tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28893029
Tiểu thuyết
24.01.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ ba


QUÝ LY, ĐỀN TỘI ĐI!


Câu chuyện huyền thoại của người thứ ba thuộc về một loài chim. Bây giờ tôi không nhớ rõ người kể chuyện này bí danh là gì, nhưng mang máng nhớ chừng là một đồng chí người cao nguyên lúc đó làm trung đoàn phó. Tiếng là người cao nguyên, nhưng anh viết và đọc rất rành tiếng Việt, hơn nữa, mỗi câu chuyện hay tiểu luận anh nói ra đều là bài học thực tế sinh động về nhân sinh quan cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng mới, về thái độ sống, làm việc và chiến đấu.


Đồng chí Rốc Lai bắt đầu chuyện của anh bằng một câu hỏi: 


- Các đồng chí lặng im. Có nghe thấy gì không?


- Không. Chỉ nghe thấy tiếng gió hú và mưa nguồn buồn thấu đến thịt xương.


- Các đồng chí đều điếc cả. Ở miền rừng núi, có một cái này đặc biệt: là ban đêm, gặp khi có mưa rừng, tất cả chim chóc và thú vật đều im hơi lặng tiếng, duy chỉ có một giống chim vẫn kêu như thường – mà có nhiều đêm mưa rừng càng lớn, gió thổi càng to thì giống chim đó lại càng kêu lớn hơn khi nào hết. Đó, các đồng chí đã nghe thấy tiếng kêu của nó chưa?


Mọi người đập khẽ vào nhau, ra hiệu chớ làm ồn để nghe xem ra thế nào. Thì quả nhiên có tiếng kêu thật, tiếng kêu lẫn vào gió vào mưa, nhưng cao vút hơn một chút, một tiếng kêu không ai oán não nùng nhưng triền miên như thể gói ghém một nỗi niềm oán hận. Ờ phải, đó là tiếng chim gì lạ vậy? Ở rừng, chúng ta chỉ nghe thấy nói đến mấy giống chim “Bắc Quang, Bắc Mục”, “Bóp thì bóp”, “Bìm bịp”, “Tu hú”, “Bắt cô trói cột”, giống chim nào kêu rõ ra thứ tiếng riêng của nó, mà sao đến cái giống này thì nghe lạ hoắc, người mới nghe không hiểu. Nó kêu gì vậy?


- Các đồng chí nghe kỹ một chút mà xem. Nó kêu “Quý Ly, đền tội đi!”. Có phải đúng như thế hay không?


Mọi người lắng tai nghe. Ờ đúng. Nó kêu: “Quý Ly, đền tội đi!” thực thế, không sai. Thế tại sao nó lại kêu như thế nhỉ?


Đồng chí Rốc Lai châm một mồi thuốc hút, nhìn ra mưa đêm mà nói, như thể nói cho chính mình nghe vậy:


- Mỗi một giống chim, mỗi tiếng hót đều có một sự tích. Về mấy giống chim kia, các đồng chí đã rõ sự tích ra sao rồi, lựa là phải nói lại làm gì.


Một anh trào lộng:


- Chúng tôi biết hết, nhưng đồng chí cứ làm như thể là chúng tôi không biết, kể vắn tắt như làm một bài tựa, thiết tưởng không hại gì.


- Ờ được. Tôi xin tóm tắt. Về giống chim “Bắc Quang, Bắc Mục”, truyền rằng ngày xưa có những người đi lính thú trên mạn ngược Bắc Việt chết bỏ xương, nơi đó hóa thành một giống chim ngày đêm than oán giữa núi rừng hoang lạnh: Bắc Quang, Bắc Mục – Hà Giang nước độc”, ra cái ý nói rằng ai mà đi đến những nơi đó chỉ có chết mà thôi.


Có một người lính thú nọ ngồi cầm súng hỏa mai nghe con chim mạn ngược kêu thương như thế, ngồi tưởng nhớ đến thân mình có lẽ không còn bao giờ được gặp lại vợ con, triết lý:


- Tại sao con chó có răng lại không ăn được lúa?


- Tại sao con gà không có răng lại ăn được lúa?


- Tại sao con ba ba ở dưới nước lại lên đẻ trứng trên mặt đất?


- Tại sao con cóc ở trên mặt đất lại xuống nước đẻ trứng?


- Tại sao cây móc cũng giống với cây cau mà lại trổ hoa giữa thân cây, còn cây cau thì lại có hoa ở ngọn?


Suy nghĩ mãi mà vẫn không tìm ra một chân lý, anh lính thú ngủ quên đi. Chẳng may chính giữa lúc ấy thì quan đi qua đấy, thấy anh lính thú ngủ, bèn kêu về hỏi duyên do. Anh lính thú trình bày:


- Con sống quạnh quẽ, ở giữa núi rừng sâu thẳm, buồn không biết làm gì nên hay để ý đến thú vật, cỏ cây ở chung quanh, và còn thắc mắc về mấy sự việc tưởng như vô lý do Trời sinh ra, như con chó, con gà, ba ba, con cóc, buồng móc, buồng cau. Cứ suy nghĩ triền miên mãi rồi ngủ, ngủ quên đi mất, chớ không phải là con bê trễ việc quan.


Viên quan bèn hạ lịnh giam y vào ngục. Trong khi đó thì chính ông cũng băn khoăn về mấy thứ đó, không hiểu ra thế nào. Gặp ai cũng hỏi, nhưng không ai trả lời được. Thương tình anh lính thú, ông bèn ra lịnh tha y thì anh ta đã chết trong đề lao và xác đem chôn ở bên sông rồi. Từ khi chôn, các đồn canh ở chung quanh đấy thường nghe thấy một giọng chim kêu những tiếng nghe rất rõ: “Con chó, con gà, ba ba, con cóc, buồng móc, buồng cau”. Người ở vùng ấy cho là hồn người lính chết oan hóa kiếp ra làm giống chim kia, bèn xây một ngôi miếu cạnh mồ anh ta ở bên sông Kỳ Cùng.


- Thế còn cái giống gì mà lại kêu “Bóp thì bóp”? Bóp là cái gì?


- Đó là sự tích chim quy. Ngày xưa, có một cô gái ra tắm ở bờ giếng gần nhà với một đứa em trai. Lúc tắm cho thằng em, nó đưa tay ra bóp vào đôi vú chị. Người chị dọa về mách với cha mẹ. Thằng bé sợ, bỏ trốn vào rừng; người chị kêu nó cách mấy nó cũng không quay trở lại. Rồi cả chị lẫn em lạc cả ở trong rừng, rồi chết, thành ra một giống chim, cứ vào lúc mặt trời lặn là kêu lên tiếng gọi nhau, về khuya gần sáng thì tiếng kêu gần gũi nhau nhưng đến khi hửng sáng thì im bặt. Nghe tiếng con chim cái, người ở miền rừng núi cảm thấy rõ là nó kêu “Bóp thì bóp”, nhưng con chim đực trả lời “Không bóp” như để nhắc lại nỗi sợ sệt ngày trước của đứa em. Tiếng kêu trao đi đổi lại nghe buồn héo ruột, người đi rừng có khi nghe tiếng kêu mà xốn xang thương cho đôi chim kêu ảo não trong rừng ban đêm để đến khi trời sáng thì lại im hơi bặt tiếng. Và họ vừa đi vừa hát:


Đôi ta như thể chim quy,


Đêm nghe thấy tiếng, ngày đi phương nào.


- Chuyện buồn quá. Kể tiếp chuyện “Tu hú” đi, xem có vui hơn không?


- Tục truyền ngày xưa có một người nóng tính lắm tên là Bất Nhẫn. Một vị sư già thấy anh ta như vậy khuyên nên tu luyện để thay tâm đổi tính đi. Anh nguyện vào rừng sâu ngồi nhắm mắt, ngồi yên một trăm ngày để cho tâm hồn lắng xuống và tập lấy cái tính nhẫn nại, việc gì cũng cố nhịn chớ không nóng tính như trước nữa, e hỏng việc. Ngồi nhập thiền như thế ít lâu, có một cặp chim đến làm tổ trên đầu Bất Nhẫn, rồi sinh con đẻ cái ỉa bừa bãi lên trên đầu anh ta. Anh vẫn cố chịu đựng như thường. Nhưng rồi có một hôm, anh không thể chịu đựng hơn được nữa, hất cả cái tổ chim xuống đất và chửi rủa ầm ĩ lên. Ấy là vì con chim cái ghen. Con chim đực phân bua:


- Anh xin thề không có bụng dạ nào. Cả đêm anh nằm trông con. Không tin, em cứ hỏi người bị Trời trồng này xem có đúng không.


Vừa hất cái tổ chim ở trên đầu xuống đất, anh vừa chửi lũ chim:


- Chúng mày là đồ khốn kiếp. Ta ngồi đây để cho chúng mày làm tổ và ỉa lên đầu lên cổ vì một lời nguyền với tôn sư, chớ phải đâu bị Trời trồng mà chúng mày nỡ ăn nói một cách tồi tệ với tao như vậy.


Thế là bao nhiêu công tu luyện của Bất Nhẫn thành ra công cốc! Không nản, anh ta tìm cách khác để hy vọng đạt được mong muốn của mình. Nghe thấy nói rằng ai giúp cho người ta qua được sông nước ngặt nghèo thì động đến lòng Trời, Phật, anh bèn đóng một con thuyền chở giúp khách qua sông. Chở như thế được chín mươi tám ngày, đến ngày thứ chín mươi chín, thì có một người đàn bà dắt một đứa con nhỏ xin qua sông nước. Bà này hách dịch, mà đứa con lại xấc láo, coi người chèo thuyền không ra gì; nhưng Bất Nhẫn cắn răng mà chịu. Đến giữa sông, người đàn bà sực nhớ quên mất đồ hành lý, bảo anh quay lại. Anh ta cũng chịu luôn. Nhưng đi sang gần tới bờ bên kia, bà khách lại nhớ quên mất nắm cơm của đứa trẻ, bà lại buộc ông lái quay lại nữa.


Không dằn được lòng tức giận, Bất Nhẫn càu nhàu: “Đàn bà gì mà quên hoài quên hủy. Nếu đôi vú không dính vào người có lẽ cũng quên luôn chắc?”.


Bất Nhẫn vừa nói xong thì người đàn bà nọ hiện thành Phật Bà Quan Âm mà bảo: “Anh nguyện sửa đổi tâm tính mà vẫn nóng nảy như thế mong gì tu được? Tu gì anh? Tu hú!”. Nói rồi bay lên trời. Bất Nhẫn buồn hết sức buồn, về đến nhà nhuốm bịnh rồi chết thành ra một loài chim. Lúc ấy là mùa vải. Loài chim này đậu trên cây vải, buồn rũ ra, vì không lúc nào quên được lời Đức Phật dạy bảo khi còn sống: “Tu gì anh? Tu hú!”.


Từ đó, cứ đến mùa vải thì chim tu hú không biết ở đâu về đậu cả ở trên những cây vải chín, và rải tiếng đau thương “Tu hú! Tu hú!” làm cho trẻ nhỏ buồn không chịu được phải lấy đá liệng và chửi “Tu hú! Chú mày chết!”.


- Thế còn chuyện con chim bìm bịp ra sao?


- Thực ra, ở vùng xuôi, người ta kêu nó là chim bìm bịp mà không ai biết rõ tại sao lại là bìm bịp. Ở miền cao nguyên, người ta kêu nó là con chim “tội nghiệp” do một sự tích mà cả cao nguyên và đồng bằng cùng kể lại giống nhau.


Ngày xưa, có một thiếu nữ xinh đẹp chán cảnh thế tục, thí phát đi tu và lặn lội sang Tây Trúc mong tìm Đức Phật. Phật muốn thử lòng, hóa ra một người ăn mày xin ăn. Ăn thế nào cũng không đủ, y xin luôn cả nắm cơm cuối cùng. Ni cô cũng chịu. Phật động lòng, hiện xuống trong lúc nàng đang thiu thiu ngủ ở dưới một gốc cây bồ đề và dạy cho nàng bốn câu kinh có một thần lực là gặp bất cứ sự hiểm nghèo nào mà đọc bốn câu ấy thì chuyển nguy thành an ngay.


Rồi có một đêm nàng đang đi ở trong rừng thẳm thì trời sập tối. Thấy một ngọn đèn leo lét ở khe núi đá, nàng lần bước tới xin nghỉ nhờ một đêm thì không may, nhà đó lại là nhà một mụ chằn. Thấy thịt người thơm tho, mụ chằn định ăn tươi nuốt sống nhưng ni cô kịp thời đọc bốn câu kinh Phật dạy:


Thiên la thần, địa la thần,


Nhân ly nạn, nạn ly thân,


Nhất thiết tai ương, hóa vị thần


Nam mô A Di Đà Phật!


Tức thì mụ chằn sợ hãi cúi xuống van xin. Đến khi thằng con trai mụ chằn về, nó lại cũng định ăn thịt ni cô nữa. Ni cô lại đọc bốn câu kinh. Con trai của chằn tinh tự nhiên thấy ruột gan bị vò xé, nó bèn lấy dao mổ bụng, lôi chùm ruột và trái tim ra và nhờ dâng lên Đức Phật để xem tại sao nó lại có thể độc ác đến như thế được.


Ni cô cho trái tim và chùm ruột vào trong đẫy xách lên vai đi, nhưng được vài ngày thì mùi hôi thối xông lên nhức óc không thể nào chịu được. Ni cô bèn lấy quăng vào bụi rậm.


Rồi đi mãi, đi mãi đến Tây phương và lạc vào đất Phật. Một vị Bồ Tát ngăn lại, và hứa cho vào sau khi trả lời một câu hỏi của ngài: “Trong khi đi đường có ai cũng tưởng tới Phật và nhờ ni cô đệ trình gì lên Đức Phật không?”.


Ni cô cứ thực tình kể lại câu chuyện con trai mụ chằn gửi chùm ruột và trái tim để dâng lên Phật. Thế trái tim và chùm ruột đâu rồi? Không, cửa Phật không hẹp hòi gì, nhưng Đức Bồ Tát đứng ở trước cửa ngọc cho biết rằng cửa Phật chỉ có thể mở cho ni cô vào một khi ni cô đem đủ chùm ruột và trái tim của con trai mụ chằn đã gửi để dâng lên Đức Phật.


Ni cô ôm mặt khóc nức nở:


- Bây giờ tôi còn hơi sức đâu để trở lại mà tìm kiếm nữa? Mà ví phỏng có tìm kiếm thì hy vọng gì thấy được, vì chắc chắn muông chim cũng đã tha đi mất rồi.


- Việc đó là việc của ni cô, người ở đất Phật không biết tới. Nhưng nếu ni cô ngại đi lại vất vả và khó kiếm chùm ruột và trái tim, ta có thể giúp cho ni cô đôi cánh để bay cho lẹ và do đó có thể nhìn từ trên cao xuống để cho dễ kiếm hơn.


Thế rồi Bồ Tát niệm một câu kinh. Ni cô có một đôi cánh thật và chỉ trong nháy mắt biến thành một con chim. Vì ni cô bịt một cái khăn nâu nên đầu con chim màu nâu, mắt vừa khóc thành mắt con chim đỏ, còn quần áo nâu lấm bụi đường nên lông ở mình con chim hóa ra màu đà.


Con chim đó bay đi tìm chùm ruột và trái tim mãi đến tận bây giờ mà vẫn chưa thấy nên thỉnh thoảng lại kêu lên một tiếng than van thê thiết: “Tội nghiệp! Tội nghiệp!”. Vì thế người cao nguyên gọi nó là con chim “tội nghiệp”, còn ở đồng bằng không hiểu vì phiên âm hay vì một lý do gì khác lại gọi giống chim ấy là chim bìm bịp.


- Còn câu chuyện chim “Bắt cô trói cột” thì sao, kể nốt nghe chơi, đồng chí!


- Các đồng chí nói đùa dai quá. Nhưng đã nói thì nói hết luôn trước khi bước sang chuyện chính là chuyện con chim đương kêu: “Quý Ly, đền tội đi!”. Đó, các đồng chí có thấy tôi nói đúng chưa? Gió hú càng mạnh, mưa rừng càng lớn, có phải là tiếng chim kêu lại càng vang dội mạnh không? Nghe cứ như là tiếng thét, một lệnh truyền sắc nét.


Một người nói:


- Thôi kể nốt chuyện “Bắt cô trói cột” đi rồi bước sang chuyện chính, kẻo đêm khuya ngày rạng rồi!


- Ngày xưa, không biết đích là ở tỉnh Thái Nguyên hay là Vĩnh Yên, có một ông phú hộ có năm con trâu giao cho lực điền trông nom. Chiều về, anh cột năm con trâu vào năm cái cột, nhưng không hiểu vì một cái cột hư hay vì nguyên nhân gì khác, anh lại đóng thêm một cái cột thứ sáu. Chưa dùng tới thì ông phú hộ qua đời. Con gái ông ta thừa kế thấy sáu cái cột, yên trí là nhà có sáu con trâu, hỏi anh ta. Anh ta bảo tất cả có năm con trâu thôi, nhưng cô gái cứ khăng khăng là sáu.


Uất ức không biết bày tỏ oan tình với ai, anh lực điền nói phẫn với con gái chủ: “Bắt cô trói cột mới đủ sáu”. Rồi anh vào rừng treo cổ lên cành cây tự tử. Gặp giờ linh, anh hóa ra một con chim, bay hết rừng này sang rừng khác, miệng kêu ra rả “Bắt cô trói cột” nhắc lên cái ý anh nói phẫn trước khi bỏ đi vào rừng: “Bắt cô trói cột mới đủ sáu”.


Truyền rằng cô con gái ông phú hộ thấy anh lực điền biến mất, cũng bỏ đi tìm, rồi lạc ở trong rừng và hóa thành một giống chim cũng kêu “Năm trâu sáu cột” ra cái ý là tại sao sáu cột mà lại chỉ có năm trâu.


Bây giờ trong rừng rậm Thái Nguyên, Bắc Kạn, Vĩnh Yên, Phú Thọ, mỗi khi bóng hoàng hôn rủ xuống rừng cây, người ta lại nghe thấy tiếng chim kêu “Năm trâu sáu cột” và lập tức ngay sau đó có tiếng chim khác đáp “Bắt cô trói cột”. Và người ta bảo nhau rằng hai giống chim này lạ lắm, hễ con chim này kêu ở đầu rừng thì con chim kia lánh sang cuối rừng để suốt đời chúng không gặp nhau bao giờ.


 


Người anh em Rốc Lai kể chuyện đến đây xem chừng đã khô cuống họng, nhìn chung quanh xem có còn nước uống không. Anh “hừ” một tiếng, hứng nước mưa vào lòng bàn tay uống một ngụm lớn rồi quay trở vào ngồi vê điếu thuốc hút phì phào. Ba bốn người cùng giục một lúc:


- Gớm, chậm quá. Khuya rồi. Kể đến chuyện chính đi.


Hảo không nói gì, nhưng Dung thì nhìn đồng chí Rốc Lai không chớp mắt, nhưng nàng không giục, chỉ cười mà nói khẽ:


- Hẳn là đồng chí quên mất chuyện rồi hay sao mới trì chậm thế? Hay lại còn phải xếp đặt câu chuyện lại cho có lớp lang?


- Tôi sinh ở cao nguyên, biết thế nào thì nói thế, chớ còn biết bố cục, kết cấu một câu chuyện ra thế nào. Tôi chậm chỉ là vì tôi muốn hút hết mồi thuốc này chớ không có gì lạ hết. Nào, bây giờ bắt đầu câu chuyện huyền thoại về giống chim “Quý Ly, đền tội đi!” mà nó đang kêu the thé lên kia kìa!


Ờ, tại sao lại Quý Ly? Mà Quý Ly mắc cái tội gì mà giống chim này theo dõi đòi nợ gay gắt thế?


Truyền rằng từ khi Lê Quý Ly thao túng được vua Trần Thuận Tôn, Ly lấy lại họ Hồ lên làm phụ chánh. Lúc ấy kinh đô đã dời về Tây Giai. Cơ nghiệp nhà Trần hoàn toàn nằm ở trong tay họ Hồ. Bao nhiêu quyền hành của ông vua ba tuổi rút lại chỉ còn một chiếc ngai vàng khập khễnh với dăm ba viên quan sống để chờ chết, một mặt thì lo làm vừa lòng thiếu đế mà mặt khác thì lại sợ Quý Ly phật ý, tống khứ đi khỏi triều chính lúc nào không biết. Dân gian sống trong sự rên xiết của nhà nhiếp chánh độc tài. Vua có cũng như không. Bất cứ ai nói điều gì chống đối cũng có người rình nghe và bắt giữ. Dân sợ hãi như thuở Ngụy Tần giết học trò. Nghe thấy tiếng trống thu không của quân lính gióng lên, nhà nào nhà nấy đóng cửa kín mít, không dám bước ra ngoài, nhưng đêm đêm sợ quá không ngủ được, người người vẫn ngồi bó gối nhìn qua kẽ liếp trông lên ánh lửa chập chờn trên thành Tây Giai để nói với nhau: “Ấy, lính thay canh”, “Ấy, quan phụ chánh vừa ở triều về”, “Ấy, hôm nay ngựa ở trong thành tấp nập lạ thường thế nhỉ!”.


Quả đúng như vậy. Thành Tây Giai hôm đó nhộn nhịp khác thường một phần vì quan phụ chánh ở triều về chậm, mà mặt khác còn do quan thái bảo Trần Nguyên Hãn, một công thần nhà Trần mở tiệc ăn mừng sanh nhật trên một lầu cao ở cửa Đông.


Đến dự bữa tiệc này, người ta thấy một số lớn văn quan võ tướng của triều đại trước, trong số đó có thượng tướng quân Trần Khát Chân.


Tiệc rượu được nửa chừng, quan thái bảo nhìn lên mặt trăng sáng vằng vặc rồi hỏi mọi người:


- Đêm nay, chỉ có thể nói chuyện gió trăng([1]), nhưng chúng ta sao lại không thể nhân đông đủ anh em tề tựu nói về công việc triều đình một chút? Các vị nghĩ thế nào về quốc tặc Hồ Quý Ly, một tên đại gian đại ác xúi bẩy vua Nghệ Tôn giết hại trung thần, rồi thừa cơ dân chúng bất bình, nhảy ra nắm hết quyền hành trong nước, ngoài mặt tự nhận là phụ chánh mà thực ra thì là cướp ngôi nhà Trần?


Không đợi cho Trần Nguyên Hãn nói hết lời, mọi người có mặt ở đấy nói cùng một lúc:


- Còn nghĩ thế nào nữa? Tất cả chúng tôi đây đều chung một lòng một dạ: tiêu diệt quân phản bội, đập tan chế độ độc tài, tạo một chế độ an lạc và hạnh phúc cho dân chúng. Chỉ hiềm chưa có dịp để hành động mà thôi. Nếu bây giờ có vị nào đứng ra khởi nghĩa, tiêu diệt họ Hồ, chúng tôi nguyện xin theo và thề sẽ trung thành cho đến chết.


Trần Nguyên Hãn gật đầu:


- Các vị nói đúng: chưa có dịp để hành động thật. Nhưng bây giờ cơ hội đã đến rồi, các vị có vui lòng thích huyết tuyên thệ để cùng bắt tay vào đại sự không?


Không có một người nào dùng dằng. Mâm huyết đặt lên bàn thờ, mọi người đều quỳ xuống lễ để cầu xin Trời, Đất phù hộ cho xong việc lớn. Bấy giờ, Phạm Ngưu Tất mới lên tiếng hỏi:


- Vừa rồi quan thái bảo nói rằng cơ hội đã đến rồi, chẳng biết ngài có thể cho chúng tôi biết được ít nhiều chăng?


Trần Nguyên Hãn nói:


- Các vị hẳn còn nhớ từ đời nhà Lý vẫn có hội uống máu ăn thề ở đền Đồng Cổ. Thề rằng: “Làm con không hiếu, làm tôi không trung thần thì Trời tru Đất diệt”.


“Đến đời nhà Trần, các tiên vương ta vẫn theo đúng lệ ấy mỗi năm lại mở hội ăn thề. Hồ Quý Ly cũng không làm trái lệ ấy, nhưng thay vì mở hội ở Đồng Cổ lại làm lễ ăn thề ở Đốn Sơn – một trái núi nhỏ ở làng Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.


“Còn hai ngày nữa thì lễ ăn thề ở Đốn Sơn cử hành, Quý Ly thể nào cũng đến dự. Ta sẽ mời Quý Ly lên lầu Vọng Nguyệt của thượng tướng quân Trần Khát Chân để ngắm gương nga đúng tuổi. Và sau đấy… khỏi phải nói dài dòng, các vị cũng thừa biết ta phải xử sự ra sao…


Nói đến đây, Trần Nguyên Hãn cúi đầu thở dài, nói khẽ:


- Đại sự xếp đặt xong xuôi rồi, chỉ tiếc một điều ta thiếu mất một Kinh Kha.


Cùng một lúc có ba người đứng dậy:


- Thiếu một Kinh Kha sang Tần để hành thích Tần Thủy Hoàng, phải chăng quan thái bảo? Xin ngài chớ băn khoăn. Chúng tôi xin được vinh dự đó.


Nhìn ra thì người thứ nhất là Phạm Ngưu Tất, người thứ nhì là Phạm Tổ Thu, nhưng người thứ ba thì Trần Nguyên Hãn không biết là ai cả. Thấy thế, Trần Khát Chân bước ra thưa:


- Đây là cháu chúng tôi tên là Trần Đông Du. Nó còn nhỏ tuổi, nhưng có chí lớn, xin quan Thái bảo vui lòng soi xét…


Trần Nguyên Hãn xoa tay, nói với Đông Du:


- Cháu thật xứng đáng là con dòng cháu giống. - Đoạn, nhìn cả ba dũng sĩ mà nói tiếp - Ngày xưa, Kinh Kha một mình qua sông Dịch để sang nước Tần giết bạo chúa Thủy Hoàng, mà việc không thành. Bây giờ ta có ba dũng sĩ, chắc chắn mười phần là phải may mắn hơn Kinh Kha và việc lớn nhất định thập phần viên mãn.


 


Đúng ngày hội Đốn Sơn, Hồ Quý Ly ngồi xe bốn lọng vàng, mình mặc áo gấm màu bồ hoàng thêu chín con rồng, rầm rộ tiến về phía chân núi, trong tiếng kèn trống vang rền. Cờ xí bay rợp trời. Dân chúng ở bốn phương gần đó kéo nhau đi xem hội đông như nước chảy.


Đoàn cờ quạt tiến tới trước cửa phủ Lê thì thượng tướng Trần Khát Chân, thái bảo Trần Nguyên Hãn, mũ cao áo chùng đã cúi đầu đứng đón. Quý Ly bước xuống xe, đi vào phủ, hai bên là vệ sĩ theo hầu, gươm tuốt sáng lòa. Chiêng trống, đàn, nhạc vang lên làm rung chuyển cả đồi núi chung quanh. Cờ xí bay rợp cả trời. Trần Nguyên Hãn giơ tay cúi đầu mời quan phụ chánh lên lầu khai lễ.


Tỏ vẻ hài lòng, Quý Ly quay lại bảo các vệ sĩ:


- Cho các người túc trực ở dưới này. Ta là người cứu nước, đem tiến bộ lại cho nhân dân, đâu có phải là Thủy Hoàng khát máu làm cho oán khí bốc cao như cầu vồng, vì thế không thể có chuyện gì đáng tiếc đâu… Các người cứ yên tâm…


Tất cả lỗi lầm bắt đầu từ một hành động vụng về của thượng tướng Trần Khát Chân. Thay vì cùng lên lầu một lúc với Hồ Quý Ly và Trần Nguyên Hãn, Khát Chân lại dùng dằng ở dưới này để chờ đúng lúc ra hiệu cho ba dũng sĩ nhảy lên lầu hành động. Chính lúc ấy, Trần Khát Chân mới nhớ ra là còn thiếu Trần Đông Du. Chân ghé vào tai Tất hỏi nhỏ. Tất trả lời rất khẽ:


- Đông Du ốm nặng, không ngồi dậy được. Có người đến báo trước cho tôi.


Trần Khát Chân hỏi thêm:


- Sao tự nhiên lại ốm một cách đột ngột thế? Thực hay là giả?


Đương nghĩ như thế thì Phạm Ngưu Tất và Phạm Tổ Thu xăm xăm bước lên lầu. Khát Chân chặn lại, không cho lên vội vì chưa kịp nghĩ xem chỉ có hai người thì đã nên hành động hay chưa.


Bất ngờ hành động ấy lọt vào con mắt một vệ sĩ của Hồ Quý Ly tên là Nguyễn Khánh Nguyên. Y nhảy lên lầu trước, nói nhỏ vào tai Hồ. Thấy nét mặt sửng sốt của Nguyên và nghe thấy câu nói nhỏ, Hồ Quý Ly vùng đứng dậy xuống lầu. Gươm của các vệ sĩ lại tuốt lên sáng lòa. Quý Ly ra về thong thả. Trần Nguyên Hãn và Trần Khát Chân tiễn ra tận cửa trong khi ở chân lầu, Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất tức quá ứa nước mắt ra chỉ vì Trần Khát Chân chần chừ ngăn lại không cho họ nhảy lên lầu hạ thủ Hồ Quý Ly.


 


Ngay đêm hôm đó, Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất bị bọn tay sai của Hồ Quý Ly bắt giữ và tra tấn cực kỳ độc ác. Mặc dầu vậy, cả hai đều nhất định không khai một người nào hết. Tay sai của Hồ Quý Ly dụ dỗ:


- Chúng tao đã biết hết những kẻ chủ mưu trong vụ này rồi. Hai đứa mày chỉ là tay sai. Chúng tao đã trình lên ngài phụ chánh. Ngài truyền rằng nếu chúng mày khai thật tên tuổi mấy đứa chủ mưu, ngài sẽ xét lại và tha bổng cho chúng mày về với vợ con để sống lại cuộc đời lương thiện.


Về phần Quý Ly thì vẫn bình tĩnh, không tỏ vẻ nghi ngờ ai hết. Một hôm, Ly cho mời Trần Nguyên Hãn và Trần Khát Chân đến cung Nhân Thọ uống trà và bàn bạc về quốc sự.


Được nửa tuần trà, Quý Ly cười và hỏi Hãn và Chân:


- Theo ý hai ngài, những công việc sửa đổi về học hành, thi cử, về thuế đinh, thuế điền, có điểm nào làm cho dân chúng oán than không?


- Không.


- Còn nói chung về quốc sự thì sao?


- Bây giờ chúa thượng còn ít tuổi, việc quân quốc ở trong tay ngài phụ chánh, mọi công việc do ngài điều khiển cả, chúng tôi còn biết gì mà nói. Còn dân chúng oán than hay không thì điều đó chúng tôi không biết rõ, nhưng ta phải nhận có cái may là quân Chiêm phản trắc đã bị ta bắn chết. Giặc Chiêm Thành đã chấm dứt rồi. Vì thế chẳng có gì phải băn khoăn.


Quý Ly mỉm cười:


- Hai vị nói, tôi tin hết sức. Nhưng hai vị có nghĩ rằng dù sao tôi cũng cứ băn khoăn mãi về hôm hội ở Đốn Sơn. Ờ, nếu hôm ấy vệ sĩ của tôi không biết kịp thời âm mưu thích khách tôi, có lẽ bây giờ việc quân quốc đã thay đổi hẳn, hai vị nhỉ?


Khát Chân và Nguyên Hãn nhìn nhau không nói, Quý Ly tiếp:


- Hôm nay tôi mời hai vị đến đây là để hai vị cùng tôi nghe chính một người âm mưu sát hại tôi nói về công việc mà bọn họ đứng ra làm.


Vừa nói, Quý Ly vừa ngoắc tay cho vệ sĩ dẫn hai người vào quỳ ở trước cung Nhân Thọ.


Trần Nguyên Hãn đứng dậy:


- Hai người này mắc tội gì mà bị đeo đai sắt ở trên đầu vậy?


- Một người tên là Phạm Ngưu Tất, một người là Phạm Tổ Thu. Họ mắc tội gì ư? Xin hai ngài ráng đợi để nghe họ khai sẽ biết.


Thâm tâm Hồ Quý Ly tin rằng cả hai phạm nhân đó, theo lời dụ dỗ của các tay sai khuyển phệ sẽ nói lên hết cả sự thật và khai tên tuổi những người chủ mưu là Trần Nguyên Hãn và Trần Khát Chân, nhưng Quý Ly đã lầm. Xiết cái vòng đai sắt để cho nhiều đinh nhọn đâm chặt vào chung quanh đầu Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất, vệ sĩ của Hồ Quý Ly vừa lớn tiếng hỏi: “Ai xui chúng mày làm điều bất nghĩa, phản phúc?” thì cả Tất và Thu nghiến răng, trừng mắt gạt bọn võ sĩ ra, xăm xăm chạy đến trước mặt Quý Ly như thể muốn ăn tươi nuốt sống, nhưng bọn vệ sĩ túc trực ở điện Nhân Thọ có mặt kịp thời giữ lại, đạp họ nằm xuống đất. Thu và Tất tự nhiên có một sức khỏe phi thường trỗi dậy nhiều lần và nhiều lần sắp xông được đến gần Quý Ly, nhưng sau bọn vệ sĩ thủ thắng, trói tay chân Thu và Tất lại. Cả hai người trợn mắt muốn đứt đuôi con mắt ra, nghiến răng trèo trẹo, chửi rủa Quý Ly tàn tệ:


- Việc chúng tao làm chí nhân chí nghĩa, quang minh chính đại, sao chúng bay dám bảo là bất nghĩa? Chúng tao giết mày là thể theo ý Trời, ý dân, sao lại dám bảo là phản bội? Dân muốn, trời muốn, cần gì ai xui? Mày cứ giết chúng tao đi, nhưng cái oán này còn lâu, chúng tao dù chết cũng vẫn cứ theo mày mà oán mãi.


Uất hận không để đâu cho hết, Hồ Quý Ly ra lệnh cho vệ sĩ xiết thêm nữa, mạnh hơn nữa vòng đai sắt ở trên đầu Thu, Tất. Máu trào ra, óc phun lênh láng cả cung Nhân Thọ. Cầm lòng không nổi, Trần Nguyên Hãn đứng dậy cầm cả bộ khay chén uống trà ném vào mặt Hồ Quý Ly và nói lớn:


- Tất cả công việc này đều do ta. Mày giết biết bao nhiêu công thần nhà Trần rồi, bây giờ còn sót lại vài dũng sĩ, mày lại tàn sát nốt. Trời nào tha tội mày. Oán hận chất chứa lên đầu mày, muôn ngàn năm không gột được.


Chưa nói hết lời, Trần Nguyên Hãn và cả Trần Khát Chân bị đánh ngã gục xuống đất và trói ghì cánh khỉ. Hai hôm sau, Hãn, Chân, Ngưu, Tất với tất cả những người đã thích huyết ăn thề ở trên lầu cửa Đông đều bị đem ra xử trảm. Tính ra có tới hơn bốn trăm người, cả đàn ông, đàn bà, cả ông già, con trẻ bị rụng đầu chuyến đó dưới lưỡi phạng bén như nước của tên đao phủ.


 


Quả không có ngờ đâu mấy lời nguyền của Phạm Tổ Thu, Phạm Ngưu Tất, Trần Nguyên Hãn và Trần Khát Chân thốt ra trước khi chết lại có thể linh đến thế: “Mày cứ giết chúng tao đi, nhưng cái oán này còn lâu, chúng tao dù chết cũng vẫn cứ theo mày mà oán mãi”… “Trời nào tha tội mày! Oán hận chất chứa lên đầu mày, muôn ngàn năm không gột được”.


Những người ở Tây Đô vùng Thanh Hóa lúc bấy giờ nhất quyết rằng quả thật là những người bị tàn sát đó chết rồi mà vẫn không ngớt oán hận Hồ Quý Ly. Họ hóa thành một giống chim rừng suốt ngày đêm kêu lên những tiếng thét làm cho người nghe thấy sởn gai ốc cùng mình, y như thể là cái lệnh: “Quý Ly, đền tội đi!”.


Đồn rằng ngay khi còn nắm quyền thế trong tay, thấy nói có giống chim kêu như thế, Quý Ly đã phái từng đoàn người đi thổi và gài bẫy để giết cho tiệt giống, nhưng họa hoằn lắm mới có một con bị hạ, mà lạ một điều là một con bị hạ thì lại có hàng trăm con khác sanh ra, khiến cho núi rừng mỗi ngày mỗi âm vang thêm tiếng chim kêu: “Quý Ly, đền tội đi!”.


 


Trong một gian nhà cỏ ở cách thành Tây Giai mười dặm, có một chàng trẻ tuổi đầu bịt khăn xanh ngồi giong một ngọn đèn, nghe tiếng chim kêu, thở dài…


Ấy là Trần Đông Du, một trong ba dũng sĩ đứng ra nhận cái sứ mạng hành thích Hồ Quý Ly, nhưng chẳng may mang bệnh trọng bất thần nên không có mặt ở Đốn Sơn vào cái ngày quyết định.


Biết là bọn dê chó của Ly cách gì cũng không tha mình, Đông Du vừa thuyên bệnh liền hóa trang làm một người sơn cước, đội nón tu lờ, mặc áo lá tơi, ngày ngày lên rừng hái củi, vừa đi vừa hát ngao mấy câu nói về “chữ khổ tiết khăng khăng giữ lấy” và “xin Trời Phật phù trì đừng bỏ, để thế gian xem rõ kẻo lầm”. Thổ dân cho rằng người tiều phu ấy điên gàn. Họ đều lầm cả vì dưới cái bề ngoài dở ngây dở dại đó, hàng đêm Đông Du vẫn ra những khe suối mài kiếm ở dưới trăng và uống sương tuyết để nuôi chí cho bền, đợi một ngày “sinh tử” diệt kẻ bạo tàn và rửa cho trắng cái nợ máu của các anh em đồng chí.


Hàng đêm, nghe thấy tiếng chim kêu “Quý Ly, đền tội đi!”. Đông Du cầu Trời khấn Phật cho cái ngày “quyết định” tới mau lẹ, và có nhiều đêm chàng đã mơ thấy chính mình bay lên trời, rồi hạ xuống giẫm nát cung Nhân Thọ, nắm lấy đầu Quý Ly lên như một vị thần cao lớn trượng phu xách một con chuột trên tay, đập đầu nó vào khe núi cho máu trào ra, óc lầy ra, trước sự chứng kiến của bao nhiêu oan hồn không siêu thoát được vì uất hận.


Nhưng ngày quyết định ấy chưa tới thì quân Minh ở phương Bắc, mượn cớ giúp Trần diệt Hồ, cử hai tướng Trương Phụ và Mộc Thanh sang đánh nước ta. Trước cái nạn xâm lăng của ngoại nhân tham tàn và khát máu, Hồ Quý Ly không cần chọn lựa đắn đo gì cả, kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên chống xâm lăng, nhưng vì dân ta bị rên xiết dưới ách độc tài trong ba bốn năm trời còn mê hoảng chưa tỉnh hẳn nên liên tiếp thua nhiều trận.


Hồ Nguyên Trừng bị thua nhiều trận lớn ở sông Mộc Thâm. Nghe thấy thế trận mỗi ngày một nguy nan, Đông Du không trù trừ nữa, nhất định xuống núi, và gia nhập quân đội của Hồ chống trả oanh liệt quân Minh khát máu tanh lòng, giết hại nhân dân ta một cách cực kỳ mọi rợ. Lưỡi kiếm mài ở dưới trăng trong mấy năm trường quả là sắc bén gớm ghê và từng làm cho nhiều tướng nhà Minh thất điên bát đảo, nhưng con cọp dù mạnh đến chừng nào cũng khó đánh bại được lũ cầy bọn cáo. Da ngựa bọc thây chàng sau một trận đánh ác liệt vào một ngày tàn thu có gió heo may thổi vi vu như khóc ở trên dẫy lau cao.


Thành Đa Bang và Đông Hồ bị thất thủ. Nắm được ưu thế chiến trường, quân Minh tung thêm viện binh và đánh một đòn quyết liệt ở Hàm Tử Quan. Mặc dầu Quý Ly đã xuất toàn thủy lục quân ra quyết chiến, quân Hồ cũng bị đánh tơi bời. Và Quý Ly cùng con cháu đều bị bắt giải sang Tàu, trên con đường chạy về Hà Tĩnh.


 


Không ai biết Quý Ly bị quân Tàu làm hại cách nào và chết ra sao, nhưng cùng lúc Quý Ly bị bắt thì cái hồn không tiêu tan được của Đông Du cùng đồng chí thân cận của chàng cũng hóa ra một giống chim tựa như loài chim “Quý Ly, đền tội đi!”, nhưng kêu khác hẳn – kêu: “Tội gì? Tội gì cũng xóa!”.


Bây giờ, những người già lão đốt lửa lên sưởi, uống nước vặt ban đêm, nghe thấy tiếng chim đó kêu thét lên trong mông mênh im lặng, bực quá, vẫn hay nguyền rủa, còn con trẻ thì lấy đá ném đuổi chim đi. Là vì các vị già lão cho rằng con chim đó, hậu thân của Đông Du là một giống chim phản phúc. Theo họ, sở dĩ nó cứ kêu sa sả lên như thế là vì nó biết thiên hạ khinh khi nó nên nó tìm cách để than oan cho mình và cố cãi là mình không có tội gì – mà ví có tội chăng nữa thì chết tội gì cũng xóa.


Về sau có một người ngồi nghe tiếng rừng đêm, để ý tiếng chim này, nghiệm thấy rằng nó không đột nhiên kêu“Tội gì? Tội gì cũng xóa!” nhưng bao giờ cũng kêu ở góc rừng này khi nghe thấy ở góc rừng kia có tiếng kêu “Quý Ly, đền tội đi!”. Bèn đem câu chuyện ấy ra kể lại với những người già lão đốt lửa sưởi và uống nước vặt ban đêm, rồi quả quyết như sau:


- Tôi e rằng từ trước chúng ta đã bàn luận sai lầm về giống chim “Tội gì”, thưa các cụ.


- Ông thân oan cho nó? Vậy ông có cảm nghĩ ra sao, còn đợi gì mà chẳng nói?


- Một lời nói là một đọi máu. Ta phải rất thận trọng trong việc suy diễn tiếng kêu của giống chim “Tội gì” mới được. Theo thiển kiến, nó kêu lên như thế không phải là để nói lên việc Đông Du sau khi không làm được việc lớn đã muối mặt đi theo quốc tặc Hồ Quý Ly.


“Không, Đông Du, trong hậu thân của con chim kêu lên “Tội gì? Tội gì cũng xóa!” muốn nói lên một ý nghĩa lớn lao hơn thế: Nếu ở gầm trời này chỉ có nhà Hồ thì ta và họ Hồ đời đời kiếp kiếp không đội trời chung. Nhưng sự đời đâu lại chỉ đơn giản như thế. Bọn rợ phương Bắc, mang chiêu bài nhà Minh và gắn vào mồm danh nghĩa diệt Hồ để phò Trần, đã đổ quân sang tiêu diệt dân ta với ý đồ cướp nước ta để làm một nước chư hầu nô lệ. Hồ Quý Ly đã đứng ra đánh quân rợ phương Bắc xâm lăng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, như thế tội gì trước đây mà không xóa được? Giữ nước để cho dân không phải vục mặt cúi đầu trước ngoại nhân, như thế ta phải thờ, chứ sao?. “Tội gì… Tội gì cũng xóa!”, thưa các cụ, “con chim phản phúc” nó kêu lên như thế đấy, các cụ nghĩ thế nào?


 


Bắt đầu từ đêm ấy, người sơn cước lắng tai nghe thì quả thấy có tiếng kêu: “Quý Ly, đền tội đi!” ở đầu rừng thì liền khi đó ở cuối rừng có tiếng chim khác đáp theo: “Tội gì? Tội gì cũng xóa!”.


Ngoài kia là rừng âm u mịt mù. Có người ngồi đốt lửa sưởi ở trong này nghe rõ hai thứ tiếng chim kêu như thế, tự nhiên thấy chơi vơi, tự nhiên thấy bùi ngùi muốn khóc.


Ở đời, có những cái lạ như thế đấy: buồn khóc, vui cũng khóc, trái khóc, mà thấy phải cũng khóc luôn. “Quý Ly, đền tội đi!” – “Tội gì? Tội gì cũng xóa!”.


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info




 







([1]) Thử dạ duy khả đàm phong nguyệt.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »