tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27656319
Lý luận phê bình văn học
28.12.2018
Vũ Hạnh
Người viễn khách thứ mười


Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng - Quan điểm, Saigon, 1963 - 278 trang - khổ 14 x 21 - Giá 80 đồng.


Người viễn khách thứ mười là vở kịch dài, gồm ba hồi lớn và hai màn phụ: màn mộ và màn vĩ thanh. Màn mộ giới thiệu với ta hai nhân vật chính: gã Thạch Đầu Nhi và cô gái Giang Hoa Tâm. Thạch Đầu Nhi làm nghề chăn trâu, cắt cỏ, vốn là đứa trẻ bỏ rơi được ông bà Trưởng đem về nuôi dưỡng. Con gái của ông ba Trưởng là Giang Hoa Tâm. Cả hai yêu nhau nhưng chỉ là tình e ấp của tuổi thơ ngây, của những điều kiện không được tương đồng.


Vào Hồi thứ nhất, thì hai mươi năm đã qua trên đời của đôi lứa ấy. Chiến tranh xảy ra và Thạch Đầu Nhi, sau hai mươi năm chém giết, chán nản băng qua sa mạc trở về, mong tìm lại thôn Đào Nguyên ngày xưa để gặp lại người yêu cũ. Người viễn khách ấy vừa rời sa mạc, đi đến ven rừng thì gặp được gã thợ săn. Gã là một tên tướng cướp cuồng si, trong buổi tao loạn giết người, cướp của, đã gặp một người đàn bà lưu lạc tên Kiều Liên Hương, tay dắt một đứa gái nhỏ -Hồng Hoa - lang thang ca hát kiếm ăn. Sự gặp gỡ ấy khiến gã đầu hàng tình ái, tự nguyện làm người bảo hộ cho nàng và nghe lời nàng, giải nghệ, sống đời lương thiện. Nàng buộc gã phải cứu giúp đủ mười viễn khách băng qua sa mạc Qua-Bích mênh mông thì nàng mới chịu chia niềm chăn gối. Họ cùng dựng quán ở nơi bìa rừng, buôn bán qua ngày, còn gã trở thành một người thợ săn rảo quanh ven bờ sa mạc để đưa đón khách. Chín năm trôi qua, gã đã tiếp được chín người khách lạ. Chỉ còn một người thứ mười là gã toại nguyện.


Do đó khi Thạch Đầu Nhi gặp gã thì nỗi vui sướng của gã không sao tả xiết. Gã đưa viễn khách thứ mười về nhà. Nhưng bi kịch đã xảy ra: Hồng Hoa, cô gái của Kiều Liên Hương, đã yêu người khách phong trần ngay từ phút giây gặp mặt. Nhưng Kiều Liên Hương, vốn là nàng Giang Hoa Tâm ngày nào, đã nhận ra khách. Còn khách thì không nhận diện được nàng vì nàng đã có mạng che kín mặt. Từ khi chiến tranh bùng nổ, nàng bị quân giặc cưỡng hiếp và sinh được bé Hồng Hoa. Bây giờ khách lại tìm nàng và nàng vẫn còn yêu khách, nhưng trót mang điều ân nghĩa với gã thợ săn, nàng không thể nói sự thực. Cho rằng mối tình của con có thể dẫn đến đau khổ, nàng tìm mọi cách cản ngăn. Cuối cùng, trước sự kiên quyết của người con gái si mê, nàng bèn tỏ bày sự thực. Tuyệt vọng, Hồng Hoa tìm đến bờ suối, lao mình xuống một bờ ghềnh, tự hủy. Trước cái chết của người gái nuôi thân yêu, thợ săn căm thù người khách và qui cho khách mọi ý xấu xa. Khi gã chạy ra bờ suối tìm xác Hồng Hoa thì người đàn bà giục khách lên đường. Đến phút cuối cùng, viễn khách thoáng hiểu, và xin thiếu phụ vén tấm mạng che. Nhưng nàng từ chối. Thợ săn trở về, mang gươm mà khách đã tặng đêm rồi để đuổi theo khách…


Đến màn vĩ thanh, người ta gặp hai nấm mồ và những trẻ con trong xóm. Qua sự chuyện trò của chúng người ta được biết khi gã thợ săn quay về thì gươm của gã bê bết máu người và dáng điệu gã không vui. Còn người thiếu phụ, sau đó, ra suối hủy mình. Thợ săn chán nản, cuồng điên, đốt quán mà đi, không biết về đâu..


Chủ đề của kịch, chủ đề trực tiếp, gần gũi, là một quan niệm luyến ái trái ngang, bi thảm. Tất cả nhân vật trong kịch, từ người viễn khách đến gã thợ săn, từ người thiếu phụ đến cô gái bé, thảy đều yêu thương tha thiết, chung thủy với tình, nhưng đến phút cuối không ai ôm được hạnh phúc vào lòng. Điên loạn, chết chóc đã chờ đón họ ở giữa đường tình vô vọng.


Nỗi đau khổ ấy, suy ra có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là bản chất si mê của người trong kịch. Viễn khách chiến đấu trong hai mươi năm, mệt mỏi, chán chường, cuối cùng chỉ thấy có mỗi tình yêu còn đủ khả năng quyến rũ mà thôi. Thợ săn sống đời cướp bóc tham tàn cuối cùng chỉ thấy tình yêu trên hết, tình yêu cứu rỗi, tình yêu giác ngộ được cả bẩn thỉu tâm hồn. Và hai mẹ con cô gái, đau khổ vì người viễn khách, đã gặp gỡ nhau trong một cách chết bi thảm. Tất cả, không sót nhân vật chính nào, đều là những người chỉ nghe nhịp điệu của lòng, chỉ thấy quả tim lớn hơn khối óc, lớn hơn sinh mạng, lớn hơn cuộc đời. Đọc xong vở kịch, người đọc có cái cảm tưởng ngỡ ngàng, không ngờ tình yêu có thể bi đát đến thế.


Nhưng suy rộng hơn, chủ đề gián tiếp của kịch còn là một cái quan miệm bi thảm, tuyệt vọng về đời của một lớp người. Những nhân vật chính trong kịch không ai toại được một điều ao ước, dù là ao ước cỏn con. Xã hội làm họ đau khổ, những người thân yêu làm họ khổ đau. Đến lúc tưởng gần hạnh phúc, tưởng thỏa niềm vui là lúc vĩnh viễn mất hết. Cai may, cái rủi xen lẫn, tráo trở ở trong sinh hoạt con người khiến cho con người hoảng hốt, con người sầu đau, con người uất hận. Tóm lại, con người hoàn toàn bất lực và định mệnh được xuất hiện, hoành hành.


Một chủ đề như thế, xét trên phương diện trực tiếp cũng như gián tiếp, thật sự có giá trị gì?


Trước hết, về mặt tình yêu, tác giả đã có công phu dựng lại ít nhiều giá trị thật đẹp. Giữa lúc báo chí hàng ngày nhan nhản những tin “cha dắt con đi xi nê, bỏ con trong rạp ra ngoài chân cầu tình tự…”, và “đi coi hát về chồng bắt gặp vợ ân ái với người khách lạ”, giữa lúc tình yêu hạ giá đến độ sạt nghiệp như thế, thì an ủi thay, chúng ta vẫn gặp gỡ lại một số hình tượng tươi tốt tuyệt vời của sự thủy chung gắn bó, của một tình yêu cải thiện, tình yêu xây dựng con người, tình yêu không phân địa vị, không kể tuổi tác, không quản gian lao. Tất nhiên, tình yêu như thế không thể tiêu biểu cho cái quan niệm luyến ái phổ biến hiện thời. Nói thế, không có nghĩa là luyến ái hiện nay đều là sa đọa. Thực sự, đã qua cái thời bổn phận chiến thắng tình yêu của một nàng Kiều, cũng đã qua luôn cái thời khổ chết vì tim của những Tố Tâm, Đạm Thủy. Ngày nay, xã hội vẫn còn những quan miện trên, nhưng tiêu biểu nhất là hai quan miện luyến ái nghịch chiều hiện đang tiếp diễn:


 Một là lối sống “hiện sinh”, bừa bãi của một số người thác loạn, chỉ thấy mỗi món bản năng ở trong ái tình, hạ thấp yêu đương xuống mức gải quyết vấn đề sinh lý, coi trọng thú tính hơn là nhân tính, khai thác xác thịt hơn là tình cảm, đề cao thỏa mãn hơn là phát huy lý trí. Quan niệm như thế đã làm phát triển kiểu lối ăn mặc hở hang, đòi hỏi điệu nhảy cuồng loạn, phổ biến loại sách và thuốc kích thích, khiến những phim ảnh, bìa báo ít nhiều đều tìm lẽ sống trong những tình ý khiêu dâm, lảng vảng chung quanh bộ phận sinh dục của người để tạo sinh tố cho sự no đủ, sang trọng. Nhiều người đã nhận xét rằng giữa cách ăn mặc của hạng điếm đàng thực thụ và cách ăn mặc của người đàn bà tự nhận lương thiện, ngày nay không có phân biệt rõ ràng. Và hình như trong tư tưởng, những người đàn bà được xem lương thiện cũng không có sự tách biệt khá rõ với bọn đàng điếm lưu manh, nếu không nói rằng chính hạng phụ nữ đạo đức lương thiện lại thèm đời sống của bọn đàng điếm khi lũ hạng này trở thành tài tử màn bạc, trở thành ca sĩ và được báo chí, là những cơ quan văn hóa, ca ngợi, theo dõi hơn cả vĩ nhân, anh hùng, bác học đã chịu hi sinh cho sự phát triển nhân loại.


Bên cạnh lối sống của những con người ích kỷ vội vã như sắp chết gấp, còn một quan niệm luyến ái khác hẳn: đó là quan niệm yêu đương của những con người mến nhau, quí nhau vì những giá trị tinh thần, vì một lý tưởng cao đẹp, vượt xa khỏi những hình thức tầm thường trói buộc. Tình yêu như vậy có thể đạt đến những sự hi sinh hoặc đưa đến sự vinh quang, chiến thắng nhờ sức hỗ trợ của những nỗ lực đôi bên. Tình yêu như thế kết hợp được cả lý trí, tình cảm, bản năng, làm cho con người phát triển hoàn toàn, nâng cao con người mãi mãi. Tất nhiên tình yêu như thế sẽ theo thời gian mà lâu bền, có đủ sáng suốt vượt mọi trở ngại, vì nó không phải là một cứu cánh mà là phương tiện cao quí để người thể hiện cuộc sống, xây dựng cuộc sống. Tình yêu như thế, thực sự không phải là một ảo tưởng.


Tình yêu ở trong Viễn khách thứ mười không phải là lối tình yêu hạ cấp, cũng không phải là tình yêu nâng cao. Nó không thiên về bản năng, nhưng thiếu hẳn phần lý trí. Đành rằng gã thợ săn vất vả mười năm để được ăn nằm với người thiếu phụ, nhưng đấy không chỉ là một ước ao thể xác. Thèm thuồng xác thịt đâu có khổ công đến thế? Và nếu khát khao nhục dục thì người viễn khách đâu phải lặn lội cả ngàn dặm đường gian lao để lội về nguồn một cách phiêu lưu? Cả đến thiếu phụ và cô con gái nàng cũng vậy, nếu chỉ đói khát bản năng thì họ sẽ quên mọi người thương yêu để lấy kẻ khác, việc gì mà tự hủy thân? Nhưng nếu có chút lý trí, thợ săn đã không nghe theo thiếu phụ mà chờ chực ở ven rừng mười năm để làm một việc đón tiếp vô bổ như vậy. Nếu có lý trí, thiếu phụ đã không ngăn cản con gái của mình. Việc gì mà cản ngăn nó yêu Thạch Đầu Nhi khi mình không thể yêu gã? Để cho con mình an ủi viễn khách miễn là họ chịu yêu nhau - tưởng đó cũng là một cách kéo dài ân tình mà mình đành chịu dở dang. Nếu có lý trí, Hồng Hoa đã không yêu gấp, chết gấp vội vàng như trên sân khấu cải lương lúc cần gây chuyện lâm ly để cho mủi lòng khán giả. Và khách, nếu có lý trí, có khó khăn gì mà không đoán được người đàn bà kia là người yêu mình ngày trước, và không lẽ gì mà phải bỏ đi vội vàng để có thể chết vì sự buông xuôi. Nơi họ, tình yêu là một tín ngưỡng và họ sửa soạn bàn thờ tình ái một cách công phu, thích sự trói tay để được làm vật hy sinh. Đó là tư cách luyến ái đã được tác giả trình bày trong Luyến Ái Quan, tác phẩm biên khảo xuất bản cách đây không lâu. Một quan niệm về tình yêu cứu cánh, tình yêu say đắm và bi thương như vậy tất nhiên đã thành quá thời đối với hiện tại.


Tuy vậy, quan niệm về tình yêu ấy, thể hiện trở lại dưới ngòi bút của tác giả, vẫn nhuốm tính chất thời đại, đó là một cái dư vị chán chường, ngán ngẩm của người trong cuộc, là sự cuồng quáng vội vàng của kẻ si mê xuẩn động. Suy rộng ra, nhân sinh quan của tác phẩm có vẻ phiêu lưu, bấp bênh, không có cơ sở thực tế rõ ràng, không có phản ứng tích cực. Cuộc sống của họ thiếu cái sức mạnh của kẻ chủ trì cuộc đời, thiếu cái sức lớn của kẻ làm nên cuộc sống. Đó chỉ là sự thoi thóp của những con tim chỉ có mỗi sự rung động đã thành ngột ngạt.


Nếu tác giả cố gắng vẽ thêm bên cạnh sự tình bi đát của kẻ yêu đương trong cuộc một hình ảnh khác của một tình yêu lý tính để gián tiếp nói lên một nhận thức mới về đời, và cho sự tình tác phẩm một cái ý nghĩa phá hoại, đi xuống, hoặc là tác giả diễn tả bao nhiêu tình tiết với một thái độ của kẻ đào huyệt chôn vùi sự trạng quá thời thì độc giả đỡ ngột ngạt nhiều hơn, nhận được sự thực rõ hơn khỏi bị cái vòng u ám làm cho thần trí nặng nề.


 Đi từ một quan niệm yêu và sống như thế, chúng ta nhận thấy có sự thụt lùi. Sự thụt lùi ấy có nghĩa như một bấu víu tuyệt vọng, tượng trưng bằng hai nấm mồ ở đoạn cuối cùng. Cá nhân chủ nghĩa tiêu cực tưởng đã đến lúc nằm xuống vĩnh viễn với cái quan niệm tình ái của mình.


Do một ý niệm quá cũ, bút pháp cũng thiếu hẳn sự mới mẻ. Nhân vật đã rời mảnh đất thực tại mà thành biểu tượng của một vấn đề. Đối thoại có sự vững vàng chắc chắn của một kiến trúc cổ điển, thiếu sự sống động tinh nhạy, gợi tả dể dàng. Với ngôn từ ấy, sợ rằng một khi trình diễn, nếu không có sự sửa đổi công phu của người đạo diễn, sẽ khó gặp mối cảm thông của những người xem. Kể ra tính chất phi thực ở trong tâm lý nhân vật cũng như tính chất giả tạo ở trong tình tiết là những sự kiện đã được chỉ định từ khi quan niệm vấn đề. Không có phi thực thì không có gã thợ săn, không có viễn khách, không có cả người thiếu phụ yêu sách kỳ khôi, không có cả cô con gái sống chết vội vàng. Có ai mà chịu mon men dọc rừng sa mạc mười năm để được chung niềm chăn gối với một thiếu phụ lưu lạc, đã có con riêng từ thuở đời nào? Có ai vừa gặp người khách phong trần sẹo mặt, tuổi tác, chưa quá năm tiếng đồng hồ đã chết vì tình tức khắc? Thật trên thế giới cũng hiếm có kẻ phải chết vì tình phát sinh hai mươi bốn tiếng đồng hồ! Tình yêu có thể là một ngẫu nhiên hợp lý nhưng cái khoảnh khắc si mê và đòi hỏi niềm gắn bó phải có yếu tố thời gian, để có khám phá, để có hòa hợp. Trường hợp yêu đương của sách là cái trường hợp “cấp cấp như luật lệnh” của ngón thư phù bắt quyết.


 Nhưng trong tình trạng kịch nói bế tắc hiện nay, Viễn khách thứ mười là một công phu đáng kể, chứng tỏ được sự cố gắng khác thường của một ngòi bút phong phú có nhiều kiến thức và nhiều thiện chí. Dù vấn đề của tác phẩm không làm chúng ta mười phần đồng ý - thực khó mà đồng ý hết với mọi quan niệm - nhưng cách giải quyết vấn đề đạt được ít nhiều khách quan đáng cho mọi người yêu mến cuộc đời tán thưởng, sau khi thương xót. “Những kẻ tàn bạo phải chết như thế”, đó là câu nói ngày xưa. Ở đây, “những kẻ suy nhược phải tàn như vậy”. Khác chăng, ở đây ta không cầu mong có sự chết ấy, nhưng ta chỉ thừa nhận nó mà thôi.


 Hơn nữa, tác giả là người điều khiển vững vàng ngòi bút của mình. Tình tiết, bố cục đều được sắp xếp kỹ lưỡng, cân đo chu đáo, khiến cho người đọc có cái yên lòng của một du khách bước trong đền đài kiên cố chứ không như nhiều trường hợp bước chân cứ ngại lún xuống đất lầy, hay phải lạc loài trong chốn hoang vu.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người say trong tỉnh, tỉnh trong say - Vũ Từ Trang 12.06.2019
"Sau đám mây đen là mặt trời rực rỡ” – Giọng thơ nhân ái giàu tính triết luận - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
“Mùa xa nhà” và những góc nhìn khác đối với chiến tranh - Nguyễn Văn Hòa 12.06.2019
Viết về Bùi Giáng - Nhiều tác giả 09.06.2019
Bình bài thơ Em sẽ đến của Bùi Hải Đăng - Nguyễn Lan 08.06.2019
Tuổi mưa trong thơ Nguyễn Thị Việt Nga - Nguyễn Lan 08.06.2019
Cảm thức thời gian trong “Dòng sông năm tháng” của Hà Cừ - Nguyễn Lan 08.06.2019
Kính biệt nhà thơ Tô Thùy Yên – “Cảm ơn hoa đã vì ta nở” - Tư liệu sưu tầm 07.06.2019
Ta về một bóng trên đường lớn… - Thảo Dân 06.06.2019
Phác họa Trịnh Công Sơn - Thảo Dân 06.06.2019
xem thêm »