận Đế Kinh.


Có một ông quan, không quản ngàn dặm xa xôi, quyết tìm đến Cầu Tiên để uống nước vối của cô Tú thần tiên. Hình như ông quan này là một ông quan võ không có chất gì là văn nghệ trong đầu, gặp gió phất cờ, chó nhảy lên ngồi bàn độc, tha hồ dựa quyền ỷ thế thỏa mãn vật chất thô lậu mà bẩm sinh lại chỉ nuôi cái óc cướp bóc và chiếm đoạt của người, nên vừa uống được mấy tuần chè vối thì ngây ngất say mê liền rồi nảy ra một ý tưởng đê hèn. Ông tự nhủ phải lấy cô Tú làm thiếp cho kỳ được.


Nhưng mối manh đi lại cả một tuần trăng chẳng tiến tới đâu, ông giận quá, sai hai tên gia nô lang sói bôi nhọ mặt, giữa một đêm tối trời cuối Chạp, bắt cô Tú cho vào một bao tải mang đi. Ý là để kịp đưa cô hỏa tốc về Đế Kinh để hưởng một cái Tết Nguyên đán thơm tho bên cạnh người đẹp mà tất cả văn nhân, thi sĩ Bắc Hà đều thèm khát, nhưng vì kính nể, không hề dám hở môi trao tình.


Trò đời vẫn thế: cái gì quý vẫn làm cho quân trộm cướp, kẻ tham tàn háo hức manh tâm chiếm đoạt. Nhưng tên quan võ đại gian đại ác cùng với lũ gia nô của nó đã thất vọng sâu cay: người đẹp có đôi ba chữ thánh hiền cũng như các thi sĩ, văn nhân có đầu óc, không bao giờ sợ uy vũ và không bao giờ chịu thất thân cho quyền thế độc tài…


Chạy ra được đến cây cầu tre, tức là chỗ bây giờ kêu là “Chuôm Cô Tú” hoặc là “Chuôm Hậu Tú” – vì sau này người ta biết tên thật của cô là Hậu Tú – hai tên gia nô mở bao tải ra định đẩy cô lên một cái cáng đã chờ sẵn đó thì ô hay, cô Hậu Tú đã biến đi đâu mất rồi…


Nghe cụ già nói đến đây, tôi tự nhiên cảm thấy có cái gì váng vất bất thường:


- Thưa cụ, cô gái bán nước vối ở Quán Tiên tên thật là gì? 


- Hậu Tú… Hậu Tú, thầy ạ.


Một cái gì lạ lắm, lạnh lắm, tự nhiên chuyển động trong tôi.


Tôi rùng mình và cảm thấy rờn rợn y như thể ta bước vào một thế giới hoang vu có rất nhiều bí mật đang chờ đợi.


Ấy là tôi sực nhớ lại hình như đã nghe thấy hai chữ “Hậu Tú” ở đâu. Thôi rồi, không thể lầm được nữa. Vụ cầu cơ đêm hai mươi ba Tết gần đây từ từ diễn lại trước mắt tôi như một cuốn phim quay chậm: Hậu Tú, há chẳng là cái hồn linh đã hiện về để báo cho vợ chồng, con cái tôi biết là sinh thời nàng đã bị một ông quan cậy thế cậy thần bắt đem đi, mà những tao nhân mặc khách hiện lên ở bên bờ chuôm không có ý hại ai, nhưng đến đó để tưởng niệm cô hàng nước vối, đồng thời nhớ lại một thời gian thần thoại, chỉ biết ngâm thơ vịnh phú, chớ không bao giờ mưu hại ai, giết chóc ai bằng bom đạn.


Tôi pha một tuần trà mới, mời ông khách tuổi tác dùng, và nói:


- Xin cụ kể nốt câu chuyện đang hay. Cô Hậu Tú biến đi thật, hay trốn được và sáng hôm sau lại trở về?


- Tất cả cái gì đẹp ở đời đều hiện ra rất mong manh, rồi mất để lưu lại một sự thương tiếc khôn cùng cho những ai giàu cảm lụy. Không bao giờ người ta thấy cô Tú nữa. Hai tên côn đồ quăng giũ bao tải, không thấy người đẹp bước ra, hoảng sợ, vứt bao tải xuống cái lạch và cắm đầu chạy mất.


“Từ khi đó, nước ở lạch đương xanh biến ra màu ong óng vàng như hổ phách, thơm thơm mùi lá vối Quán Tiên. Khách văn nhân, mang cả một trời thê lương ở trong lòng, thấy vắng bóng hình cô Tú cũng ít bước chân đến đó ngâm thơ nữa, nên chẳng mấy lúc thành ra hoang phế. Nước ở lạch dường như tiếc người đẹp đã đi không trở lại, mỗi năm cứ đến gần Tết thì lại dâng lên gần mặt lộ, y như thể là nước mắt chan hòa. Và lần lần cái lạch ấy thành ra cái chuôm bây giờ.


Dân ở đó kêu là “Chuôm Cô Tú” hay là “Chuôm Hậu Tú” và truyền miệng với nhau rằng “nước chuôm Hậu Tú, nét chữ như tiên” vì họ yên trí là các tao nhân mặc khách mà lấy nước chuôm Hậu Tú đem về mài mực thì không những nét chữ như rồng bay phượng múa mà lời thơ ý nhạc cũng hay hơn, thần diệu hơn.


“Tuy nhiên, chuôm Hậu Tú lần lần cũng mất dần vẻ thơ mộng của trăm năm về trước. Tây họ chặt hết cây thanh liễu đi và thay cái cầu tre ngày xưa bằng một cái cầu xi măng đúc. Phong cảnh khác xưa nhiều lắm. Lại thêm người Pháp cướp được nước ta và bình định tạm xong, bắt đầu bỏ khoa cử, đánh mất giá chữ nghĩa thánh hiền đi nên lần lần người ta cũng chẳng còn thấy các ông tú, ông cử, các thi sĩ, văn nhân đến lấy nước chuôm Hậu Tú để mài mực vào nghiên, dầm ngọn bút lông thỏ viết những bài thơ tuyệt tác ca ngợi cái đẹp của sông hồ, mây nước, của đất tổ quê cha, của âu ca lạc nghiệp.


 


Đêm ấy, ông khách tuổi tác nghỉ lại nhà tôi. Thâm tâm, ông và tôi – được đãi làm bạn vong niên – ngồi uống rượu suông, nghe tiếng mưa lún phún rơi trên giàn hoa đậu.


Về gần sáng, rượu ngấm tê tê trong lòng, tôi nói:


- Bẩm cụ, ở đây được cái tịch mịch, nhưng hơi buồn. Nhưng giả thử chỉ buồn thôi cũng còn chịu được, đàng này có nhiều đêm con trẻ lại không yên vì chúng sợ.


- Sợ gì? Mà sao lại sợ?


Tôi kể lại hết cho ông khách nghe tất cả đầu đuôi câu chuyện đất dữ, từ vụ vợ con tôi thấy bóng những nhà nho thời trước đi lại ở trên chuôm, ngâm thơ vang động cả một góc trời, cho đến vụ chúng tôi cầu cơ để xin các hồn linh ở quanh quất đó giáng trần chỉ dạy điều hơn lẽ thiệt.


- Thưa cụ, tôi thú thật đã ngạc nhiên hết sức và lạnh toát cả người vì câu chuyện cụ kể cho nghe buổi tối.


“Cái hồn linh chúng tôi cầu cơ về hôm đó xưng tên là Hậu Tú và cũng kể rằng ngày xưa có mở một quán bán nước vối ở Cầu Tiên được nhiều danh sĩ, văn nhân đến đó hàng ngày thưởng thức. Tôi yên trí đó là một chuyện mơ hồ, vô căn cứ, không để dạ làm gì, không ngờ hôm nay được cụ kể cho nghe câu chuyện cô Tú Quán Tiên… sao mà phù hợp với những lời tiên giáng trong vụ cầu cơ một cách lạ lùng đến thế. Tôi không còn hiểu ra thế nào. Vậy thì khoa học không đi tới đâu sao? Người ta chết chỉ là chết có thể phách, mà cái tinh anh thì vẫn tồn tại mãi hay sao? Ngoài thế giới ta đang sống, hóa ra còn một thế giới huyền bí khác nữa hay sao?


Ông khách gật đầu một giây lâu. Cụ tự rót một ly rượu đầy, uống khà một ngụm rồi nói:


- Tất cả những điều thầy vừa hỏi, tôi chưa có lúc nào suy ngẫm kỹ. Mặt khác, tôi cũng chẳng biết cầu cơ là một chuyện thật hay ảo giác. Nhưng đoạn thầy, cô và các cháu trong nhà thấy những cái bóng người đi lại trên chuôm, quả là tôi đã nghe thấy các cụ tôi nói tới nhiều lần và hình như cụ Phạm Đình Hổ đã có ghi ở các trang sách cũ, bây giờ thất lạc hết, không còn ai giữ được.


Theo các cụ thì sau khi cô Hậu Tú mất ít lâu, người ở trong mỗi khi có tết nhất, hội hè, thường vẫn thấy các vị ấy, dù ở xa gần, dù cách sông ngăn núi, cũng mặc quần áo đẹp, hoặc cưỡi ngựa, hoặc thong dong đi bộ đến Quán Tiên để tưởng nhớ hương thơm của cô Hậu Tú khi xưa, rồi viết thơ lên những mảnh hoa tiên ngũ sắc dán vào vách quán hay mắc lên cành cây. Gió thổi, hoa tiên bay phấp phới y như là những đàn bướm thông minh bay lượn để chào một tiên nga ban phúc cho những nhà văn nghệ.


Ở đất này, vào cuối Chạp, mà thấy hình bóng các nho sĩ hiện lên ở trên chuôm ngâm vịnh, đàn hát hay lấy nước ở chuôm Hậu Tú cho vào trong chai đem về mài mực cho chữ tốt hơn, văn hay hơn, tôi nghĩ chẳng có gì lạ lắm.


Là vì, như tôi đã nói với thầy hồi tối, cô Hậu Tú đã bị ưng phệ bắt đem đi vào cái cữ đông gần hết, xuân sắp sang. Hồn các nho sĩ tề tựu trên chuôm chắc chắn không nhằm mục đích gì khác hơn là trở lại chốn cũ để tìm lại một ít dấu xưa, nhân đó hy vọng được uống lại chén chè vối thần tiên ngày trước của cô hàng nước mỹ miều không tài ba gì lắm nhưng cũng đủ chữ thánh hiền để thưởng thức nghĩa lý cao siêu ẩn trong những chữ thần chuốt trong những vần thơ thánh.


Nhưng chè vối Cầu Tiên đâu còn nữa, mà cô Hậu Tú thì ở bến nước cầu mây nào, có bao giờ còn thấy nữa đâu?


Không biết hỏi ai, các nho sĩ đành nhìn nhau thở dài ngâm không biết bao nhiêu bài thơ nuối tiếc, nhưng đến nay người ta chỉ còn nhớ được một bài:


Lai thị mơ hồ khứ tuyệt tung,


Đỗ quyên trì bạn nhạ đông phong.


Nguyệt minh cao thụ thanh sương lý,


Do tưởng yên trung đao kiếm hồng.


mà con trai tôi là Tảo Trang đã có lần tạm dịch như sau:


Đến chẳng ai hay, đi biệt tích,


Tiếc xuân quyên khóc suốt năm canh.


Trăng soi cây cối trong sương biếc,


Tưởng má hồng tươi sau khói xanh.


 


Mỗi lần thấy các hồn nho sĩ hiện lên ở trên chuôm như thế, người ở trong vùng lại nhắc nhở đến chuyện Hậu Tú Cầu Tiên và hết thảy những người già lão không tiếc lời ca ngợi những nho sĩ thanh cao, thủy chung như nhất, không năm nào quên về Cầu Tiên để ngâm ngợi “tinh thần Hậu Tú”.


Có một số người ít tuổi không nghĩ thế, lại cho rằng các nho sĩ ấy hiện về trên chuôm Hậu Tú là do một mục đích khác hẳn: họ cho rằng các nho sĩ ấy vịnh thơ, làm phú và cao ngâm trong đêm khuya như vậy là để oán hận cho thân thế, mơ lại những ngày cực thịnh của nho học và tiếc nuối chế độ khoa cử cũ đã chết, không còn hy vọng có ngày trở lại.


Ở giữa một khoảng sân rộng nào đó, một ông già râu tóc bạc phơ sẽ mỉm cười, nhấp một ngụm trà và nói:


- Lúc Tây đến đây, chế độ khoa cử cũ đã được người ta hủy bỏ… Nhưng các nho sĩ hiện lên ở chuôm Hậu Tú Cầu Tiên đâu có phải bận tâm suy nghĩ về mấy chuyện tầm thường đó. Hơn cả ai ai, họ biết rằng mọi việc đều thường xuyên sinh hóa, hóa sinh, đời chỉ là tạm bợ, thiên chung vạn tứ cũng là không, duy chỉ có cái Đẹp, và chỉ cái Đẹp tồn tại mãi.


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Nghĩa là: Vá trời không có sức, chuyện trời đất nói thì dễ, cứu đời không phải tài, lánh đời lại rất khó.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »