tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26690198
Truyện ngắn
25.01.2019
Dạ Ngân
Chúng ta ở đó


Chị đặt con ngồi dốc trên nệm xe lôi, quấn mền siết thêm cho con, run rẩy cùng với cơn cữ của con. Đường phố nửa khuya, khó lắm hai cậu em Danh và Thực mới tìm được cỗ xe lôi này. Thị xã không ngái ngủ, thị xã trung tâm của miền Tây thường bị dựng dậy vì những đoàn xe quân sự hối hả. Những chiếc xe lôi vãng lai là hoạt động dân sự duy nhất trước khi chợ búa rục rịch. Chị ngoảnh nhìn, khoát tay với hai cậu em kết nghĩa bứt rứt đang muốn nhốm chạy theo cỗ xe. Ban nãy chị đã trấn an “Các em đừng quá lo, đến cổng viện chị sẽ nhờ bác xe lôi đây giúp, không thì bảo vệ phòng cấp cứu cũng chạy ra”.


 


Khi chỉ còn hai mẹ con cùng run trên cỗ xe hiu hắt như chính cuộc đời mình thì lòng chị bời bời y như xứ sở chưa một ngày yên hàn ở đây. Gắng gỏi, quen; làm chồng chính mình, quen nốt; làm cha cho con mình, quen luôn. Nhưng những cơn run chết tiệt thì không sao quen được. Lần nào cũng nửa khuya, lần nào cũng xe lôi chồm chộp, lần nào bác sĩ cũng lắc đầu “Đưa vô ngay lúc lên cữ như vầy mà xét nghiệm không ra mặt mũi cái con sốt rét, toàn chỉ định lâm sàng!” Chị chịu đựng những câu tra vấn “Không phải lây từ ba hay mẹ hả?”, “Sao, lây từ khách á? Bộ đội từ Campuchia á?” “Cách ly đi thôi. Tốt nhứt là không khách khứa gì ráo. Con gái đang lớn, bị vầy như sâu đục, eo ngẳn cả một đời!”


 


Cơn cữ của con ngày mỗi dài ra. Có nghĩa là căn bệnh đã ngấm hơn, sâu hơn, khó xử lý hơn, đúng không các em? Nhưng Danh và Thực à, chị không thể rào rấp những con muỗi, cũng như chị không thể rào rấp tình cảm của mình với những người bước vào chỗ chị trước cả các em dù bùn máu đã ở lại sau lưng họ. Những con vi trùng quỷ quái ấy thì chính họ cũng không biết làm sao trục ra nói gì chuyện để lại bên kia. Thế là những con muỗi đã âm thầm làm cái việc trong bóng tối mà nó ưa thích, chúng chọn lựa chứ không chính kiến gì đâu, đơn giản vì thịt da cô bé mười hai tuổi thơm tho hơn bà mẹ của cô bé. Chị ghì chặt con cho nó giảm run để y tá tim ven. Danh và Thực à, máu lần này bầm hơn máu lần trước và bác sĩ đã phán: “Chúng tôi chuyển cháu vô Quân y nghen. Chị có quen ai trong đó không? Tôi có quen, trong đó chuyên sâu hơn, nguồn thuốc đặc trị của quân đội dồi dào hơn, nghen?”.


 


*


Đêm ấy trăng mờ. Trăng trên sông bao giờ cũng gợi cảm, trăng trên sông Hậu càng mênh mang hơn, Danh và Thực nhớ không? Giờ nhớ lại thì kỷ niệm như một cái cây, chúng ta nhớ cành lá, mùi hương, cái gốc và có thể, mùi đất đai quanh nó. Nhưng hồi ấy mọi thứ trần trụi, tả tơi, nhắm mắt lại chỉ nghe thấy dậy lên mấy tiếng: trần ai, quái gở, kinh khiếp!


 


Lần ấy, nghề báo không được ưu tiên thêm vé vì có con gái đi cùng, chị xếp hàng cùng với thường dân, trên nền Xa cảng Miền Tây khai mù, dưới cái nóng hầm hập mái tôn. Tuyến độc đạo Sài Gòn – Cần Thơ một trăm tám mươi cây số mà có tới hai con phà, trong đó có một cái tên trứ danh ùn ứ là phà Mỹ Thuận. Những cỗ xe hợp doanh thời ngăn sông cấm chợ xem pan dọc đường là chuyện cơm bữa. Sự cố lần đầu ở Cai Lậy, cà rịch rồi cũng đến bờ bắc sông Tiền, hai mẹ con nhọc mệt qua phà trước, ăn hết nửa chục bắp luộc, uống hai lần nước mía mà cỗ xe khốn khổ vẫn chưa tới lượt lên phà.


 


Mười hai năm sau Bảy Lăm rồi. Chị là chiến binh, nhà báo chiến binh của cuộc chiến cũ, chị ngồi đó ở bến phà có lẽ là sinh động và quằn quại nhất nước. Cảm xúc chiến chinh vẫn nguyên, bởi vì những đoàn xe dân sự như cỗ xe cà tàng chị đang chờ phải náu một bên nhường đường cho những hàng xe quân sự đi xuống mạn cuối của chiến trường Tây Nam. Vạ vật nhưng không buồn ngủ, chỉ buồn và thương cho những người trên những cỗ xe ưu tiên kia. Và buồn thương cho mình, cho tất cả. Hồi xưa xửa phải bốn mươi lăm năm nhà Nguyễn mới vượt qua được bờ nam sông Tiền. Những cuộc chiến cứ mắc vào nhau như những cái khoen của sợi dây lòi tói, có nói gì thì vẫn là máu xương cho dù sợi dây ấy dài ra.


 


Chị nhớ phà Neak Loung năm Bảy chín, lần đầu đôi chân nghề báo đưa chị đến đó, cái nơi được gọi đơn giản là K, chiến trường K. Người bản địa tung hô bộ đội Việt Nam như cứu tinh nhưng khi họ ngưng hò hét bỗng là những bộ mặt khác, những bộ mặt câm. Những nếp nhà công xã, thậm chí những con ruồi, những cọng rác cũng xa lạ, hoang dã. Những người lính lướt qua, phát hiện chị, họ ngạc nhiên như nói “Sao chị có mặt ở đây, ích gì, để làm gì cơ chứ, chị quay về với bình yên đi”. Nhưng chị chưa bao giờ cảm thấy bình yên dù trên đất mình, ngụm nước chính con sông quê mình, dưới cái bóng dừa mềm mại như đàn bà con gái dân mình. Không ai thấy bình yên khi con em của họ đi miết, càng đi càng xa, càng cảm giác lạ, không có đường lùi, không biết điều gì đang đợi họ phía trước. Sau lần đi năm Bảy chín ấy, chị lại đi, Biển Hồ - Kampong Chnang, lại đi, Pai Lin - Tà Sanh như người lính, viễn chinh, tiễu trừ, tìm diệt. Buổi chia tay ở một đại đội, ba vị chỉ huy măng trẻ, áo dân sự trắng tinh ôm ghi-ta, nhìn vào mắt người đáng tuổi cô dì của mình “Chỉ còn gần em một giây phút thôi. Một giây nữa thôi là xa nhau rồi”. Đường về nặng trịch, mới đến Phom Penh đã nghe tin đại đội bị tập kích, hồn phách ba chàng trai ấy đã bay về với đất nước trước cả chị. “Núi đồi lồng lộng chiều mưa nhớ ai. Biển xanh vẫn xanh người đi sao đành”. Những người lính quen xem chỗ chị như nhà trạm, vạ vật dốc bầu tâm sự với một người thích lắng nghe. Và những con muỗi đã được những bữa no. Một lần khác, nhân viên bệnh viện Quân khu cầm một lá thư viết tay của bác sĩ khoa cấp cứu báo là “một sĩ quan anh hùng quân đội muốn được gặp chị trước khi…” Danh Thực à, chị xin lỗi, chị không nhớ rõ người sĩ quan ấy ở những bước chân ba lần đi K. Nhưng chị nhớ cái bộ khung con người và vầng trán vàng bợt, nhớ hai bàn tay buông thỏng, một phế nhân có tên chung là “bệnh nhân sốt rét ác tính!” Có phải con gái chị là nạn nhân tiếp theo bởi mẹ nó không biết rào rấp tình cảm của mình với những người liên quan đến nơi chết tiệt ấy – chiến trường K?


 


*


Mười hai giờ đêm. Một trăm tám chục cây số, cỗ xe nhếch nhác mất năm giờ chỗ phà Mỹ Thuận. Xe pan lần nữa ở Xóm Gòn, cách phà Cần Thơ hơn cây số. Mùi lá gòn khô, mùi của xóm nhang trăm năm lẫn trong mùi sông Hậu phả lên, bình an kỳ lạ. Một số khách rảo chân theo chị đi bộ đến phà, như một đội quân lếch thếch trong đêm tối. Sao hình ảnh gì cũng khiến liên tưởng đến một đội quân?


 


Hai bến phà tách biệt, như hồi cuộc chiến cũ. Càng về khuya, xe quân sự càng dày, đi mãi và đi mãi. Đường để tách thành bến quân sự và dân sự quá xóm Gòn một đỗi xa, cuốc bộ song song với mùi xe trận, nghe ngậm ngùi quá thể, chân của mình đây, trên mảnh đất của mình đây, còn các em kia, rồi sẽ Long Xuyên – Châu Đốc - Tịnh Biên và một chốc thôi, Vĩnh Tế đã ở sau lưng, trong số đó, ai sẽ thanh tân rời khỏi xác như ba chàng sĩ quan đại đội chị từng biết và ai nữa sẽ thành anh hùng sa trường với di chứng sốt rét đến hết cuộc đời?


 


Lại mùi khai của đám đông quen thuộc ở chỗ đợi phà. Phà báo nghỉ. Thừa biết nửa đêm phà phải huy động cho bến quân sự xa mờ đằng kia. Những tràng súng tiểu liên bắn bổng không phải uy hiếp đám người chộn rộn kêu trời kêu đất mà để gọi một chiếc phà sang cho đoàn VIP vừa tràn đến. Đoàn xe dân sự những biển xanh, những cỗ xe bốn chỗ có xe cảnh sát hú còi dẫn đầu. Chuyện thường, chị không lạ. Những loạt súng hậu chiến không khiến chị giật mình được. Chỉ con gái chị là run bắn. “Có mẹ đây, gì mà sợ?” “Con đâu có sợ mà tự dưng nó run vậy đó. Sao con lạnh quá mẹ ơi!” Đèn cao áp bóng còn bóng chết tù mù, nhiều tiếng đàn bà the thé “Coi chừng con nhỏ trúng gió” “Có dầu không, xoa dầu ở dưới lưng nữa”. Chị lê con tới chỗ hai gã bảo vệ có súng xin đặc cách xuống phà. Gã cầm súng gạt tay: “Chị biết đoàn xe quan trọng mức nào mà nhờ, vô quán xin nước xin thuốc, mướn võng qua đêm đi”. Gã kia ghé tai chị nói nhỏ: “Có đường mòn trên cỏ kìa, thấy không, đi hơn trăm mét sẽ có ghe chở lậu qua!”


 


Lẳng lặng chị lôi con đi, như để tìm một chỗ kín đáo cho nó vệ sinh. Một con đường mòn mờ giữa hai vạt cỏ cặp mé sông. Trăng đang vắt ngang trời. Ngửi thấy mùi bảo kê không phải chiếc ghe nhỏ mà là chiếc tàu, tàu thương hồ có mui, máy lớn trong buồng lái lù lù trên mặt nước bàng bạc. Tàu đang rút ván, hai thanh niên áo rất trắng người cầm sào người đang ôm tấm ván đẩy dần vào lòng mui. “Có người bịnh, trúng gió, em nhỏ, có bịnh, làm ơn, cứu cứu!” - chị không thể gào to, một tay giữ con, một tay chấp chới, hai túi xách tuột ra bắt đầu lăn xuống mé bờ và may mắn mắc lại trong cỏ. Những tràng tiếng Nghệ Tĩnh, người cầm sào bảo người đẩy ván, cả hai giục nhau cố cho mũi tàu sát lại vào bờ. Tấm ván phóng trở lại mép cỏ, con gái chị được bồng lên, rồi chị được kéo đi và sau cùng, hai chiếc túi xách bay lên trong tầm đón của người đang vịn sào, như một tiết mục xiếc diệu nghệ. Không ai dám nói lớn nhưng chị nghe thấy sự quan tâm cho mẹ con chị rùng rùng từ mũi đến lái. Người nêm cứng lòng khoang, cậu nhỏ phụ tàu cầm lấy sào ném lên mui. Một trong hai thanh niên cuống quýt “Tàu to mà phụ tàu không kịp lớn, em bò lên mui ra sau lái, để hai anh ngồi mũi xem phụ giúp được gì cho cháu đây không?” Cả hai cùng ngồi ghé trên chót ván mũi, nhường cho hai mẹ con chị một chỗ rộng. Con gái bỗng cất tiếng “Giống cảnh vượt biên quá mẹ ơi!” Giọng đàn ông trong mui “Bịnh gì, mánh lới để níu tàu chớ bịnh gì? Nói vượt biên vượt biên người ta tưởng thiệt, bị bắt cả đám hết giờ!”.


 


Chị không khẩu chiến, ai cũng nhàu nhĩ giẻ rách. Chị đang sững sờ, cái lò lửa ban nãy đang nguội trong tay chị, cả người đứa con như tươm đá. “Trời, con tôi bị sốt rét sao trời?” Tiếng máy tàu dõng dạc hơn khi nó đã xa bờ. Hai bàn tay phía sau cùng chạm vào con chị, hốt hoảng. “Đúng biểu hiện sau cữ”. “Chị ở Cần Thơ à chị? Cần Thơ mà cũng có sốt rét sao?” Chị cắn môi lẳng lặng dùng khăn bông lau cho con, lau mãi, càng lau con càng ướt. Hai người phía sau cùng lấy từ ba lô ra hai cái khăn lính, đưa cho chị. “Em là Danh, lần đầu tiên lỡ phà!” “Còn em là Thực, chúng em đồng hương. Bố bé là quân nhân đi K à chị?” Chị ngoảnh nhìn Danh và Thực, chị nhìn hai chiếc áo dân sự rất trắng, sao hở ra là họ mặc dân sự, áo rất nghiêm và rất trắng? Và cung cách những người lính vào thời điểm gian khó ban nãy đã để lộ ra với chị, các em đích thị người của chiến trường!


 


*


Các em đã bước vào căn bếp của hai mẹ con chị như vậy đó. Vì sao là căn bếp? Vì đêm đi tàu lậu qua bờ nam sông Hậu ấy, không cỗ xe lôi nào có mặt ở bãi lậu cả. Hai em hai túi xách đỡ chị, chị đỡ con gái, cả bốn người lốc thốc về khu nhà tập thể chỗ chị. Những viên thuốc sơ kỳ cho bệnh nhân trong ba lô người lính và chính các em đã vo gạo nấu cháo trắng cho cả bốn người, bữa ăn sơ giao trên nền gạch phòng viết của chị. Gần gũi, trang trọng, cảm xúc, như thể chị và em đã từng biết nhau ở K, không, sâu xa hơn thế các em à, chúng ta có một quá khứ chung có tên là “những cuộc chiến”, chúng ta luôn muốn thoát ra nhưng nó cứ ấn chúng ta xuống, một cái gánh kỳ quặc, nặng nhọc dài lâu.


 


“Hai đứa em đang được ra quân”. “Sao là đang được, nói rõ chị nghe?” “Vâng, chiến sự cũng vãn rồi, hai đứa em nghĩa vụ trước Bảy lăm cơ, đi B bằng cơ giới, tham chiến lẻ tẻ thì giải phóng”. “Sau đó được phân về Quân khu Chín đây, vào Sư đoàn, lên biên”. “Chị ba lần đi ư? Tà Sanh ư, chắc khi đó bọn em còn trên chốt!”. “Hai đứa em dính sốt rét hết, nhìn da là biết, lát nữa sáng chị sẽ thấy rõ hơn”. “Nhưng sao không binh nghiệp luôn mà ra quân?”. “Chủ trương chung đó chị, lính nghĩa vụ sau ra sau, bọn em chưa lập gia đình, bọn em được đi xuất khẩu lao động” “Đi lao động ở xứ người ư? Đông Đức ư?”


 


Một chân trời vén ra theo câu chuyện. Cũng phải thôi, có mở đầu phải có kết thúc, cuộc chiến nào cũng vậy, có đưa quân sang thì phải có kéo quân về. Nhưng những từ “xuất khẩu lao động” vào năm ấy nghe thảng thốt như thể các em sẽ bắt đầu một cuộc viễn chinh khác, đơn lẻ, và lại không biết đợi mình phía trước là gì. Các em làm khách Quân khu khi chỉ còn một chân ở đó đợi thủ tục, chị em mình tiếp tục có những bữa ăn trên nền gạch. Và những cơn cữ nửa khuya của con gái chị luôn khiến các em bứt rứt như chính các em đã góp phần khiến cháu bệnh nặng hơn. Cậu Danh cậu Thực đã chống đỡ cùng với mẹ nó từng khuya một như thế, quấn mền, ôm cháu xuống cầu thang chung cư, vẫy xe lôi, đưa thêm khăn đưa thêm nước, đứng nhìn theo, tê dại.


 


Vào quân y viện, thuốc tốt hơn nhưng cơ địa thiếu nữ không kham nổi những liều ký ninh dày hơn. Một trận thương hàn ập xuống nữa. Chị đem bếp dầu vào ở hẳn Khoa Lây. Cậu Danh cậu Thực đôn đáo tiếp phẩm, tìm thuốc tốt. Nhưng thời điểm chia tay đã đến, phải đến. Các em sẽ lên ga Hòa Hưng, ngồi tàu hỏa, về với bố mẹ làng xóm của mình. Và sẽ bay đi.


Buổi sáng ở chỗ phòng tiểu phẩu, hai cậu em hai chiếc áo dân sự thanh tân sáng trắng. Nhưng sự bịn rịn thì quá thể, bởi ở sau cánh cửa kia, con gái chị đang bị “mổ sống” vết áp-xe đầu tiên, do thuốc không tan, thuốc đang hoành hành trái mông thiếu nữ. Y sĩ phải múc từng muổng thuốc ứ vàng ra và xe gạc thọc sâu vào lấy mủ. Nghe cháu rên, hai cậu xộc bừa vào, bị quát tháo, cả hai lao ra, hàm cắn chặt, vút đi như bỏ chạy.


 


Vậy đó. Những lá thư thăm hỏi dồn dập nhưng chị đã giấu các em việc cháu bị áp-xe lần nữa ở phía kia. Chỉ khoe cháu đã cố gắng, hết sức cố gắng và được đậu vớt lớp mười. Các cậu gặng hỏi di chứng trên da thiếu nữ nhưng các em à, những di chứng khác mới ghê gớm, trên hành trang của mỗi chúng ta, trong mỗi người Việt chúng ta bởi cuộc viễn chinh dài những mười năm ấy.


 


Và rồi bức tường Berlin không còn. Các em đã ra sao, Danh và Thực của chị, các em một lần nữa thoát ra hay là…Đã có một cuộc chiến nữa phải không các em, một cuộc chiến riêng của những người trẻ mà chị đã không thể nào giúp được.


 


Thanh Đa – tháng 12-2018


D.N


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
Lí lẽ đàn bà - Nguyễn Thị Lê Na 25.01.2019
Chúng ta ở đó - Dạ Ngân 25.01.2019
Trăng nơi đáy giếng - Trần Thùy Mai 21.01.2019
Vợ chồng già ngồi câu bên hồ nước - Lê Hoài Lương 14.01.2019
Thần sông báo mộng - Nguyễn Tam Mỹ 12.01.2019
Bay đi chim ơi! - Nguyễn Tam Mỹ 12.01.2019
xem thêm »