tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28969589
Lý luận phê bình văn học
31.01.2019
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (47)


Chương thứ ba: TÍNH ĐỘC LẬP CÓ TÍNH HÌNH THỨC CỦA NHỮNG ĐIỀU ĐẶC THÙ CÁ NHÂN


Nếu chúng ta liếc nhìn con đường đã qua, chúng ta sẽ thấy rằng lúc đầu chúng ta đã khảo sát tính chủ thể ở trong cái lĩnh vực của nó: ý thức với sự can thiệp của thần linh, quá trình chung của sự hòa giải của tinh thần với chính mình. Ở đây, tâm hồn gạt bỏ yếu tố phàm tục, yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tính với tính cách của nó, trong khi việc này là hợp đạo đức và chính đáng, để quay về bản thân, để tìm thấy sự thỏa mãn chỉ ở trong cái bầu trời trong sáng của tâm hồn.


Thứ hai, tính chủ thể của con người trong khi không từ bỏ tính phủ định ở trong sự can thiệp này, đã trở thành khẳng định đối với chính mình và đối với người khác; song nội dung của tính vô hạn trần tục này chỉ là tính độc lập cá nhân về danh dự, nội cảm của tình yêu và sự tận tụy của lòng trung thành. Nội dung này có thể trở thành một đối tượng để bộc lộ trong những quan hệ đa dạng nhất, trong những điều kiện khác nhau nhất và với trình độ khác nhau về tình cảm và dụ vọng, tuy vậy trong những hoàn cảnh này trước sau nó vẫn là tính độc lập của chủ thể và nội cảm của y như ta đã nói ở trên.


Điểm thứ ba mà bây giờ chúng ta phải khảo sát đó là cách thứ mà nghệ thuật lãng mạn sử dụng và biểu hiện các mặt khác của tồn tại con người, cả sự tồn tại bên trong lẫn sự tồn tại bên ngoài. Ở đây do đó, cái thế giới của sự đặc thù, cái thế giới của sự tồn tại nói chung trở thành tự do; trong chừng mực thế giới này không thấm nhuần tôn giáo và không biết kết hợp thành cái thống nhất tuyệt đối, thì nó trở thành độc lập và tự do ở trong lĩnh vực của mình.


Ở trong lĩnh vực thứ ba này của hình thức nghệ thuật lãng mạn, tài liệu tôn giáo và chế độ hiệp sĩ với các quan điểm và các mục đích cao cả xuất phát từ nơi sâu thẳm của tâm hồn đều biến mất, bởi vì nó không phù hợp gì với cái hiện thực cụ thể trước mắt. Bây giờ sự khao khát hiện thực này, sự hài lòng ở cái tồn tại, trong tính hữu hạn của con người, trong tất cả những cái gì hữu hạn, cá biệt mang tính chất chân dung sẽ đ thỏa mãn. Con người ở trong thời hiện tại của y muốn chỉ chú ý tới hiện tại dù cho có phải hy sinh cái đẹp có tính lý tưởng của nội dung, và ý muốn nghệ thuật phụ hồi lại cái hiện tại ấy trong tất cả sức sống toàn vẹn của nó với tính cách một cái toát ra từ cái tính chất tinh thần thuần túy của con người.


Như chúng ta đã thấy, đạo Thiên Chúa, về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức, không phải là một sản phẩm của trí tưởng tượng như các vị thần phương Đông và Hy Lạp. Nếu như trí tưởng tượng tạo ra cái ý nghĩa mà nó sử dụng để thực hiện sự thống nhất của một nội cảm thực sự với một hình thức tuyệt mỹ, và nếu như sự thống nhất này đã tìm thấy trong nghệ thuật cổ điển sự thể hiện hoàn mỹ nhất và đẹp đẽ nhất, thì đạo Thiên Chúa, trái lại, đã lý tưởng hóa ngay từ đầu tất cả mặt cá biệt của tính hiện thực bên ngoài, và đã khuyến khích tâm hồn tự hài lòng về cái bình thường và ngẫu nhiên ở trong tính hiện tượng ấy, mà không đòi hỏi đến cái đẹp. Song sự hòa giải của con người với Chúa lúc đầu chỉ đơn thuần là một khả năng. Kể ra, tất cả mọi người đều có khả năng được hạnh phúc vĩnh viễn, song số người được lựa chọn là rất ít, và linh hồn trong khi nhận thấy cái thế giới thiên đình cũng như cái thế giới trần tục đều cách xa nó, phải từ bỏ những sự lôi cuốn của thế giới và những sự kêu gọi của nó xuất phát từ sự tồn tại ích kỷ để vâng theo tính tinh thần. Sự hòa giải là xuất phát từ nơi xâu thẳm và bởi vì linh hồn chỉ nhìn thấy cái yếu tố khẳng định trước mắt ở trong những điều nó vừa hi sinh, cho nên sự bị giam hãm trong hiện tại và chỉ mong muốn những điều mà hiện tại cung cấp cho nó. Sự kiện này ở các nghệ thuật khác làm thành bước đầu, nhưng trong nghệ thuật lãng mạn lại làm thành cái bước cuối cùng, cái kết quả mà con người đạt được trong việc đào sâu nội dung mình và tập trung vào bên trong. Về những hình thức của cái nội dung mới, chúng ta đã thấy rằng nghệ thuật lãng mạn ngay từ đầu đã ở trong tình trạng đối lập giữa tính chủ thể vô hạn với cái tài liệu bên ngoài, một sự đối lập mà nó không thể gạt bỏ được mặc dầu mọi cố gắng, thành ra người ta có thể nói rằng chính nó là tiêu biểu cho nghệ thuật lãng mạn. Nội dung và hình thức vừa mới kết hợp với nhau đây thì lại đã không ngừng tách khỏi nhau, và điều này tiếp tục cho đến khi chúng trở thành hoàn toàn không thể kết hợp với nhau nữa.


Điều này chứng minh rằng ta phải tìm khả năng kết hợp tuyệt đối của chúng ở một lĩnh vực khác lĩnh vực nghệ thuật. Do sự chia tách này, nội dung và hình thức về mặt nghệ thuật đều mang tính hình thức bởi vì hai mặt không thể hợp nhất thành một thể thống nhất như lý tưởng cổ điển đã đem đến cho nó. Nghệ thuật cổ điển diễn ra trong một thế giới những hình ảnh cố định và vững chắc, trong một thần thoại mà nghệ thuật đã cụ thể hóa bằng những hình tượng không thể chia nhỏ được; và tình trạng sa sút của nghệ thuật cổ điển bắt đầu bằng cách hướng về cái lĩnh vực hạn chế hơn của sự châm biếm và của cái hài, cũng như về cái thú vị, về một sự tái hiện thích những vật chết và lạnh lùng và cuối cùng chỉ còn là một kỹ thuật bị coi thường và kém cỏi. Song các đối tượng của nghệ thuật này nói chung cũng vẫn hệt như trước: chỉ có cái phương thức khéo léo trước đây của sự sáng tạo ngày càng bị thay thế bởi một biểu hiện ít tài giỏi hơn và có tính chất thủ công của một truyền thống bên ngoài. Sự diễn biến và sự kết thúc của nghệ thuật bên trong bị ran rã, theo hướng tách rời giải phóng các yếu tố của nó và các bộ phận tạo thành của nó. Các mặt của nó trở thành tự do; cái tài nghệ có tính chất chủ thể và nghệ thuật miêu tả tăng lên nhưng khi chúng càng trở thành hoàn mỹ thì cái yếu tố cốt tử lại càng mất đi.


Chúng tôi có thể phân chương trình cuối cùng này một cách cụ thể hơn như sau.


Trước hết, chúng ta sẽ nói đến tính độc lập của tính cách, cái này là một cá nhân đặc thù, cụ thể, bó hẹp ở trong thế giới của mình với những quyền lợi và những mục đích của mình.


Trong phần thứ hai chúng ta sẽ dùng tính chất đặc thù của hình thức bên ngoài, của các biến cố, các tình huống, các hành động để đối lập lại cái chủ nghĩa hình thức này. Nội cảm lãng mạn vốn có thái độ bàng quan đối với các sự vật bên ngoài, cho nên hiện tượng hiện thực xuất hiện ở đây một cách tự do, độc lập bởi vì nó không thấm nhuần ý nghĩa bên trong của một hình thức ăn khớp với nó. Kết quả là các sự kiện, các biến cố, các hoàn cảnh không phải nối liền với nhau bằng một sợi dây hợp lý và tất yếu, trái lại chúng liên kết với nhau, kết hợp với nhau theo một thứ tự ngẫu nhiên, bất ngờ, có thể nói là phiêu lưu.


Trong phần thứ ba, chúng tôi sẽ phơi bày tình trạng tan rã của các mặt có tính đồng nhất hoàn toàn làm thành khái niệm đặc thù của nghệ thuật; do đó xảy ra sự tan rã và sự giải thể của bản thân nghệ thuật. Mặt khác, thực vậy, nghệ thuật chuyển sang việc miêu tả cái hiện thực hàng ngày thực sự, sang việc miêu tả những đối tượng dưới cái hình thức mà ta bắt gặp trong tính đơn nhất ngẫu nhiên và tính độc đáo của chúng. Nó chỉ chú ý tới việc biến cái tồn tại bên ngoài này thành ngoại hiện bằng kỹ thuật của nghệ thuật. Mặt khác, nghệ thuật này rơi vào ngẫu nhiên thuần túy chủ quan của sự nhận thức và miêu tả, rơi vào cái hóm hỉnh, với tính cách sự bóp méo, và sự xáo trộn mọi tính cụ thể và tính hiện thực bằng những điều sắc sảo, những trò chơi của cái nhìn của chủ thể đối với thế giới. Điều này nói lên sự kết thúc của sáng tạo có tính chủ thể của nghệ thuật đối với bất kỳ nội dung và hình thức gì.


 


1.       Tính độc lập của tính cách cá nhân


Tính vô hạn bên trong có tính chủ thể của con người mà chúng ta lấy làm điểm xuất phát khi khảo sát nghệ thuật lãng mạn, vẫn là đặc trưng cơ bản cả trong lĩnh vực này nữa. Cái mới nhập vào trong tính vô hạn độc lập đối với bản thân mình một mặt là tính đặc thù của nội dung, làm thành cái thế giới của chủ thể, và mặt khác, những quan hệ chặt chẽ và trực tiếp giữa chủ thể với tính đặc thù của nội dung với các mục đích và các ham muốn mà nội dung bao hàm, cũng như bởi cái cá tính sinh động ở đấy chứa đựng tính cách. Danh từ “tính cách” không nên hiểu ở đây theo nghĩa những người Ý miêu tả nó trong các mặt nạ của họ. Các mặt nạ Ý, thực vậy, cũng biểu hiện tính cách nhất định, nhưng đặc trưng này chỉ thể hiện một cách trừu tượng và khái quát chứ không phải dưới hình thức một cá tính có tính chủ thể. Tính cách như chúng tôi quan niệm ở đây, làm thành một thể thống nhất trọn vẹn, một chủ thể cá nhân. Nếu như ở đây chúng tôi còn nói đến chủ nghĩa hình thức và tính trừu tượng khi nói về tính cách, thì điều này chỉ có nghĩa là cái nội dung chính, cái thế giới mà tính cách này tạo nên, một mặt là hạn chế và do đó là trừu tượng, mặt khác là có tính ngẫu nhiên. Cái mà cá nhân biểu hiện có chỗ dựa và động lực của nó không phải là cái nội dung cốt tử, có lý do biện hộ cho nó ở bên trong, mà là tính chủ thể trần truồng của tính cách, cái này chỉ dựa một cách hình thức trên tính độc lập cá nhân của mình, chứ không dựa vào một nội dung của nó và không có một khát vọng vững chắc ở bản thân nó.


Chúng ta có thể chú ý tới hai sự khác nhau cơ bản ở trong chủ nghĩa hình thức này.


Một mặt, tính cách tự khẳng định mình với một nghị lực mạnh mẽ, tự cấp cho mình những mục đích hữu hạn và dốc toàn bộ sức mạnh của cái cá tính mình dã bị thu hẹp như vậy vào việc thực hiện những mục đích này. Mặt khác, tính cách đóng vai một tổng thể có tính chủ thể có thể nói chìm vào nội cảm của mình và không thể nào tự bộc lộ và đi đến chỗ  thể hiện ra ngoài một cách trọn vẹn.


 


a.       Tính rắn chắc về mặt hình thức của tính cách


Trước mắt ta là cái tính cách cá biệt xuất hiện như nó muốn xuất hiện, như nó tồn tại trong thực tế. Cũng như thú vật là khác nhau và xuất hiện ở trong tình trạng khác nhau này, cũng vậy có những tính cách khác nhau, phạm vi và điều độc đáo của chúng là ngẫu nhiên và không thể dùng khái niệm để hạn chế nó một cách vững chắc.


(a)      Một cá tính bị thu hẹp vào bản thân mình như vậy sẽ không có những ý định và những mục đích có thể kéo về một khát vọng chung. Tất cả những điều mà nó có được, tất cả những gì mà nó làm và nó thực hiện, nó đều lấy một cách hoàn toàn trực tiếp, ở trong cái bản tính trực tiếp của mình không có sự suy nghĩ sâu sắc đặc biệt. Bản tính này như thế nào thì cá tính như vậy và cá tính không muốn đưa vào một cái gì cao hơn, để bào chữa cho nó, trái lại dựa hẳn vào bản thân mình và tính cố định này có thể cho phép nó tự khẳng định một cách tích cực, cũng như có thể dẫn nó tới sự tiêu diệt. Một tính độc lập như vậy của tính cách chỉ có thể xuất hiện ở nơi nào yếu tố không phải thần linh, yếu tố nhân tính đóng vai trò chủ yếu, có một giá trị đầy đủ. Các nhân vật của Sêchxpia chủ yếu là những tính cách như vậy, chủ yếu họ làm ta ngạc nhiên bởi tính cố định và phiến diện của họ. Ở đây, vấn đề không phải là tính tôn giáo, tính đạo đức theo nghĩa đen của từ này, và các nhân vật này thực hiện không phải là nhằm một sự thỏa hiệp bên trong có tính tôn giáo của con người với bản thân mình. Trái lại, chúng ta đứng trước những cá nhân hoàn toàn độc lập chỉ dựa vào bản thân họ, theo đuổi những mục đích chỉ thuộc về họ, mang dấu ấn của cá tính họ  và ra sức thực hiện những mục đích của họ bằng cách chỉ vâng theo cái lô-gic nhất quán tàn nhẫn của dục vọng, không có những suy nghĩ vụn vặt và họ hành động chỉ là để thỏa mãn mình, chứ không phải có những suy nghĩ khái quát.


Đặc biệt trong các bi kịch như “Mắcbét”, “Otenlô”, “Risa III”, người ta tìm thấy sự miêu tả những tính cách thuộc loại này, đứng giữa những tính cách khác ít nổi bật hơn và ít nghị lực hơn. Chẳng hạn, tính cách của Mắcbét từ đầu chí cuối là bị thống trị bởi dục vọng ham quyền lực. Sau khi ngần ngại ở bước đầu, cuối cùng y đã giơ tay ra nắm lấy ngai vàng, phạm tội giết người và không dừng lại trước bất kỳ hành động tàn ác nào để giữ lại cai mà y đã chiếm được. Thái độ cứng rắn tàn nhẫn này, tình trạng đồng nhất của con người với chính mình và với mục đích của mình và mục đích ấy ôm ấp bằng cách chỉ vâng theo dục vọng, làm thành hứng thú chủ yếu của những bi kịch này. Không có cái gì khiến Mắcbét phải ngừng tay: sự tôn trọng đối với tính thiêng liêng của nhà vua, tình trạng điên rồ của vợ, các thần bộc đào ngũ, tình trạng cái chết đến nhanh. Y không lùi bước trước bất kỳ cái gì, trước bất kỳ quyền lợi gì, trước bất kỳ pháp luật nào của thần linh và của loài người. Công nương Mắcbét cũng là một tính cách tương tự; chỉ có những lời kháo vặt ngu xuẩn của một số nhà phê bình hiện nay mới có thể thừa nhận công nương Mắcbét là một người có tình yêu trìu mến. Ngay khi mới xuất hiện lần đầu (hồi 1 cảnh 5) trong khi đọc bức thư của Mắcbét (trong đó Mắcbét kể lại chuyện gặp mụ phù thủy và những lời tiên tri của họ, chào y bằng những câu: “Kính chào vương quốc Caođo! Kính chào tướng quân sau này sẽ là vua!” vợ Mắcbét kêu lên: “Ông là Glamit và Caođo; ông phải là con người như đã được báo trước. Nhưng tôi sợ cho bản tính ông lắm. Cái bản tính ấy đầy những sữa và sự dịu dàng của con người khiến cho ông không chọn được con đường ngắn nhất”. Thị không tỏ ra có tình yêu nào hết,không biểu lộ niềm vui nào khi người chồng được hạnh phúc, không tỏ ra có đạo đức nào hết, không đồng cảm, không thương tiếc (những điều chứng tỏ một tâm hồn phần nào cao thượng), thị chỉ sợ rằng tính cách của chồng chị không xứng với tham vọng của y, cái tính cách ấy sẽ cản trở không cho thực hiện tham vọng. Ngay đối với Mắcbét, thị cũng chỉ xem là một công cụ mà thôi. Ở đây, ta không nhìn thấy có gì là ngờ vực, phân vân, là mơ hồ, là suy đi nghĩ lại và lùi bước, điều mà ngay cả Mắcbét lúc đầu cũng đã cảm thấy thị không hối hận gì hết. Trước mắt chúng ta, chỉ là tính trừu tượng đơn thuần và tính tàn nhẫn của một tính cách lo thực hiện điều phù hợp với bản tính của mình, không hề suy nghĩ xa xôi. Sự sụp đổ mà Mắcbét gặp phải là do từ bên ngoài đưa tới sau khi đã làm những tội lỗi; trái lại công nương Mắcbét thì hóa điên.


Risa III, Otenlô, Macgaret già và nhiều người khác cũng như vậy. Họ là đối lập trực tiếp với những tính cách thảm hại hiện nay do Côtxơbuy  nêu lên chẳng hạn; những tính cách này có vẻ cao thượng vĩ đại, ưu tú hết sức, nhưng thực ra chỉ là những tên vô lại. Ở những nhà văn sau này, mặc dầu Côtxơbuy. Chẳng hạn, Henrich phôn Klaixtơ trong các tác phẩm “Ketsen ở Hămbuôc” miêu tả những tính cách trong đó điều ưu tú nhất của họ là ở chỗ họ là những người vừa đi ngủ, chịu ảnh hưởng huyền bí, điên rồ, đối lập với tình trạng lành mạnh biểu lộ ở hành vi nhất quán rõ ràng của họ. Hoàng tử Hămbuôc là một viên tướng đáng ghét. Nắm một đạo quân trong tay, ông ta lơ đễnh, viết một cái mệnh lệnh sai lầm và đêm trước trận chiến đấu ông ta làm những hành động ngu xuẩn chứng tỏ mình ở trạng thái bệnh hoạn. Thế rồi ban ngày, lúc chiến đấu, ông ta làm những hành động lố lăng. Họ có tham vọng bắt chước Sêchxpia thậm chí nghĩ rằng họ là những người kế tục Sêchxpia bằng cách miêu tả những tình trạng phân đôi, sự chia xé, và sự tan rã bên trong như vậy. Nhưng họ còn cách rất xa cái lý tưởng của họ: các tính cách của Sêchxpia là nhất quán ở bên trong, trung thành với bản chất, với dục vọng và trong tất cả những điều các tính cách này gặp phải họ đều hành động theo cái đặc trưng cứng rắn của họ.


(b)      Một tính cách càng cá biệt, càng hướng một cách vững chắc chỉ vào bản thân và do đó dễ dàng rơi vào tội ác thì càng phải đấu tranh chống lại những cản trở không cho họ thực hiện mục đích và, do đó, càng thúc đẩy họ đi đến cái chết. Khi nhân vật tự vạch cho mình một con đường, thì số phận của y càng biểu lộ, số phận này là cố hữu đối với y, do bản thân tính cách sản sinh ra và y tự chuẩn bị cái chết cho chính mình. Song sự phát triển cái số phận này không những diễn ra do hành động của cá nhân, mà đồng thời còn là một sự hình thành bên trong, là sự triển khai của bản thân tính cách trong khi đang sôi nổi lao về phía trước, của tình trạng trở thành dã man, của tình trạng sụp đổ và kiệt sức. Người Hy Lạp dành vai trò chủ yếu không phải cho cái tính cách chủ quan mà cho cái khát vọng, cái nội dung cốt tử của hành vi con người; ở họ số phận thì gắn liền với tính cách cụ thể hơn, và tính cách này về thực chất không phát triển ở trong những hành động của mình, trái lại trước sau cũng vẫn là một. Ở giai đoạn phát triển này của hành động, sự thể hiện một hành động không phải là một quá trình bên ngoài mà còn do cả sự phát triển của nội cảm của cá nhân.


Cách hành động của Mắcbét, chẳng hạn, có thể xem là những biểu hiện của một tâm hồn đã đạt đến trình độ dã man cùng cực và những hành động ấy diễn ra một cách nhất quán do chỗ sau khi đã khắc phục  sự lưỡng lự và đã ném lao, không thể nào kìm hãm sự phát triển của nó được nữa. Vợ của Mắcbét là kiên quyết ngay từ đầu và ở thị sự phát triển của tính cách bộc lộ dưới hình thức một tình trạng khắc khoải bên trong dẫn tới tình trạng sụp đổ về thể xác và tinh thần, tới tình trạng điên rồ đã giết chết thị. Đối với hầu hết các tính cách quan trọng cũng như vô nghĩa vấn đề đều như vậy. Kể ra, các tính cách cổ đại cũng là cứng rắn và thường thường họ gặp phải những xung đột trong đó không thể có cách gì thoát và muốn giải quyết thì phải có một vị thần bằng máy. Nhưng tính chất cứng rắn này như ta thấy ở Philôctet chẳng hạn là đầy nội dung và có một khát vọng được thực hiện hộ về mặt đại đức.


(c)      Trong các tính cách của lĩnh vực chúng ta khảo sát không thể nào có sự hòa giải khách quan được, bởi vì tính độc lập của các cá tính nêu lên làm thành mục đích. Những quan hệ giữa tình trạng thực tế của họ, và điều họ gặp phải, một phần vẫn là mơ hồ, và một phần chính họ cũng không giải quyết được câu hỏi tại sao lại như vậy và họ làm như vậy để làm gì. Ở đây, một lần nữa, lại xuất hiện cái định mệnh với tính cách một tất yếu trừu tượng nhất. Sự hòa giải duy nhất đối với cá nhân vẫn là sự tồn tại vô hạn bên trong của cá nhân, tính chất cứng rắn là sự tồn tại vô hạn  bên trong của cá nhân, tính chất cứng rắn riêng của y, nhờ đó y vượt lên khỏi dục vọng và số phận của mình. “Điều đó xảy ra như thế”, và những điều y bắt đầu dù bắt nguồn từ đâu, từ sự thống trị của định mệnh, của tính tất yếu hay của ngẫu nhiên thì điều này cũng tồn tại. Ở đây không phải là việc suy nghĩ tại sao điều đó lại tồn tại và tồn tại để làm gì. Có một điều đã xảy ra và con người làm như muốn mình thấy mình đã trở thành rắn chắc ở trước cái quyền lực này.


 


b.       Tính cách xem như một thể hoàn chỉnh bên trong nhưng không phát triển.


 


Thứ hai, đối lập lại những điều đã nói, tính hình thức của tính cách có thể lệ thuộc vào cảm nghĩ bên trong với tính cách của nó, cá nhân dừng lại ở đấy mà không mở rộng và thực hiện được nội dung của mình.


(a)      Những tâm hồn có tính bản chất là như vậy. Họ chứa đựng ở bản thân thể hoàn chỉnh, nhưng vì quá tập trung vào bản thân cho nên không một vận động nào của họ biểu lộ bằng những dấu hiện bên ngoài. Chủ nghĩa hình thức mà chúng ta đã khảo sát có đặc điểm là một trình độ chính xác cao về mặt nội dung, do chỗ theo đuổi một mục đích suy nhất mà cá nhân ra sức đạt được bằng mọi cách, qua tất cả những cản trở và những trường hợp bên ngoài cho đến khi thành công hay sụp đổ. Chủ nghĩa hình thức mà bây giờ chúng ta nói đến trái lại tiêu biểu bởi tính phong bế, và không có hình thù; nó thiếu sự biểu hiện ra ngoài và thiếu sự khai triển. Một tâm hồn như vậy cũng giống như một viên ngọc, có những điểm sáng ngời, những tia sáng giống như tia chớp.


(b)      Một tình trạng phong bế như vậy vào bản thân chỉ có giá trị và hứng thú ở những cá nhân có một đời sống nội tâm giàu có, nhưng chỉ để biểu lộ tình độ sâu sắc vô hạn và tầm rộng lớn của họ ở một vài biểu hiện có thể nói là câm lặng, và được nhận thức chính ở trong tình trạng câm lặng ấy. Những bản tính đơn giản này, không biết đến ngay cả bản thân mình, lặng lẽ, có thể tỏ ra hấp dẫn đến trình độ cao nhất. Thái độ im lặng của họ chẳng khác gì một mặt biển im lìm. Nó phải là sự im lặng vô cùng sâu sắc chứ không phải là sự im lặng của một tâm hồn nhỏ bé, trống rỗng, ngu độn. Đôi khi một con người tẻ nhạt ít bộc lộ mình ra ngoài và chỉ thỉnh thoảng mới cho phép người ta phỏng đoán về hành động của mình tạo ra được một ý kiến cho rằng y là khôn ngoan và có một đời sống bên trong sâu sắc. Những người xung quanh có thể cho rằng ở trong con tim và trong đầu óc này chứa đựng một cái gì kì diệu, trong lúc đó thì, xét cho cùng, đằng sau cái vẻ bề ngoài hóa ra chẳng có cái gì hết.


Trái lại, nội dung và trình độ sâu sắc vô hạn của những tâm hồn câm lăng bộc lộ (và điều này đòi hỏi nghệ sĩ phải có một thiên tài to lớn và một tài nghệ bậc thầy) bằng những biểu hiện rời rạc, tản mạn, ngây thơ và có ý nghĩa một cách không tự giác, đối với những người có thể hiểu được thì những biểu lộ như vậy chứng minh rằng tâm hồn này tâm hồn này thâm nhập sâu sắc vào yếu tố bản chất trong những hoàn cảnh xung quanh, những cảm nghĩ của nó không đan chéo với những hứng thú và những suy nghĩ cá biệt, với những mục đích hữu hạn, mà thoát khỏi những điều ấy, không biết đến những điều ấy và không cho phép những vận động bình thường của con tim làm phân tán mất cái quan hệ nghiêm túc và sự thông cảm như vậy.


(c)      Nhưng ngay cả đối với một tâm hồn phong bế vào bản thân như vậy, phải đến một lúc trong đó cái thế giới bên trong của nó bị lay độngvà bộc lộ tất cả cái sức mạnh ra ngoài thành một tình cảm có tầm quyết định đối với cuộc đời của nó và nó bám chắc lấy cái tình cảm ấy với một sức mạnh không thể ngờ đến và trở thành hạnh phúc hay sẽ chết vì tình cảm ấy.nói khác đi, nó thành công hay thất bại, bởi vì muốn được duy trì, con người phải có một chất lượng đạo đức phong phú là cái duy nhất có thể cấp cho y một tính chất cứng rắn khách quan.


Thuộc vào số những tính cách như vậy là những sáng tạo hấp dẫn nhất của nghệ thuật lãng mạn, nhất là những sáng tạo vô cùng đẹp đẽ của Sêchxpia. Chẳng hạn, Giuliet trong bi kịch “Rômêô và Giuliet” là như vậy. Chắc hẳn các bạn đã có dự khi bi kịch được trình diễn (ở Bá Linh năm 1820, vai Giuliet do bà Grelinhghe đóng). Cần phải nhìn vở kịch đó là một sáng tạo sinh động chân thành, bồng bột, hóm hỉnh, hoàn mỹ, cao thượng ở trình độ cao nhất. Song người ta cũng có thể hiểu tính cách Giuliet một cách khác. Lúc đầu nàng chỉ là một đứa trẻ, một cô gái 14 – 15 tuổi mà thôi. Ta thấy rằng nàng vẫn chưa nhận thức được mình, cũng chưa nhận thức được thế giới. Nàng không có cảm xúc, không mong muốn gì, không đòi hỏi gì, nhìn thấy cả những điều diễn ra xung quanh như những hình bóng trong chiếc đèn chiếu, không nghĩ đến việc rút từ đấy ra một bài học nào. Thế rồi, đột nhiên chúng ta thấy cái tâm hồn này mở rộng và phát triển tất cả cái vẻ vĩ đại của nó, ta thấy nó biết tỏ ra ranh mãnh, sự suy nghĩ cân nhắc, có sức mạnh, có thể chịu đựng mọi hi sinh, mọi thử thách tàn nhẫn nhất. Tính toàn vẹn của tính cách bộc lộ giống như những bông hồng lần đầu tiên mở ra: ở đây biểu hiện một bản chất vẹn thuần vô cùng sâu sắc. Nếu như trước đấy nàng chưa phát triển, chưa bộc lộ đặc điểm của mình thì khi bộc lộ cái tâm hồn trước đấy vẫn phong bế, nàng trở thành một sáng tạo trực tiếp vâng theo một hứng thú duy nhất,một dục vọng duy nhất tìm cách vượt ra khỏi tình trạng giam hãm về tinh thần trước đây. Đây là một đám chăy nảy sinh chỉ do một tia lửa hay một nụ hoa vừa mới được tình yêu chạm tới bất ngờ mở rộng các cánh hoa, nhưng hoa càng nở nhanh thì nó càng chóng tàn và chóng rụng.


Miranđa trong “Cơn bão” cũng thuộc loại tính cách như vậy. Sêchxpia nêu rõ cho ta thấy nàng được giáo dục trong cảnh cô tịch, đầu tiên tiếp xúc với đàn ông. Tuy ông đã nêu rõ ràng trong một vài cảnh, ông đã cấp cho ta một biểu tượng đầy đủ, vô cùng sinh động về nàng. Chúng ta có thể xếp nàng Thêkla của Sinle vào loại này mặc dầu nàng là sản phẩm um loại thơ có nhiều suy nghĩ. Trong khi sống một cuộc đời giàu có và ầm ĩ, nàng vẫn không để ý đến xung quanh. Nàng thoát khỏi cái hư vinh và sự suy nghĩ và toàn tâm toàn ý gắn bó với một hứng thú duy nhất và sống cho hưng thú ấy. Nói chung, đối với những người đàn bà đẹp đẽ và cao thượng, tình yêu lần đầu tiên bộc lộ cái cuộc sống nội tâm thực sự của họ; lúc bấy giờ họ sống lại lần thứ hai, một cuộc sống tinh thần.


Người ta lại gặp lại cái nọi cảm này là một nội cảm không thể bộc lộ hoàn toàn ở trong các dân ca nhất là các dân ca Đức biểu lộ ở các nhân vật chính. Những bài ca này nói lên một nội dung dồi dào, các cuộc sống toàn vẹn của tâm hồn. Ở đây, một tâm hồn phong phú, nhưng tập trung vào thân mình chỉ có thể nói lên trình độ phong phú và sâu sắc của mình bằng những mảnh vàn lời bóng gió rời rạc. Ở đây, ta bắt đầu gặp lại việc quay trở về chủ nghĩa tượng trưng bởi vì bài hát không biểu lộ nội dung một cách rõ ràng và thường chỉ dùng những ký hiệu, những ký hiệu này tuy không có cái nghĩa trừu tượng  của những tượng trưng mà chúng ta đã nói ở trước, song vẫn làm thành một phương thức thể hiện,trong trong lúc đó cái tâm hồn hiện thực, sinh động của chủ thể là cái nội dung bên trong của nó.


Ở thời đại sau, khi ý thức suy nghĩ, cách xa tính chất ngây thơ của những thời cổ xưa biểu lộ, rất khó lòng thực hiện những sáng tác thuộc loại này, và người nào thành công ở đây thực tế tỏ ra có một biệt tài thi ca độc đáo. Ở trên chúng ta đã thấy rằng Gơt, nhất là trong các ca khúc, là một bậc thầy của những cách miêu tả tượng trưng, nghĩa là ông biết dùng những nét mộc mạc bên ngoài có vẻ bàng quan để bộc lộ tất cả lòng trung thành và tính vô hạn của tâm hồn. Tác phẩm “Vua Thulê”, một trong những sáng tác thơ đẹp đẽ nhất của Gơt là như vậy. Nhà thơ không hề bộc lộ tình yêu của mình. Chỉ có cốc rượu mà ông già giữ lại để tưởng nhớ người yêu là chứng tỏ điều đó. Khi sắp chết, xung quanh ông là các hiệp sĩ ở trong cái căn phòng lộng lẫy của nhà vua. Ông phân phát vương quốc của mình, các kho tàn của mình cho những người thừa kế nhưng ném cái cốc xuống biển để cho sau ông không có người nào làm chủ nó: “Ông thấy cái cốc bay, chìm sâu xuống biển. Đôi mắt ông nhắm lại và ông không uống một giọt nào nữa”.


Nhưng một tâm hồn sâu sắc và trầm lặng như vậy chứa đựng ở mình cái nghị lực của tâm hồn như hòn đá lửa chứa đựng cái tia lửa sẽ toát ra từ nó. Nók thể suy nghĩ về bản thân mình, khi chưa phải chịu thử thách của kinh nghiệm, thậm chí không biết mình và không biết những phản ứng có thể có. Sự tiếp xúc với hiện thực không phải  bao giờ cũng gây được ở nó một tình cảm về tự do. Một tâm hồn như vậy sẽ gặp những mâu thuẫn kinh khủng, khi các bất hạnh đột nhập vào cuộc đời của nó, nó không biết làm sao chống lại những hoàn cảnh bên ngoài để xác lập một sự hài hòa giữa con tim mình và hiện thực nhằm tự vệ chống lại hoàn cảnh bên ngoài và duy trì mình trong khi thích nghi với nó. Khi một cá nhân như vậy bị mắc vào một cuộc xung đột, y sẽ không biết giải quyết xung đột như thế nào ngoài cách hoặc là dùng những hành động hung dữ, không suy nghĩ, đột ngột, hoặc dùng thái độ chịu đựng thụ động.


Hămlet chẳng hạn có một tâm hồn đẹp đẽ và cao thượng. Nhưng chỗ yếu tố của chàng không phải là tình trạng yếu đuối bên trong mà là vì chàng không có một tình cảm mạnh mẽ về cuộc sống, bị tình trạng của hoài nặng nề lôi cuốn, chàng lang thang buồn bã và không có mục đích. Chàng có tình cảm tế nhị. Chàng không có lý do gì ở bên ngoài để ngờ vực, nhưng đối với chàng tất cả đều có vẻ đáng ngờ, mọi việc đều không phải như đáng lí phải như vậy. Chàng mang máng cảm thấy rằng đã xảy ra một cái gì kinh khủng. Hồn ma của chàng báo cho chàng biết những chi tiết về vấn đề này. Các quyết định trả thù cho cha nảy sinh chanh chóng trong tâm hồn chàng. Chàng bao giờ cũng nhớ tới cái nhiệm vụ mà con tim đã ra lệnh cho chàng. Nhưng chàng không để cho dục vọng lôi cuốn mình như Mắcbét, chàng không giết, không bộc lộ lòng căm giận của mình, không đi thẳng đến mục đích như Laéctơ, trái lại chàng vẫn dừng lại ở trong trạng thái im lìm bất động của một tâm hồn cao thượng vùi sâu vào bản thân mình không thể bộc lộ ra ngoài, cũng không thể đối phó với những quan hệ bên ngoài. Chàng chờ đợi tìm một bằng chứng khách quan để mình an tâm, nhưng sau khi đã tìm một bằng chứng, chàng vẫn để cho các hoàn cảnh lôi cuốn mình chứ không quyết định kiên quyết. Trong tình trạng thoát ly khỏi hiện thực, chàng không phân biệt được những điều bao quanh mình và giết lầm Pôlôniut trong khi tưởng là giết nhà vua. Do đó, chàng hành động liều lĩnh ở nơi đáng lý phải suy tính cẩn thận. Chàng vùi mình vào bản thân trong khi cần phải biểu lộ một nghị lực thực sự và, cuối cùng, để cho các biến cố và các ngẫu nhiên quyết định về số phận mình và về số phận những người xung quanh trong khi mình tham dự và ở ngoài hoạt động của mình.


Tính chất phiến diện như vậy của những con người câm lặng tập trung vào bản thân họ là tiêu biểu chủ yếu cho người Đức.


Đó là những cá nhân xuất thân từ những tầng lớp dưới, chưa có được một trình độ văn hóa đầy đủ để quan niệm những mục đích khái quát đặng có được những hứng thú khách quan đa dạng và vì chưa đạt đến một mục đích cụ thể, cho nên vẫn hoang mang và không biết dùng hoạt động của họ vào việc gì.


Tình trạng thiếu văn hóa này làm cho những tính cách ít phát triển hơn lại càng bám chắc vào mục đích một cách bướng bỉnh, dù cho mục đích ấy là vô nghĩa đến đâu và trình độ văn hóa của họ càng thấp thì cái mục đích ấy lại càng làm chủ tất cả cá tính của họ.


Tính đơn hưởng này của những con người trầm lặng vùi sâu vào bản thân là một đặc điểm chủ yếu của Đức và nó làm cho những người có đặc điểm ấy dễ dàng trở thành bướng bỉnh, lầm lỳ, khó chịu và hết sức không đáng tin và đầy mâu thuẫn trong những hành động và trong những việc làm của họ. Bậc thấy trong sự miêu tả những tính cách trầm lặng thuộc những tầng lớp dưới là Hippen của một trong những tác phẩm hóm hỉnh hiếm có xuất bản bằng tiếng Đức: “Bước đường hoạn lộ đi lên” tác giả này thoát khỏi tính chất đa cảm và tính chất ngu xuẩn của những hoàn cảnh tiêu biểu các tác phẩm của Giăng Pôn. Trái lại, ông tỏ ra là một tính cách kỳ diệu, tươi mát và sinh động. Ông biết miêu tả một cách cá biệt hấp dẫn những tính cách phong bế không nói lên được những điều ở trong tâm hồn họ và khi họ quyết định bộc lộ ra ngoài thì họ làm điều đó với một nghị lực đáng sợ. họ giải quyết một cách dễ sợ tình trạng mâu thuẫn vô hạn giữa đời sống nội tâm của họ và những hoàn cảnh bất hạnh trong đó họ thấy mình mắc phải. Bằng cách ấy, họ làm những điều mà trong trường hợp khác thì số phận bên ngoài làm như điều diễn ra trong “Rômêô và Giuliet”, ở đấy những điều ngẫu nhiên bên ngoài đã phá mất. Sự can thiệp tinh vi và khéo léo của tu sĩ dẫn tới cái chết của hai người yêu nhau.


c.        Hứng thú bản chất trong sự miêu tả  tính cách có tính chất hình thức


Như vậy, những tính cách hình thức này nêu rõ cho chúng ta một mặt sức mạnh vô hạn của ý chí, một tính chủ thể đặc thù tự khẳng định mình như nó tồn tại và biểu lộ ý chí của mình một cách sôi nổi. Mặt khác, những tính cách này làm thành một tâm hồn vô hạn trọn vẹn ở bản thân mình, tâm hồn này khi bị chạm tới một mặt cụ thể nào đó của cuộc sống bên trong của mình thì tập trung tất cả cái cá tính sâu rộng của mình vào cái điểm duy nhất này. Nhưng bởi vì không có một kinh nghiệm đầy đủ với thế giới bên ngoài, cho nên một khi đã lâm vào tình trạng xung đột thì không thể nào  tìm được hướng đi và không thể nào đi đến một quyết định hợp lý; tâm hồn không bộc lộ ra ngoài.


Yếu tố thứ ba mà bây giờ chúng tôi còn phải nói tới đó là điều sau đây. Nếu như chúng ta muốn rằng những tính chất này (vốn hoàn toàn phiến diện và hạn chế về mục đích nhưng phát triển về mặt nội dung) không những thú vị về mặt hình thức, mà còn có một hứng thú cốt tử thù chúng tả phải nhận thức được qua sự miêu tả cái ấn tượng rằng tính chất chật hẹp của tính chủ thể của họ chỉ là một định mệnh nào đấy, nói khác đi là sự đan chéo của cái đặc trưng hoàn toàn cá biệt của họ với một nội dung bên trong sâu sắc. Sêchxpia cho phép ta nhận thức được trình độ sâu sắc tính chất phong phú này ở họ. Ông nêu lên những con người có sức mạnh tự do của trí tưởng tượng và có một tinh thần thiên tài, có thể dùng suy nghĩ vượt lên khỏi điều kiện của họ và những mục đích cụ thể của họ. Vì vậy, ta có cảm tưởng rằng họ làm thành những hành động của họ. Nhưng không nên nghĩ rằng chúng tôi chẳng hạn cho rằng những tội ác của Mắcbét chẳng hạn là do những mụ phù thủy độc ác gây nên mà thôi; cái mụ phù thủy này chẳng qua là phản ảnh nên thơ của cái ý chí bướng bỉnh của y mà thôi. Tất cả các mục đích riêng của họ đều bắt nguồn và xuất phát từ cá tính riêng của họ, nhưng ở các cá tính này vẫn đồng thời giữ cái tính cách của họ, nâng họ lên khỏi tình trạng của họ ở trong thực tế, vượt lên khỏi những mục đích, những hứng thú, và những hành động của đời sống thông thường.


Các tính cách dung tục ở Sêchxpia (Stêphanô, Trinculô, Pitxtôn, và vị anh hùng nổi tiếng nhất trong số này là Phanxtap) mặc dầu hết sức dung tục, đồng thời lại là những người rất thông minh. Thiên tài của họ có thể bao quát được tất cả, có một sự tồn tại đầy đủ, tự do và nói chung có thể trở thành thậm chí những con người vĩ đại trong những hoàn cảnh khác. Trái lại các nhân vật của bi kịch Pháp, ngay cả những nhân vật vĩ đại nhất và ưu tú nhất, thường thường khi khảo sát đến chốn, hóa ra chỉ là những anh chàng khoe khoang, độc ác, tự mãn tự túc; họ dùng trí thông minh của họ chỉ để đưa ra một lời ngụy biện bào chữa cho mình. Ở Sêchxpia, chúng ta không tìm thấy những lời bào chữa cũng như những lời kết án. Ở ông, tất cả đều là do cái số phận chung dẫn dắt tới, và các cá nhân chấp nhận tính tất yếu của họ không than thở, không hối hận. Xuất phát từ tính tất yếu và tự nhìn mình dường như từ bên ngoài, họ nhìn thấy tất cả và ngay cả bản thân họ. Và tất cả các mặt này, lĩnh vực các tính cách cá nhân mà chúng tôi vừa nói làm thành một lĩnh vực vô cùng phong phú, song ta dễ gặp nguy cơ rơi vào tình trạng trống rỗng và thấp hèn. Vì vậy chỉ một số it những bậc thầy mới có được một tài năng nghệ thuật và một trí thông minh đủ để nắm được cái chân thực.


 


2.       Thế giới những cuộc phiêu lưu


Sau khi đã miêu tả mặt nội dung bên trong có thể được miêu tả ở giai đoàn này của nghệ thuật, thứ hai, chúng ta cần phải liếc nhìn những quan hệ của nó với mặt bên ngoài, với những hoàn cảnh và những tình huống đặc thù giúp họ thể hiện tính cách cũng như nhìn những xung đột mà họ gặp phải và tất cả cái diện mạo mà nội dung bên trong thể hiện ở trong cái hiện thực cụ thể.


Như chúng tôi đã nói nhiều lần, một đặc trưng chủ yếu của nghệ thuật lãng mạn tóm lại là tính tinh thần, là tâm hồn, tức là một toàn thể được phản ảnh vào bản thân nó. Vì vậy nó liên quan với cái bên ngoài không phải với tính cách một hiện thực thấm nhuần tinh thần, mà với tính cách một hiện thực thoát ly khỏi tinh thần, một yếu tố thuần túy bên ngoài, yếu tố này được tinh thần để cho tự do, nên sống một cuộc sống độc lập đầy những điều thay đổi, rắc rối vô hạn và đầy tính chất ngẫu nhiên. Đối với nó, bắt gặp hoàn cảnh này hay hoàn cảnh nọ thì hoàn toàn cũng như nhau mà thôi. Đối với nó, mọi hoàn cảnh có thể xảy ra đều có tính ngẫu nhiên, bởi vì nó cố gắng dùng hành động, không phải để dựng lên một tác phẩm vững chắc tồn tại vì bản thân mà, nói chung, chỉ để bộc lộ mình và để thể hiện hành động.


 


a.       Tính ngẫu nhiên của những mục đích và của những xung đột


Như vậy, ở đây chúng ta đứng trước một hiện tượng, kể ra tương tự với hiện tượng mà chúng tôi đã gọi là sự sa sút của hào quang thần linh của tự nhiên theo một ý nghĩa khác. Tinh thần đã rời khỏi cái thế giới hiện tượng bên ngoài để quay trở về bản thân. Bởi vì cái nội dung bên trong của tính chủ thể không còn nhìn thấy chính mình ở đấy, cho nên về mặt đó, chúng được hình thành một cách độc lập ở bên ngoài chủ thể, bàng quan đối với chủ thể. Kể ra, xét theo quan điểm chân lý của nó, tinh thần có vẻ tìm được môi giới ở trong bản thân mình với cái Tuyệt đối, nhưng bởi vì ở đây chúng ta ở trên lĩnh vực của tính độc lập xuất phát từ bản thân mình và ở trong tình trạng như nó tồn tại trực tiếp và duy trì tình trạng ấy, cho nên cái tính cách hành động cũng bỏ mất tính thần linh của mình. Nó nhìn vào cái thế giới ngẫu nhiên với những mục đích ngẫu nhiên của nó và không thể nào hợp nhất với thế giới ấy để làm thành một toàn thể duy nhất trùng với bản thân nó. Tính chất tương đối này của những mục đích ở trong một môi trường tương đối – mà đặc trưng và tính phức tạp của nó không phải bắt rễ ở trong chủ thể, trái lại bị qui định từ bên ngoài – dẫn một cách ngẫu nhiên tới xung đột ngẫu nhiên đan chéo một cách kỳ diệu với nhau, tính chất tương đối này của những mục đích làm thành cái thể giới của những cuộc phiêu lưu, cái này là điển hình chủ yếu của nghệ thuật lãng mạn về mặt hình thức của các biến cố và của các hành động.


Để miêu tả các hành động và các biến cố theo quan điểm lý tưởng và theo quan điểm nghệ thuật cổ điển, cần phải co một mục đích tất yêu chân thực ở bản thân nó, tự nó và cho nó và nội dung của nó chứa đựng cái qui định hình thức bên ngoài cũng như phương thức thể hiện ở trong thực tế. Trường hợp các hành động và các biến cố mà nghệ thuật lãng mạn miêu tả không phải là như vậy. Mặc dầu tự thân các mục đích và các cứu cánh được miêu tả cũng có tính chất chung và cốt yếu, nhưng không phải những mục đích ấy chứa đựng tính xác định của hành động bằng cách qui định trật tự và sự kế tiếp nhau của các giai đoạn của hành động, tùy theo những điều ngẫu nhiên và tính tự do.


(a)      Thế giới lãng mạn chỉ có nhiệm vụ thực hiện một sự nghiệp duy nhất: truyền bá đạo Thiên Chúa, tích cực nêu lên tinh thần của thể cộng đồng. Ở trong một thế giới thù địch, một mặt gồm thời cổ đại không theo Thiên Chúa giáo, và mặt khác tính chất dã man và thô bạo của các ý thức, sự nghiệp này trở thành việc tiêu cực chứa đựng những đau khổ và khổ ải, sự hy sinh cuộc đời trần thế của mỗi người để giành lấy sự cứu vớt vĩnh viễn đối với linh hồn. Sự nghiệp này được xúc tiến bởi một sự nghiệp tương tự về nội dung, đó là hành động của chế độ hiệp sĩ Thiên Chúa giáo. Nó tóm lại ở chỗ trục xuất những người Môrơ, những người Ả Rập, và nói chung những người Hồi giáo ra khỏi các nước Thiên Chúa giáo, và sau đó là những cuộc viễn chinh thập tự quân để giành lại đất thánh của Chúa.


Nhưng ở đây không phải là một mục đích chỉ có thể thực hiện bởi sự tập hợp của những cá nhân riêng lẻ, tập hợp lại theo ý chí của mình.


Theo nghĩa này, chúng ta có thể gọi những cuộc viễn chinh thập tự quân là một cuộc phiêu lưu tập thể của thời trung cổ Thiên Chúa giáo, là cuộc phiêu lưu quái đản và lộn xộn ở trong bản thân nó: có tính chất tinh thần, nhưng không có mục đích tinh thần thực sự và là giải dối về mặt hành động và tính cách. Bởi vì, về mặt thuần túy tôn giáo, mục đích và các cuộc viễn chinh thập tự quân tiến hành là một mục đích bên ngoài, không có nội dung gì hết. Thế giới Thiên Chúa giáo chỉ nên tìm sự cứu vớt ở trong tinh thần, ở trong Giêxu được hồi sinh và đứng ở bên ngoài của Chúa, có hiện thực sinh động, sự tồn tại không phải ở trong nấm mộ và trong những nơi tồn tại cảm quan, trực tiếp, của nơi nhập thân trần thế trước kia của Người, mà ở trong tinh thần. Song nhiệt tình và lòng say sưa tôn giáo thời cổ lại chỉ hướng về cái địa điểm bên ngoài gắn liền với lịch sử những đau khổ của Giêxu, với ngôi mộ của Chúa.


Cũng mâu thuẫn trực tiếp như vậy với mục đích tôn giáo và mục đích thuần túy trần tục của sự xâm lược, là sự chiếm đoạt mà xét về mặt biểu hiện bên ngoài, là có tính chất hoàn toàn thoát ly khỏi tính tôn giáo. Như vậy, trong khi nhằm mục đích tìm một địa điểm thuần túy bên ngoài, một nơi tinh thần đã rời khỏi, trong khi lo vươn tới một lợi ích trần tục, họ gắn liền yếu tố thực sự tôn giáo. Tình trạng mâu thuẫn này gây nên tính chất quái đản, lủng củng, trong đó yếu tố bên ngoài xuyên tạc mất yếu tố bên trong và yếu tố bên trong xuyên tạc mất yếu tố bên ngoài, chứ không phải hai yếu tố này hài hòa với nhau. Vì vậy những yếu tố mâu thuẫn, không có tính chất hòa giải lại kết hợp với nhau ở trong sự thực hiện này. Lòng mộ đạo biến thành thái độ thô lỗ và tàn nhẫn dã man, và thái độ thô bạo này, tính chất ích kỷ buông thả, và tất cả những dục vọng của con người lại kéo theo nó sự sụp đỗ vĩnh viễn và sâu sắc của tinh thần và sự hòa giải là mục đích duy nhất đáng mong muốn.


Do tình trạng đối lập giữa tất cả các yếu tố này, các hành vi và các biến cố liên quan tới một mục đích trước sau duy nhất đã thiếu tính nhất quán của một tính thống nhất và của một hành động nhất quán và lôgic, toàn bộ các hành động tỏa ra bị cắt vụn, bị chia nhỏ ra thành những chuyện phiêu lưu, những trận chiến thắng, những trận thua, những điều ngẫu nhiên phức tạp và lối thoát của hành động này không tương ứng với những biện pháp đưa ra thực hiện và tính đồ sộ của những sự chuẩn bị. Mục đích bị tiêu diệt bởi cách thực hiện mục đích. Các cuộc viễn chinh thập tự quân một lần nữa chứng minh tính chất đúng đắn của những câu: “Người sẽ không để ông ta ngủ yên trong nấm mồ”; “Người sẽ không để cho vị thánh của ngươi được tan xương nát thịt”. Những lòng ham muốn say sưa muốn tìm thấy “Giêxu sống” ở nơi chôn cất Người, thậm chí ở trong nám mộ, địa điểm của cái chết, để làm cho tinh thần thỏa mãn là một sự tan rã của tinh thần (dù cho điều đó làm Satôbriăng([1]) ngây ngất), và thế giới Thiên Chúa giáo cần phải sống lại từ cái tình trạng tan rã ấy để quay trở lại cuộc sống tươi mát, dồi dào của hiện thực cụ thể.


Việc đi tìm cái Graan thiêng liêng cũng làm thành một mục đích tương tự, một phần huyền bí, một phần quái đản và phiêu lưu trong những cố gắng để thực hiện nó.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info







1Chateaubriand (1768-1848), nhà văn Pháp.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »