tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28305918
Tiểu thuyết
04.01.2019
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm


Chương 35


Ngày hôm sau, mưa rơi chút ít nhưng cũng có những giờ quang đãng, nên ngay từ sáng sớm Staś  đã đi thăm thú trang ấp, và cho tới trưa, em đã xem xét kĩ lưỡng tất cả mọi nơi. Nói chung, kết quả tham quan thật tuyệt diệu. Trước nhất, về phương diện an toàn, núi Linđe dường như là chỗ có một không hai trong toàn bộ Phi châu. Các sườn núi thì họa may chỉ có loài vượn là leo lên nổi. Cả sư tử lẫn báo đều không thể trèo lên đỉnh theo các sườn núi được. Còn nếu nói về các sống đá thì chỉ cần bố trí cho con King nằm cạnh lối vào là có thể ngủ yên giấc. Staś  đi đến kết luận rằng, tại đây em có thể chống lại ngay cả những đơn vị tương đối nhỏ của bọn phiến loạn, vì con đường lên núi hẹp đến nỗi con King chỉ vừa đi lọt, và một người được trang bị khí giới tốt có thể ngăn không cho một kẻ nào lọt qua mà còn sống sót. ở giữa “đảo” có một nguồn suối nước mát, sạch như pha lê, nguồn này chảy thành dòng suối chảy len lỏi giữa các lùm chuối rồi đổ từ trên cao xuống sông, tạo nên một cái thác mảnh, tựa như một dải vải bằng bạc. Về phía nam của “đảo” là những cánh đồng sắn tốt tươi, củ sắn cung cấp cho người da đen thứ lương thực ngon lành, còn phía bên kia cánh đồng vút lên những khóm dừa thật cao, có ngọn trông giống như những ngù lông tuyệt đẹp.


“Hòn đảo” được cả một biển rừng vây quanh, từ đây có thể nhìn được rất xa. Về phía đông xám mờ là rặng núi Caramôiô. Phía nam cũng có những vùng cao, trên đó nổi bật lên màu sẫm, hẳn là đất ở đó có rừng bao phủ. Ngược lại, về phía tây tầm mắt chạy thẳng tới đường chân trời, nơi rừng tiếp giáp với bầu trời. Nhờ cái ống nhòm của ông Linđe, Staś  trông thấy có rất nhiều khe núi và những cây gỗ to lớn mọc rải rác, giống như những cái nhà thờ nhô lên trên thảm cỏ. Tại những nơi cỏ không lên tốt lắm, ngay cả mắt thường cũng có thể trông thấy những đàn linh dương và ngựa vằn, hay hàng đàn voi và trâu. Đôi nơi, bọn hươu cao cổ đang nhấp nhô trên bề mặt màu xanh xám của rừng, giống như những con tàu đang rẽ sóng biển. Ngay sát bên sông, một nhóm mươi con dê nước đang đùa nghịch, những con khác chốc chốc lại nhô cái đầu mọc sừng từ dưới nước lên. Còn nơi nước lặng, cứ chốc chốc những con cá mà Kali thường câu được lại nhảy vọt lên, loáng qua như một ngôi sao bằng bạc trong không khí rồi lại rơi vào làn nước. Staś  tự nhủ, khi nào trời đẹp, sẽ đưa Nel tới đây để chỉ cho em thấy cái vườn thú này.


Ngược lại, trên cả “hòn đảo” không hề có những con thú lớn, thay vào đó là hằng hà sa số chim và bướm. Những con vẹt to tướng, trắng như tuyết, có cái mỏ đen tuyền và chỏm đầu vàng, bay trên những khóm cây, những con chim mái nhỏ bé, màu lông tuyệt vời lắc lư trên những cành sắn mảnh mai, ẩn hiện và lóng lánh như những đồ trang sức; từ những hàng dừa cao vút vọng về tiếng những chàng chim cu Phi châu và tiếng chim tu huýt hiền dịu, nghe giống như tiếng than thầm.


Staś  quay về sau chuyến đi tham quan, lòng đầy sung sướng: “Không khí trong lành.” − Em tự nhủ. − “Hoàn toàn yên ổn, thực phẩm đầy đủ, và tươi đẹp như thiên đường!” Quay về lều của Nel, em lại thấy rằng, tuy thế trên “hòn đảo” này cũng vẫn có những loài thú to, thậm chí là hai con liền, vì cậu bé Nasibu phát hiện ra có một con dê cái và một chú dê con trong lùm chuối, hẳn là bọn phiến loạn không kịp cướp đi nốt. Con dê mẹ đã hơi trở thành hoang dã, nhưng chú dê con lập tức quen ngay với Nasibu, cậu bé rất tự hào về điều phát hiện của mình, vì rằng, nhờ đó, hàng ngày cô bé sẽ có một thứ sữa tươi ngon tuyệt.


...


− Bây giờ chúng mình sẽ làm gì, anh Staś ? − Một hôm Nel hỏi, sau khi bọn trẻ đã “làm chủ” tương đối hoàn hảo trên “hòn đảo”.


− Nhiều việc lắm, − Cậu bé đáp, rồi xòe những ngón tay ra, em bắt đầu tính toán những công việc phải làm đang đợi chúng:


− Trước hết, Kali và Mêa là những người ngoại đạo, còn Nasibu, vốn là người Danđiba nên theo đạo Hồi. Cần phải khai sáng, giáo dục và rửa tội cho cả ba. Thứ hai, cần phải sấy thịt khô chuẩn bị cho chuyến đi, nghĩa là anh sẽ phải đi săn; thứ ba, khi đã có được nhiều súng và đạn, anh muốn dạy cho Kali tập bắn, để cả hai đứa có thể tự vệ; và thứ tư, có lẽ em đã quên mất chuyện những chiếc diều rồi thì phải?


− Diều à?


− Phải, em sẽ dán diều, hoặc tốt hơn, là hãy khâu diều. Đó là công việc của em.


− Nhưng em không muốn chơi không.


− Đó hoàn toàn không phải là trò chơi, mà là công việc, thậm chí có thể là việc làm có ích nhất trong tất cả các việc. Em cũng đừng có nghĩ làm một cái diều là xong đâu, em sẽ phải làm năm mươi cái hay hơn nữa cơ đấy.


− Làm gì lắm thế anh? − Cô bé tò mò hỏi lại.


Thế là Staś  bắt đầu hé cho cô bé những dự kiến và hi vọng của mình. Trên mỗi chiếc diều chúng sẽ ghi lên: Họ tên chúng là gì, chúng đã thoát khỏi tay bọn phiến loạn ra sao, hiện giờ đang ở đâu và định đi đâu. Chúng sẽ viết rằng chúng cần được giúp và yêu cầu gửi điện báo đến Port Said. Rồi chúng sẽ thả những con diều đó lên, khi nào gió thổi từ phía tây sang phía đông.


− Nhiều chiếc, − Cậu bé nói, − Sẽ rơi xuống cách đây không xa, nhiều chiếc sẽ bị vướng núi, nhưng chỉ cần một chiếc bay tới bờ biển và lọt vào tay người Âu châu là đủ, khi đó chúng mình sẽ được cứu sống.


Nel rất thích thú với ý định ấy, cô bé nói ngay rằng ngay cả King cũng không thể nào sánh nổi với Staś  về sự thông minh. Cô bé thậm chí còn tin chắc rằng nhiều cái trong số diều đó sẽ bay tới tận tay cha, và cô hứa sẽ dán diều từ sáng sớm đến tối mịt. Niềm vui của cô bé lớn đến nỗi Staś  lo rằng cô bé lên cơn ấm đầu nên phải hãm bớt nhiệt tình của cô bé lại.


Kể từ đó, những công việc mà Staś  nêu đều được bắt đầu một cách tốt đẹp. Kali được giao nhiệm vụ bắt thật nhiều cá nhảy, nó đã thôi không dùng cần câu nữa mà lấy tre làm thành một cái đăng đặt ngang dòng sông, ở giữa đăng có một cái lỗ to mà lũ cá bắt buộc phải chui qua nếu muốn vượt ra khỏi vùng nước đó. Kali dùng một chiếc lưới chắc bện bằng sợi dây dừa mắc vào cái lỗ này, thế là bằng cách ấy nó đảm bảo hôm nào cũng đánh được nhiều cá.


Để dồn cá vào cái lưới tinh khôn nọ, nó dùng con King: Nó dắt voi xuống nước, sục nước và quẫy cho ầm lên đến nỗi không chỉ riêng những chàng cá bạc hay nhảy, mà tất cả mọi loài sinh vật khác cũng phải cố sức thoát ra khỏi vùng nước bị quấy đục. Tuy nhiên chuyện đó nhiều khi cũng mang lại hậu quả tai hại, ví đôi lần, những con cá sấu chạy trốn làm đăng bị đổ, đôi khi chính con King gây ra chuyện đó, vì hình như nó vốn nuôi sẵn một mối thù bẩm sinh nào đó với bọn cá sấu, nên luôn luôn săn đuổi chúng, và khi chúng dạt lên cạn, nó dùng vòi túm lấy chúng, vứt lên bờ rồi giẫm đạp điên cuồng.


Vào lưới cũng thường có cả những chú rùa, và những vị khách lưu đày trẻ tuổi của chúng ta nấu thịt rùa thành những món xúp ngon lành. Kali làm cá, thịt chúng thường được phơi nắng, còn bong bóng thì nó đem về cho Nel, cô bé phanh chúng ra, căng trên tấm gỗ và biến chúng thành một phần tư tờ giấy, to bằng hai lòng bàn tay.


Staś  và Mêa giúp đỡ thêm cô bé trong công việc ấy, vì thực ra đó là công việc hoàn toàn không dễ dàng chút nào. Màng bong bóng dày hơn nhiều so với bóng cá sông của ta, nhưng sau khi phơi khô thì lại trở nên rất giòn. Mãi sau một thời gian, Staś  mới phát hiện ra rằng cần phải phơi chúng trong bóng râm. Tuy nhiên, đôi khi em mất kiên trì, và nếu em không chịu bỏ ý định làm diều bằng bóng cá thì chỉ vì em biết là loại vật liệu này nhẹ hơn giấy và chịu mưa tốt hơn nhiều. Thực ra mùa khô cũng đang đến gần, nhưng em không biết chắc liệu về mùa hạ có mưa hay không, nhất là ở vùng núi.


Tuy vậy, em cũng dán cả những cái diều bằng giấy (em tìm thấy khá nhiều giấy trong số những thứ đồ đạc của ông Linđe). Cái diều đầu tiên, to và nhẹ, được thả lên theo gió tây, đã vọt lên rất cao, và khi Staś  cắt đứt dây, nó bị một luồng không khí rất mạnh mang đi về phía rặng núi Caramôiô. Staś  dùng ống nhòm dõi theo đường bay của nó cho tới khi nó chỉ còn nhỏ như một cánh bướm, như một con ruồi, rồi chìm hẳn vào màu xanh nhạt của nền trời. Ngày hôm sau em lại thả một cái khác, được làm bằng bong bóng cá, chiếc này còn lên nhanh hơn, nhưng cũng nhanh biến mất khỏi tầm mắt hơn, có lẽ là do bong bóng cá trong suốt.


Nel lao động vô cùng nhiệt tình, kết cục là những ngón tay của cô bé trở nên khéo léo đến nỗi Staś  lẫn Mêa cũng không sao theo kịp cô bé trong công việc này. Giờ đây thì cô bé không thiếu sức lực nữa. Khí hậu tốt lành của núi Linđe quả thực đã hồi sinh hoàn toàn cho cô bé. Thời hạn của cơn sốt thứ ba − cơn sốt chết người − trôi qua đã lâu. Ngày hôm ấy, Staś  ẩn người trong đám chuối và khóc lên vì sung sướng. Sau hai tuần ở trên núi em nhận thấy rằng, cô Mdimu Tốt trông khác hoàn toàn so với lúc ở trong rừng dưới kia. Hai má cô bé đầy lên, màu da từ sắc vàng ệch và trong suốt lại chuyển sang màu hồng phơn phớt, đôi mắt tràn đầy ánh sáng long lanh nhìn ra cuộc đời dưới mái tóc rậm. Cậu bé thầm cảm ơn những đêm mát mẻ, cảm ơn nước nguồn trong vắt và bột chuối khô, nhưng trước hết là cầu nguyện cho ông Linđe.


Còn chính Staś  thì gầy đi và đen hơn. Điều đó chứng tỏ bệnh sốt rét không chạm tới em, vì những người mắc bệnh này không bị rám nắng, em lớn lên và rắn rỏi hơn. Cử động và sự lao động chân tay đã khiến cho lòng can đảm và sức mạnh của em được tăng cường. Bắp thịt tay của em trở nên rắn như thép. Đó quả thực là một nhà thám hiểm Phi châu trải nhiều thử thách. Do săn bắn hàng ngày và chỉ dùng đạn săn, nên em trở thành một xạ thủ vô địch. Em hoàn toàn không còn sợ các loài dã thú nữa, vì hiểu được rằng những “chàng” thợ săn lông xù hay lốm đốm trong rừng gặp em thì nguy hiểm hơn là em gặp bọn chúng. Một lần, chỉ bằng một phát đạn, em hạ ngay một con tê giác khổng lồ, con thú đang ngủ dưới cây xiêm gai tỉnh dậy bất ngờ lao vào húc em. Em cũng không ngán những đàn trâu rừng hăng máu của Phi châu, đã từng nhiều lần đánh bại cả những đoàn khách thương...


Chương 36


Staś  còn dạy cho Kali bắn súng trường Rêmingtơn, và môn học này được tiếp thu dễ dàng hơn là môn giáo lí. Sau mười ngày tập bắn bia và bắn những con cá sấu đang ngủ trên bãi cát ven sông, cậu bé da đen đã hạ được một con linh dương puphu, tiếp đó là mấy con linh dương arien, và cuối cùng là con lợn lòi nơriđi. Tuy nhiên cuộc chạm trán này suýt nữa cũng kết thúc bằng tai nạn như đã xảy ra với ông Linđe, vì con nơriđi mà Kali tiến đến gần một cách nhẹ dạ sau khi bắn bỗng nhiên bật dậy và lao thẳng vào nó, cái đuôi dựng ngược lên[1]. Ném vội khẩu súng, Kali leo ngay lên cây, và ngồi đó cho tới khi tiếng kêu thét của nó khiến Staś  chạy lại, nhưng em chỉ gặp con lợn đã chết. Staś  chưa cho phép cậu bé đi săn trâu rừng, sư tử và tê giác. Còn đối với lũ voi chiều chiều vẫn đến uống nước thì chính em cũng không bắn, vì em đã hứa với Nel là sẽ không bao giờ giết một con nào nữa.


Tuy nhiên, cứ sáng hoặc chiều chiều, khi nhìn qua ống nhòm từ đỉnh núi, trông thấy những đàn ngựa vằn, linh dương sừng móc, linh dương arien hoặc sơn dương, em đều dẫn Kali đi theo. Trong những cuộc đi đó em thường hỏi thằng bé về dân tộc Vahima và Xamburu, những người mà bọn trẻ chắc chắn sẽ phải gặp trên đường đi về phía đông, về phía đại dương.


− Kali, cậu có biết rằng, − Một lần nọ em hỏi, − Hai mươi ngày đường nữa, nếu đi ngựa thì còn nhanh hơn, chúng ta sẽ có thể về tới quê hương của cậu?


− Kali không biết người Vahima sống ở phương nào. − Cậu bé da đen đáp lại và buồn bã lắc đầu.


− Nhưng tớ biết, họ sinh sống ở phía mà sáng sáng mặt trời mọc, trên bờ một con nước lớn nào đó.


− Đúng rồi, đúng rồi! − Cậu bé da đen thốt lên kinh ngạc vừa mừng rỡ. − Bassa Narok! (Theo tiếng của dân tộc Kali có nghĩa là Con nước lớn màu đen) Ông lớn biết hết mọi thứ!


− Không đâu, vì tớ vẫn chưa biết dân Vahima sẽ tiếp đón chúng ta như thế nào, nếu như chúng ta gặp họ.


− Kali sẽ ra lệnh cho bọn họ phải cúi mặt xuống trước ông lớn và trước mặt Mdimu Tốt.


− Thế nếu họ không vâng lời cậu thì sao?


− Cha Kali được khoác da báo, và Kali cũng thế mà.


Staś  hiểu như thế có nghĩa là cha Kali là vua, còn thằng bé là con trưởng của ông và sẽ làm vị vua tương lai của người Vahima.


Em bèn hỏi tiếp:


− Cậu bảo rằng có những người khách thám hiểm da trắng từng đến quê hương cậu, và người già vẫn còn nhớ họ phải không?


− Vâng, Kali còn nghe nói rằng, họ mang trên đầu những vòng khăn to tướng.


“Ôi!” − Staś  nghĩ thầm. − “Như vậy, đó không phải là người Âu, mà chỉ là người Ả Rập thôi, vì nước da của họ sáng màu hơn cùng những bộ quần áo trắng của họ, nên người da đen tưởng họ là người da trắng.”


Song Kali không còn nhớ và không thể giải thích gì được rõ ràng hơn nữa, nên Staś  bèn đặt cho nó một câu hỏi khác:


− Người Vahima có giết ai trong số những người vận quần áo trắng ấy không?


− Không. Người Vahima cũng như người Xamburu không thể làm việc ấy đâu.


− Tại sao thế?


− Vì họ nói rằng, nếu như máu của họ ngấm vào đất thì mưa sẽ không rơi xuống nữa.


“Mình rất mừng là họ tin vào điều đó!” − Staś  nghĩ thầm. Rồi em hỏi tiếp:


− Liệu người Vahima có đi cùng chúng ta đến tận biển lớn hay không? Nếu như tớ hứa tặng cho họ nhiều lụa, chuỗi hạt cườm và nhiều súng ống?


− Kali sẽ đi, người Vahima cũng đi, nhưng trước tiên ông lớn phải đánh được người Xamburu đã, vì họ ở bên kia con nước.


− Tiếp sau người Xamburu là ai ở?


− Tiếp sau người Xamburu không có núi, chỉ có rừng, trong rừng toàn sư tử thôi.


Cuộc trò chuyện kết thúc ở đó. Giờ đây càng ngày Staś  càng hay nghĩ tới chuyến đi lớn sang phía đông, em nhớ những gì ông Linđe nói, rằng có thể gặp được những người Ả Rập vùng duyên hải chuyên buôn bán ngà voi, cũng như những đoàn truyền giáo. Em hiểu rằng, đối với Nel, chuyến đi này sẽ là một chuỗi ngày mệt nhọc và những nỗi nguy hiểm mới, nhưng em cũng hiểu rằng, chúng không thể ở lại núi Linđe cả cuộc đời được và cần phải lên đường trong thời gian tới. Giai đoạn sau mùa mưa, khi nước hãy còn bao phủ những vùng lầy đầy bệnh tật, khi khắp nơi hãy còn đang có nước là thời gian thích hợp nhất để lên đường. Trên những đỉnh cao, cái nóng chưa tác động mấy đến bọn trẻ, ban đêm thường lành lạnh khiến chúng phải đắp kín người. Nhưng trong rừng phía dưới vùng thấp kia nóng hơn nhiều, và chắc chắn sắp tới sẽ còn nóng nực hơn nữa. Hiện giờ mưa ít khi thấm đất, càng ngày mực nước sông càng xuống thấp. Staś  đoán rằng về mùa hè, con sông rất có thể sẽ trở thành một trong những khe cạn như những chiếc khe mà em đã gặp trên sa mạc Libi, những khe mà chỉ chính giữa lòng mới có một vệt nước nhỏ bé mà thôi.


Tuy vậy, em vẫn cứ hoãn chuyến đi từ ngày này sang ngày khác. Trên núi Linđe, mọi thứ mới dễ chịu làm sao, cả cho người lẫn cho súc vật! ở đây, không những Nel chỉ thanh toán hoàn toàn với bệnh sốt rét mà cả với chứng thiếu máu nữa, Staś  thì không còn thấy nhức đầu, còn da của Kali và Mêa thì bắt đầu bóng như xa−tanh đen. Nasibu trông cứ như một quả dưa bở di động trên cặp chân khẳng khiu, còn King thì xơi cỏ không kém gì lũ ngựa và lừa. Staś  biết rõ rằng giữa biển rừng mênh mông kia, cho đến cuối cuộc hành trình, cũng không thể tìm đâu ra một “hòn đảo” thứ hai như thế này nữa.


Và em lo ngại nhìn về tương lai, mặc dù bọn trẻ giờ đây đã có con King trợ sức đắc lực, thậm chí khi cần nó có thể còn là người bảo vệ tin cẩn.


Cứ thế, trước khi chúng kịp chuẩn bị lên đường, đã một tuần lễ trôi qua. Trong những giây phút rảnh rỗi không phải đóng gói đồ đạc, bọn trẻ vẫn không ngừng thả những chiếc diều mới với ghi chú rằng chúng sẽ đi về phía đông, về phía một cái hồ nào đó, về phía đại dương. Chúng tiếp tục thả thêm diều vì có một luồng gió mạnh, nhiều khi mạnh như bão thổi từ phía tây, gió cuốn những chiếc diều mang tít đi xa, về phía núi và sang bên kia núi. Để tránh cho Nel khỏi bị cháy nắng, Staś  lấy những mảnh lều còn lại làm một cái bành đặt trên lưng voi dành cho cô bé ngồi. Sau vài lần thử, con King đã quen với cái trọng lượng nhỏ nhoi ấy và cũng quen với việc buộc bành lên lưng nó bằng những sợi dây dừa rất chắc. Vả chăng, cái này cũng chỉ là một chiếc lông bên cạnh những thứ đồ khác mà nó sẽ phải chở, những thứ đồ mà Kali và Mêa phải phân bổ và gói buộc.


Cậu bé Nasibu được lệnh phải xay chuối khô và chà thành bột bằng cách dùng hai phiến đá phẳng. King giúp nó thêm trong việc rứt đứt những cuống buồng nặng; thêm vào đó là cả hai chén nhiều đến nỗi chẳng mấy chốc khu vực gần đó đã sạch nhẵn chuối, chúng phải đi tới những cánh đồng khác, nằm phía bên kia đỉnh núi. Saba, vốn không có việc gì làm, thường cùng đi với chúng trong những chuyến đi ấy.


Nhưng chút nữa thì cậu bé Nasibu phải trả giá cho sự năng nổ ấy bằng chính tính mạng của mình, hay ít ra, cũng bằng một cảnh nô lệ đặc biệt. Có lần, lúc đang lấy chuối trên một sườn đá dốc, nó bỗng trông thấy trong khe đá một bộ mặt gớm ghiếc, đầy lông đen, mắt chớp chớp nhìn vào nó, răng nanh trắng nhởn nhe ra dường như đang cười. Cậu bé kinh hoàng đứng sững như hóa đá, sau đó bắt đầu chạy thục mạng. Nhưng nó chỉ kịp chạy mươi bước chân thì một cánh tay lông lá xồm xoàm đã ôm quanh người nó, nhấc bổng lên cao và con quái vật đen như than bắt đầu bế nó lao xuống vực.


May thay, con đười ươi khổng lồ chỉ có thể chạy bằng hai chân và còn bế thằng bé, vì thế Saba đang ở gần đó kịp đuổi theo và cắm nanh vào lưng nó. Một cuộc chiến đấu kinh khủng diễn ra, trong đó, mặc dầu có vóc dáng to lớn và sức lực có thừa, con chó chắc chắn sẽ phải chết, vì giống đười ươi này thậm chí có thể thắng cả sư tử[2]. Nói chung loài khỉ không có thói quen buông những vật cướp được ra khỏi tay, cho dù tự do hay tính mạng chúng có thể bị đe dọa đi chăng nữa. Bị cắn từ sau lưng, con đười ươi không dễ dàng túm được Saba, tuy thế nó cũng đã dùng tay trái túm lấy cổ con chó, nhấc bổng nó lên cao, thì vừa lúc đó đất rung rinh dưới những bước chân nặng trịch − và King chạy tới.


Chỉ cần một cú đánh nhẹ bằng vòi là “con ma rừng” khủng khiếp − như người da đen thường mệnh danh cho bọn đười ươi − đã gục ngã xuống với cái sọ và gáy vỡ nát. Song để chắc chắn hơn, hoặc do tính nóng nảy bẩm sinh, King còn dùng ngà đóng đinh con vật xuống đất, rồi sau đó vẫn tiếp tục trả thù nó, cho đến khi Staś  cầm súng từ phía lều chạy tới, sau khi nghe thấy những tiếng kêu và tiếng rống khiến em không yên, và ra lệnh cho nó thì nó mới chịu thôi.


Con đười ươi đang nằm trong vũng máu, Saba liếm máu nó, máu cũng dây đỏ cả ngà của King. Đó quả là một con vật to lớn, mắt trợn ngược, răng nhe ra, dẫu đã chết rồi mà trông hãy còn khủng khiếp. Con voi rống lên những tiếng kêu khải hoàn, còn cậu bé Nasibu tái người đi vì sợ hãi thuật cho Staś  nghe chuyện vừa xảy ra. Staś  suy nghĩ xem có nên đưa Nel đến và chỉ cho cô bé xem con vật khủng khiếp này không, nhưng rồi cậu bé bỏ ý định đó đi, vì đột nhiên bản thân em cũng bị nỗi sợ hãi chế ngự.


Chính Nel cũng thường đi lang thang một mình trên cả “hòn đảo” nên cô bé cũng có thể gặp chuyện tương tự.


Hóa ra núi Linđe không phải là nơi ẩn náu hoàn toàn yên ổn như thoạt đầu bọn trẻ tưởng.


Staś  quay về căn lều và thuật lại cho Nel chuyện vừa xảy ra, cô bé lắng nghe, vừa tò mò vừa sợ hãi, mắt mở to, chốc chốc lại lặp đi lặp lại:


− Anh thấy chưa, thiếu con King thì đã xảy ra chuyện rồi!


− Đúng thật! Với một người bảo mẫu như thế này thì có thể không cần phải lo lắng cho đứa trẻ, cho nên tới khi nào chúng ta lên đường, em không được đi một bước nào nếu không có nó, nghe chưa?


− Thế bao giờ chúng mình đi, anh?


− Lương thực đã chuẩn bị xong, hàng hóa đã sắp xếp cả rồi, nghĩa là chỉ cần chất lên lưng súc vật nữa là chúng ta có thể lên đường ngay ngày mai cũng kịp.


− Về với ba!


− Nếu như Chúa cho phép! − Staś  đáp lại vẻ trang nghiêm.


Chương 37


Tuy vậy, cũng phải mấy ngày sau cuộc trò chuyện ấy bọn trẻ mới lên đường được. Chúng khởi hành vào sáu giờ sáng, cùng lúc với rạng đông, sau một lúc cầu nguyện, trong đó chúng thành khẩn cầu xin Đức Chúa. Staś  cưỡi ngựa dẫn đầu, chỉ có Saba là chạy phía trước nó. Sau Staś  là con King bước đi đĩnh đạc, tai ve vẩy, mang trên cái lưng đồ sộ của mình cái bành bằng vải, trong bành là Nel cùng với Mêa. Tiếp đó là lũ ngựa của ông Linđe bước thành một hàng, được nối với nhau bằng dây thừng làm bằng sợi dừa, chở các thứ đồ vật khác nhau, còn chú bé Nasibu đi cuối đoàn, cưỡi trên con lừa cũng đen như chú.


Vì đang buổi sáng sớm nên cái nóng bức chưa căng thẳng mấy, tuy ngày hôm ấy đẹp trời, và phía sau rặng núi Caramôiô mặt trời rực rỡ nhô lên, không bị một đám mây nào che cả. Hơi gió đông làm dịu bớt cái nóng của những tia mặt trời. Chốc chốc lại nổi lên một đợt gió khá mạnh khiến cho cỏ bị rạp xuống và cả rừng dậy sóng như biển. Sau những trận mưa to, mọi loài thảo mộc mọc lên xanh tốt nên ở những chỗ thấp, không những chỉ có lũ ngựa hoàn toàn ngập trong cỏ mà thậm chí cả con King nữa, khiến cho người ta chỉ có thể trông thấy cái bành màu trắng nhấp nhô trên đầu cỏ xanh non, di động lên phía trước như một con tàu trên mặt hồ. Sau một giờ đi đường trên một vùng hơi khô ráo nhô lên phía đông núi Linđe, bọn trẻ gặp những cây cúc gai khổng lồ[3], có thân to như cây gỗ, hoa lớn như đầu người. Trên một số sườn đồi mà trông xa cứ ngỡ đồi trọc, chúng thấy những cây hoa thạch thảo cao tới tám mét [4]. Những loài cây khác − ở châu Âu được xếp vào loại cây nhỏ bé nhất − thì ở đây cũng có tầm vóc sánh ngang với cây cúc gai hoặc thạch thảo, còn những cây thân gỗ đơn độc mọc trên cánh rừng thì trông cứ như những cái nhà thờ vậy. Đặc biệt là những cây họ sung, được gọi là Đarô, có những cành khi chạm vào đất liền biến thành những chiếc thân mới, lấn chiếm một khảng đất rộng lớn đến nỗi một cây như thế làm thành cả một lùm riêng biệt.


Trông xa, vùng này cứ như một khu rừng liên tục nhưng đến gần thì hóa ra những cây lớn mọc cách nhau, chừng mươi hay vài chục bước chân. Phía bắc chỉ thấy rất ít cây to, vùng đó mang đặc điểm thảo nguyên, núi được bao phủ bởi một khu rừng bằng phẳng, trên đó chỉ có những cây xiêm gai hình cái ô nhô lên mà thôi. Cỏ ở đó xanh thẫm hơn, thấp hơn và rõ ràng là thức ăn tốt hơn cho súc vật, vì Nel ngồi trên bành voi cũng như Staś  khi đi lên những gò cao đều trông thấy những đàn linh dương đông đảo mà chúng chưa từng trông thấy bao giờ. Đôi khi, chúng gặm cỏ riêng từng loại, đôi khi lại chen lẫn nhiều loại với nhau: Linh dương gơnu, puphu, arien, sơn dương, bò, linh dương sừng móc và những con cuđu to lớn. Không thiếu mặt cả ngựa vằn và hươu cao cổ. Trông thấy đoàn người, cả đàn ngừng ăn cỏ, ngẩng đầu và vểnh tai lên nhìn cái bành trắng, vẻ vô cùng kinh ngạc, rồi ù té chạy trong một chớp mắt. Nhưng chỉ chạy được vài trăm bước chân, chúng lại dừng lại, ngoảnh nhìn cái vật lạ lùng, rồi sau khi đã hết tò mò, chúng lại tiếp tục bình thản gặm cỏ. Thỉnh thoảng một con tê giác bật lên ngay trước gần đoàn người, trong tiếng động ầm ầm và dữ tợn, nhưng trái với bản chất nóng nảy và sẵn sàng tấn công tất cả những gì lọt vào mắt nó, nó chạy thục mạng khi trông thấy King, và chỉ có mệnh lệnh của Staś  mới khiến con voi dừng lại không đuổi theo.


Voi Phi châu căm thù tê giác, nếu như chúng tìm thấy dấu vết mới của con vật này, bao giờ cũng lấy hết sức lao theo cho tới khi tìm thấy đối thủ và đấu sức với nó. Trong những cuộc chiến đấu đó, kẻ thất bại bao giờ cũng là tê giác. Con King, hẳn là đã thuần và quen xem Staś  như người chỉ huy của mình, nên chỉ cần nghe tiếng cậu bé và nhận thấy cặp mắt nhìn nghiêm khắc của cậu là con voi vội hạ cái vòi đã giơ cao xuống, cụp tai lại và bước đi tiếp. Bản thân Staś  cũng muốn được trông thấy cuộc chiến đấu giữa hai con vật khổng lồ nọ, nhưng nó lo cho Nel. Nếu như con voi chạy nước đại, cái bành có thể đứt tung mất, hay tệ hơn, con vật khổng lồ có thể làm em vướng vào một cành cây nào đó, khi ấy mạng sống của Nel sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Qua những sách mô tả việc đi săn mà cậu được đọc hồi còn ở Port Said, Staś  được biết rằng những người săn hổ ở ấn Độ không sợ hổ bằng sợ voi vội vã hay mải săn đuổi làm bành vướng vào cây. Và cuối cùng nữa, bản thân cái nước đại của “chàng” khổng lồ này khó chịu đến nỗi không ai có thể chịu đựng được lâu mà không hại tới sức khỏe.


Tuy nhiên, mặt khác, sự có mặt của con King cũng xua đi nhiều nỗi nguy hiểm. Những con trâu rừng dữ tợn và hung hăng mà bọn trẻ gặp trong ngày hôm ấy, lúc chúng đang đi tới một cái hồ nhỏ, nơi các loài thú trong vùng tụ tập lại buổi chiều, cũng bỏ chạy khi trông thấy con voi, và vòng suốt bờ hồ để sang phía bên kia uống nước. Ban đêm, bị buộc một chân vào cây, King canh giữ cái lều mà Nel đang ngủ, đó là một người lính canh tin cậy đến nỗi tuy Staś  vẫn bảo đốt lửa, nhưng em coi việc vây hàng rào gai quanh trại là không cần thiết, mặc dù em biết rằng trong một vùng có những đoàn linh dương đông đúc như vậy sinh sống thì không thiếu mặt sư tử. Ngay trong đêm hôm ấy, mấy con sư tử gầm thét trong khóm cây cảm lảm to lớn mọc trên sườn núi[5]. Mặc dù có ánh lửa chiếu sáng, nhưng lũ sư tử − bị hấp dẫn bởi mùi ngựa vẫn tiến gần lại phía trại; song tới khi con King bị quấy rầy bởi tiếng rống của chúng, khi trong đêm thanh vắng đột nhiên vang lên như tiếng sấm động giọng “baritus” kinh khủng của nó [6] thì lũ sư tử liền câm bặt, hẳn là chúng hiểu rằng không nên cố tiếp xúc gần gũi hơn với loại “nhân vật” như thế làm chi! Bọn trẻ ngủ ngon trong phần còn lại của đêm và mãi đến sáng chúng mới lên đường đi tiếp.


Song đối với Staś  lại bắt đầu những lo lắng và suy nghĩ mới. Trước nhất em hiểu rằng cả đoàn đi rất chậm và không thể đi được quá mười cây số mỗi ngày. Theo tốc độ này thì đến một tháng cũng tới được biên giới Abixinia, nhưng vì Staś  đã quyết định là trong mọi chuyện sẽ hành động theo lời khuyên của ông Linđe, mà ông Linđe lại khẳng định một cách quả quyết rằng bọn trẻ không thể nào vượt sang Abixinia nổi, nên chỉ còn lại con đường đi đến đại dương mà thôi. Song theo tính toán của người Thụy Sĩ ấy thì chúng còn cách đại dương khoảng trên nghìn kilômét nữa − đó là tính theo đường chim bay, chứ thực ra thành phố Mombasa nằm lệch về phía nam còn xa hơn nữa − thế có nghĩa là cả cuộc hành trình phải kéo dài mất ba tháng.


Staś  lo sợ nghĩ rằng, đó là ba tháng trời khốn khổ, mệt nhọc và nguy hiểm về phương diện những bộ lạc da đen mà bọn trẻ có thể sẽ phải chạm trán. Chúng hiện vẫn đang đi trong vùng trắng đã bị dịch đậu mùa và tin tức về những chuyến tảo thanh của bọn phiến loạn khiến cho dân chúng bạt đi, nhưng nói chung châu Phi vốn đông người sinh sống, nên trước hay sau gì chúng cũng sẽ đi vào vùng có những bộ lạc xa lạ cư trú, những bộ lạc này thường bị thống trị bởi những vị tiểu vương hoang dã và độc ác. Thật không phải là một chuyện đơn giản để có thể giữ được mạng sống và tự do khi trải qua những cái lò lửa như vậy.


Staś  chỉ tính đơn giản rằng, nếu như bọn trẻ gặp trúng người Vahima thì chúng sẽ huấn luyện cho khoảng vài mươi chiến sĩ của dân tộc này biết bắn súng, rồi dùng những phần thưởng lớn hứa với họ để họ đồng ý tháp tùng hai đứa tới tận đại dương. Song Kali không hề biết những bộ lạc người Vahima hiện sinh sống nơi đâu, còn ông Linđe có nghe nói chút ít về họ nhưng cũng không thể chỉ đường đi đến với họ, cũng không chỉ được chính xác vùng họ đang cư trú.


Ông Linđe có nhắc đến một cái hồ lớn nào đó mà ông được nghe nói tới, Kali thì cam đoan rằng người Vahima sinh sống trên một bờ của cái hồ đó, được gọi tên là Bassa Narok, còn người Samburu thì sinh sống ở bờ hồ bên kia. Staś  lo ngại chính vì môn địa lí châu Phi mà em được dạy rất kĩ trong trường học ở Port Said không hề nói tới cái hồ có tên như thế. Giá như chỉ có mỗi mình thằng bé Kali nói với em về chuyện đó, thì hẳn là em sẽ cho rằng đó là hồ Victoria Nianza, nhưng về chuyện đó thì ông Linđe không thể nào nhầm lẫn được, vì chính ông đã từ hồ Victoria đi lên phía bắc, dọc theo rặng núi Caramôiô, và qua những tin tức thu thập được của thổ dân trong dãy núi này, ông đã đi đến kết luận rằng cái hồ bí ẩn nọ nằm xa hơn nữa về phía đông và phía bắc.


Staś  không biết nghĩ về tất cả những chuyện đó thế nào, nhưng em e rằng sẽ không gặp được cả cái hồ đó lẫn người Vahima, em còn lo sợ cả những bộ lạc dã man, sợ những vùng rừng hoang thiếu nước, những dãy núi không thể băng qua, sợ ruồi tsetse sẽ giết chết súc vật, sợ bệnh ngủ, sợ bệnh sốt rét cho Nel, sợ cái nóng bức và sợ những vùng đất mênh mông đang chia cách chúng với đại dương.


Nhưng sau khi rời khỏi núi Linđe, không còn con đường nào khác ngoài việc tiến về phía trước, cứ tiến mãi, tiến mãi về phái đông. Ông Linđe có nói rằng đó là một cuộc hành trình vượt quá sức người thám hiểm nhiều nghị lực và giàu kinh nghiệm, song Staś  cũng đã thu được rất nhiều kinh nghiệm, còn nếu về nghị lực, thì vì Nel em quyết sẽ khai thác triệt để bản thân mình. Lúc này cần phải tiết kiệm sức lực cho cô bé, nên em quyết định chỉ đi từ lúc sáu giờ sáng tới mười giờ trưa, còn giai đoạn hai từ ba giờ tới sáu giờ chiều, nghĩa là tới khi mặt trời lặn thì chỉ tiến hành khi nào chỗ nghỉ chân thứ nhất không có nước mà thôi.


Lúc này vì trong mùa mưa dầm, nên mọi nơi đều có nước. Những chiếc hồ do nước mưa đọng trong các lòng thung hãy còn rất đầy, từ trên núi thỉnh thoảng lại có những dòng suối nước trong như pha lê và mát lạnh chảy xuống, tắm trong những dòng suối đó vừa tuyệt diệu vừa an toàn vì lũ cá sấu chỉ sinh sống ở những vùng nước lớn, nơi không thiếu cá là thức ăn chính cho chúng.


Tuy nhiên, Staś  không cho phép cô bé uống nước lã, mặc dù em được thừa hưởng của ông Linđe một bình lọc rất tốt mà hoạt động của bình bao giờ cũng khiến cho Kali và Mêa ngạc nhiên. Khi nhìn thấy cái bình lọc nhúng vào nước đục ngầu nhưng lại chỉ cho chảy vào bình chứa thứ nước trong vắt thì cả hai lăn ra cười, đập đập tay vào đầu gối tỏ ý kinh ngạc và vui sướng.


Nói chung, ban đầu, chuyến đi khá thuận lợi. Được thừa hưởng của ông Linđe rất nhiều thức ăn dự trữ: Cà phê, chè, đường, viên canh, nhiều loại đồ hộp khác nhau và đủ loại thuốc, Staś  không cần phải tiết kiệm đạn, vì đạn có nhiều hơn số mà bọn trẻ có khả năng mang theo. Chúng không thiếu những vật dụng đủ mọi loại khác, nhiều cỡ súng khác nhau và đạn pháo hiệu, thứ đạn mà trong những cuộc chạm trán với người da đen có thể rất có tác dụng. Vùng đất này màu mỡ, đầy các giống thú rừng, nghĩa là không thiếu thịt tươi. Hoa quả cũng thế, thảng hoặc, ở những vùng trũng, bọn trẻ gặp phải bùn lầy, nhưng bùn lầy hãy còn bị nước bao phủ nên không làm ô nhiễm không khí bằng những mùi hôi thối khó chịu. Trên cao nguyên không hề có giống muỗi truyền bệnh sốt rét cho máu người. Từ mười giờ sáng trở đi, trời nóng nực rất khó chịu, nhưng trong những giờ được mệnh danh là “giờ trắng” ấy, những người bộ hành nhỏ bé của chúng ta dừng chân dưới bóng mát của những cây gỗ to, không một tia nắng mặt trời nào lọt nổi qua tán lá của chúng. Sức lực của Nel, Staś  và bọn trẻ da đen vẫn đang rất dồi dào.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Lợn lòi châu Phi có đầu bẹt, nanh tròn chứ không phải hình tam giác và cái đuôi khá dài, khi chúng húc thì đuôi dựng đứng lên (chú thích của tác giả).




[2]  Đười  ươi  sinh  sống    vùng  rừng  tây  Phi,  tuy  nhiên  ông Livingstone đã gặp chúng cả ở miền Đông. Chúng thường bắt cóc trẻ con. Đười ươi miền Đông ít dữ tợn hơn miền Tây, vì khi đã bị thương chúng không giết thợ săn, mà chỉ nhằn nát các ngón tay của người đi săn mà thôi (Chú thích của tác giả).




[3]  Echinops giganteus, thường mọc ở vùng này, và thường rất tốt ở vùng nam Abixinia (theo Elisee: Địa dư − Chú thích của tác giả).




[4]  Theo Elisee Reclus (Chú thích của tác giả).




[5]  Cây cảm lảm ở Abixinia và trong núi Caramôiô có thể cao tới năm mươi mét. Theo Elisee Reclus (chú thích của tác giả).




[6]  Người La Mã gọi tiếng hát hay tiếng thét xung trận của các quân đoàn và của người German, cũng như tiếng voi rống bằng tên gọi này.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »