tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28946567
Tiểu thuyết
20.01.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại



Phần thứ nhất. ĐÊM MƯA RỪNG


1. Bây giờ, nghĩ lại, tôi không cảm thấy như thế nữa. Sự vui sướng và cái say sưa của tôi đêm đó không còn. Tất cả chỉ còn lại một cái gì làm cho mình hồi hộp, nửa như là sợ, nửa như là buồn.


Đi trên sông nước về chiều mà gặp trời mưa gió đã buồn, nhưng buồn ấy không thấm vào đâu so với cái buồn đi ba bốn ngày đường, đến nửa đêm về sáng, phải tìm một cái miếu hoang hay một cái nhà bỏ không nào đó, kéo nhau vào tạm trú, mà lại đúng lúc đang nổi cơn mưa rừng. Chúng tôi có bao nhiêu người cả thảy? Tôi không còn nhớ nữa. Chỉ biết chúng tôi vừa vượt con đường số sáu tiến về đỉnh Voi Gầm để điều nghiên chiến trường rồi từ đó đi Lào, nói là để thu thập tài liệu viết văn cũng được, mà bảo là để thám sát chiến trường cũng được.


Gần tới đỉnh Voi Gầm thì mưa… Ở vùng Đầm Muống, ở mạn Chổng Mông, Chợ Trời, tôi đã biết thế nào là mưa rừng, nhưng mưa về chiều nó cũng chỉ buồn có chừng mà thôi. Trời đang gió hiu hiu, tự nhiên đen sầm lại rồi mưa trút xuống như thác lũ. Cứ đi, nhưng cây cối ở cách mình độ một thước, chỉ thấy mờ mờ như trong mộng. Quá một thước, tuyệt nhiên không còn nom thấy gì.


Mưa rừng ở mạn Voi Gầm đêm hôm ấy thì vượt bực. Đoàn chúng tôi nắm áo nhau đi trong đêm mịt mùng, đêm mông lung, đêm hãi hùng. Chớp lóe ra xanh lè như muốn xé nát bầu trời. Cây cối kêu răng rắc. Mưa gầm lên, thét lên, rú lên như hàng trăm ngàn con quỷ sứ từ trên trời sa xuống, từ hốc cây khe đá chui ra.


Dừng lại thì cây đổ, núi sập và mưa xối xả, cũng chết. Còn đi nữa thì đi đâu bây giờ?


Vào khoảng ba giờ sáng, may làm sao chúng tôi thấy lù lù ở trước mặt một cái bóng đen bên sườn một trái đồi. Một người bấm đèn ló lên:


- Có hy vọng! Hình như là một cái nhà.


Một người khác nói:


- Thoát chết rồi. Bây giờ mà được ngồi sưởi và được hút nhờ một điếu thuốc thì sung sướng không chịu được.


Nhưng tất cả bọn chúng tôi đã lầm. Cái nhà bên sườn đồi là một cái nhà hoang. Vào bên trong rồi đốt mấy thoi nhựa trám lên nhìn chung quanh, chúng tôi thấy da dẻ tê tê lên một thoáng. Kỳ, sao nhà lại chỉ có một bức tường? Bảo là ba phía tường kia bị phá thì không đúng vì chúng tôi không thấy dấu vết gì phá phách. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi công tác ở Hòa Bình. Cái gì đối với chúng tôi cũng lạ. Nhưng lạ nhất là ở một góc, về phía gần những cây ngải gió, làm sao lại có nhiều quan tài chồng chất lên như thế? Trong quan tài có người chết không? Hay chỉ là những cỗ hậu để sẵn đó để phòng khi có ai nằm xuống thì mới đem nhập quan rồi đưa chôn?


Chúng tôi không có thì giờ để tìm hiểu làm gì. Dù đây có là bãi tha ma mà trú được mưa rừng, chúng tôi đã đến thì cứ đóng lì ở đấy, không thèm đi đâu nữa. Anh em đốt thêm nhựa trám cho vui cửa vui nhà. Ánh lửa đỏ khé chập chờn, thỉnh thoảng lại kêu lép bép và tung lên trời những bụi lửa văng ra bóng tối đặc quánh và đen mù ở bên ngoài.


Chúng tôi cảm thấy mưa ở chỗ này cũng dịu rồi, nhưng ở bốn bề chung quanh thì tiếng gió vẫn rú lên và tiếng mưa ở xa xa vẫn ào ào trút xuống như chưa hết căm hờn, uất giận. Nhưng muốn cách gì đi nữa thì chúng tôi cũng không cần. Cơm nắm lấy ra ăn ngon không chịu được. Bảy cán bộ văn nghệ châu đầu lại với nhau đun nước pha cà phê. Một chính ủy, không nói gì từ lúc bước vào đây, lấy một mảnh vải đỏ lau cái ấm đất Mạnh Thần, pha trà Tàu độc ẩm. Anh trung đoàn trưởng gốc Thổ giở cuốn nhật ký, kề sát lại một thoi nhựa trám, lẩm nhẩm đọc một mình như học bài.


 


2. Không biết làm gì, tôi quay sang tán láo với ba chị cán bộ vừa đồng ca xong bài Sông Lô.


Tôi nhắc lại cuộc hành quân ấy. Chị Hảo nhìn ngọn lửa đỏ chập chờn của thoi nhựa trám gắn ở góc nhà, nhìn ra trời mù mịt, không nói gì. Chồng chị đã bỏ thân trong cuộc hành quân ấy. Hiện giờ, có một chàng trai khác đang đeo chị.


Chính chị Nhu tiết lộ điều đó cho mọi người biết và yêu cầu giữ kín đừng để cho ai rõ.


Tôi hỏi:


- Thế phần riêng chị thì sao?


Nhu lấy ngón tay trỏ vẫy mấy cái, nói:


- Ba khoan mà!


- Nhưng khoan mãi rồi cũng chọn lấy một người nào chứ!


- Cái đó phải hỏi chị Dung. Chị ấy mới có quyền chọn lựa.


Dung là một cán bộ sở trường về độc tấu. Vốn là một nữ sinh trước đây theo học trường Đồng Khánh, mỗi khi học ngụ ngôn La Phông Ten thì phải lên bục ngâm nga và làm điệu bộ sợ sệt như con cừu, hay hung dữ như con sói; Dung ra ngoài kháng chiến bắt đầu làm giao liên, sau chuyển sang ngành tân nhạc. Có một anh chính ủy viên thấy chị có biệt tài độc tấu, khuyên nên chuyên chú về mặt này. Chẳng mấy lúc Dung nổi tiếng về độc tấu, nhất là trong chiến dịch Khu Ba. Ới ơi các anh từng theo kháng chiến chống Pháp bây giờ về ở đây, sống trên nhung mướt, đi trong đêm màu hồng, nghe ca sĩ hát ru những bài đầy hương ngát hoa, các anh có lúc nào còn nhớ đến những buổi liên hoan, đốt lửa ngâm thơ, lần theo bóng trăng mà kể bất cứ chuyện gì, hay gẩy đàn cất cao tiếng hát trong đêm, nói lên mồ hôi đổ xuống ruộng lúa và máu tưới lên ngọn cờ?


Riêng tôi ưa độc tấu hơn cả là vì thấy độc tấu là một nghệ thuật bao gồm đầy đủ các hình thức ca kịch, thoại kịch, vũ kịch, nhạc kịch, múa rối. Người độc tấu không đeo râu, không vẽ mặt, mặc áo trấn thủ như tất cả mọi người, đứng ra kể một chuyện, hát một bài, tả lại một chiến công vừa thâu hoạch, đóng một mình một vở kịch ngắn hay bình chú một truyện hoặc cũ như Tam Quốc, Thủy Hử, hoặc mới như Mẫu Đơn Đình, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Người độc tấu vừa nói vừa làm bộ điệu cười khóc, căm thù, la hét. Nghệ thuật mà đi đến chỗ vi diệu thì có thể chèo tuồng, vũ kịch cũng không bằng, mặc dù là không có phong cảnh bài trí như trong nhà hát.


Tôi còn nhớ trong cuộc hành quân Cao Bắc Lạng, tôi đã được coi Dung độc tấu một chuyện nhan đề là “Con chim cánh tiên”. Chuyện bắt đầu bằng một bài ca ngợi thành quả sản xuất. Sau khi Dung vừa hát vừa cấy lúa, nàng vụt biến thành một người đàn ông đi săn, vẽ một con thú lên vách đá, vừa làm động tác đi săn, vừa múa. Rồi bắn vào hình con thú mà miệng lẩm nhẩm đọc thần chú. Thế rồi đột nhiên nàng lại trở thành một nhà bình chú giải thích động tác đọc thần chú của mình như sau: “Việc đọc thần chú này không thể coi là một khía cạnh duy tâm, ta nên biết đó là một cách để tạo thêm tin tưởng vào kết quả sắp tới của lao động với mục đích ca ngợi những thành tích mà thôi”. Nói xong, nàng lại biến ngay ra thành người đàn ông đi săn như trước và tự mình lại đóng thêm một vai nữa. Người đi săn ra cái vẻ thấy con chim đẹp quá không muốn bắn. Phần con chim thì định trốn. Người đi săn do dự một chút, sau đành bắn vậy. Chim bị thương, lảo đảo rồi lăn ra chết. Người đi săn nhảy múa vì mừng đã giết được chim, nhưng ngay sau đó thì lại buồn bã ê chề vì hối hận đã bắn chết con chim tuyệt đẹp. Bất thần vào giờ chót, chim cựa quậy, biến thành một nàng con gái xinh ơi là xinh, đẹp ơi là đẹp. Và nàng con gái ấy gieo mình vào lòng người đi săn để rồi hai người cùng kề vai nhau đi vào rừng. Rồi người đàn ông và cô gái đẹp cùng hát một bài dân ca bắt đầu bằng bốn câu:


Rừng xanh ai nhuộm mà xanh,


Má hồng ai nhuộm mà quanh năm hồng.


Rừng xanh lấy núi làm chồng,


Má hồng em muốn lấy chồng chiến binh.


Một mình vừa thủ vai đàn bà cấy lúa, vừa thủ vai đàn ông đi săn, vừa thủ vai chim đẹp, làm điệu bộ gieo vào lòng chàng trai, lại làm điệu bộ quàng vai cô gái để hai người cùng hát… chỉ kể bấy nhiêu thôi ta cũng thấy Dung độc tấu thần diệu đến chừng nào mới có thể làm cho bao người say… muốn chết!


 


3. Sự tình cờ đã khiến cho tất cả những người mê Dung hôm đó cùng vượt con đường số sáu để tạm nghỉ ở vùng Đầm Rạ về phía đỉnh Voi Gầm.


Gần sáng, mưa rừng lại đổ nước xuống như thác lũ. Có một vài người ngủ được, còn thì thao thức nằm nghe sự chuyển mình của rừng núi hun hút chui vào vực đen huyền bí, thỉnh thoảng lại nhoằng lên những lằn chớp xanh màu ma quái.


Một người kể chuyện đã có lần được ăn nước xuýt voi “trong văn vắt mà ngọt cứ như đường”. Một người khác hỏi:


- Thế nhưng mà tôi hỏi anh em có ai biết tại sao lại gọi đỉnh Voi Gầm không?


- Không. Tôi chỉ biết xuất xứ của danh từ “Chổng Mông” ở mạn Hòa Bình thôi.


- Thế hả! Nói nghe chơi.


- Ngọn núi có tên đó cao và thẳng tuốt, muốn lên mà đi hai chân như thường, không thể được. Ai cũng phải bò, thành ra tên là “Chổng Mông”. Chẳng là chổng mông để bò mà…


Anh chính ủy viên nói:


- Thế thì cũng tựa như hang Cơm Toi ở Tuyên Quang. Hang ấy có tiếng là sâu lắm, thỉnh thoảng lại có những trận bão cát cuốn cả người và ngựa vào trong hang. Do đó, có tên là “Cơm Toi”: ai qua đấy vô phúc mà bị cuốn xuống thì coi như là ăn hại cơm, tức cũng như cơm toi vậy.


Trở lại cái tên “Voi Gầm”. Tôi không biết chắc, nhưng có một anh đã đi qua vùng này cho biết  rằng ngọn núi có tên ấy cao ghê lắm, trèo lên đến đỉnh rợn cả tóc gáy lên. Thậm chí voi mà cũng không chịu được, trèo lên đỉnh cũng phải gầm lên, đòi xuống.


Bên ngoài, bóng tối mịt mùng, rùng rợn. Mưa rừng trút nước xuống không ngừng. Ngồi ở trong này có than để sưởi và mấy thoi nhựa trám cháy lung linh làm cho lòng người ấm hẳn lên, lại được mỗi người làm quà một câu chuyện lạ tai – không, ta phải nhận là cái kiếp sống bô-hê-miêng của con người xả thân vì nước cũng có nhiều thi vị. Có thể nhà Phật gọi như thế là nghiệp duyên, nhưng chúng tôi lúc đó không tin như thế. Chúng tôi cho là cái bệnh. Bệnh không ngồi yên được, bệnh buộc người ta phải làm một cái gì. Bệnh nó hành cho mình phải xê dịch thường xuyên, không thế thì nhạt mồm đắng miệng, lừ đừ, mệt nhọc y như chết rồi.


Bọn chúng tôi vui như thế được một ngày một đêm. Sang ngày thứ hai, giữa lúc một vài người bắt đầu thấy một cái gì như sự nhạt nhẽo chảy trong mạch máu và len lỏi vào thớ thịt làn da, thì có một em bé tìm đến chỗ chúng tôi nghỉ tạm đưa một chỉ thị mật cho anh Trung đội trưởng.


Chiến dịch Hạ Lào tạm ngưng. Chúng tôi được lệnh ở yên trong miền đỉnh Voi Gầm chờ lệnh mới.


Không biết bao nhiêu là lời dự đoán về chiến dịch mà chúng tôi sẽ tham gia. Đầm Muống? Khu Ba? Hay Cao Bắc Lạng? Nhưng cùng lúc anh em phỏng đoán như thế thì hầu hết đều đã cảm thấy những ngày ăn chực nằm chờ sắp tới buồn biết chừng nào, nhạt biết chừng nào.


Ngay buổi trưa hôm đó, chúng tôi chia nhau công tác, người thì đi xem những cái quan tài chồng chất trong một xó kia có người chết hay là bỏ trống; người thì đi thám sát xem dân cư ở cách đó chừng bao nhiêu dặm đường; người thì đi tìm củi để đun và sưởi, đồng thời mua gạo để phòng ngừa gạo trong sắc cốt của chúng tôi hết mà chưa nhận được lệnh di chuyển đi nơi khác.


Đến sẩm tối, anh em tề tựu không thiếu một người ở trong căn nhà chỉ có một bức tường và chồng chất quan tài. Bóng đêm rủ xuống thì tiếng của rừng nổi lên rùng rợn hơn hết cả các khu rừng khác mà chúng tôi đã đi qua. Tiếng thú kêu cũng khác, tiếng chim cũng khác, thậm chí đến tiếng gió rung chuyển cây cũng khác luôn. Chị Hảo cho biết là rừng này có cọp.


- Cấm nói đùa. Ai bảo thế?


- Hôm nay tôi đi chợ Si Luông cách đây mười hai cây số, thấy người ta nói thế.


Không ai nói gì thêm nữa. Nhưng đêm ấy chúng tôi đốt lửa thức với nhau đến tận khuya. Không có một người nào ngủ cả. Ba bốn anh em xúm lại pha một phin cà phê bằng một phương pháp độc đáo là ít cà phê mà tương đối phải đặc, rồi pha nước sôi vào uống mỗi người một ngụm làm duyên.


Anh chính ủy vét ba cánh trà, cho vào cái ấm Mạnh Thần uống một mình, vì theo lời anh, nếu anh “không uống một tí thì bệnh ngã nước nó vật liền”.


Còn ba chị cán bộ thì lại khe khẽ hát với nhau trong bóng tối. Lần này, Hảo hát bài “Vui tổ đổi công”, còn Dung thì hát bài “Khắp hạn khuống”, bắt chước đúng hệt một “tồn khuống” đứng trên chiếc sàn hạn khuống của dân tộc Thái hát đối đáp trữ tình với một thanh niên tưởng tượng.


Lấy được nhau, ta sẽ xẻ núi cao xuống làm ruộng,


Xả đồi gianh xuống làm bản.


Khi còn nghèo chúng ta còn ăn măng,


Khi còn khó, ta hãy ăn nấm,


Nhà không có, ta ngủ lều nương…


Tất cả mọi người đều quay cả về phía Dung để nghe Dung hát.


Nhưng chỉ độ nửa tiếng đồng hồ thì cả ba chị cán bộ đều buồn ngủ. Cà phê, trà Tàu lúc này cũng đã cạn cả rồi. Mà anh em thì lại không muốn ngủ sớm vì người nào cũng ngay ngáy sợ có cái gì bất trắc xảy ra do sự tiết lộ của chị Hảo hồi trưa đi chợ Si Luông về…


Ở vào những trường hợp như thế mà muốn làm cho không khí sống động lên, chúng tôi thường thường vẫn cử một người tìm một đoạn nào hào hứng nhất trong truyện Tam Quốc hay Thủy Hử đứng ra độc tấu, hoặc là đốt lửa “liên hoan” cùng ngâm những bài thơ, ca giao duyên nổi tiếng, hoặc nói một bài thơ đại khái kể lại chiến tích Sông Lô hay cuộc hành quân Cao Bắc Lạng.


Anh chính ủy gốc Thổ đề nghị:


- Lặp đi lặp lại mấy cái đó nhàm rồi. Tôi là người Thượng ưa vui, xin đề nghị các anh em có mặt ở đây kể mỗi người một chuyện tiếu lâm nghe cho tỉnh ngủ.


Vừa nghe hai chữ “tiếu lâm”, tất cả anh em, chị em ngồi đó tỉnh ngủ liền, đúng thế. Nhưng Nhu gật đầu một giây rồi nói:


- Kể chuyện tiếu lâm thì nhất rồi, nhưng các anh thử nghĩ xem có nên kể ở trong một cuộc họp có đàn bà con gái tham dự hay không? Là vì truyện tiếu lâm, theo tên gọi và nội dung cùng mục đích của nó chỉ là những truyện có tác dụng gây cười không kể thanh hay tục, nhưng theo quan niệm thông thường thì truyện tiếu lâm vẫn lấy yếu tố tục làm chính yếu.


Thử hỏi các anh ở đây có ai lại có gan kể những chuyện tục ở trước mặt chị Dung không? Theo tôi thì nhất định không.


Dung đập vào vai Nhu:


- Chị lầm. Sao tôi lại không dám nghe các anh ấy kể chuyện tiếu lâm?


Nhu nói:


- Tôi có bảo chị không nghe đâu, nhưng tôi ngờ rằng các anh ấy không dám kể trước mặt chị những truyện “tủ” của các anh ấy! Mà không dám kể những truyện “tủ” nghĩa là những truyện tục nhất thì còn thú vị nỗi gì?


- Sao lại không dám kể?


- Ối, điều ấy ai mà lại còn không hay, làm bộ làm gì. Theo sự hiểu biết của tôi, có bảy anh mê chị Dung, muốn lấy chị và cả bảy anh ấy cùng có mặt ở đây. Là những ai? Chẳng cần nói ra làm gì. Ai có tật người ấy biết… Các bạn còn lạ gì những người đương yêu, ai mà không muốn là đẹp, ai mà lại không tìm cách tỏ ra mình tao nhã thanh cao… Nói tục tĩu, còn ra cái thể thống gì. Tôi yêu cầu cất những truyện tiếu lâm vào một chỗ để khi nào các bạn trai hội họp với nhau đem ra mà nói thả cửa với nhau. Còn ở đây, xin tìm một trò gì khác.


 


4. Hảo gật đầu. Nàng không phát biểu ý kiến, nhưng ai cũng biết nàng tán đồng quan điểm của Nhu.


Anh chính ủy viên nói:


- Chị Nhu nói đúng. Tôi cũng tán thành.


Anh chính ủy:


- Nếu thế thì đổi đi, không có sao!


- Đổi thế nào?


- Tôi đề nghị, mỗi người trong chúng ta đây, kể cả ba chị nữa, đều phải kể một chuyện ly kỳ.


- Ly kỳ thế nào? Chữ ly kỳ không rõ nghĩa.


- Tôi xin lỗi. Tôi muốn nói là truyền kỳ, tức là huyền thoại.


Một anh cán bộ giơ tay lên:


- Tôi tán thành ý kiến mỗi người kể một chuyện huyền thoại. Nhưng thế nào là huyền thoại? Cần phải định nghĩa cho thật rõ ràng mới được.


Anh chính ủy nói:


- Tôi hiểu huyền thoại theo nghĩa truyền thuyết.


Một anh khác lên tiếng:


- Mà truyền thuyết không phải là thần thoại đâu.


Một cán bộ văn nghệ giơ tay:


- Tôi xin đỡ lời anh chính ủy. Tôi xin đưa ra một định nghĩa thần thoại, truyền thuyết và huyền thoại. Nếu các anh em chấp nhận, ta cứ theo đúng thế mà tiến hành, nghĩa là thay phiên nhau mà kể chuyện theo định nghĩa ấy. Theo tôi, thần thoại là một hình thức sáng tác văn học dân gian nói lên cuộc đấu tranh của người nguyên thủy nhằm chinh phục tự nhiên. Thần thoại thấm nhuần quan niệm thần linh chủ nghĩa. Truyện “Thần Bàn Cổ”, truyện “Thần Trụ Trời”, truyện “Nữ Oa Bổ Thiên” là thần thoại.


“Truyền thuyết có một nội dung khá rộng hơn, đó là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu – tức là lịch sử hoang đường – hoặc là những chuyện tưởng tượng, có gắn với sự thực lịch sử ít nhiều: truyện “Yết Kiêu”, truyện “Sự tích Hồ Gươm”, truyện “Đức Thánh Gióng” là truyền thuyết.


“Cả thần thoại và truyền thuyết đều xây dựng trên căn bản của vai trò tưởng tượng nhưng dựa ít hoặc nhiều vào lịch sử.


“Truyện huyền thoại cũng diễn đạt tư tưởng bằng hình tượng, hình tượng trong huyền thoại cũng được xây dựng với sự giúp đỡ của yếu tố tưởng tượng, nhưng huyền thoại không dính líu đến sự thật lịch sử mà chỉ là những cái bóng của lịch sử mà thôi. Truyện “Từ Thúc”, truyện “Truyện Tú Uyên” không dính líu đến lịch sử, lại có tính chất tiên thoại, huyền thoại.


Nghe lời giải thích về huyền thoại có vẻ cám dỗ, tất cả anh em đều chịu.


Anh cán bộ văn nghệ giơ tay xin nói tiếp:


- Song le… Theo tôi thì trong tất cả mấy loại truyện vừa nói, loại truyện huyền thoại, mặc dầu cám dỗ người nghe nhất, dễ khiến tâm hồn bay bổng nhất, nhưng lại khó biểu dương được ý nghĩa nhân sinh tích cực.


“Vì thế, tôi đề nghị phải có một ban giám khảo để định đoạt truyện hơn kém, hay dở – dù vẫn biết rằng được thua không ăn cái giải gì – nhưng để chúng ta làm một cái dịp hầu rút kinh nghiệm và học hỏi; truyện nào có tính cách đấu tranh chống thiên nhiên, truyện nào có tính cách giữ nước hàm súc tư tưởng phản kháng chiến tranh xâm lăng, truyện nào có lợi cho giai cấp thống trị…


Một anh bạn thở dài:


- Ơi bạn, nói thế là đủ rồi. Ngồi xuống. Đây này, tôi xin nói vắn tắt một câu nhé: học tập nhiều quá rồi, óc nặng muốn chết đây. Có những giây phút này, xin để cho giải trí, thuyết này chưa hết lại đến thuyết khác, nghe mệt quá.


Anh chính ủy tán thành ngay:


- Đúng. Tôi hoan nghênh đồng chí Kiếm. Chúng ta có truyện huyền thoại gì hay, xét ra thú vị thì cứ kể bừa đi.


- Tôi cũng thế. Đọc một cuốn sách, nghe một câu chuyện, tôi chỉ cần một điều là: thích thú. Sách hay truyện theo thuyết này, hay kể theo văn phái kia mà dở thì có nhồi vào óc, tôi cũng chịu. Mà truyện hay, sách khá, tôi chả cần biết tác giả viết theo văn phái nào hay kể theo hệ thống nào, tôi thích thú là tôi thích thú mà cũng chẳng cần phân tách lôi thôi vớ vẩn tại sao tôi lại thích.


Dung vỗ tay:


- Nói đúng. Hay là hay, thế thôi, chứ không tại làm sao cả, tôi không cần biết là hay theo duy vật hay duy tâm, hay vì đề cao lao động, hay vì biết sử dụng tưởng tượng, vốn sống và tình cảm…


Anh cán bộ văn nghệ vẫn chưa chịu:


- Nhưng làm như thế có thể có hại.


- Ủa, đã gọi là giải trí mà! Không có hại đâu, đồng chí ạ. Có mấy ngày rỗi rãi, xin cho phép sống tự do cho nó sướng cái thân già một tí.


Một anh khác tiếp:


- Nếu anh Việt – tên anh cán bộ văn nghệ – muốn có một ủy ban nghe chuyện có quyền định đoạt chuyện nào hay, chuyện nào dở, cũng được đi. Tôi xin đề nghị cử ba chị Nhu, Hảo và Dung đứng ra làm việc đó.


Nhu và Hảo giẫy lên:


- Không được. Chúng tôi không tán thành. Chúng tôi đề nghị để cho một mình chị Dung định đoạt chuyện hay, dở mà thôi.


Dung đứng dậy:


- Không, tôi không chịu. Mỗi chuyện hay một cách, biết thế nào mà định đoạt được?


- Tôi vừa nói là được hay thua có ăn giải gì đâu. Nhưng tôi đề nghị chị đứng ra cho ý kiến khi cả bọn này kể xong mỗi người một chuyện.


- Cũng vẫn không được nữa. Nói thẳng ý kiến ra, tôi sợ không đúng và mất lòng anh em.


Hảo đùa:


- Sợ mất lòng thì đừng nói. Giữ ở trong bụng mình, ai cấm!


Nhu tiếp:


- Thế nghĩa là thế này: trong tất cả bọn đây, ai cũng kể một chuyện huyền thoại, trừ chị. Chị sẽ nghe và chọn lấy câu chuyện hay nhất theo ý chị – không cần theo một tiêu chuẩn gì, không cần phải theo một lý thuyết gì.


- Để làm gì?


- Để giải buồn. Đi thi đậu bây giờ có nước mẹ gì đâu. Nhưng chị phải nhớ rằng, ngày xưa những sĩ tử giỏi văn giỏi võ thi đậu trạng nguyên thường được đối xử thế nào không?


- Đối xử thế nào? Nói nghe chơi.


- Được vua cho vào vườn thượng uyển uống rượu, được vinh quy bái tổ… Lại có ông trạng nguyên được vua ban làm phò mã, nghĩa là lấy công chúa nữa.


Tất cả anh em cùng cười.


Nhu nói:


- Ngày xưa, một nàng Mỵ Nương mà có hai ông thần cầu hôn, người ta đã cho là nhiều. Bây giờ một người đẹp có tới bảy người muốn chiếm trái tim, nhất định là lạm phát.


“Tôi không nói đùa. Chị Dung cũng nhân dịp này bói thử nhân duyên xem ra thế nào. Trong truyện “Nữ tú tài”, “Kim ngọc kỳ duyên”, người đẹp cũng bói nhân duyên như thế đấy. Ai đỗ trạng thì mặc nhiên được là chồng người đẹp. Nói một cách chậm tiến, như thế tức là Trời chọn cho mình. Chị Dung có chịu ý kiến ấy chăng?


Dung suy nghĩ một giây, đáp lại một câu, như muốn chọc tức người vừa nói:


- Ý kiến ấy xét ra cũng không dở quá. Để còn cứu xét.


Nàng cười ngặt đầu lại đằng sau. Nhiều người cho là nàng đùa cợt. Thực ra, không có một người nào biết rằng chỉ trong có một giây đồng hồ, một cơn bão đã thổi qua óc nàng.


Ờ mà tại sao lại không thể như thế được? Và nàng nhớ lại truyện “Nữ tú tài diễn ca” mà nàng vẫn thường đọc cho bà nội nghe khi còn nhỏ, nói về một cô con gái giả trai bói một quẻ: ai thi đậu và đến với cô ta trước thì cô ta lấy làm chồng.


“Trong truyện “Nữ tú tài” kể ra còn có chỗ quá ư mê tín, quá ư tin tưởng nơi thần quyền và số mệnh… Đây thì không, tự ta quyết định mà… Ai kể câu chuyện huyền thoại mà tự ta cho là hay nhất, người ấy sẽ làm chồng ta… Phải, tại sao lại không thể như thế được? Tại sao ta lại không thể bói nhân duyên như thế được?


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »