tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25345870
Tiểu thuyết
04.01.2019
Triệu Xuân
Trả giá


CHƯƠNG BỐN


Cuộc sống của ngư dân Mỏ Tôm ngày càng khó khăn. Ngay cả những gia đình có cơ sở vật chất từ trước năm 1975, có phương tiện đánh bắt tốt, cũng sa vào cảnh túng thiếu. Dân vô sản thì đói. Không thể ra biển với chiếc xuồng ba lá, họ bỏ nghề biển để vô rừng đước làm củi. Những chiếc ghe chở đầy ắp thân tràm, thân đước. Chỉ cần gặp một chiếc ghe gắn máy chạy ẩu không giảm bớt ga là sóng nhấn chìm ghe củi ngay lập tức. Nhưng ở miền đất bốn bề sóng nước này, hầu như không có chuyện ấy xảy ra. Rất ít khi. Trên mặt sông, dù là lúc nửa đêm, không có chiếc ghe thứ ba, thì khi gặp ghe củi, chủ ghe máy nào cũng tự giác giảm ga từ xa để không chìm ghe bạn. Đó không chỉ là luật lệ, đó là luật của lương tâm, là đạo lý làm người. Ghe củi không chìm vì sóng nước, nhưng người làm củi bị trắng tay vì các trạm kiểm lâm. Tình trạng tàn phá rừng đước đã đến mức báo động. Hàng trăm ngàn hécta rừng đước bị chất độc hóa học khai quang trong chiến tranh, nay lại bị chính bàn tay con người tàn phá. Các trạm kiểm lâm lưu động mọc lên như nấm. Ngày nào cũng có hàng chục người bị bắt, bị tịch thu cả xuồng ghe. Diện tích rừng ngập mặn ở Tây Nam Bộ rộng ngót ba trăm ngàn hécta, đứng hàng thứ ba thế giới, sau rừng ngập mặn ở vùng Amazôn (Brazin) và Philippin. Tài nguyên của rừng ngập mặn vô cùng phong phú. Nhân dân đói quá, họ phá rừng.


Ba Tràm cùng con gái đi biển về, ngang qua trạm kiểm lâm và trạm thu mua hải sản. Có con tôm nào, ông bán sạch ở ngoài biển rồi, nên qua trạm, ông tỉnh queo. Út Thơm ái ngại nhìn hàng trăm chiếc ghe chở cây đước nối đuôi nhau đậu phía bên này trạm kiểm lâm. Ba Tràm cũng nhìn, và lòng ông đau xót. Cả hai cha con không nói gì, nhưng Út Thơm hiểu được tâm sự của ba mình. Ba Tràm lấy một con cá thu lớn nhất, lặng lẽ quẳng sang chiếc ghe củi đang bị bắt. Đó là chiếc ghe của ông Năm Xị, người bạn già chí cốt của ông. Năm Xị đã nhiều lần giúp ông đưa cán bộ, trong đó có “chú Bảy”, đi lại ngang dọc khắp vùng này. Năm Xị già yếu lắm rồi, không có xăng dầu đi biển, ông bán máy và đi vô rừng. Ông bị bắt hoài, bị tịch thu ghe xuồng mấy lần, Ba Tràm đều lo lót xin cho.


Những người như Năm Xị - Ba Tràm gật đầu đáp lại lời cảm ơn của bạn, đắm chìm vào nỗi ưu tư - đâu có tội gì. Dân đất này có ai nỡ chặt phá rừng đước non. Rừng đã nuôi mình, có chặt thì chặt cây lớn. Nhưng cây lớn Nhà nước bảo là của Nhà nước; chỉ còn cây non năm sáu năm tuổi. Chặt cây non, đứt ruột lắm, nhưng đói quá biết làm sao. Một chiếc tam bản(1) đầy thân đước loại đó đem bán, chỉ mua được hai ngày gạo cho một gia đình bảy tám miệng. Tội của người chặt đước. Phải. Nhưng cái tội lớn hơn, đích danh thủ phạm là ai? Vì sao ngư dân không có điều kiện đi biển, phải bỏ nghề để đi phá rừng? Và tại sao không hỏi tội kẻ nào ngu dốt đến độ đưa dân kinh tế mới vô đây phá rừng đước để trồng lúa?! Hàng trăm ngàn hécta rừng bị đốt cháy; lúa thì không lên được vì mặn; dân kinh tế mới cũng chuyển cả sang nghề mới: phá rừng. Nhìn những thân đước non bị chặt hạ, lòng ông Tràm rưng rưng khi nghĩ đến thằng con rể. Chưa cưới nhưng ông đã coi Đước như con rể quí của ông. Thì chính mình đặt tên cho nó là Đước chứ ai. Mình với cha nó đã nhất trí đặt cái tên ấy. Giờ nó bị bắn chết, chẳng khác chi những cây đước mới được sáu tuổi đã bị hạ. Ông nhìn con gái, xót xa, vì bao nhiêu ước mong tốt đẹp nhất cho vợ chồng nó đã tiêu tan.


Vợ bị bọn ác ôn Nguyễn Lạc Hóa giết. Hai con trai chiến đấu và hy sinh. Nay con rể bị hãm hại, bị giết oan. Ông là cha liệt sĩ mà bị bắt lên bắt xuống vì tội không vô hợp tác xã, không bán tôm cho Nhà nước. Mặc xác tụi nó. Ông cóc sợ. Ngang tàng như dân Mỏ Tôm, ông chỉ sợ mình trái đạo làm người, chứ không sợ ai hết. Cá mập, bão tố, biển cả... ông còn xem như không nữa là... Con gái ông đi học ở Sài Gòn về, ông bắt nghỉ ở nhà. Dính đến bọn hà hiếp dân để cho dân chửi à? Dại gì. Ở nhà, cha con đi biển, sống cuộc sống như xưa rày vẫn thế, trên có trời, dưới có biển. Thỏa sức mà làm mà xài. Dính với bọn đó làm gì. Lúc đầu, con gái ông không chịu. Nhưng đến khi nghe tin Đước bị bắn chết, cô lại bị Phái đeo đuổi tán tỉnh thô bạo thì cô nghỉ liền.


Sau mấy tháng bệnh nặng vì xót thương người yêu, Thơm rạc người đi, da xanh tái. Ba Tràm thuốc thang cho con gái bình phục dần. Rồi ông dìu con gái xuống tàu, chiếc tàu gắn máy ba mươi ba ngựa mà ông kiên quyết không đưa vào hợp tác xã. Ra biển, gió biển và niềm vui biển mang lại, đã phục hồi sức lực cho cô gái đương thì. Cho đến ngày nhận được điện của Trầm báo tin được phép lên thăm Đước, Thơm ôm chặt lấy tay ông Tràm mà khóc vì sung sướng. Còn ông Tràm, đọc đi đọc lại bức điện, vẫn còn ngờ ngợ. Ông hỏi con gái tới lần thứ năm: “Có thiệt không con?”. Cả Xẻo Đước tụ tập ở nhà ông mừng cho Đước. Họ gửi quà cho Đước. Nhiều người xin cùng đi thăm Đước. Ba Tràm nói: “Để tôi và con Út lên coi có thiệt không. Thời buổi này dễ bị gạt lắm. Tôi về rồi, đích thị rồi, bà con sẽ đi thăm thằng Hai”.


Đêm trước ngày lên đường, cha con gói ghém nào tôm khô bóc nõn, tôm lụi, khô cá thiều. Ông Tràm chiết từ bình rượu thuốc ra chiếc can nhựa loại rượu thuốc đặc biệt ngâm bằng rượu nếp cực mạnh với cá ngựa, trứng yến và thuốc bắc. Thơm thì không tài nào ngủ được vì náo nức. Cô không tin là Đước bị bắn chết vì vượt ngục. Cô hiểu thủ phạm chính của vụ hãm hại người yêu là ai. Lần này gặp nhau, cô sẽ kể cho Đước nghe hết. Cô sẽ kể luôn chuyện khi anh bị bắt rồi, Phái đã dụ dỗ, xúc phạm cô như thế nào.


Ba giờ sáng hôm sau, hai cha con lên đường. Khi gửi tàu lại để chuyển lên xe đò, Út Thơm mới kêu lên:


- Ba ơi! Quên mất bao gạo nếp và đậu xanh rồi!


- Thôi rồi! Ba đã bảo con soát xét cho kỹ; ba bị rối trí mong gặp nó nên quên tuốt! Út à, lên Sài Gòn mua cũng được.


Xe chạy được một đoạn phải dừng lại để kiểm soát. Cứ mỗi trạm, lại mỗi lần năn nỉ, lo lót. Đến trạm Tân Trung, ông Tràm và Út Thơm phải mang tất cả đồ đạc vào. Toàn bộ quà cáp của ông và bà con Xẻo Đước bị tịch thu sạch sành sanh; chỉ còn lại can rượu thuốc nhờ ông để dưới gầm ghế ngồi, không đưa xuống. Ba Tràm trợn mắt lên, hai tay nắm lại chực đấm vào mặt trạm trưởng. Thơm biết đó là cú đấm mà ông Hải truyền cho ba cô và người yêu của cô. Ai bị cú đấm ấy sẽ gãy nát xương mặt. Thơm lao tới ôm chặt lấy ông Tràm:


- Ba ơi! Mình đành phải đi thôi. Phải gặp ảnh chớ ba.


Phải gặp nó, đúng rồi, phải gặp bằng được thằng rể cưng của ông. Ông nghe lời con.


Từ Tân Trung tới Sài Gòn còn ba trạm nữa. Nhưng ông Tràm còn gì nữa đâu mà kiểm soát. Tới trạm, người ta yêu cầu ông xuống để soát xe, ông cứ lặng câm ngồi yên, tay ôm khư khư bình rượu thuốc. Ông tính rồi. Thằng nào đụng tới bình rượu này sẽ lại nát vụn xương mặt. Nhưng phước cho Đước, không trạm nào tịch thu bình rượu quí ấy. Rượu ở Nam Bộ thì thiếu gì. Có ai biết được rượu đó là mỹ tửu đâu.


Lên xe từ năm giờ, đến hai mươi hai giờ rưỡi, cha con ông Tràm mới tới xa cảng Miền Tây. Trầm vẫn kiên nhẫn ngồi đợi. Họ gặp nhau, bao nhiêu mệt mỏi, uất giận dọc đường bay đi hết, vì giờ này gặp Trầm, ông mới tin là Đước còn sống, ông không bị lừa.


Chuyến vô tù đầu tiên thăm Đước diễn ra trong thời gian giới hạn là ba giờ đồng hồ. Thơm khóc sưng cả mắt. Cô cố bình tâm mà không được, nước mắt cứ tự nhiên trào ra. Ông Tràm và Trầm đi thăm những công trình do tù nhân xây dựng, để Đước và Thơm ở bên nhau. Đêm trước và cả ngày ngồi trên xe đò, Thơm đã sắp xếp trong đầu những chuyện cần nói với Đước. Vậy mà giờ này, cô chỉ biết khóc. Đước hỏi gì, cô trả lời nấy, kể lộn xộn. Cô muốn tranh thủ thời gian nói với Đước thật nhiều. Nhưng trái tim lại mạnh hơn cái đầu, cô sung sướng được ngắm nhìn anh. Đã lâu lắm rồi, hai năm xa anh, vắng anh, cô không còn ham muốn sống nữa. Xa anh, mất anh, cô như người đơn độc tuyệt vọng giữa trùng khơi, tàu bị nhấn chìm, sóng gió bốn bề vây bủa. Nay gặp lại anh, cô cảm giác anh như là chiếc phao cứu mạng. Anh còn sống, nghĩa là cô còn tất cả: tình yêu, hạnh phúc, công lý.


Đước quên phắt khung cảnh nhà tù, quên luôn người cảnh vệ mặc thường phục đang ở cửa phòng, anh nắm tay Thơm, ôm lấy người cô kéo lại. Đước nhìn vào đáy mắt Thơm, đôi mắt thăm thẳm của người yêu. Trong những năm tù tội vừa qua, anh luôn luôn cảm giác rằng đôi mắt ấy dõi theo mình; gương mặt Thơm, thân thể Thơm, với anh, là hiện thân của sức sống, nghĩa tình của biển cả, của rừng đước. Anh ôm Thơm vào lòng như được ôm cả biển, cả đất rừng quê hương, cả những kỷ niệm đau đớn và những chiến tích lẫy lừng. Ôi, nỗi nhớ quê hương, nhớ biển, nhớ người yêu... Người ta có thể quên tất cả, chứ không ai là không nhớ đến điều đó.


Họ hôn nhau. Nụ hôn của niềm khao khát vô biên tự do, hạnh phúc. Nụ hôn của nỗi oan ức, của uất hận đến tận cùng, của ý chí mãnh liệt muốn tự bảo vệ. Đước lịm người đi trong hương rừng, vị mặn của biển, hương vị của một khoang tàu đầy ắp cá tôm, mùi vị của lửa than đước bén vào khô cá thiều, mùi vị của ly rượu nếp nồng nàn uống giữa biển khơi giữa hai đợt thả câu, niềm vui cùng sự mệt mỏi được bù đắp rất hậu của đất trời. Khi anh chạm môi anh vào đôi môi mọng đỏ, chạm lưỡi anh vào hàm răng trắng đều như hạt bắp của Thơm, anh suýt bật khóc. Ý chí của anh đã thắng. Bao lần, anh tưởng sẽ không thoát khỏi cái chết, vậy mà anh trụ vững được, để giờ phút này mãi mãi, anh sẽ được Thơm bù đắp lại. “Anh sẽ về bên em! Anh sẽ về bên em!”, Đước thì thầm bên tai Thơm.


*


Mới năm giờ sáng đã thấy tiếng đập cửa rầm rầm. Ông lão gác cổng chui ra khỏi mùng, lầu bầu:


- Mới chợp mắt được một lát, đã sáng rồi. - Ông nhìn lên đồng hồ treo tường - Ủa, ai tới giờ này? Mới năm giờ cà?


- Chú Đen mở cửa! Mở cửa, chú Đen!


Bọn trẻ ở xí nghiệp không kêu ông bằng tên thiệt là Hắc mà là Đen. Bởi ông đen thật. Đen với Hắc cũng rứa! Ông mặc xác bọn trẻ, muốn kêu gì thì kêu. Việc ông, ông làm cho trọn. Ông gác cổng ở đây từ thời ông Lê Văn Hải thành lập xưởng đông lạnh; cho đến lúc bỏ ra đi, ông Hải - chủ xưởng - chưa hề phiền trách ông điều gì. Vài năm nữa rồi ông cũng xuống lỗ. Đời người có gì đáng kể mà quan trọng cái tên tuổi. Điều quan trọng là không được để tiếng xấu, chứ tên gì chẳng được. Như thằng cha giám đốc vừa bị cách chức, tên hắn rất ngon: Hoàng Ngọc Lăng. Phong độ thằng chả cũng bảnh, nhưng lại ăn cắp tiền Nhà nước, lại móc ngoặc với chủ vựa, lại hống hách với công nhân. Ông mở cửa chậm một chút, nó mắng ông như con chó. Vậy mà... cháy nhà ra mặt chuột. Nó thông đồng với mụ chủ vựa ở Mỏ Tôm đẩy giá tôm lên, ăn chênh lệch không biết bao nhiêu lần. Rồi chẳng biết ăn chia không sòng phẳng thế nào, hình như còn ghen tuông gì đó, nên hai thầy trò nghỉ chơi nhau. Hai thầy trò cùng mê mụ chủ vựa, nhưng chỉ có thầy là được ân sủng. Trò ức quá, tố thầy. Kế toán trưởng tố cáo giám đốc chơi gái bằng tiền Nhà nước, giám đốc móc ngoặc để ăn chênh lệch. Rốt cuộc, giám đốc bị cách chức; kế toán trưởng bị buộc thôi việc vì thông đồng ăn chia với Hoàng Ngọc Lăng. Quả là trời có mắt. Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Từ khi quốc hữu hóa đến giờ, dưới quyền giám đốc Lăng, xí nghiệp hầu như tê liệt. Mỗi năm, chỉ có nguyên liệu làm việc vài chục ngày. Sau khi thi hành kỷ luật giám đốc Lăng, tổng giám đốc Nguyễn Hồng quyết định nhập cơ sở này vào xí nghiệp do Hai Trung làm giám đốc, chuyên chế biến đặc sản.


Giám đốc Hai Trung, theo ông Hắc đánh giá, có vẻ chịu làm, chịu chơi. Ông cho người đi tìm thợ cũ trở về làm việc. Ông giao cho Quốc, một thợ máy giỏi có nòi, phục hồi hệ thống máy đá vảy. Cả tuần nay, Quốc mất ăn mất ngủ vì cái máy đá. Ông Hắc thấy tội nghiệp Quốc. Nó được cha truyền nghề từ năm lên bảy tuổi. Mẹ chết lúc nó mới lọt lòng. Cha Quốc nhắm mắt mà chưa kịp lấy vợ cho con trai.


- Chú Đen! Mở cửa cho con. Quốc đây!


- Tao nghe rồi. Quốc hả mày? Sao mà mày linh quá. Tao đang nghĩ tới mày thì mày tới. Sao, có thể cho nó sống lại không?


- Dạ.


Quốc rồ máy xe phóng thẳng vào phân xưởng nước đá. Suốt đêm qua, Quốc trằn trọc. Chợt một ý lóe lên trong đầu: Phải rồi, phải cải tiến hệ thống giải nhiệt bằng nước chung cho cả bảy máy đá vảy! Đúng rồi. Phải thu hồi lượng nước này, sử dụng luân chuyển, đỡ tốn kém. Quốc bật dậy, tính chạy đến nhà máy. Nhưng mới có một giờ, giới nghiêm, ai cho đi? Chui vô giường trở lại, nhưng Quốc không ngủ được. Quốc bật đèn ngồi dậy, lấy bút tính toán. Ngẩng lên, đã bốn giờ rưỡi, anh phóng xe Honda đến xí nghiệp. Quốc nhớ tới câu nói của giám đốc Trung: “Việc phục hồi hệ thống máy đá vảy sẽ khai sinh thời kỳ mới của xí nghiệp”.


Nhận bàn giao được hai ngày, Trung lo đổi tên xí nghiệp. Ông không thích những cái tên rất kêu mà lại nhàm chán. Tên là Thắng Lợi nhưng làm ăn toàn thua bại. Tên là Rạng Đông mà khí thế quá âm u. Tên là Thống Nhất nhưng nội bộ năm bè bảy cánh. Ông càng ghét những tên bằng số: 30-4, 2-9, 23-9… Làm xuất khẩu mà tên tuổi như vậy, khách nước ngoài làm sao hiểu, đánh telex lại càng bất tiện. Ông đặt tên cho xí nghiệp thật giản dị, có sao gọi vậy: “Xí nghiệp Đặc sản”. Cái tên chính là thực chất hoạt động của xí nghiệp. Trước đây, muốn đặt tên, đổi tên nhà máy, phải xin năm, sáu cấp. Nay, ông Trung chỉ cần một cú điện thoại cho tổng giám đốc là xong. Chỉ riêng chuyện ấy, Quốc đã cảm nhận có cái gì thật mới đang biến động. Và Quốc càng nhớ thương cha. Nếu như sự biến động này diễn ra sớm hơn, chắc hẳn cha Quốc chưa qua đời. Ông buồn quá, lâm bệnh mà chết. “Ngày trước, ba làm thuê mà được chủ quí trọng. Ông ta thường dùng từ Mécanicien(1) để gọi ba, mặc dù ba chỉ là thợ máy. Ngày Tết, ông chủ đến tận nhà ba tặng quà. Ngày giỗ má con, ông ấy cũng nhớ và đến ăn giỗ. Trên thực tế, chủ coi những người thợ có tài như bằng hữu. Nay, người ta không nói thợ, mà nói “công nhân”. Người ta nói “công nhân là chủ”. Khẩu hiệu chữ lớn màu đỏ chói mắt: “Thực hiện quyền làm chủ tập thể...”, nhưng... giám đốc lại coi thợ chẳng ra gì. Thợ muốn gặp giám đốc mà xa vời, khó khăn. Giám đốc có quyền mắng nhiếc thậm tệ bất cứ ai. Suốt tuần giám đốc bận họp. Họp liên miên, trong khi nguyên liệu không có để sản xuất. Phụ tùng không có để bảo trì máy móc. Đồng lương chết đói. Ba chỉ lo cho con. Mày còn trẻ và dại khờ lắm, Quốc à. Cả đời ba đã không lo nổi cho con, để giờ đây, con lại khổ cả đời...”.


Ông thốt lên những lời cuối cùng. Lúc ấy, Quốc mới hiểu là ba mình buồn quá hóa bệnh. Một ngày sau, ông nhắm mắt.


Quốc bán sạch đồ đạc trong nhà để lấy tiền làm đám tang cho ba.


Công đoàn nhà máy cử người tới viếng cùng với vòng hoa trị giá hai chục đồng...


Hệ thống sản xuất đá vảy có bảy máy. Sau khi ông Hải bỏ đi được một năm thì máy hỏng, do sử dụng mà không được bảo dưỡng thường xuyên. Các động cơ bơm nước bị cháy. Cả bảy hệ thống tự động điều khiển bị tê liệt, bốn blốc bị xì, bộ tạo xả đá cũng không còn dùng được. Quốc nghiên cứu, thay bảy hệ thống giải nhiệt cũ bằng một hệ thống giải nhiệt chung, do một máy bơm, tạo nên chu trình kín, không hao nước xả bỏ như trước. Một tháng làm việc cùng đồng đội, Quốc đã cho chạy mẻ đá đầu tiên thành công. Bình quân mỗi ngày cho chạy ba tấn đá vảy. Việc phục hồi hệ thống đá vảy đã tiết kiệm được hàng vạn đô la chưa phải bỏ ra để nhập máy mới. Giám đốc Trung cùng phó tổng giám đốc Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản Tư Phương đến phân xưởng cơ điện. Liên hiệp tặng công nhân phân xưởng hai ngàn đồng (theo thời giá, tương đương bốn chỉ vàng). Giám đốc xí nghiệp chủ động tặng riêng Quốc món quà: quyết định nâng lương vượt cấp, từ bậc ba lên bậc năm. Phân xưởng như trong ngày hội. Cả nhà máy chúc mừng họ. Một cuộc mít tinh không định trước diễn ra. Trung bấm Tư Phương:


- Anh nói với anh em vài lời.


- Đâu có được. Ông nói chứ, ông Hai.


- Anh là dân tuyên huấn mà. Tôi giới thiệu đây.


Mọi người yên lặng khi giám đốc đứng lên:


- Thưa các anh chị em. Hôm nay, chúng ta không hẹn mà nên, cả nhà máy vui mừng trước việc phục hồi máy đá. Đây không chỉ là chuyện phục hồi một cái máy. Đây là việc làm mở đầu cho một thời kỳ mới của ngành ta, của xí nghiệp ta (vỗ tay ầm vang hội trường). Tôi xin giới thiệu đồng chí Tư Phương, thay mặt ban tổng giám đốc, tâm sự với chúng ta ít phút (vỗ tay).


Trong chiến tranh, Tư Phương là phó ban tuyên huấn của một chiến trường ác liệt nhất. Sau ngày giải phóng, khi đã chuyển qua làm kinh tế, Tư Phương vẫn không quên mất niềm say mê học hỏi, ham thích văn học nghệ thuật. Phương đọc nhiều, nhớ hết, và đó là thế mạnh của anh. Làm kinh tế, nhất là kinh tế đối ngoại, nếu không hiểu thấu đáo vấn đề, nắm bắt kịp những biến động về chính trị và thị trường thế giới thì không thể hoàn thành nhiệm vụ.


Phương tươi cười chào mọi người. Đây là lần đầu tiên từ khi xí nghiệp được quốc hữu hóa, người ta thấy công nhân được trọng thưởng bằng tiền mặt, nhanh chóng, không cần thủ tục phiền toái. Mọi người chờ xem Tư Phương nói gì với họ. Và họ đã ngạc nhiên; từ ngạc nhiên tới tin những điều Phương nói. Anh nói toàn sự thật, cụ thể, không nói chung chung, không hô hào suông như tay giám đốc cũ vừa bị kỷ luật.


“... Hai chục năm trời, từ năm năm lăm đến bảy lăm, nghề cá ở miền Bắc dẫm chân tại chỗ. Theo cái đà ấy, từ bảy lăm đến năm nay, nghề cá cả nước tụt xuống đáy thấp nhất và có nguy cơ không ngóc lên được. Vậy mà năm năm qua, Nhà nước đã bỏ vốn khá lớn cho nghề cá. Nhưng tất cả như dồn vào chiếc tàu không có đáy. Hiệu quả thật mỉa mai. Kế hoạch xuất khẩu vẽ ra là hai trăm năm mươi triệu đô la cho năm năm - từ năm bảy sáu tới năm tám mươi - cuối cùng chỉ đạt tám mươi bốn triệu. Quả là đầu voi, đuôi chuột...”.


Hội trường vang lên những tiếng xì xào, chặc lưỡi. Mọi người lắc đầu.


“... Nguyên nhân của tình trạng trượt dốc này là do chúng ta nôn nóng, ép ngư dân vào hợp tác xã để rồi hợp tác xã thi nhau tan rã. Chúng ta không duy trì được nghề cá của ngư dân, không đầu tư trực tiếp cho ngư dân; không cho ngư dân quyền tự do tiêu thụ sản phẩm, mà bắt họ bán cho Nhà nước với giá rẻ mạt, không đủ bù đắp chi phí sản xuất. Trong khi đó, Nhà nước lại đầu tư theo lối bao cấp cho khu vực quốc doanh. Các xí nghiệp quốc doanh liên tục bị thua lỗ. Sản lượng cá tôm tụt xuống. Ngư lưới cụ, ghe tàu hư hỏng, mất mát dần. Ba vạn lao động nghề cá kề bên biển vàng biển bạc mà đói.


Thưa anh chị em! Nhà nước đã chính thức cho phép ngành xuất khẩu thủy sản được tự làm, tự cân đối, và làm nghĩa vụ với Nhà nước! Chúng tôi chịu trách nhiệm trước Nhà nước và trước các anh chị em về đường đi nước bước, cung cách làm ăn. Có nhiều việc phải làm cùng một lúc. Nhưng tất cả, tựu trung lại đều nhằm mục đích là trước hết phải lo cho dân, vì dân. Dân giàu thì nước mạnh. Đã có những người đấu tranh cho điều đó mà bị kẻ xấu hãm hại, phải vào tù. Những chiến sĩ ấy mới xứng đáng là người kế tục sự nghiệp cách mạng...”.


Giọng Tư Phương nhỏ lại. Mọi người nhận ra anh đang xúc động, và họ thực sự bị anh cuốn hút.


“... Hôm nay, tôi nói cùng các anh chị em một câu ngắn gọn thế này: Đã đến lúc chúng ta phải quyết làm cho dân giàu để nước mạnh!”.


Tiếng vỗ tay vang rền hội trường.


- Ông giám đốc ơi, ông nói cho rõ, “dân” ở đây gồm những ai? Có chúng tôi không? - Giọng ông “Đen” oang oang - Bởi vì mấy năm nay, tôi nghe hoài câu “công nhân làm chủ” đã nhàm tai rồi. Làm chủ như vậy thì xin làm đày tớ còn hơn! Xin nhường cho cán bộ làm chủ; còn tôi, tôi xin làm đày tớ!


Cả hội trường cười ran vừa tán thưởng, vừa lo lắng cho ông Hắc. Tư Phương đến gần ông Hắc, ôn tồn nói:


- Tôi biết, ông nói thật bụng, chứ không nhằm mỉa mai ác ý. Những kẻ nào làm ô danh cán bộ cách mạng, ô danh Đảng, phải chịu trách nhiệm trước dân. Tôi nói dân là bao gồm hết thảy những ai làm ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội: công nhân, nông dân, viên chức... và con em, gia đình họ.


- Ồ! Thế thì ngon! Nhưng để coi đã. Hãy chờ xem việc làm đã! - Vẫn giọng ông Hắc.


- Không phải chờ, mà là cùng xăn tay áo lên mà làm. Như các anh em ở phân xưởng cơ điện đã làm. Đúng không, các anh em?


Ông Hắc giơ bàn tay khô gầy ra bắt tay Tư Phương, mắt ông ánh lên tia hy vọng, hai mí mắt nhăn nheo như vỏ cau khô, chớp chớp.


*


Vấn đề đặt ra cho Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản thật nặng nề. Làm sao có vốn? Nhất là vốn bằng ngoại tệ để nhập nhiên liệu, vật tư, ngư lưới cụ. Ngay cả tiền Việt Nam để mua tôm còn không có, nói chi đến ngoại tệ. Quan hệ giữa Trung ương và địa phương không thống nhất. Mỗi địa phương như một quốc gia riêng. Không có vật tư hàng hóa, không có tiền mặt thì đừng nói chuyện làm ăn với địa phương.


Nguyễn Hồng suy nghĩ rất nhiều về phương án liên kết ba cấp giữa Trung ương, tỉnh và huyện trên địa bàn huyện, lấy huyện làm cơ sở. Đặc điểm của nông thôn Nam Bộ là cơ sở vật chất hạ tầng hầu như không có gì. Vì thế, liên kết kinh tế phải gắn liền với vấn đề xã hội, phải giải quyết các vấn đề xã hội. Về mặt này, bản đề xuất của Lê Văn Đước cung cấp cho thứ trưởng Hồng nhiều cứ liệu thực tế. Ông huy động các nhà kinh tế, các chuyên viên kỹ thuật hợp lực với ban tổng giám đốc Liên hiệp xây dựng chiến lược phát triển của ngành thủy sản, lấy xuất khẩu làm đòn bẩy. Con tôm được xác định là mục tiêu chiến lược. Ngư dân được xác định là đối tượng đầu tư chủ yếu của Nhà nước. Giải quyết được vấn đề bước đi ban đầu, thông suốt với nhau về cách làm như vậy, ông Hồng coi là thắng lợi lớn. Từ trong sự rị mọ, cùng đường, mà tìm ra được hướng đi, đâu phải chuyện dễ. Nhất là không khí của cơ chế quan liêu bao cấp cực kỳ ngột ngạt, dưỡng khí rất ít. “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, không thể ngồi chờ có đủ các yếu tố ấy mới làm. Phải tạo ra đủ các yếu tố ấy. Điều quan trọng là phải tự tạo ra.


Tư Phương cùng Hai Trung vô thăm Đước. Cứ mỗi lần gặp Đước, Phương lại tê tái người khi thấy trước mắt anh, Đước xanh xao gầy yếu, gương mặt nhiều nếp nhăn, không còn là chàng trai đầy sinh lực như trước. Đước rất cảm động, vì tháng nào Phương và Trung cũng đến thăm mình. Họ mang quà cho anh: mấy hộp sữa, cây thuốc Sài Gòn xanh và một tin mừng: Chậm nhất một tuần nữa, Đước được trả tự do.


Phương thăm dò xem sau khi ra, Đước tính làm gì. Không cần suy nghĩ, điều đó có sẵn trong đầu, Đước đáp:


- Tôi sẽ về lại đúng cái nơi họ đã bắt tôi; và tôi sẽ làm y như tôi đã làm trước khi bị bắt.


Phương và Trung hiểu, nghĩa là Đước vẫn đầy nhiệt huyết. Đước không nản chí. Anh muốn chứng minh rằng điều mình đề xuất là đúng.


Phương nói:


- Bọn mình rất mừng, vì tù đày không làm cậu chồn chân mỏi gối. Cậu vẫn đầy ham muốn làm cho dân giàu nước mạnh. Hôm nay, bọn mình chính thức đề nghị cậu về làm việc tại Liên hiệp.


- Đừng bứng tôi ra khỏi rừng đước. - Đước trả lời - Cây đước không đứng đơn độc được. Đừng bắt tôi rời khỏi Mỏ Tôm. Tôi nặng nợ với đất ấy!


- Không. Có ai bứng cậu ra khỏi rừng đước đâu. Cậu vẫn làm việc tại Mỏ Tôm, nhưng làm việc tại Công ty Liên doanh ba cấp.


- Nghĩa là... các anh chấp thuận bản đề xuất của tôi hơn hai năm trước?


- Đúng. Bây giờ, tác giả của đề xuất cũng là người thực hiện.


Đước lặng đi trong niềm sung sướng. Mắt anh lấp lánh niềm vui. Nãy giờ, Hai Trung ngồi yên nhìn Đước. Thấy ánh mắt vui sướng của Đước, Trung nắm lấy tay Đước:


- Tổng giám đốc giao cho anh em mình nhiệm vụ vô đây thuyết phục cậu. Mình biết ngay là cậu đồng ý. Báo để cậu mừng, sau tám tháng trời chần chừ, do dự, nay tỉnh đã đồng ý thành lập Công ty Liên doanh ba cấp, gồm Liên hiệp Xuất khẩu của Bộ, tỉnh, và Mỏ Tôm. Cũng thông báo để cậu nắm luôn, Công ty Liên doanh chậm ra đời là do sự phản đối của một vài nhân vật. Chủ tịch huyện đã được rút lên tỉnh, nghe nói làm phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu. Đối thủ của cậu không còn ở Mỏ Tôm nữa.


- Vậy hả? Nhưng... tôi tin là hắn còn tiếp tục rình rập để phá tôi.


- Cậu yên tâm! - Phương tiếp - Thời thế đã chuyển rồi.


- Có lẽ anh lạc quan hơi sớm, anh Tư ạ. Hai anh biết chuyện thằng em tôi rồi chứ?


- Rồi. Ngay khi sự việc xảy ra, ông Hòa có điện thoại cho tụi mình vì Trầm bỏ về Sài Gòn. Hiểu được tâm trạng của Trầm, hai đứa mình đã đến nhà, thuyết phục nó không được bỏ việc. Tuổi còn trẻ, mọi việc mới là bắt đầu, không được nản.


- Đó, các anh thấy rồi đó. Ở đâu cũng có những kẻ chống lại sự tiến bộ. Vậy mà anh Tư bảo chuyển là chuyển ở chỗ nào?


- Phải tự mình tạo ra sự chuyển biến, Đước ạ. Hãy tự khẳng định mình, chỉ chờ đợi thì không đạt cái gì đâu. Mình không nói là cái mới, cái tiến bộ đã chiến thắng; nhưng đúng là cái mới đã xuất hiện rồi. - Tư Phương châm lại điếu thuốc đã tắt từ nãy, rồi tiếp - Một người nào đấy đã nói, dấu hiệu của thiên tài là khi nó xuất hiện thì lập tức nó bị bọn bất tài liên kết chống lại. Điều đó cũng đúng đối với cung cách làm ăn mà chúng ta đang đeo đuổi. Chắc chắn là chúng ta còn gặp nhiều cản trở quyết liệt. Nhưng hãy kiên tâm, vì thời thế thật sự đã chuyển rồi. Hãy tin như thế, Đước ạ.


Tầm nhìn chiến lược cộng với những biện pháp kinh tế khôn ngoan đã giúp cho Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản tạo vốn rất nhanh. Nguyễn Hồng và ê kíp của ông làm theo qui luật Hàng - Tiền - Hàng, lấy chữ tín làm nền tảng. Họ chia nhau đi tìm nguồn vốn. Nhà máy Dệt số Một là đơn vị đầu tiên liên kết với họ. Hàng triệu mét vải được đưa xuống ngư dân đổi lấy tôm nguyên liệu. Có tôm là có tất cả. Tôm xuất khẩu, được bao nhiêu đô la nhập ngay xăng dầu, máy thủy, ngư lưới cụ, tiếp tục đưa xuống ngư dân đổi lấy tôm. Tốc độ quay vòng của đồng vốn cực kỳ nhanh. Nhà máy Dệt số Một, từ chỗ có nguy cơ sập tiệm vì nguyên liệu phải nhập bằng đô la, sản phẩm lại bán bằng tiền Việt, và Nhà nước không thể nhập được nguyên liệu vì cạn đô la rồi; nay Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản nhận vải, trả bằng đô la ngang giá với vải nhập của Nhật. Khi có nguyên liệu sản xuất rồi, Nhà máy Dệt số Một bằng lòng cho Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản quay vòng số ngoại tệ của mình. Khi nào cần nhập sợi, thiết bị, chỉ cần ới một tiếng là có liền. Tất nhiên là sòng phẳng, chữ tín phải là cơ sở cho mối quan hệ này. Ông Hồng nhắc nhở bộ tham mưu của mình: Chúng ta là Cộng sản, nếu Cộng sản là ưu việt thì chúng ta phải buôn bán giỏi hơn tư sản. Mà muốn giỏi hơn thì phải nhạy bén, dũng cảm; nhưng trước hết phải biết giữ chữ Tín.


Với phương châm ấy, Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản thu hút được nhiều bạn bè trong nước và nước ngoài. Khi Phương và Trung vô thăm Đước, thì Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản đã có uy tín tới mức hai công ty ở Nhật cho ứng trước vật tư hàng hóa (không tính lãi suất) và nhận tôm sau. Tới tám mươi phần trăm vốn lưu động của Liên hiệp là vốn vay trong nước và vay nước ngoài. Điều đó chứng tỏ lực của Liên hiệp còn quá yếu, nhưng lại chứng tỏ nó đã có uy tín trong cả nước và ngoài nước.


Nhà nước chưa có luật đầu tư. Bằng cách xin ứng trước vốn bằng vật tư hàng hóa, trả tôm sau, Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản đã thu hút các công ty tư bản đầu tư cho nghề cá Việt Nam. Đó quả là một sáng tạo có ý nghĩa kinh tế và chính trị rất lớn. Nhưng cũng chính vì sự sáng tạo này mà về sau ông Hồng và đồng đội phải trả giá rất đắt...


Còn hiện tại thì rất đáng mừng, nghề cá ở miền Nam đang được vực dậy.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info







(1) Xuồng ba lá - loại xuồng nhỏ nhất, chở được khoảng ba trăm ký.




(1) Nhà cơ khí, chuyên gia cơ khí.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 22.12.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 22.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
xem thêm »