tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25758189
Tiểu thuyết
31.01.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ tư


NGƯỜI MẸ CỦA RỪNG


Người kể chuyện đêm thứ tư là một người bạn tôi quen biết từ lúc còn làm chung một tờ báo lậu với nhau ở thành. Ra ngoài kháng chiến, Kiếm – tên anh – vào bộ đội, làm chính trị viên trung đoàn quân Tây Tiến. Đến khi về, không hiểu gặp tai nạn gì ở dọc đường, anh bị sứt mất một nửa cái vành tai bên phải. Sau nửa tháng nghỉ ngơi, anh xung phong vào một đoàn văn nghệ, nhận chức vụ đi theo bộ đội để khích động tinh thần phấn đấu hoặc dưới hình thức học tập, hoặc dưới hình thức độc tấu, hoặc kể chuyện bổ ích cho quân đội nghe giải buồn. Đặc thù của anh là nhớ thơ, nhớ chuyện không chê vào đâu được. Đã có một lần, trước năm sáu ngàn binh sĩ đóng tại chân Đọi, Đệp trên có đường lên Chi Nê, anh đã nói liên chi hồ điệp trong sáu tiếng rưỡi đồng hồ về truyện Tam Quốc, kể từ lúc Quan Ngài cầm rượu của Tào Tháo dâng lên chưa uống, cưỡi ngựa lấy đầu Hoa Hùng mà trở về chén rượu vẫn hãy còn nóng nguyên, cho tới lúc Khổng Minh kết tội Ngụy Diên làm phản…


Nói như thế, hoàn toàn chỉ bằng vào trí nhớ, mà cứ nói vanh vách đâu ra đấy, kể từ lời tả cảnh của La Quán Chi cho đến những câu đối thoại của các nhân vật trong truyện, không sai mấy chút.


Chính Kiếm, nổi tiếng là một tay độc tấu vào cái cỡ của Dung, đã kể câu chuyện thứ tư mà anh kêu là chuyện “Người mẹ của rừng”.


 


Cho đến bây giờ người ta vẫn không hiểu tại sao giữa đời sống thần tiên đó lại mọc ra một mụ phù thủy xấu xa, nanh ác như Mu Lông, làm cho ai cũng kinh tởm và xa lánh. Có nhiều người đã muốn giết mụ ta đi vì cho rằng mụ đã làm xấu miền cao nguyên đẹp đẽ và yên ổn. Là vì người cao nguyên, hơn cả ai ai, quan niệm rằng giang sơn của họ còn đẹp hơn cả vườn Địa Đàng, đất nước của họ còn oai hùng hơn cả các đất nước trên thế gian gộp lại, còn dân của họ thì anh hùng, can đảm hơn cả các thần linh trên trời. Mỗi khi nhắc đến lịch sử oanh liệt đó, họ rầu rầu kể lại chuyện tổ tiên họ trước đây đã bắt thần Lửa trên trái đất nhốt vào trong hang đá làm cho ông thần này tức giận, liên kết với thần Sấm và thần Sét đốt cháy cả đất và nuốt cả đá làm cho giống người cao nguyên chết hết. Duy chỉ còn một ít người lúc ấy đi đánh cá ở ngoài khơi sống sót, mặc dầu gió dập sóng nhồi kinh khủng.


Những người đó lên được đất liền, đi mãi, đi lang thang mãi qua đèo, qua núi, vượt biển, vượt sông cực kỳ gian khổ. Mãi sau họ mới tới được một miền rừng núi mông mênh, không có người: họ định cư và lập tại vùng cao nguyên mới, đốt nương làm rẫy, khai phá, mở mang. Rồi chẳng bao lâu họ sinh sản đông đúc. Vì được trời đất và núi rừng che chở, lần lần họ chia ra thành nhiều bộ lạc, mỗi bộ lạc có một tù trưởng cầm đầu.


Bộ lạc Xê Đăng, bộ lạc có mụ phù thủy Mu Lông, do một tù trưởng đẹp như mặt trời tên là Bang quản trị. Dân chúng sống yên vui, no ấm, vẫn tự nhận là những người sung sướng nhất trần đời vì họ kết bạn với mặt trời, mặt trăng, với mây, với gió, với núi, với rừng; vì thế họ cho rằng mụ phù thủy Mu Lông đã làm xấu xa cả bộ lạc và bàn nhau giết chết mụ đi. Nhưng tù trưởng Bang cho rằng hành động như thế là trái với lẽ trời, rất có thể các thần linh trên trời sẽ nổi giận như thần Lửa ngày nào đốt chảy cả đất và nuốt cả đá vào họng, tiêu diệt người cao nguyên lần nữa.


Do đó, mặc dầu tất cả mọi người đều ghét bỏ, căm thù, mụ phù thủy Mu Lông vẫn cứ sống như thường. Nhưng không có ai dám ở chung với mụ. Mu Lông phải đánh một túp lều ra ở bên bờ một con suối cạn, làm bạn với ma quỷ và đi nhặt trái cây rừng để ăn.


Một hôm, đi đến một sườn núi cao chót vót, mụ bỗng gặp một cây gổi trĩu trịt những trái chín đỏ, ăn vào cứ ngọt lừ. Ăn cả một buổi mà chưa thấy đã, mụ tính trẩy hết cả trái xuống để đem về nhà ăn dần, nhưng sờ đến gùi ở lưng thì bỏ quên đâu mất rồi. Mụ bèn chặt một ít lau sậy gần đó đánh dấu cây gổi sây trái ấy. Hôm sau, mụ quay trở lại, định trẩy hết cả quả gổi xuống cho vào gùi thì mụ thét lên một tiếng rung chuyển cả núi đồi, cây cối. Thì ra ở trên cây có một con cù lần đang ngồi hái trái ăn thong thả.


Giống cù lần có một điểm đặc biệt mà ai đã đi rừng đều biết: nó hòa sắc lông nó vào với sắc cây, bám hai chân sau vào cành, thả đầu xuống lúc bình thường cũng như khi sanh sản, ngoài ra lúc kiếm ăn thì leo trèo lặng lẽ và ẩn mình rất tài tình vào cây cho nên những người tinh mắt nhất cũng khó mà nhận ra được chúng. Nhưng Mu Lông là một mụ phù thủy, đâu có phải là người thường, cho nên vừa nhìn lên cây thì nhận thấy liền con cù lần. Mụ hét lên:


- Bớ quân cù lần biếng nhác quỷ tha ma bắt không chết kia! Mày không trông thấy lau sậy ta cắm ở dưới gốc này sao? Cây gổi này của ta. Mày không được ăn trộm. Nếu mày không xéo ngay, ta sẽ kêu tất cả rắn chuối, hổ mang, hổ gầm đến cắn chết mày ngay bây giờ.


Ngồi vắt vẻo trên cây, con cù lần thong thả đáp:


- Rắn cắn chết tôi sao được, vì tôi bất tử kia mà!


- À, con ranh con nói bậy. Mày là ma quỷ đến trêu chọc tao, có phải thế không?


- Không đâu.


- Vậy sao mày lại nói được như người?


- Không có gì lạ hết. Là vì tôi là người.


- Mày càng nói, tao càng lạ lùng hết sức. Mày là người mà sao lại là con cù lần?


- Để tôi nói cho mụ nghe: tôi nguyên là một đứa con gái nhỏ sanh trong một gia đình khá giả. Cái tội của tôi là tươi và đẹp. Vì thế có nhiều người định bắt tôi về để nuôi và dùng vào những công việc gì đó mà tôi không biết. Tôi không chịu. Nhiều người ghét tôi. Sau có một mụ thầy mo, thừa lúc tôi đang đi tìm mật ong trên núi, bắt tôi đem về giấu kín ở trong nhà mụ, dụ dỗ tôi và dọa nạt tôi. Dọa nạt, tôi không sợ; mà dụ dỗ, tôi không nghe; mụ thầy mo tức giận bèn giết chết tôi lấy máu để uống và moi lòng để ăn. Tất cả thần linh của suối, của rừng, của núi, của sông, của cây, của cỏ đều nổi giận phừng phừng đập chết mụ. Mụ thầy mo biến thành một con cù lần. Phần tôi vì bị chết tức chết tưởi, hồn không tiêu tan được, cứ vất vưởng ở đầu khe ngọn suối, các vị thần linh thương tình bèn hóa phép cho tôi nhập vào con cù lần. Thành ra bây giờ con cù lần là mụ thầy mo dơ dáy mà cái hồn bên trong thì là tôi – một người con gái bé nhỏ sinh thời có một đôi chút nhan sắc từng làm cho nhiều người mơ ước.


- Vậy ư? Mày không nói ra thì nào tao có biết đâu. Tội nghiệp. Nhưng hỡi hỡi cù lần, không biết thì thôi, chớ đã biết thì khi nào tao lại chịu để cho mày sống cái kiếp khổ ải, đa truân như thế. Mày có biết rằng ta có thể làm sống lại cái thân hình của mày khi trước hay không? Mà tao đoán chắc mày lại còn có thể đẹp đẽ và duyên dáng hơn cả khi trước nữa.


Con cù lần trả lời, qua áng hồn trong trắng của cô gái ngây thơ:


- Nếu mụ cứu được tôi như thế, tôi cảm tạ mụ đời đời kiếp kiếp.


Rồi nó chuyền các cành cây xuống, quỳ trước mặt mụ Mu Lông và sụp lạy.


Từ đó con cù lần cặp kè với mụ phù thủy điêu ngoa, kéo dài ngày tháng buồn hiu trong túp lều cỏ ở bên con suối cạn.


Suốt ngày nó phải vào rừng hái trái đem về cho mụ Mu Lông, rồi làm đầu tắt mặt tối các công việc ở nhà, không có một lúc nào được nghỉ ngơi. Mà nào có được yên: mụ không ngớt miệng rủa xả nó, đánh đập nó, hành hạ nó, khi thì bắt nhịn ăn, khi thì hút máu làm ngải, lúc lại nung những thanh sắt đỏ nướng da thịt nó cháy xèo xèo để thưởng thức mùi thơm của thịt rừng.


Tuy nhiên, con cù lần cũng chẳng làm sao hết. Là vì nó bất tử: muốn hành hạ, đâm chém, thui đốt cách gì nó vẫn cứ trở lại lành mạnh như thường. Duy nó chỉ đau khổ một điểm là có một linh hồn người cho nên biết tủi nhục, đau buồn, tê tái. Song le, đã lỡ hứa với mụ phù thủy theo mụ về nhà hầu hạ, để mong có một ngày mụ làm phép cho mình trở lại hình thù xưa cũ, nên con cù lần cứ nhịn nhục ở hết ngày ấy sang tháng khác và chịu đủ mọi cực hình mà không chút rên la.


Nhưng tất cả mọi người ở trong bộ lạc đều biết chuyện con cù lần nô lệ bị mụ phù thủy Mu Lông dằn vặt và hành hạ. Họ bàn bạc với nhau các cách để cứu con cù lần. Một bữa kia, rình mụ Mu Lông đi rừng một mình, họ gài một cái bẫy trên con đường mụ đi qua và bắt sống mụ, trói lại bằng dây thừng ngũ sắc rồi đem đi bỏ ở một thung lũng rất xa xôi. Đoạn, họ trở về cái chòi của mụ vây kín chung quanh. Thì lạ chưa, mụ ở nhà này có một mình với con cù lần mà sao lại có tiếng chầy giã gạo? Họ bèn kêu:


- Bớ ai ở trong nhà ra mở cửa, nghe!


Quả là dân bộ lạc này chưa bao giờ lại có thể ngạc nhiên đến thế: con cù lần, giống in hệt tất cả các con cù lần khác trong rừng mà sao lại nói được tiếng người? Bởi vì nó nói như người thực:


- Có tôi đây, các người muốn hỏi gì?


- Ủa! Sao cù lần mà lại nói được tiếng người? Mày là người hay là ma quỷ?


- Sao tôi lại là ma quỷ? Tôi là người đây mà. Tôi là người như các người. Nhưng tôi mang cái hình thức cù lần, bởi số kiếp bắt phải như vậy và các thần linh muốn tôi như vậy.


- Mày nói, chúng tao tin phần nào. Nhưng hỡi hỡi cù lần, nếu mày muốn chúng ta hoàn toàn tin nơi mày, mày phải trả lời rành rọt, tại sao mày là người như chúng ta mà lại đi hầu hạ mụ Mu Lông là một mụ phù thủy làm bạn với tà ma, quỷ quái?


- Không có gì lạ hết: tôi là một đứa con gái phải mang hình xác một con cù lần. Mụ Mu Lông hứa với tôi sẽ làm phép cho tôi trở lại hình người ngày trước và tôi tin mụ nên tôi làm tôi tớ mụ.


- Mày có biết mụ là một con đàn bà dối trá, tráo trở và chỉ làm những điều ác đức không?


- Sao tôi lại không biết? Cứ trông những vết sẹo và những mảng lông bị cháy xém đây đủ biết. Nhưng tôi cứ phải ở với mụ vì nếu tôi bỏ đi thì không bao giờ trở lại làm người như trước được. Các thần linh ở trên trời dưới đất, ở đỉnh núi, lòng khe đều nghe thấy lời mụ nói với tôi.


Tất cả mọi người trong bộ lạc đều cười hô hố:


- Sao mày cả tin đến thế? Sao mày biết là thần linh nghe thấy những lời của mụ nói với mày?


Giữa lúc đó, bao nhiêu cây cối trong rừng rung chuyển ầm ầm, đá chạy cát bay lầm cả đồi cả núi, muông ngưng kêu, chim ngưng hót, hoa ngưng cười, suối ngưng reo. Và giữa thinh không có tiếng nói như truyền lịnh, như dỗ dành, như thủ thỉ mà lại như giận dữ của cái cây lớn nhất ở trên một ngọn đồi trông xuống rừng cây:


- Hỡi hỡi cù lần, khá lắng nghe lời truyền dạy: ngay giờ phút này đây, con phải rời bỏ cái lều của mụ phù thủy Mu Lông để về sinh sống ở bản với những người lương thiện. Còn các dân làng đương tề tựu ở nơi đây! Các con phải đối xử với cù lần cho phải đạo đồng bào – vì cù lần nó là người cùng giống với các con – các con không được nghe bất cứ ngoại nhân nào khác máu tanh lòng xúc xiểm nó và coi nó như thù nghịch. Một ngày rất gần đây cù lần sẽ được trở lại hình người xưa cũ, nó sẽ làm vinh dự cho các con và các con sẽ tôn thờ nó làm mẹ của rừng.


Con cù lần mà là mẹ của rừng! Ấy mới là một điều khó tin. Ấy mới là một điều vô lý, không có cách gì nghe được! Nhưng bởi vì thần linh đã truyền dạy như thế, toàn bộ lạc nhất nhất phải vâng lời, đem cù lần về sinh sống chung với họ. Thì ra con cù lần này nói như người, làm việc như người và cảm nghĩ như người thực, nhưng tại sao chung sống với họ bao nhiêu tuần trăng, bao nhiêu mùa thu, mà nó không hóa ra người? Bên cạnh đa số người vẫn mạnh lòng tin tưởng thần linh, có một bọn tung ra một luận cứ thấp kém và thiển cận: “Chúng ta đều bị lừa dối luôn. Con cù lần này không bao giờ có thể làm người được bởi vì nó có phải là cốt người đâu, mà chính cốt nó là cốt ma cốt quỷ. Không thế, sao từ khi nó về ở đây với chúng ta, thiên tai xảy ra liền liền, người chết nhiều gấp bội khi trước, đàn ông không còn hạ được ác thú dễ dàng, đàn bà chậm sanh đẻ mà thầy mo thì không được người ta mời đón như trước nữa?”.


Một số người nghe thấy thế cho là có lý, nổi xung, hùa lại bắt con cù lần trói bằng dây thừng ngũ sắc và đánh nó, bắt phải thú nhận nó là loài ma quỷ. Cù lần khăng khăng không chịu. Họ tra tấn ác liệt nữa, và bắt nó phải nhảy với một con chó đực để cho bao nhiêu tà thuật của nó mất thiêng. Nhưng giữa lúc đó, cây cối trong rừng lại chuyển mình răng rắc, sông núi lại gào thét lên ầm ầm, rồi từ thân cây lớn nhứt rừng vọng ra những lời rùng rợn, đầy một vẻ căm hờn giận dữ:


- Hỡi hỡi cù lần được thần linh che chở! Đồng bào của con đối xử với con tàn tệ như thế thì ở mãi với họ không được đâu. Con hãy tạm lánh mình đi nơi khác, thần linh sẽ chỉ đường cho con. Một ngày kia, những kẻ đối xử với con tàn tệ sẽ cảnh giác những hành động mà họ làm, họ sẽ hối hận về cái tình cốt nhục mà họ đã tạo thành ra tương tàn, đẫm máu.


Lập tức, bao nhiêu người gây ra tội lỗi đều sụp xuống đất và rập đầu lạy tiếng nói giữa thinh không, xin tha thứ, nhưng tiếng nói của thần đã im bặt từ bao giờ, không đáp lại lời van xin của họ. Họ òa lên khóc và nước mắt của họ rơi xuống thành một vũng, đến bây giờ hóa ra một con suối kêu là suối Đi Ong: “Thôi rồi, chúng ta không được thần linh tha thứ. Đời đời kiếp kiếp chúng ta sẽ mang lấy hậu quả không hay”. Những người không dính líu đến vụ hành hạ con cù lần uất giận những kẻ gây ra tội không để đâu cho hết, rập đầu lễ bốn phương trời và khẩn khoản xin con cù lần thương họ mà ở lại. Nhưng con cù lần nói:


- Tôi không nuôi một ý thù hận nào đối với các người, kể cả những người hành hạ tôi – vì các người là ruột thịt của tôi – mà ai lại thù ruột thịt để mong sống với ngoại nhân phù thủy bao giờ? Nhưng bởi vì các thần linh đã phán bảo tôi phải tạm lánh đi nơi khác ít lâu, tôi phải vâng lời không dám trái.


Nói đoạn, nó nhảy vào bóng tối và biến mất trong nháy mắt. Chim đêm vỗ cánh hát những bản ca khác ngày thường; suối róc rách một điệu nhạc êm êm kỳ lạ mà chưa ai nghe thấy, còn sao hôm thì sáng ngời như kim cương và con cù lần cứ theo ánh sáng của nó nhấp nháy ở trên cao mà tiến.


Buổi sáng hôm ấy, mặt trời mọc muộn hơn ngày thường. Cây đứng lặng yên, cỏ không xanh rợn, chim nhìn mây không hót, mây không tìm núi chuyện trò mà núi thì cũng chẳng nói với sông những lời hò hẹn. Trông ra phía chân trời, người ta thấy những đốm đỏ như những trái lửa sắp rơi xuống mặt đất hệ lụy này. Không ai bảo ai, người dân nào cũng sững sờ, như lo ngại điều gì và họ nhìn nhau không ai dám nói với ai một lời. Chính giữa lúc ấy, từ phía chân trời có một ông cụ già râu tóc bạc phơ như tuyết, mặc một áo dài đỏ, quần đỏ, đi đôi hài đỏ, chống một cây gậy “bồ nâu” đi như bay trên trời đến gặp Bang, người tù trưởng đẹp trai của bộ lạc Sê Đăng vỗ vào vai một cái. Liền khi đó, người tù trưởng cảm thấy nửa mê nửa tỉnh mà tai thì nghe thấy nửa hư nửa thực mấy lời của ông cụ nói rõ ràng:


- Một cô gái tuyết trinh từ trên cành rơi xuống, từ sương tuyết tạo nên, từ một bông hoa đẹp nhất và thơm tho nhất nở ra đang đi nhởn nha về phía nhà tù trưởng. Tù trưởng đi đón ngay người đẹp rước về làm vợ, sau này sẽ gặp hạnh phúc đề đa. Nhưng lão khuyên tù trưởng nên hành động kín đáo đừng để cho ai biết vì bông hoa sinh ra cô gái tuyết trinh đó vốn khiêm nhường, không thích sự ồn ào mà cũng không ưa sự phù hoa, rực rỡ.


 


Lập tức, tù trưởng Bang giả làm một người dân nghèo đội nón lá đi vào rừng săn bắn một mình. Mặt trời mọc chậm nhưng có vẻ sáng hơn mọi ngày và đi chào các bông hoa niềm nở hơn, lá lại reo và suối lại chảy, chim lại hót và gió vuốt ve cỏ thơm mọc ở chân đồi trìu mến hơn, tình tứ hơn. Giữa khi đó, con cù lần vượt vách đá, vượt rừng cây đến một trái đồi xanh biêng biếc có những giống chim từa tựa như loài sếu đang vùng vẫy trên một dòng suối bạc lượn ở bên trái đồi. Cù lần nhìn lên trời thấy sao hôm đã biến, mặt trời đỏ rực như một hòn ngọc lưu ly, bèn ngừng lại một giây nhìn xuống suối. Nước suối xanh như trái đào và cảm thấy thơm ngào ngạt. Cù lần mon men lại gần định uống nước rồi đi nữa, nhưng vừa cúi xuống để vốc nước lên miệng thì nó trông thấy hiện lên hình bóng dữ dằn của con mụ phù thủy Mu Lông. Ủa, tại sao Mu Lông lại ở đây? Thì ra cái suối này là giang sơn cẩm tú của Sét Sa, chúa tể của loài rắn, thần linh của các hang, động, sông ngòi. Sét Sa nằm trong một hốc đá, ít khi ra ngoài, nhưng không một người nào xâm phạm được đến giang sơn của nó vì từ ngọn suối nó có không biết bao nhiêu là ma quỷ chằn tinh phụ trách trông nom, bảo vệ. Những ma quỷ chằn tinh đó hầu hết đã làm nhiều tội ác bị thần linh đày đọa đến đây đền tội, bây giờ nếu còn làm điều ác trở lại thì Sét Sa có bổn phận nghiêm trị vì con rắn chúa đó nổi tiếng là mạnh và có nhiều phép lạ khả dĩ chống lại được tất cả các tà thuật của chằn tinh, ma quỷ. Vì suối của nó được canh phòng cẩn mật như thế, Sét Sa yên trí ở trong hốc đá để rửa châu báu vàng bạc hàng ngày theo dòng nước trôi đến đấy. Đêm có trăng, nó ngồi gọt ngọc biếc để tiếp thu khí âm, đêm mưa bão nó mài kim cương trên những hòn đá phẳng lì mà thác nước chảy ào ào xuống ngày đêm không nghỉ, còn những đêm nóng nực có gió nam thổi về thì nó nhìn lên mây nhuộm các thứ đá quý theo đúng màu thay đổi của mây lúc xanh, lúc đỏ, lúc vàng, lúc tím… Hình như các báu vật đó, Sét Sa dâng lên Trời để chia cho các thần linh dưới đất và trên sóng nước.


Khi ấy, Sét Sa đương ngắm nghía một viên ngọc biếc vừa mới mài xong lúc đêm khuya, thì bỗng nghe thấy một tiếng kêu thảm thiết, làm ầm ĩ cả một hốc đá thường là êm ả. Thì ra con mụ phù thủy Mu Lông bị dân bộ lạc Sê Đăng bắt mang đi bị đày ra canh suối và tình cờ hôm ấy nó bắt được cù lần giữa lúc cù lần cúi đầu xuống vốc nước lên tay để uống. Vì giận quá mà quên mất hết cả nghiêm lệnh của rắn chúa Sét Sa, mụ Mu Lông nắm lấy gáy con cù lần, giơ cao lên trời, la lớn:


- Ha ha, con cù lần nô lệ! Mày có nhớ đã hứa làm tôi tớ cho ta không? Mà tại sao mày dám trốn nhà đến đây làm gì? Mày thoát khỏi tay ta sao được?


Nói đoạn, mụ Mu Lông bẻ đầu nó, lấy gậy có mấu nhọn đánh vào mình nó. Con cù lần kêu khóc thảm thiết và hết lời van xin:


- Mẹ ơi, con có bao giờ dám có ý định trốn đâu. Đấy là các thần linh dạy bảo con như thế, chớ quả thực không phải tự con muốn vậy.


Mụ Mu Lông đập hai chân xuống đất kêu đành đạch mà cái mõm nhọn thì rít lên như tiếng còi:


- Thần linh! Thần linh bảo với mày như thế?


Mụ nhổ một bãi quết trầu đỏ lòm xuống nước suối trong veo và tiếp:


- Mày thấy chưa? Thần linh của mày tao coi như là bãi cốt trầu tao nhổ! Mày mở mắt ra mà nhìn!


Vừa nói đến đó, mụ Mu Lông bỗng thấy chớp lóe ra trước mặt mụ, xanh lè lè và tiếng sấm nổ ầm ầm bên tai như muôn vạn tiếng đồng, tiếng sắt. Thì ra mụ Mu Lông trong lúc nghe tiếng nói của tức giận và độc ác đã quên khuấy luôn luật lệ của núi rừng cấm bất cứ người nào làm nhơ bẩn những dòng nước trong. Cùng lúc sấm chớp nổi lên, mưa đổ xuống ào ào như thác lũ, nước ở các dòng sông dòng suối cuồn cuộn bốc lên cao, vút lên trời rồi đổ xuống mặt đất như muốn cuốn hết cả cây cối và người vật ra biển cả. Rồi rắn chúa hiện ra giữa trận hồng thủy đó, gớm ghê, rùng rợn và ác liệt không bút nào tả xiết. Miệng nó đỏ lòm phóng ra và tiết nên những tiếng ầm ầm như trống trận, hai mắt nó xanh lè động đậy như hai hạt minh châu khổng lồ, lưỡi nó thè ra còn đuôi thì vẫy sang trái, vẫy sang phải mà mỗi khi vẫy như thế thì lại nổi lên một làn gió lạnh tê xuống rủn ốc. Mụ Mu Lông ngã lăn ra chết giấc bên bờ suối, còn con cù lần thì nằm trốn vào trong một hốc cây gần đó, không dám thở.


Văng vẳng bên tai nó bỗng nghe thấy những lời quát tháo ở trên thinh không vọng tới:


- Hỡi hỡi cù lần được thần linh che chở, mụ phù thủy độc ác không thể làm hại con được đâu. Con đừng sợ… Hôm nay, mụ đã tới số rồi, mụ phải đền các tội ác mụ đã làm từ trước tới nay. Rắn chúa Sét Sa! Khá nghe lời ta, dìm mụ xuống đáy vực sâu để cho ức ức triệu triệu rắn giun rút ruột mụ, ức ức triệu triệu con đỉa hút máu mụ, ức ức triệu triệu con giòi rỉa da thịt mụ.


Tức thì Sét Sa há cái miệng đỏ lòm tiết ra những tiếng ầm ầm như trống trận, ngoạm lấy mụ Mu Lông và nuốt một hơi vào bụng.


Thần Núi bảo Sét Sa:


- Nhớ trả hồn cho mụ ta.


Thần Cây cũng lên tiếng:


- Còn mụ thầy mo đã hút máu moi lòng cô gái tuyết trinh bị thần linh bắt hóa ra con cù lần cũng nhớ trả hồn cho mụ ta nghe.


- Nhưng hiện mụ thầy mo bây giờ ở đâu?


- Mụ mang hình xác con cù lần nằm kia kìa. Hãy nuốt nó đi nhưng nhớ phải trả hồn cho cô gái tuyết trinh, đừng để mất đi mà mang tội.


Sét Sa vâng lời nuốt xong mụ phù thủy, nuốt nốt con cù lần. Thần Núi lấy hồn của mụ phù thủy và mụ thầy mo biến thành hai con kên kên độc ác suốt đời đi gieo rắc tang tóc cho khắp nơi, gây chiến với tất cả các loài chim nhỏ bé và chuyên sống bằng xác chết ở các bãi tha ma, chiến trường.


Còn lại hồn của cô gái tuyết trinh thì thần Cây nhận lấy mang đi trong trời hồng hồng sáng trong trong, mang đi qua không biết bao nhiêu sông, bao nhiêu núi, mang đi trên không biết bao nhiêu gió, bao nhiêu mây để rồi một sáng mờ sương kia ngừng lại và cho nhập vào một loài cây đẹp nhất trong các loài cây, có hoa thơm nhất trong các loài hoa.


Hoa ấy nguyên thủy được kêu là Ri A Đa. Bông hoa Ri A Đa đầu tiên nở ra lưng chừng trời, tiết ra một hương thơm ngào ngạt xuống tận dưới đất, làm cho tất cả thần linh ở cả trên trời dưới đất đều sửng sốt hỏi nhau sao lại có một hương gì ngát thế, ngạt ngào đến thế.


Chư thần chắp tay lại vái van Trời, Phật đã ban cho núi rừng có một thứ kỳ hoa dị thảo, rồi tất cả cùng đem phép thuật rừng của họ biến Ri A Đa thành ra một vị thần diễm kiều nhất trần đời. Chư thần lấy nhụy cái hoa của Ri A Đa nở ở lưng chừng trời biến ra hình một cô gái đẹp như sao băng, lấy hai giọt sương long lanh ở sông Ngân Hà làm thành hai mắt, lấy tiếng nước suối Ôn Tuyền như thủ thỉ, như chuyện trò làm giọng nói, lấy hai nụ hoa mẫu đơn tiên làm thành đôi vú, lấy một bông tiễn xuân la hàm tiếu làm thành miệng và lấy cỏ sương bồ mọc ở vườn hoa của nhà trời làm thành tóc dài và đen mướt như nhung.


Từ hư không, chư thần đã dùng ánh sáng, hoa lá, sương tuyết và cây cỏ đẹp nhất trần đời tạo cho hoa Ri A Đa thành một cô gái kiều diễm nhất trần đời và đặt tên cho nàng là Phong Lan.


Phong Lan hé mắt nhìn ra rừng xanh và mỉm cười như nghe thấy lảnh lót tiếng đàn sáo của chư thần đánh dấu ngày nàng bước vào đời. Nàng bước vào đời như một cánh lá rơi, đi trên cỏ nhẹ như một con nai vô tội, thỉnh thoảng dừng lại soi bóng mình dưới nước trong trong.


Cỏ ở dưới chân nàng thì thào bảo nhau: “Sao gót nàng tiên đẹp thế?”. Con chim thước hỏi cây thanh tùng: “Người mới bước qua đây sao ngào ngạt một mùi hương quyến rũ thế?”. Và mây nói với núi: “Không ghen sao được hở mình, bởi vì tóc nàng ấy óng ả, mươn mướt và đẹp trội hơn em nhiều quá”.


Giữa lúc chim chóc, cây cỏ, hoa lá, mây núi đang thì thào ca ngợi sắc đẹp não nùng của Phong Lan thì một chàng trai trẻ, mang cung nỏ, đội nón lá, đi thong dong đến trước mặt nàng:


- Hỡi cô gái đẹp kia, nàng là ai mà đi một mình trên dải đất của ta?


- Tôi là Phong Lan, con gái của Ri A Đa, đi tới đây là do các thần linh chỉ bảo, chứ không phải tự ý tôi. Còn người là ai mà cũng đi một mình như vậy?


- Tôi là Bang, tù trưởng ở đất này.


- Thật vậy ư? Trong lúc tôi từ hoa nở ra, tôi có nghe thấy nói văng vẳng sẽ gặp một người tù trưởng trẻ tuổi và đẹp trai.


- Tôi cũng được một ông thần đến truyền cho đi ngay để đón một cô gái tuyết trinh từ trên cành cây rơi xuống, từ sương tuyết tạo nên, từ một bông hoa đẹp nhất và thơm nhất thụ hưởng ánh sáng mặt trời nở ra.


 


Đến xế chiều hôm ấy, đôi trai gái về đến nhà tù trưởng. Và họ chung sống với nhau như một loài chim cùng cánh, chiều chiều nhìn xuống giang sơn cẩm tú của mình có những cánh đồng cày bừa bằng phẳng, có những cái gò đen những trâu dê, có những ngôi làng xanh đỏ ở ven đồi, đi từ trên xuống dưới lần lần từng bậc như nấc thang, có những dòng suối nước chuyền qua ống tre dài có buộc dây đồng, dây bạc, có cả những bãi cỏ xanh mướt như tơ đầy những con bò đỏ như những quả cà dái dê chín tới…


Họ sinh rất nhiều con cái. Các bộ lạc cao nguyên sau này tôn tù trưởng Bang làm tổ, còn Phong Lan thì được thờ làm “Mẹ của dân miền núi”. Và cũng vì thế, bây giờ, hoa phong lan được coi là mẹ của các loài hoa, đẹp thanh khiết, đẹp não nùng, đẹp tê mê, đẹp hơn cả hoa Ka u là thứ hoa mà dân cao nguyên dòng sang trọng vẫn thêu vào cái áo tổ truyền của Ai Ê Đê từ trên trời thả xuống đất cho con cháu.


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »