tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28893032
Tiểu thuyết
22.01.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ nhì


ĐÓA BẰNG LĂNG TRÊN SUỐI BẠC


Người kể câu chuyện huyền thoại thứ nhì là một người bạn trẻ bí danh Hoa Vàng. Lúc Nhật hàng, Việt minh lên cầm quyền, anh làm Văn hóa cứu quốc. Lúc diễn ra câu chuyện này, anh là một cán bộ có chất lượng ở trong ngành giáo dục, nhận công tác tìm tòi tài liệu hầu cung cấp cho một hệ thông giáo tài, nhằm nâng cao trình độ văn hóa của tất cả những người ham học.


Hoa Vàng bắt đầu:


- Câu chuyện tôi sắp kể đây do một ông cụ già bảy mươi hai tuổi kể cho tôi nghe khi tôi nhận công tác ở trong Nam vào lúc Nhật còn làm mưa làm gió. Tôi đã tới vùng xảy ra câu chuyện để xem lại các di tích còn sót lại thì thấy ở trên núi Heo còn dấu một bàn chân trái và ở trên một núi khác gần đó, dấu của bàn chân phải của vị thần mà cụ già kể chuyện cho biết là đã ném viên đá khổng lồ lên cây bằng lăng đôi.


- Sao anh không nói rõ câu chuyện anh kể xảy ra ở vùng nào? Mà tại sao lại có chuyện dấu tích hai bàn chân đó?


- Đâu cũng là đất nước mình, không cần phải nói rõ địa danh làm gì. Truyện xảy ra đích ở vùng nào thì vẫn chỉ là thế, chớ cũng không hơn hay không kém hơn chút nào, phải không các anh các chị? Tôi chỉ nói tại sao lại có dấu tích hai bàn chân ở trên hai trái núi. Mà tại sao lại có người liệng viên đá tảng lên cây bằng lăng đôi để cho tảng đá kẹp vào chỗ tẽ ra của thân cây đến bây giờ? Xin chớ nôn nóng, tôi phải kể chuyện từ đầu mới được.


Cách đây lâu lắm rồi, ở một vùng cao nguyên nọ, có một cặp vợ chồng đã già rồi mà không có con trai. Hai ông bà đêm ngày cầu nguyện có một người con trai nối dõi, mà không phải chỉ cầu nguyện Trời mà thôi. Đối với con người lúc bấy giờ, tư tưởng trừu tượng được coi là thực thể cho nên trái núi, ngọn cây, dòng suối, bông hoa, con cầy, con sấu cũng thành ra những vật thiêng liêng có một quyền năng ghê gớm do loài người gán cho.


Hai ông bà cầu xin cả núi, cả mây, cả sông, cả biển, cầu xin luôn cả cây cỏ, cả hoa lá, cả hùm beo cho họ một đứa con trai, nhưng vô ích: vẫn chỉ có một người con gái. Cô gái này đẹp như mặt trăng, tóc xõa ra đen như đêm, đôi môi đỏ chót như lòng dưa hấu. Có người nói rằng mỗi khi cô cuộn bức rèm lên đứng ngó ra ngoài rẫy thì con sóc không bám chặt được vào cành cây nữa, con chuột quên cào đất, con rắn hổ mang chui ra khỏi lỗ để nằm giương mắt ra nhìn. Còn nếu nàng lại cất tiếng hát rù rì một mình! Người ta quả quyết rằng hươu nai nhút nhát nhất cũng phải dừng bước lại để nghe, con hoẵng quên gặm chồi non của cây cối, bao nhiêu chim chóc đều say sưa mê mệt những âm thanh huyền diệu.


Một người đẹp đến như thế làm thế nào để cho có một người chồng tương xứng bây giờ? Không biết bao nhiêu chàng trai, không biết bao nhiêu người lớn tuổi có địa vị, không biết bao nhiêu bậc quan quyền tiền bạc từ xa đến hỏi xin nàng về làm vợ nhưng nàng đều từ khước, viện cớ không có anh trên em dưới, phải ở nhà để phụng dưỡng cha mẹ già yếu. Tất cả những ai thương tưởng đến nàng, nàng đều cảm tạ, nhưng nàng chỉ có thể nghĩ đến vấn đề gia thất khi nào cha mẹ nàng cưỡi hạc quy tiên.


Nói đến như thế thì có thương yêu cách mấy cũng đành phải chịu, chớ còn biết nói năng làm sao bây giờ. Ai cũng đợi chờ, ai cũng xây mộng ước mơ, ai cũng mong rằng mình sẽ là người được nàng đoái hoài tới. Nhưng tất cả đều chưng hửng vì một buổi sáng nọ có tin nàng đã nhận lấy một người khác xứ, không ai nghe thấy nói đến bao giờ.


Ai cũng hỏi:


- Người có diễm phúc ấy là ai vậy?


Ai cũng hỏi nhưng không ai biết hết. Mà biết làm sao được bởi vì trong cuộc hôn nhân bất ngờ này chỉ có nàng và vị hôn phu ấy biết mà thôi!


 


Câu chuyện bắt đầu một cách rất tầm thường, không có gì đặc biệt. Là vì thế này: ở đằng sau nhà nàng có một cái suối nước trong văn vắt, hoa lá um tùm kết lại thành một cái bồn cây kín đáo, quanh năm suốt tháng có cỏ thơm và hoa tiết ra một mùi hương ngạt ngào. Bao nhiêu chim trong rừng, vào buổi bình minh đều bay cả lại đấy ca hát ríu ran để mừng ông mặt trời mới mọc.


Ngày nào cũng vậy, cứ đúng vào lúc ấy thì nàng đi ra tắm ở khúc suối thơm ngát hoa hương. Tắm như thế đã bao nhiêu lâu rồi nào có chuyện gì lạ xảy ra đâu, ấy thế mà không hiểu tại sao hôm đó, thần Cây, thần Núi, thần Suối, thần Chim lại khiến có một chàng trai không biết từ đâu đến trông thấy từ lúc nàng thoát xiêm y cho đến lúc nàng đùa giỡn với làn nước xanh ngăn ngắt…


Người con gái vốc nước vào lòng bàn tay vừa đưa lên cho nước hôn hai trái đào tơ thì không hiểu vì sao lại ngẩng đầu lên nhìn một ngọn cây cổ thụ đứng ở trên bờ cỏ soi bóng lá xanh xuống nước gương. Thoạt đầu, nàng tưởng mình được sống một chuyện thần thoại mà mẹ nàng vẫn kể cho nàng nghe lúc nhỏ. Nhưng không. Chàng trai ngồi ở trên cây không phải là một vị thần đeo cái khố mười màu có thêu bông hoa Ka u, đầu chít khăn vàng đen có hoa ê mê, mà chỉ là một chàng trai bình thường, vẻ mặt buồn hiu, ra cái dáng một người nghèo khó sợ sệt trước sắc đẹp não nùng và sự giàu sang kiểu cách của người con gái.


Vội vàng lấy cái váy áo ra quàng lấy thân ngà, nàng ra hiệu cho chàng nọ trèo ở trên cây xuống:


- Sao anh lại ở đây? Là con trai mà lại trèo lên cao để nhìn trộm con gái đàn bà tắm rửa, anh có nghĩ rằng như thế xấu lắm không?


Chàng trai trẻ tuổi đỏ mặt, chắp tay lại nói:


- Cô nói như vậy, quả thực oan cho tôi quá. Dù là một kẻ nghèo hèn dốt nát, tôi cũng vẫn nhớ rằng ông nội tôi, lúc tôi còn nhỏ, vẫn ẵm tôi đặt lên đầu gối mà rằng: “Cháu ơi, mình nghèo khó thực nhưng bao giờ cũng phải giữ lòng trong sạch để cho xứng đáng là con cháu của Mặt Trời, Mặt Trăng. Điều hèn đốn không bao giờ làm; điều tốt đẹp hiên ngang thì chẳng đợi ai mời, mình cũng phải tự động xin làm cho kỳ được, cho thật nhiều. Có như thế thì Trời mới cho lên đi “Con đường đi của linh hồn”([1]) sống an vui ở thiên đình, khỏi phải hóa thành ra ma quỷ xanh lè có những răng nanh vừa dài vừa nhọn.


- Anh nói nghe hay lắm, thế thì tự nhiên ở đâu lại trèo lên cây này nhìn tôi tắm rửa?


- Thực tình tôi không nhìn. Mà lúc trèo lên cây này, tôi không hề được biết rằng cô tắm ở đây. Đây là lúc phải nói thực để tỏ nỗi lòng chân thật, vậy tôi không sợ chê cười, mà cũng chẳng sợ cô khinh rẻ, tôi nói tất cả sự thật để cô nghe. Thưa cô, tôi là một người con trai nghèo khó, đi tìm sự nghiệp bỏ nhà đã lâu ngày. Tôi vào rừng học phép trường sinh bất tử. Nhưng đi mãi chẳng tìm thấy tiên thánh ở đâu; tôi quay về để tạ lỗi với cha mẹ. Không may lúc đi qua đây thì trời tối. Rất có thể tôi đến xin một nhà giàu có nào đấy cho tôi một chén cơm và tá túc một đêm để mai sớm lại lên đường, nhưng trông thấy quần áo mình rách rưới, soi bóng xuống nước thì mặt mũi mình tiều tụy, tôi không dám. Chợt thấy gốc cây này to lớn mà ở chỗ tẽ ra lại rộng rãi đủ một người nằm, tôi bèn trèo lên để nghỉ chân, đợi qua đêm đến sáng thì xuống để lại tiếp tục đi. Chẳng may, cô lại ra đây tắm sớm. Tôi không biết làm thế nào khác hơn là ngồi im để đợi…


Nghe câu chuyện, cô gái bỗng cảm thấy buồn tê ở trong lòng. Nàng vận quần áo, chải đầu rồi cũng kể cho người con trai nghe câu chuyện đời mình:


- Tôi là con gái, từ nhỏ đến giờ chưa hề nói chuyện với một người đàn ông nào lạ mặt. Có những người có nương rẫy đầy cả sườn núi, có trâu bò đông như kiến đen, có đầy tớ nhiều như ốc sên trong rừng; có những người có địa vị đi đâu thì có một trăm người đi trước, một ngàn người theo sau, trong nhà đầy những cồng những chiêng; có những người có thế lực đầu chít khăn vành, gáy đẹp như quả cà tím đã chín, đánh lên một tiếng cồng thì cả ngàn người cúi đầu dạ ran… Anh à, tất cả những người ấy đều muốn cưới tôi về làm vợ nhưng đối với hết thảy, tôi đều từ khước. Tại sao thế? Chính tôi cũng không hiểu. Để đến ngày hôm nay, tôi gặp anh trong một trường hợp hết sức là kỳ lạ. Khiến cho anh thấy tận mắt xác thịt tôi, những chỗ kín đáo của tôi, khiến cho tôi tự nhiên phải mời anh từ trên cây trèo xuống với tôi và tôi nói chuyện với anh.


“Con gái mà nói chuyện với con trai ở một nơi kín đáo, có lẽ là điều không tốt. Phải không anh? Do đó, tôi nghĩ rằng tôi ít nhiều gì cũng bị thất tiết với anh rồi, tôi không thể làm điều gì khác hơn là lấy anh vì tôi không thể lấy một người nào khác ngoài anh ra.


Nghe thấy người con gái nói như thế, chàng trẻ tuổi run rẩy, thưa lên:


- Cô có lòng thương, chỉ bảo cho như thế, tôi chân thành cảm tạ. Nhưng tôi xin cô nghĩ lại, quả là tôi không dám, vì tôi nghèo khó, lại không có sự nghiệp gì mà cô thì sinh trong một gia đình giàu có, lại có nhan sắc làm cho cây thùy liễu phải hờn giận vì không xanh tốt bằng, hoa hướng dương phải ghen vì không rực rỡ bằng… So hai cảnh ngộ rồi lại so hai con người với nhau, tự hỏi đã thấy chênh lệch quá lắm rồi, tôi xin nói là tôi không có dám chấp nhận lòng ưu ái của cô. Tôi có thể làm một gia nhân dắt ngựa, chăn voi chứ không bao giờ dám làm một người bạn gối chăn của một nàng tiên giáng thế.


Bao nhiêu luận cứ của chàng trai trình bày ở bên tai người con gái đều vô ích. Ý nàng đã quyết rồi: nếu cuộc hôn phối không thành, nàng chỉ còn có cách chết để giữ cho toàn tiết trong, giá sạch.


Thế rồi, ngay khi đó, nàng về đem hết câu chuyện xảy ra kể lại cho bố mẹ nghe. Cả hai ông bà đều chẳng sửng sốt ngạc nhiên gì hết, vì họ cho rằng cuộc tình duyên diễn ra đột ngột như thế không phải sự tình cờ, nhưng chính là do các vị thần linh ở trên trời xếp đặt, mà trái ý các vị thần linh tức là mang họa vào mình, con cháu rồi ra chỉ quét cứt ngựa, cứt voi cho nhà giàu. Hai ông bà liền cho gọi chàng trai kia lại. Hỏi thăm gia thế. Thấy chàng đối đáp thực thà, mặt mũi lại sáng sủa, đi đứng hiên ngang, vẻ ra người hùng mạnh, ông bà chiều ý con gái, chịu liền và ngày hôm sau bỏ tiền bạc ra sắm sanh lễ vật, mở tiệc linh đình làm đám cưới cho con gái.


Bất kỳ người lạ hay người quen đều đến dự đám cưới nàng. Tính ra thì uống tới sáu chum rượu cao lớn, một trăm con gà đẻ trứng đưa ra làm thịt, còn gạo trắng như bông hoa ê pang thổi xôi có tất cả đến hơn hai trăm nồi đại…


Chàng trẻ tuổi ở lại nhà vợ làm lụng từ sáng cho đến tối. Đến chiều nghỉ tay, ngồi trên đồi nhìn xuống, chàng trông thấy đường sá trong trang trại nhà vợ rộng thênh thang, vết chân voi, chân ngựa chằng chịt như sợi thừng đan chéo, còn đầy tớ trai đầy tớ gái, ngực chạm ngực, vú chạm vú, đi lại đông vô số kể. Tự nhiên chàng thấy lòng như nở hoa, đi thong thả về nhà mà tưởng chân mình nhảy múa như con sáo mỏ vàng nhảy múa trên cái sân đầy những sào phơi quần áo nhiều màu bay phất phới trong nắng chiều rắc những tia vàng óng ánh.


 


Nhưng tất cả những cái gì đẹp quá ở trần đời có bao giờ tồn tại lâu la bao giờ?


Ba tháng sau, có một bọn rợ không biết từ đâu lại liên tiếp đổ bộ lên vùng đất êm ả này. Chúng đông đảo như lá cây rừng và tiến đi thành hàng dài, dài như tiếng ngân của một chiếc cồng. Một lệnh khẩn được ban ra giữa đêm khuya khoắt, bao nhiêu chàng trai lớn bé trẻ già trong tất cả các làng xóm ở đó và ba trăm dặm ở chung quanh đó đều được động viên để đi đắp thành lũy ngăn cản quân giặc, để cho chúng không thể nào vào sâu nội địa cướp của giết người, chiếm cứ đất đai của Trời dành cho họ và làm kinh động các vị thần đã nuôi dưỡng và săn sóc cho muôn loài được tốt đẹp như bây giờ.


Chàng trẻ tuổi cũng phải ra đi xây thành đắp lũy. Truyền rằng nơi đó có nhiều cọp ăn thịt người, rồi bỏ xương ở hai bên bờ suối để rồi năm nọ qua tháng kia, xương ấy chất cao lên thành núi, hóa ra những con tinh tánh dữ tợn, nhiều người kế tiếp nhau trương bụng lên rồi gục xuống trước khi thành lũy đắp xong. Tuy nhiên, bao nhiêu cái chết rùng rợn, thê thảm đó không làm nản chí những người đàn ông làm việc bất phân mộ dạ nơi công trường.


Thế rồi thành lũy cũng xây xong và cản được bọn rợ từ phương xa đến, đồng thời dân chúng mỗi ngày mỗi căm hờn bọn người lạ mặt đến giết người cướp của, quyết tâm chiến đấu nên đẩy lui được chúng ra biển làm cho nước biển đỏ ngầu lên và ứ đọng trong ba ngày liền.


Hòa bình trở lại, trẻ con người lớn hát những bài trường ca uyển chuyển như mây goul pong, và tiếng hát vang âm cả núi rừng làm cho mây tìm gió để ái ân, nước đi tìm non để trút bầu tâm sự, và các cô gái còn son đi kiếm những chàng trai tình tứ thủ thỉ niềm thương nỗi nhớ.


Cô con gái của chúng ta đợi mãi không thấy chồng về, quyết định xin phép cha mẹ đi tìm chồng. Nàng yên trí là chồng nàng sở dĩ chưa về được là vì công việc xây thành đắp lũy chưa hoàn tất, thành lũy cần phải xây thêm nhiều nữa, kiên cố gấp trăm ngàn lần nữa vì bọn rợ ngoan cố rất có thể quay trở lại.


Cha mẹ nàng hết lời ngăn cản nhưng nàng không nghe. Không quản ngại thiên sơn vạn thủy mà cũng chẳng hề sợ hãi những tinh ma độc ác đợi chờ ở đầu bãi cuối sông, chân sim bóng đá, nàng con gái chung tình, cứ đi, đi mãi, đi một thân một mình đến chỗ mà bao nhiêu công dân yêu nước được huy động để làm cái công việc thiêng liêng cứu nước.


Ròng rã ba tháng trời, nàng đến được công trường. Nghe lời người trong vùng kể lại, thì thành lũy xong tự nửa năm rồi, nhưng tính ra thì có hàng vạn người vì lao lực quá, vì dãi nắng dầm sương quá, vì yêu tinh phá phách quá, đã gục xuống ở ngay dưới chân thành. Nhờ có những người đứng trông nom công trường có lương tâm nên xác của những người thiệt mạng không bị nhận chìm xuống dưới sông hay băm ra trộn với vôi vữa để xây tường vách. Tất cả đều được chôn cất tử tế và trên mỗi nấm mộ lại có để một thanh tre ghi tên tuổi người xấu số để làm dấu cho sau này họ hàng thân quyến của những người ấy dễ đến mà nhận xác.


Chàng trẻ tuổi của chúng ta là một trong những người đã bỏ thân trong khi đào lũy xây thành dưới mưa dầu nắng lửa. Người vợ từng vượt ngàn trái núi, qua hàng vạn con sông để tìm chồng, tưởng là gặp được chồng để cùng dắt nhau về sống với nhau như chim liền cánh, như cây liền cành, không bao giờ cách xa nhau nữa, bây giờ đây chỉ còn thấy sè sè trước mặt một ụ đất có vài ngọn cỏ áy rung lên nhè nhẹ dưới gió chiều hiu hắt buồn. Biết làm sao bây giờ? Thôi, chỉ còn cách là gạt nước mắt, bốc cái mả rầu rĩ lên và lượm lấy mớ hài cốt để đưa về mai táng ở quê nhà.


Nhưng trên đường đi thì trắc trở gập ghềnh, rừng núi lại âm u, mưa nắng thất thường, có khi khí núi bốc lên, giơ tay ra trước mặt mà không thấy cả ngay chính tay mình nữa, đi một mình đã gian khổ lưu ly, thế mà còn mang thêm ở tay một cái bọc lớn đựng hài cốt của chồng nữa, e kềnh càng quá. Nàng bèn đi đến một cái khe nọ có người ở lác đác, xin củi hỏa thiêu hài cốt của chồng, theo phương pháp của người sơn cước. Và sau một đêm một ngày, hài cốt ấy biến thành tro than, bới lên chỉ còn vài đốt ngón tay bé nhỏ. Tất cả, nàng cho vào trong một cái lọ sành đậy kín miệng lại rồi cho vào trong khăn gói, xách mang đi trong tiếng ve kêu sầu, vượn hót nỉ non.


Lá vầu và hoa ngải gió rụng xuống phủ kín các con đường rừng đầy vắt báo tin hè đã hết, trời bắt đầu sang thu. Người đàn bà chung thủy ngày đi đêm nghỉ, không một lúc nào than van vất vả, không một lúc nào ngại khó vì ngăn núi cách sông.


Một buổi sáng đìu hiu lạnh, nàng ở trong rừng rậm ra đường đi trong một vùng ánh sáng bạc màu chì, bỗng thấy đường đi bế tắc. Trước mắt nàng là một con suối chảy lờ đờ, còn hai bên bờ thì là hai ngọn núi cao chót vót, khí bốc lên mù mù như sương khói. Cố tìm lấy một đường mòn để đi sang bên kia không có, nàng đành phải lội xuống suối để đi. Nước suối trong văn vắt nhưng lạnh tê băng giá, dúng hai bàn chân xuống nước, buốt lên đến ruột. Nhưng nàng cũng không ngần ngại, cứ xuống để đi. Ở chỗ thật sâu, nước chỉ lên đến đầu gối, nhưng gian nan vất vả không phải là điểm đó, mà chính là vì con suối này dài và rộng, đi từ sáng sớm đến trưa, không biết có sang được bờ bên kia không. Nàng con gái suy nghĩ một giây rồi cứ rảo bước đi như thường.


Có hai con chim lúc ấy vừa tắm xong, đứng rỉa lông rỉa cánh cho nhau, thấy người con gái lặn lội gian nan như thế, rúc đầu xuống hót ríu ran.


Thiếu phụ nhìn đôi chim, cúi đầu tiếp tục lội trên dòng suối, không chút mảy may cảm động. Những cảnh no đôi đủ lứa như thế không hề làm cho nàng cảm động và suy nghĩ vẩn vơ bao giờ. Cách đây ít lâu, có biết bao nhiêu người đàn ông thấy nàng sống cô chích đã đánh tiếng đến xin nàng về làm vợ, viện cớ chồng nàng đi xây thành đắp lũy như thế, một là chết, hai là đi không biết bao giờ về, cứ thủ tiết đợi chờ như thế thì mấy lúc mà tầm non quá lứa thành ra con nhộng.


Người thiếu phụ xa chồng nhất thiết chỉ cười mà không đáp ứng lời cầu xin nào cả. Lòng chung thủy của nàng thấu lên đến Trời khiến cho các thần cũng phải nao nao xúc cảm. Hầu hết đều tin rằng lòng thủy chung và nền tiết hạnh của người đàn bà ấy sẽ sáng như nhật nguyệt và trường tồn cho đến khi đầu bạc răng long. Một số thần khác lại không tin như thế. Không biết phân xử cho bên nào được, bên nào thua, Trời bèn truyền mở một cuộc thử thách cuối cùng để xem lòng kiên trinh, chung thủy của thiếu phụ lên cao đến chừng nào.


 


Ở trên trái núi bên mặt con suối có một cây bằng lăng sống đã mấy ngàn năm. Người ở vùng đó kêu núi ấy là núi của ông Hoàng Cam, còn con suối thì kêu là suối Bạc. Suối Bạc là một nhánh của con sông Kõm không biết bắt nguồn từ ở đâu, nhưng sông này to lắm và dài lắm – dài đến nỗi có người bảo rằng bắt nguồn từ ở trên trời, cứ đi ở triền sông, đi mãi, đi mãi, từ lúc trẻ cho đến lúc già mà vẫn chẳng thấy đâu là đầu sông, đâu là cuối sông. Đến ngã ba Da Ma, con sông tẽ ra làm hai nhánh: một đi về phía Việt Nam, còn một đi sang Lào hay Miên không rõ.


Chỉ biết rằng đến Da Ma, cái nhánh sông Kõm về phía Việt Nam tự nhiên thắt cổ bồng, thắt lại mãi để rồi chỉ còn hẹp như cái lạch. Thổ dân kêu con suối đó là suối Bạc để chọi với nhánh sông bên kia mà họ kêu là suối Vàng. Suối Vàng lớn hơn suối Bạc nhiều, nhưng nước suối Bạc trong văn vắt, khác hẳn nước suối Vàng quanh năm vàng vọt như màu nghệ.


Cây bằng lăng cổ thụ ở trên núi ông Hoàng Cam hiên ngang mọc chót vót ở gần đỉnh chọc trời. Tàn lá sum suê che mất cả một dặm đường sỏi đá. Nhưng đến gần, ngọn cây tẽ ra y như thể bị sét đánh mất đầu, rồi từ chỗ tẽ ra đó những cành to lớn và dài thòng đâm xiên ngang và rũ mãi ra cho tới tận những cây ô ma mọc ở bên bờ suối Bạc. Những hôm trời gió, lá cây bay rào rào cuồn cuộn y như hòa với nước suối reo để hát một bản hùng ca có nhịp điệu của miền cao nguyên dũng mãnh.


Thì ra Trời Phật, thần thánh đã định thử người ta thì sự thử thách đó quả cũng có khác thường nhiều. Chính giữa lúc thiếu phụ mang cái lọ sành đựng tro than hài cốt của chồng lội con suối Bạc, đến chỗ trông sang núi ông Hoàng Cam thì lá cây bằng lăng rung động dạt dào như thể múa vũ trong một buổi liên hoan hát mừng ánh sáng.


Bao nhiêu lộc non mới chớm, y như thể có một thứ nhựa lạ kỳ thúc đẩy, đột nhiên vươn lên và trổ thành những lá non cũng đu đưa như cùng hòa theo vũ khúc.


Thế rồi thì suối reo vui, chim khúc khích cười, vượn hát ru, cỏ bạc đầu thủ thỉ tâm tình, lau sậy hiu hiu buồn sát lại gần nhau để ấp ủ cho lòng đỡ lạnh…


Ơ kìa, về quá phía dưới kia, lại có tiếng gì nghe như tiếng nhã nhạc từ thiên tiên vọng tới? Đó là tiếng ca bất tận của suối Bạc vỗ vào chân núi đá, lập đi lập lại điệp khúc mê ly nửa như mời người ta tận hưởng những phút giây đương có, mà nửa như chế nhạo người đàn bà cô chích đi một thân một mình trong rừng già:


Non nước hơi sương mờ mịt phủ,


Xóm làng lửa đóm lập lòe soi.


Đường xa nào bạn ai quen thuộc?


Lối cũ riêng mình phận lẻ loi!


Thế rồi tự nhiên ánh sáng lóe ra trong tàn lá sum suê của cây bằng lăng xanh mươn mướt như nhung.


Từ các nhánh lá con, những nụ hoa tự nhiên vụt trỗi lên như nhụy đào của những cô gái tuyết trinh và chỉ trong nháy mắt căng lên một thứ nhựa đa tình để bừng nở như chờ đợi những giọt sương ân ái.


 


Người thiếu phụ dừng bước lại, lắng tai nghe tiếng nhạc của hoa lá vi vu trong mây trời. Thì đúng giữa lúc đó có một bông hoa bằng lăng màu đỏ cánh sen từ trên cao rụng xuống ở ngay chỗ nàng đang lội, bập bềnh trôi theo dòng suối xanh xanh; thế là nàng bị dụ hoặc liền: tiếng suối reo, tiếng vang âm của rừng, tiếng chim cười, tiếng lá rì rào kể lể tâm tình, tiếng rền rĩ của ánh sáng tách từ những đám mây ra… tất cả, tất cả đều ngừng lại và tự nhiên trời đất bao la im lặng một cách lạ kỳ. Thì ra đóa bằng lăng màu cánh sen đã làm cho nàng mê mẩn tâm hồn, nàng chỉ chan chứa có bông hoa đẹp lạ lùng, ngoài ra, không còn nhận thấy bất cứ cái gì ở chung quanh mình.


Bây giờ, đi về những vùng rừng núi, hay bờ biển, ta vẫn còn thấy những cây bằng lăng to lớn xòe những tàn lá có lông như thách thức sóng to gió lớn, mà lại như kiêu căng với người đời vì những ích lợi vô cùng của vỏ cây chữa được bệnh tiết tả, trái cây và lá cây trị được bệnh đái đường, nhưng hoa bằng lăng bây giờ thật quả không có cách gì mà so sánh được với hoa bằng lăng ngày trước, lúc xảy ra câu chuyện này.


Bông hoa bằng lăng bập bềnh trôi ở trên dòng suối xanh xanh lớn bằng năm bằng bảy hoa bằng lăng bây giờ, mà đặc biệt là hoa nào nở ra cũng phơn phớt màu cánh sen huyền ảo, chớ không bao giờ người ta lại thấy bông trổ ra màu tím lợt như bây giờ.


Bây giờ, hoa bằng lăng sắc tím nở đủ mùa, bất phân thời tiết; ngày xưa, không thế: có nhiều khi cả một đời cây mà không có được một bông hoa. Những cây quý lắm, mươi mười hai năm mới có một bông trổ ra theo đọt nhánh. Truyền rằng hoa nở như thế là điềm an lạc, thái bình, no cơm ấm áo, cũng như giống kỳ, giống lân xuất hiện là điềm lành báo cho dân gian ngày trước biết là có thánh chúa ra đời.


Một bông hoa nở ra như thế thường tươi tốt luôn trong mấy tháng trời không héo úa. Có những người đã được thấy hoa bằng lăng màu cánh sen, thuật lại rằng hoa ấy lớn còn hơn cả mẫu đơn, mà đặc biệt là ban đêm lại tiết ra một thứ ánh sáng huyền ảo như sữa của sông Ngân Hà, mà nếu ai có phúc có phần, thì lại còn có thể nghe thấy rõ ràng tiếng ánh sáng ấy rung động và tiết ra một thứ nhã nhạc vô cùng kỳ ảo. 


Có lẽ người thiếu phụ không biết những đặc điểm ấy của đóa bằng lăng lập lờ trôi gần nàng, nhưng vừa trông thấy, nàng bị bông hoa hấp dẫn liền và cúi liền xuống để vớt bông hoa diễm tuyệt. Nhưng bông hoa cứ bập bềnh trôi, nàng càng với tay ra để vớt thì bông hoa lại càng trôi xa, xa mãi. Mê quá mất rồi, nàng tự nhủ phải vớt bông hoa kỳ cho được mới thôi. Nhưng vô ích: càng cố đuổi, hoa càng trôi xa, xa mãi. Không còn nhận thức được gì nữa, ngoài cái lòng ham lượm được hoa, người thiếu phụ quăng cái khăn gói trong có cái lọ sành đựng tro than hài cốt của chồng xuống dòng suối để cho khỏi vướng tay. Và quả là nàng thấy rảnh tay để vớt bông hoa kia thực nhưng đó chỉ là ảo tưởng trong phút giây thôi, bông hoa vẫn cứ trôi xuôi theo dòng nước xanh còn khăn gói trong có cái lọ sành đựng tro than hài cốt của chồng thì chìm dần vào trong lòng suối, ví có muốn quay lại để vớt cũng không thể nào kịp nữa.


 


Giữa lúc đó có một con quạ hai cánh xòe ra bằng cả một sải tay, hai mắt tròn vo, lóng la lóng lánh như mắt chim nghiệt, chim gáy, ở đâu sà tới và ngậm lấy cái khăn gói bay lên trời.


Tiếng cánh của con quạ vỗ lúc bay lên làm dạt cả bụi tre, bụi vầu gần đó. Người thiếu phụ ngẩn ra nhìn con quạ một lúc lâu và cảm như vừa nghe thấy một tiếng nhạc cồng vang ngân bay lượn trên dải rừng mênh mông. Mãi đến lúc tiếng cồng chảy xuống nước, chảy trên những tảng đá phẳng lì, rồi bay lên tít tắp trên đỉnh núi chênh vênh có gió hú như thần sầu quỷ khốc, người thiếu phụ mới chợt tỉnh và nhớ ra rằng con quạ vừa tha mất cái khăn gói trong có cái lọ sành đựng tro than hài cốt của chồng mình.


Thủ tiết trong bao nhiêu năm tháng, trèo không biết bao nhiêu núi, lội không biết bao nhiêu sông, dẫm chân lên không biết bao nhiêu hiểm nghèo, để bới được hài cốt của chồng đem về mai táng ở quê hương bản quán… Vậy mà đến bây giờ chỉ còn hai bàn tay không! Lại có thể như thế được sao?


Định thần một giây, người thiếu phụ thấy lòng đau như cắt và ngay khi ấy phát điên phát cuồng lên. Nàng kêu trời khóc đất, nàng cào mặt, ngắt mày, nàng định đập đầu vào những tảng đá ở hai bên bờ suối.


Thế rồi không hiểu sự uất ức căm hờn nó có một động lực phi thường gì thúc đẩy người ta một cách gớm ghê đến thế, người thiếu phụ lội ở trên dòng suối mà như thể chim gáy, chim nghiệt tung cánh bay lên trời. Trong chớp mắt, nàng đã tới chân núi ông Hoàng Cam, nhảy lên lanh lẹ như con sóc và vươn mình cao lên, nâng một hòn đá ném lên con quạ đứng ở chót vót trên ngọn cây bằng lăng cổ thụ, mà mỏ vẫn còn ngậm cái khăn gói trong có chiếc lọ sành đựng tro than hài cốt của người chồng xấu số.


Nàng vừa ném đá vừa nguyền rủa:


- Hỡi con chim quạ mang điềm chết chóc, mày là quỷ báo hại ta. Hãy nhả cái khăn gói xuống đây, nếu không thế suốt đời mày sẽ đui mù, dòng giống chúng mày điếu bái đi đâu cũng bị người ta khinh ghét và giết chóc cho tuyệt nòi mất giống.


Con quạ cúi xuống nhìn người thiếu phụ, lắc đầu không hiểu. Mà nó cũng dường như không hiểu tại sao người thiếu phụ kia lại tức giận ném hòn đá tảng nọ lên cây làm cho cây bằng lăng đương xanh tốt là thế bỗng nhiên bị tảng đá rớt xuống đúng chỗ tẽ ra, chẻ thân cây ra làm hai và từ chỗ bị chẻ ra đó có một thứ nước đỏ như máu chảy ra xối xả.


Những người đi kiếm củi qua đó thấy cây chảy máu bèn lập một cái miếu lên thờ và từ đó gọi cây bằng lăng ấy là cây bằng lăng đôi. Đồng thời đời nọ tiếp đời kia, thổ dân nghiệm thấy rằng kể từ khi đó, cây bằng lăng đôi ấy không còn bao giờ trổ hoa tuyệt mỹ như khi trước nữa. Hơn thế, bao nhiêu cây bằng lăng khác ở khu rừng này cũng như ở tất cả các ven sông, khe suối, ở tất cả đỉnh núi, lòng khe, cũng không bao giờ còn cho thiên hạ được thấy những bông hoa đại đóa màu cánh sen như trước nữa, mà chỉ còn làm duyên với đời bằng những lòng hoa bé nhỏ màu tím lợt trổ dài theo đọt nhánh, trông buồn buồn như những bông hoa sim về chiều.


Lại nói chuyện người thiếu phụ ném hòn đá tảng mưu định giết con chim quạ mà chim chẳng thấy chết đâu, lại làm cho cây bằng lăng bị trọng thương. Sự tức giận, và lòng thương chồng của người thiếu phụ bốc lên cao ngất ngất khiến cho nàng tự nhiên có một sức khỏe phi thường, khiến cho thần Cây cỏ, thần Núi đều khiếp đảm. Đồn rằng, lúc nàng cúi xuống để nhấc tảng đá lên, ném con chim quạ, đồi núi cả một vùng chung quanh đấy đều rung chuyển. Vì thế cho nên đến bây giờ, ai đi qua vùng đó vẫn còn thấy hai vết bàn chân đã nói ở trên kia in hằn lên hai cái núi trông sang núi ông Hoàng Cam: một vệt ở núi Heo là chân trái, còn một vệt ở trái núi khác gần đó là chân bên phải. Người thiếu phụ ấy để chân như thế để ném cho mạnh và trúng đích, nhưng vì núi ông Hoàng Cam cao quá mà con quạ lại đậu cao trên cây bằng lăng nên đá ném không tới chỗ con chim quạ đậu.


Mặt khác, theo một bản trường ca, kể theo điệu khan của vùng này, thì lúc ấy chỗ mà để hai chân lên đứng ném đá lên cây thì lại thấp lắm, chỉ là hai cái đồi nhỏ bé chứ chưa phải là núi như bây giờ. Tại sao thay vì mỗi ngày mỗi lún xuống để thành ra đất phẳng, hai cái đồi ấy mỗi ngày mỗi cao lên? Đó là một điều bí ẩn chưa ai biết nguyên nhân, nhưng tất cả dân chúng miền này cho rằng thổ thần của hai đồi này, tức giận thổ thần núi ông Hoàng Cam đã dung túng con quạ tha cái đẫy, nên ngày ấy sang tháng khác đã làm cho đồi cao lên thành núi với hy vọng hai cái núi này sẽ cao hơn núi ông Hoàng Cam và một ngày kia sẽ lấn át và đè bẹp núi ông Hoàng Cam.


Lối bàn tán đó chỉ là một giả thuyết mà người sơn cước mỗi khi chớp bể mưa nguồn, ngồi đốt lửa và uống rượu với thịt trâu tái vẫn trao đổi với nhau. Thực ra, ai dám quả quyết là con quạ tha cái đẫy kia có tội, mà dung túng cho con quạ tha cái đẫy đứng trên ngọn cây bằng lăng nọ cũng phạm vào cái tội a tòng?


Bằng cớ là ngay khi thiếu phụ đặt một chân lên đồi này và một chân lên đồi kia ném hòn đá tảng lên con quạ không trúng thì có hai ông già râu tóc bạc phơ như tuyết, ngồi đánh cờ gần đó, thấy thế, gọi tiểu đồng và hỏi xem tại sao lại có người bỗng nhiên ném đá lên trên cây như vậy. Tiểu đồng gặp thiếu phụ hỏi đầu đuôi sự tình rồi đem câu chuyện trước sau kể lại cho chủ nhân nghe. Hai ông già râu tóc bạc phơ ngưng tay cờ lại một giây, cười ha hả rồi chống gậy đi đến chỗ thiếu phụ ném hòn đá tảng ngắm nghía giây lâu. Rồi một ông bảo thiếu phụ:


- Thôi con ạ, đừng ném nữa, vì có ném bao nhiêu cũng chẳng tới được quạ đâu, là vì lẽ quạ này chỉ là một cái cớ để thử thách mà thôi, con ạ.


Nói rồi, cả hai ông chống gậy đi vào trong một khe núi Hoàng Cam. Cái cửa hang tự động đậy lại, để cho người đàn bà đứng ngơ ngác một mình. Quay lại thì tên tiểu đồng khi nãy cũng không còn nữa, nhưng tự nhiên ở đồi cây, vách núi, ở dòng suối bạc đưa lên, ở đóa mây xanh trên trời dội xuống, nàng nghe thấy có những tiếng thì thầm:


“Cây bằng lăng không có tội. Núi ông Hoàng Cam không có tội. Mà cả chim quạ cũng không có tội. Chỉ có lòng người có tội mà thôi vì không giữ được cho toàn vẹn, hãy còn ham muốn, chứ chưa thật được hoàn toàn chung thủy”.


Người thiếu phụ nghe thấy tiếng vọng nổi lên ở chung quanh mình như thế, khóc thét lên, và cảm thấy tất cả đá núi, rừng cây chế nhạo mình, khinh khi mình.


Nàng gào lên và tiếng vang của núi rừng lại dội lại tai nàng tiếng kêu gào:


“Lòng ta không có tội! Lòng ta không có tội!”.


Bao nhiêu thần linh ở trên trời lúc đó nghe tiếng kêu gào não nuột của người thiếu phụ, bỗng thấy lòng se lại và thương cảm cho giống người thêm lên. Là vì họ đều thấy rằng, ở đời các cám dỗ mỗi ngày mỗi nhiều hơn, người đàn bà dù có đức hạnh đến đâu, lòng chung thủy có vững chắc đến bao nhiêu đi nữa thì cũng vẫn có thể bị cám dỗ như thường. Đừng kết tội lòng họ có tội; tiền bạc, sắc đẹp và sự nhàn hạ ở bên ngoài bất cứ lúc nào cũng có thể lôi cuốn người đàn bà lầm lỡ, quên cả tình nghĩa lâu dài. Vì thế, chớ nên bao giờ để cho họ bị cám dỗ. Căn bản đạo đức là ở đó. Để cho họ bị cám dỗ, rồi lên án họ, là sai từ căn bản sai đi.


Chỉ tội nghiệp cho con quạ, vốn là một loài chim đã bị người ta ghét sẵn và liệt vào loại đi đến đâu thì gây tang tóc đến đó, ở chỗ nào thì là báo điềm chết chóc, nhân vụ này lại càng bị thiên hạ căm thù thêm, oán ghét thêm. Tất cả tội lỗi thiếu phụ đều quy hết cả vào cho quạ mà thực ra nó chẳng có tội gì, nhưng vì không biết trình giải lòng mình, không biết nói lên nỗi oan truyền kiếp của mình nên hết đời này sang đời khác cứ bị người ta thù ghét.


Thương cho loài quạ, các vị thần linh từ đó mới giúp cho quạ nói được tiếng người để có cơ hội nào thì phơi bầy được gan ruột của mình ra, nhưng đến tận bây giờ, hình như loài người vẫn chưa bỏ được thành kiến khinh khi loài quạ, căm thù loài quạ, nên giống quạ vẫn cứ sống riêng một thế giới với nhau và kêu lên những tiếng buồn ở trong sương một mình, làm một đầu đề thi vị cho nhà thơ cũ: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên”…


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 




 







([1]) Tức là sông Ngân Hà.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »