tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27111405
Tiểu thuyết
22.12.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Dương đông kích tây:


Mở màn, rừng người biểu tình xuất quân một cách hùng hậu, bị các hàng rào dàn chặn của cảnh sát, nhưng đoàn biểu tình đã dùng chiến thuật dương Đông kích Tây để vào thành phố. Một toán hơn hai trăm người và học sinh Bồ Đề do Đại đức Thích Nguyên Minh và Dân biểu Nguyễn Văn Hàm dẫn đầu đi xuống bằng đường Phan Bội Châu.


Trong khi đó một cánh khác và rừng người đi xuống bằng đường Trần Hưng Đạo. Đến ngã năm, bộ phận tiền xung chia làm hai toán: Một toán do Nghị viên Trần Hữu Huy, Giáo sư Nguyễn Thu Sa, Lê Văn Thành cùng độ 400 người và học sinh Trần Quốc Tuấn đạp hàng rào, đương đầu với toán cảnh sát dã chiến đường Phan Chu Trinh, thì toán cảnh sát thứ hai do Nghị viên Nguyễn Văn Minh, Đại đức Thích Như Mãn cùng với những học sinh Quảng Ngãi nghĩa thục phá vỡ hàng rào đường Võ Tánh - Quang Trung với hàng trăm, ngàn người.


Tất cả các vị lãnh đạo phong trào, các Đại đức Nguyên Minh, Như Mãn, Dân biểu Nguyễn Văn Hàm, các Giáo sư Nguyễn Liệu, Huỳnh Ngọc Hiến, Lê Văn Thành, Nguyễn Thu Sa, các Nghị viên Nguyễn Văn Minh, Trần Hữu Huy, Tôn nữ Kim Biên gặp nhau tại đây. Và những câu đả đảo vang lên.


Gặp hàng rào thứ hai.


Trời càng lúc càng quang đãng, những cơn mưa tầm tã từ ban trưa kéo dài đến mười bảy giờ chiều đã dứt hẳn. Trong không khí dịu mát của chiều thu, đoàn người càng đi càng thêm hăng hái.


Đồng bào hai bên phố lập tức tiếp chanh và khăn ướt. Mọi người ngồi xuống cố thủ ở ngã tư. Cả rừng người dừng lại làm cuộc mít tinh. Dân biểu Nguyễn Văn Hàm, Nghị viên Nguyễn Văn Minh, Trần Hữu Huy, các Giáo sư Nguyễn Liệu, Huỳnh Ngọc Hiến, Lê Văn Thành, Nguyễn Thu Sa, Đại đức Nguyên Minh, Như Mãn… tất cả lần lượt lên diễn đàn bày tỏ thái độ.


Người ta tưởng là một chiến trường lớn cũng đến thế là cùng.


Nhiều tiếng hét thất thanh, những tiếng rú đau đớn vang dậy. Cả rừng người chạy tán loạn, học sinh Nguyễn Dũng (lớp 10 trường Trần Quốc Tuấn) bị trúng đạn trọng thương. Theo Thông cáo của chính quyền, có hơn 100 người bị thương.


Bài báo hỏa tốc của phóng viên ký tên Minh Đường (tên một nhà thơ Quảng Ngãi) đó chưa lột tả hết hào khí của những người trẻ, hàng hàng lớp lớp, tưởng như bất tận, đi trong khói mù phi tiễn và dưới cơn mưa thu nước mắt, trời cũng khóc sụt sùi ngày ấy.


Đến nay, trải bao thỏ lặn ác tà, ai giàu sang, ai quan cả, có kẻ như Nguyễn Văn Minh đã chết, người hùng Nguyễn Liệu sau khi ở tù về đã ra đi. Minh Đường nghe nói lên Rạch Giá tìm cách vượt biên. Hiến đã mất năm 2000 sau một chầu nhậu mịt mù, Thành, Sa, Ngữ… là học trò chàng mà tóc đã bạc phơ.


Thế sự thăng trầm quân mạc vấn!


Chàng chỉ mong sao mai sau sẽ có lúc lịch sử ghi chép lại đầy đủ ngày hội lớn đó của Quảng Ngãi, ngày 17-10-1974, ngày mà qua suốt 21 năm Bến Hải phân chia đôi bờ, ngày mà ngay trước mũi súng bạo quyền, giới trẻ Quảng Ngãi đã không hổ danh với khí thiêng núi Ấn sông Trà của ông cha.


Bắn, đánh đập, bắt nhốt, cách chức Hiến, Thành, Sa… trục xuất họ khỏi tỉnh, đã không làm cho một ai sờn lòng. Cả ba tự hào là học trò của chàng. Quần chúng đã liên tiếp biểu tình trong nhiều ngày đòi chính quyền phải trừng trị thích đáng kẻ gây tội ác và giải quyết vấn đề.


Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Trung sục sôi khí thế đấu tranh liên tục. Sự thực, bọn chàng đã cho các em học sinh chia nhau leo trên các nhà lầu của đường phố chính. Mỗi em tự trang bị một chai xăng, khi cảnh sát dã chiến tấn công, các em từ trên cao ném xuống và châm quẹt lia ra. Nhiều đoạn đường cháy, khói lên mù mịt, hư hại ít nhưng gây được khá nhiều ấn tượng.


Dạo đó anh Earl Martin, người Mỹ thuộc giáo phái phản chiến Quaker đang có chương trình nuôi trẻ mồ côi tại Quảng Ngãi. Anh cảm tình đặc biệt với những người tranh đấu. Nhóm chàng đã bí mật tổ chức cho anh thăm vùng Giải phóng Nghĩa Hành. Đối lại, anh thường giơ lưng chịu đấm của Cảnh sát, nhưng không được ăn cục xôi nào mà bằng một máy hình nhỏ, anh giúp bọn chàng ghi lại một số hình ảnh về thời bấy giờ. Nếu là ký giả Việt, cảnh sát sẽ đánh cho hộc máu, đập nát máy, tịch thu luôn cả phim. Đấy, nền tự do báo chí của Thiệu.


Hăm dọa phụ huynh, buộc họ phải chịu trách nhiệm về con em, đón lẻ (nhằm chỗ vắng, bắt từng người một), chiến thuật đơn giản đó của cảnh sát làm lực lượng biểu tình mòn mỏi dần. Chàng rời quê vào lại Sài Gòn tiếp tục công việc khác, lòng trĩu nặng lắng lo.


Ai dè, trước 1975, đấy là lần cuối chàng về quê công tác: Hơn hai tuần lễ sau, chàng ngã xuống ở góc Trần Cao Vân, Hai Bà Trưng- Sài Gòn, mình bê bết máu, mê man trả giá cho những hăng say của mình, một con người không còn trẻ nữa, đã bốn mươi tư tuổi.


Ở thôn quê, bà con ta có câu tục ngữ: Có nước đồng nước sông mới ngẩy ý nói về tính tương tác giữa hai sự kiện thì ở miền Nam Việt Nam 1974, ba cuộc vùng lên rất lớn của nhân dân:


1. Cuộc xuống đường ra mắt mặt trận cứu đói ngày 25-9.


2. Biểu tình Ký giả ăn mày (10-10) tại thành đô Sài Gòn.


3. Rồi tới biểu tình Hỗn chiến tại Quảng Ngãi (17-10-1974).


Tất cả đã nhờ phương tiện truyền thông nhồi lên làm chấn động dư luận trong nước và trên thế giới. Toàn miền Nam được kích thích đúng lúc để đứng lên. Sau Trung Trung bộ (từ Quảng Trị vào hết Quảng Ngãi, Quân khu 1), thì tới duyên hải Nam Trung bộ, từ Bình Định - Phan Thiết và Tây nguyên (Quân khu 2), ngày 16-10-1974 các nhật báo đăng Tuyên bố của nữ dân biểu Kiều Mộng Thu:


Tuần tới các Tỉnh bộ Lực lượng Hòa giải dân tộc và Mặt trận Nhân dân cứu đói ra mắt đều khắp ở Quân khu 3 và Quân khu 4 (Nam bộ).


Ngày 01-11-1974 kỷ niệm mười một năm ngày đảo chánh Diệm xảy ra khá buồn thảm cho đám quân phiệt. Bị Mỹ tước bớt quân viện, Thiệu đã có những lời lẽ cay cú. Các chính khách hữu khuynh khấp khởi mừng thầm, những tưởng phen này thế nào cờ cũng đến tay mình, không bỏ công chờ chực bao năm. Ngoài sân vườn họ ngổn ngang xe cộ các tay chầu rìa. Cơm nhà áo vợ, có bằng cấp, phần lớn từ nước ngoài về, cũng đã có thời làm tổng, bộ trưởng trong các Chính phủ trước.


Hiện nay, họ có thừa thì giờ đến đấu hót trong những xa lông sang trọng, cao đàm hùng biện về bàn cờ thế giới, về những chủ trương của các đại cường, dĩ nhiên cuối cùng vẫn là tình hình Việt Nam mà kết luận thường không ngoài chuyện Mỹ đang tính bề thay ngựa giữa dòng.


Trong vườn dinh Hoa Lan, chiều thứ Sáu hàng tuần, các nhân sĩ, dân biểu, nghị sĩ đối lập nhóm họp. Quạt máy chạy xè xè, họ đọc các bản tin tổng kết từ UPI, AFP, BBC và VOA. Bao giờ cũng tràn đầy bia và nước ngọt.


Chàng thường đến trễ và say mê nhìn ngắm hòn non bộ tuyệt đẹp với những chú cá vàng đang nhởn nhơ bơi lội trong chiếc hồ con có vòi nước phun lên hàng trăm giò hoa lan quý được tỉa tưới khéo léo đến độ luôn có những đóa hoa vương giả hàm tiếu.


Trong phòng họp, Đại tướng Minh, người hơi quá khổ ngồi chính vị trên một chiếc ghế bành. Nước da ông ngăm đen, nụ cười thật hiền. Chủ lực của tướng Minh bấy giờ gồm nhóm cựu quân nhân thân thiết với ông hồi giờ, cánh Liên Trường, một số trí thức người Nam: các anh Lý Chánh Trung, Trần Ngọc Liễng… và khối liên danh Hoa Sen và Lực lượng Hòa giải dân tộc của Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, nhóm Dân tộc Hạ nghị viện, cả hai được coi là của Thượng tọa Thích Trí Quang.


Chàng ngồi trong một xó với những người trẻ: Huỳnh Ngọc Diêu, Phan Xuân Huy, Nguyễn Công Hoan… Nhìn thấy chàng, Đại tướng chậm chạp đến bắt tay, vỗ vai thân mật, như một lời chào:


- Theo anh, bây giờ tôi nên làm gì?


Chàng mỉm cười, thấy rất thương ông:


- Có lẽ Đại tướng cho cái xe hơi và cặp vợt ten nít nghỉ ngơi  ít lâu.


Ông nhìn chàng ra dáng dò hỏi. Chàng hiểu ý, trả lời:


- Để đi vào những xóm nhà dân, xem người lao động người ta cần gì.


Bây giờ ai cũng mong mỏi hòa bình. Đại tướng góp phần làm im tiếng súng là ai cũng vui. Hòa bình bằng mọi giá.


- Entendu!


Ông nói. Rồi lặng thinh trở về chỗ ngồi, chăm chú nghe bản thuyết trình của người mà sau này sẽ làm Bộ trưởng thông tin trong cái chính phủ chưa đầy hăm lăm giờ của ông: Dân biểu Lý Quý Chung.


Sau đó ít hôm, chùa Ấn Quang tổ chức hội thảo về chủ đề Hóa giải. Thầy Trí Quang như công khai hậu thuẫn Lực lượng hòa giải.


Phước gợi ý:


- Hiện Thiệu đang ngoan cố, vi phạm Hiệp định Paris, không chịu cho ra đời Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp dân tộc.


Anh nên lợi dụng cơ hội này tuyên truyền cho Hòa giải, xây dựng thành một thứ triết thuyết với hình ảnh rất nhiều gia đình có trên cùng một bàn thờ  hai bài vị: người bên này Cảnh sát Quốc gia, kẻ bên kia Du kích Việt cộng, để đánh động vào tâm người ta.


Ngày 4-11-1974, đúng một tuần trước khi ngã xuống, chàng đã đĩnh đạc bước lên máy vi âm chùa Ấn Quang, trước chư tăng và nhiều trí thức tên tuổi ở miền Nam lúc đó, công bố nghiên cứu của mình về:


Khả tính hóa giải của dân tộc Việt Nam.


Việt Nam có thể dung hợp tất cả các yếu tố dị biệt từ chủng tộc, ngôn ngữ cho đến văn hóa để tạo thành một nhất thể viên mãn.


Đó là truyền thống hóa giải của Việt Nam, một dân tộc có một truyền thống là trước những giờ phút nghiêm trọng của lịch sử, không bao giờ chia rẽ làm nhiều lực lượng đối địch nhau một mất một còn, tiêu diệt tha nhân, nhằm cho chính mình tồn tại.


Bài thuyết trình dựa trên những kết luận của Khảo cổ học về cái sọ người Việt Nam vốn là một hợp chủng, tính Việt, tính Mông Cổ, tính Mã Lai Á… hóa giải nhau dịu dàng trong sự cấu thành xương cốt hoàn hảo, luôn trẻ trung, thông minh, có ý chí, năng động.


Về mặt lịch sử, chàng viện dẫn Sư Vạn Hạnh, Trần Hưng Đạo, Quang Trung để chứng minh rằng các vĩ nhân ấy luôn thấm đượm tinh thần Phật giáo, nên trong những tình huống nguy nan của đất nước, luôn biết hóa giải các mâu thuẫn, hội tụ được người tài đức (Vạn Hạnh quân sư cho Lý Công Uẩn phủ dụ các anh hùng cát cứ, nhà Trần mở hội Diên Hồng, Quang Trung dùng La Sơn phu tử, Ngô Thời Nhậm…) để có đủ nội lực đánh giặc giữ nước và phát triển Tổ quốc.


Về văn hóa, chàng nêu rõ vai trò của triết học Đồng Nguyên truyền thống của dân tộc ta, cho rằng đây chính là bản chất của hóa giải.


Chàng kết luận: - Bề gì, không thể tiếp tục để máu đổ, phải hóa giải hận thù, lập ngay Hội đồng Hòa giải hòa hợp dân tộc như Hiệp định Paris qui định.


Cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng cảnh sát mật thì bám sau tg phút. Tên tuổi, hình ảnh chàng gần như ngày nào cũng xuất hiện trên trang nhất của báo chí Sài Gòn bấy giờ. Một chiều thứ Sáu (08-11-1974), trong bữa cơm tối, hai vợ chồng chàng và tám đứa con quây quần bên mâm cơm đạm bạc, thường chỉ có rau muống luộc và cá nục kho, rất vui vẻ. Bỗng nhiên vợ chàng buông đũa thở dài:


- Em đang có bầu, đứa thứ chín. Chiều nay, lúc anh đang cùng đám sinh viên quần thảo nhau với cảnh sát thì anh giáo sư Nguyễn Thành Vinh[1] đến thăm. Ảnh nói có quen với Đại tá Minh là em Tướng Đặng Văn Quang, đang làm trợ lý an ninh cho ông Thiệu. Ông Minh nói với ảnh rằng anh là Dân biểu theo Việt cộng đã lâu, cực kỳ nguy hiểm, đã đến lúc phải tính sổ. Vậy anh phải suy nghĩ kỹ. Có bề gì, em một mình không lo nổi cho mấy đứa con đâu.


Nàng khóc. Chàng rất cảm động, nhưng không khỏi bực mình:


- Em hiểu không? Mỗi người đều có việc phải làm. Nhưng ai cũng phải có cách riêng, để sống cho mình, trong khuôn khổ chung. Em cứ thử nghĩ, giá như anh vẫn sống mỗi ngày, vẫn thắng quần tấn áo, vẫn veston cà vạt, ăn tiệc nhồm nhoàm… vô khí vô hồn, thì nào có khác gì một tử thi, bên ngoài vẫn còn cái xác nhưng tâm hồn đã chết.


Các con! Hãy giúp Ba sống như một ngọn lửa.


Nó rực cháy bên trong mỗi người, bằng tình yêu vợ con, cha mẹ, anh em và cả đồng bào nữa. Vả lại, phải còn tin ở số mệnh nữa. Còn có thiêng liêng, còn có ơn trên Trời Phật.


Thiếu gì kẻ cha mẹ giàu có chăm nuôi dạy bảo cẩn thận mà chẳng ra gì. Lại không hiếm đứa mồ côi, tứ cố vô thân mà chăm học siêng làm. Ăn thua là ở phước nhà, phú cho vô minh. Trước mắt phải làm theo lương tâm mách bảo… Chàng nhớ bài hát thuở còn thanh niên:


Đời mới, tuổi hai mươi,


Như nắng xuân đang reo cười,


Như nhựa sống dâng trào.


Tuổi hai mươi,


Hăng hái tay siết ngọn cờ,


Yêu mến vâng ý Bác Hồ, vượt qua, qua gian khổ….


Chàng hát lên, như thằng điên.


Vợ chàng tới bịt miệng, sợ đám mật vụ hàng ngày theo dõi từng phút một bên ngoài cổng nghe được. Nhưng chàng vui, vui quá. Mấy đứa con chàng cũng cười theo. Hôm sau chàng nghĩ: Cái Mặt trận cứu đói này, chỉ dựng ngọn cờ lên ở Sài Gòn mà khắp nước từ Cà Mau ra Bến Hải đều có. Rồi mọc cả ở nước ngoài nữa chứ.


Thế tại sao chỉ Dân sinh dân chủ mà không làm Văn nghệ? Chàng điểm lại những bạn bè, học trò cũ ở khắp nơi mà chàng giao du. Hiện đã có nhóm Cùng khổ của Nguyễn Đình Bổn ở Đà Nẵng. Nhóm Trăng nước Trà Giang của Huỳnh Ngọc Hiến và Lê Văn Thành ở Quảng Ngãi, nhóm Sóng Thị Nại của Phú ở Qui Nhơn, nhóm Sông Cầu của Hoan ở Tuy Hòa, Hoa Xương Rồng ở Phan Thiết của Trần Hữu Ngư, nhóm Bến Ninh Kiều của Danh ở Cần Thơ, Hoa Trà ở Đà Lạt và Trăng nước Hà Tiên của Nguyên Linh.


Sao không làm một bản Tuyên ngôn của những người cầm bút bên này giới tuyến mà tiếp sức với Cứu đói đánh nhau với Mỹ Thiệu?


Nhất niệm tiên xuất, tiện thị hành già. Vương Dương Minh trong Tri hành hợp nhứt đã nói vậy. Vậy ta phải tức thì làm theo.


Ngày thứ Bảy và Chủ nhật, chàng tự giam mình trong nhà, quằn quại thai nghén để đẻ cho ra được cái Tuyên ngôn về một Mặt trận Văn mỹ nghệ đó.


Sáng thứ Hai, 11-11-1974, chàng cùng cha Phan Khắc Từ tới ngôi chùa ở sau đường Nguyễn Thiện Thuật, len lén như hai thằng kẻ trộm, chỉ vào dưới bệ Phật, gặp Nguyễn Xuân Thượng bây giờ đang bị truy lùng rất gắt. Chàng trao cho Thượng tám trăm đô, bảo anh ta đi hẳn, trốn vào giáo xứ Đồng Tiến đường Nguyễn Tri Phương tạm lánh. Tụi nó đang truy nã cậu. Anh chàng này đã hô còn trốn chui trốn nhủi, ăn uống thất bát, ốm nhom, bao nhiêu răng chìa hết ra ngoài.


Hai giờ chiều, chàng dẫn cha Từ ra Tòa Đô chánh, phản đối Tướng Đỗ Kiến Nhiễu, Đô trưởng, người cầm đầu nhà nước địa phương Sài Gòn nay, vừa ký quyết định truất phế không cho Chà làm phu hốt rác nữa.


Lại kháng thư la ó, cho báo chí chụp hình và đăng lên gây khí thế đấu tranh, cũng thừa biết chỉ là đàn gảy tai trâu. Chàng lái xe đưa cha Từ về trụ sở Thanh Sinh Công[2]. Họ cùng ngồi uống nước nhìn cái bóng nắng chiếu dài trên sân nhà thờ Vườn Xoài. Chàng nhớ lại thời thơ ấu, những buổi chiều đi câu cá thảnh thơi ung dung làm sao. Sướng thay một đứa trẻ con trong một làng quê không tên không tuổi.


Vậy mà rồi mình cũng lớn lên, học hành đỗ đạt, làm ông giáo và trôi dạt đến đây. Là con nhà Phật nhưng chàng lại rất yêu mến tượng đấng Christ đang chết trên cây Thập giá. Không bao giờ nhìn Inri mà chàng không xúc động. Chàng nghĩ đến lời vợ cảnh báo hôm trước.


Tối đó, khi lên lớp môn Tâm lý học, chàng thấy Liễu và Loan bận áo mới. Đó là hai cô học trò siêng năng và hay hỏi. Liễu có nước da ửng hồng, đôi môi mọng rất khêu gợi. Chàng không hiểu sao nàng đã ngoài hăm lăm, đẹp, mà giờ này vẫn chưa có chồng.


Liễu đang làm nhân viên phụ trách tư liệu sách cho Đài Truyền hình, công việc nhàn nhã, nàng đi học thêm và hay theo chàng trong các cuộc lên đường xuống phố. Nàng thuộc lòng bài thơ của chàng viết cho phong trào:                          


 Lên đường, người bạn trẻ


Nào chúng ta ra đi


Sáng nay trời nổi gió


Bay cuốn lớp tinh kỳ…


    Và nàng đã họa theo, một cách đùa cợt:


Nầy hỡi ông thầy trẻ


Hãy cho em cùng đi


Đợi chi trời nổi gió


Lòng rộn sóng tinh kỳ…


Trong giờ giải lao giữa hai tiết học, Thanh Liễu thường cùng chàng chuyện vãn. Rất tự nhiên, nàng nói:


- Em tham gia biểu tình ký giả ăn mày, có người hỏi: Sao ăn lương của ông Thiệu mà lại chống ổng? Thầy biết em trả lời sao không?


- Làm gì biết được, chuyện những cô gái đời nay? Vì muốn quậy phá chút chơi? - Chàng nhìn nàng đắm đuối, đáp.


- Đúng quá- Liễu phá ra cười. Em đã bảo anh ta: - Ăn chút lương của ông Thiệu cũng không bằng ăn cái ánh mắt ông thầy tôi. Bị ổng dụ rồi.


Họ thân tình nhau như vậy. Chàng tự thấy nhờ nàng mà mình trẻ con ra, bằng không, cứ cái đà đấu tranh, nói chính trị riết, thì chẳng mấy chốc trở thành một ông lão lẩm cẩm lúc nào không hay.


Có dạo Liễu vắng mặt hơi lâu. Chàng tìm đến nhà thăm, mới hay nàng bị tâm thần nhè nhẹ. Hỏi ra, triệu chứng là khoảng chín giờ tối nàng hay thấy một người trai trẻ lẻn vào buồng mình, như một bóng ma. Nàng rú lên sợ hãi.


Em gái nàng cho biết, hồi học tú tài nàng có một người yêu. Hai bên say đắm, chờ chàng ra trường sẽ làm lễ thành hôn. Bất ngờ, chàng bị đôn quân bắt lính và chẳng bao lâu tử trận. Dạy Tâm lý và nghiền ngẫm Freud, chàng bí mật mang một máy thu âm nhỏ trong ngực, rồi gợi chuyện, để Liễu kể lể ngọn nguồn lạch sông câu chuyện tình thương tâm đó. Mấy hôm sau, chàng lại đến thăm, mở lại cho Liễu nghe chính câu chuyện của mình. Nhờ đó, qua mấy lần nghe, nàng hết bịnh và trở lại đi học như cũ tính tình dần trở lại bình thường. Nàng nói chuyện như một con họa mi.


Trong lớp, cũng có một cô gái khác, Hồng Loan. Cây liễu xanh lúc nào cũng áo hồng, thì con chim loan màu hồng lại luôn đến lớp với chiếc sơ mi trắng hở cổ để lộ làn da ngọc ngà và chiếc ngực nóng hổi, như chực nở tung ra vì căn phồng nhựa sống.


Nàng là công chức Bộ Tài chính, không bao giờ thấy nàng nói một lời nào, nhưng cặp mắt đen nhánh, sâu thẳm tuyệt đẹp, hun hút như lời ca kinh dị về số phận của con người.


Chàng không hiểu tại sao mình có thể nhận được ngần ấy ấm áp khi đến lớp, với cả hai đóa hoa xinh đẹp, như một thứ hạnh phúc bí mật, êm đềm, lặng thinh và trọn vẹn mà chàng luôn giấu kín, e ấp một cách câm nín. Trong tiểu thuyết, người ta có nói đến những kho báu dưới đáy bể, thì đây là cũng dưới đáy bể, kín đáo, không một ai chia sẻ, là gia tài riêng của chàng.


Cùng với Lý Tưởng, Công Bằng, Xã hội viết chữ hoa bằng vàng, cùng với say mê học hỏi và tình bầu bạn tràn lan muốn vượt ra khỏi cái đất nước nhỏ bé nầy, thì với chàng, một nét nhũ hoa, một ánh nhìn phát ra như từ một vì sao lạc giữa vực thẳm phù du có giá trị ngang nhau, để hào hễnh trên giường nằm, để xông pha trận mạc trong những cơn hỗn chiến với cảnh sát, để đến bữa vẫn an lòng chịu cảnh cơm rau mà chia khổ nhọc thiếu thốn với các sinh viên nghèo, để đau xót cho mình, cho người, trong một nỗi bất toại, gần như truyền kiếp, không thể lý giải.


Chiều hôm đó, bỗng dưng chàng thấy mình nhớ nhung Thanh Liễu, Hồng Loan thiết tha, và có linh tính như không bao giờ mình còn có thể gặp họ nữa.


 


 27. BỊ ÁM SÁT, 11-11-1974


Về nhà, để xe trước mặt đường, chàng lên gác quơ vội mấy giấy tờ rồi kêu xích lô đến trường Đại học Văn khoa. Danh đang học ở đây. Chàng tính đưa cho Danh bản kế hoạch về một Mặt trận Văn mỹ nghệ dân tộc sẽ phát động trên khắp miền Nam, song song với cuộc đấu tranh dân sinh, dân chủ của Cứu đói.


Đi một mình cho đỡ tiền. Vả, nếu lái ô tô, tất dễ lộ hơn, chàng nghĩ. Rủi, hôm đó Danh không đi học. Chàng liền trở ra, ngoắc một chiếc Honda ôm đang nổ máy chờ khách sẵn trước cổng.


Quẹo Hồng thập tự rồi rẽ mặt Hai Bà Trưng để lên Phan Đình Phùng, chàng ra lệnh và được anh xe ôm đưa tay bê đít chàng lên sau yên.


Trời đã nhá nhem tối. Chàng chỉ nhận dạng tài xế xe ôm là một người cao lớn, da ngăm đen, áo sơ mi trắng đã ngả màu vàng ngà. Lạ quá, đến góc Trần Quí Cáp anh ta lại rẽ trái và một cú huých như trời giáng làm chàng bị lia xuống ngay ngã tư. Một chiếc Traction, hình như cũng màu đen, từ bên kia chồm sang cán lên người chàng. Trời ơi!


Chàng than và bỗng thấy tối sầm. Thiên địa hỗn mang.


Ba hôm sau, chàng tỉnh dậy, thương tích đầy mình, bị băng bó ở đầu, hai bên ngực, cả hai cánh tay và bàn chân phải nằm cứng đờ, tứ chi cột chặt vào giường, trong căn phòng sạch sẽ, ngăn nắp của bệnh viện Sùng Chính. Chàng đau nhức ê ẩm khắp mọi chỗ, nhưng lòng vô cùng thanh thản, chẳng nhớ ra chuyện chi. Vợ thấy chàng mở mắt, mừng quá, vội khóc. Cô y tá ra hiệu im. Cô chích cho chàng một mũi thuốc và chàng lại mê đi đến chiều. Mấy đứa con đã đi học về đến đông đủ, trừ Lan[3] phải coi nhà, Văn[4] đang thực tập và Tâm bị bệnh tâm thần từ nhỏ. Không ai được khóc. Nghe nói anh em, bầu bạn, sinh viên đầy nghẹt ngoài phòng khách nhưng chưa ai được vào thăm. Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Giám đốc bệnh viện và bác sĩ Trần Ngọc Ninh[5] đã có lệnh cấm.


Vợ chàng kể:


- Người ta đưa anh ngay đến bệnh viện cấp cứu Sài Gòn, mổ vá trên đầu và chân phải, nhưng vẫn sưng tấy lên như bắp chuối.


Nhờ có thẻ dân biểu trong túi, họ hoảng hốt gọi điện báo về nhà, nói bị tai nạn giao thông. Em bủn rủn chân tay, kêu thằng Văn chở xuống thì chỉ được đứng ngoài nhìn qua cửa kính. Ở nhà thằng Kem được phôn của chú Phước. Chú nói chú phải đi xa, nhắn em phải đem gấp anh về Sùng Chính và cho chú Vẹn vào chăm sóc. Bây giờ chỉ còn trông vào Trời Phật mà thôi…


Nàng lại khóc:


- Cô y tá ở bệnh viện Sài Gòn nói mình mẩy anh bê bết những máu, thấm ướt cả bộ đồ, đem lên bàn cân, anh chỉ còn chưa đầy băm lăm ký, lúc đó ai cũng nghĩ là khó sống nổi. Có bề gì, em sẽ phải làm sao. Anh ích kỷ, chỉ nghĩ đến lý tưởng, danh dự, uy tín của riêng mình, vợ con không cần đếm xỉa tới… - Chàng thấy có phần đúng, nhói vào tim, quay mặt đi.


Thằng Kem nhìn mẹ chằm chằm, nhăn mặt. Nàng đi ra ngoài hỉ mũi, bình tĩnh lại trong niềm vui: chàng không chết.


Chú Vẹn là một nhân vật kỳ lạ, mấy chục năm sau vẫn còn bí mật. Chú quê miền Tây trôi dạt lên Sài Gòn. Dạo đó, chú khoảng vài mươi tuổi, cạo đầu, bận áo đà để trốn lính.


Một hôm chú đi ngang Nguyễn Thiện Thuật thì bị cảnh sát huýt còi xét giấy, chú chạy tạt vào con hẻm gần nhà chàng nhằm lúc chàng vừa ra gặp Phước ở bác Phan trở về. Chàng dẫn chú lánh vô nhà. Tới bữa chú chỉ xúc tô cơm xịt nước tương ngon lành. Từ đó chú ở luôn nhà chàng. Chú đỡ đần chàng lau chùi tắm táp thật cẩn thận với tất cả tình yêu của một đứa em, suốt ngày không một tiếng nói.


Ngày Giải phóng chú đi xem người ta hôi của và biệt tích đến nay. Chàng mấy lần lùng sục các chùa tìm kiếm nhưng không biết tên thật, đạo hiệu hay làng xóm cha sinh mẹ đẻ của Vẹn nên vẫn không tìm ra tung tích gì. Lại một kiểu:


Ông thầy đào giếng trên non


Đến khi có nước chẳng còn tăm hơi.


Tin chàng bị ám sát phải hai hôm sau mới lên được các báo.


Đầu tiên là Thanh Liễu, thật sớm, trời còn tinh sương, nàng mang đến một bó hồng, trong một chiếc lọ bằng sơn mài nhỏ có hai con cá vàng mắt phồng lên kinh ngạc nhìn mọi thứ trong phòng, không hiểu tại sao mình đến đây.


Sau đó, vài ba ngày thì Thanh Liễu lại đến, nàng thay bông hồng một cách đều đặn, tuần hai lần, thường vào lúc chàng chưa thức giấc buổi sáng. Cô y tá nói vậy.


Thanh Liễu như con chim họa mi hay hót chẳng coi việc chàng đùm đề một đống thê nhi vào đâu. Nàng yêu.


Còn Hồng Loan thì chỉ tới có một lần. Nhìn ánh mắt nàng, chàng đọc rõ nỗi thất vọng. Tội nghiệp, nàng chưa biết chàng đã có gia đình và cái hoàn cảnh thật của chàng:


Ba ngàn tử đệ ơn đèn sách


Một gánh thê nhi, nghĩa tóc tơ


Gánh nhân sinh nặng nề đó đã bám theo gã hoang đàng phóng đãng này từ rất lâu. Cuộc ám sát đã vĩnh viễn không cho chàng đến lớp nữa mãi tới ngày Giải phóng và dù biết địa chỉ Hồng Loan ở bên Phạm Thế Hiển, chàng cũng không thăm nàng. Bay đi! Bay đi! Hỡi con chim loan cánh hồng mà ta đã gặp trong giấc mơ Trang Chu.


Đến nay, tám mươi tuổi, chàng vẫn giữ cuốn sổ ghi danh sách cả ngàn người đã đến bên giường bệnh của chàng, từ bạn bè, học trò cũ, văn nghệ sĩ, chính khách đối lập và thân chính ở Thượng và Hạ viện, cho tới các nhân vật cao cấp ở chính quyền như Tướng Trần Văn Đôn[6], bác sĩ Phó thủ tướng Phan Quang Đán[7], Cao Xuân An[8], Bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh[9], Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Bá Cẩn[10]… Đại tướng Dương Văn Minh[11], Luật sư Trần Ngọc Liễng[12]… Báo chí không thiếu một ai, các đạo diễn Lê Dân, Minh Đăng Khánh, các nhân vật trong Trung tâm Văn Bút: Thanh Lãng, Nhã Ca… Các nghệ sĩ Kim Cương, Thanh Nga, Hồng Vân… Các nhà tu hành Tổng giám mục Công giáo Sài Gòn Nguyễn Văn Bình, quý Thượng tọa Viện trưởng Viện hóa đạo Thích Trí Thủ[13], Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác… Tất nhiên không thể kể hết số đông thanh niên, sinh viên học sinh, các hội đoàn lao động (mà chàng vừa là Tổng thư ký Hội đoàn, vừa là cố vấn sáng lập của Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Lao động), các đoàn Phật tử xích lô, taxi, đường sắt, ngân hàng, đông y, dược, phụ nữ Phật tử, bà con Tiểu thương 36 chợ đô thành…


Có bà mẹ từ Tây Ninh nghe láng giềng đọc báo, biết tin chàng bị mưu sát. Gia tài của mẹ chỉ có cây đu đủ gầy guộc ngoài vườn nắng cháy. Mẹ hái hai trái duy nhất còn đeo trên cây, một trái thật to bán được mấy ngàn bạc lấy tiền xe khứ hồi, trái kia nhỏ bằng bắp chân, mẹ mang theo xuống chợ Bến Thành.


Lần đầu tiên lạc lõng giữa đô thành, ngựa xe như nước, ngơ ngác hỏi người ta đường đến bệnh viện Sùng Chính và lẽo đẽo đi bộ tìm mãi trưa mới tới được nhà thương. Mồ hôi vã ra, vừa thở ra vừa ngồi xuống đất, mẹ cẩn thận gọt, xẻ từng miếng, chăm chút đút vào miệng chàng:


- Mẹ chỉ có vầy. Mong con không chê. Mẹ cầu Trời Phật cho con sớm lành.


Chưa bao giờ chàng ăn được miếng đu đủ ngon đến thế trong đời. Chàng cảm thấy mình đầy ân sủng, của người, của Trời Phật, của Thượng đế. Một hôm thằng Văn vào đem cơm, mang cho chàng dòng chữ sau đây. Chàng đọc và khóc. Nó bảo: - Ba nín đi. Cho mau lành. Sắp giỗ ông nội rồi.


Chàng lại đầm đìa nước mắt nhiều hơn. Nó không hiểu. Nét chữ trong lá thư của Phước. Phước nói mình bị trở ngại không thể tới thăm được, bọn mật vụ sẽ bắt, bể cả việc lớn của đất nước. Phước viết:


- Anh là vì sao sáng. Em chưa bao giờ thấy anh ăn được miếng ngon, chưa bao giờ thấy anh ngủ được giấc yên. Nghĩ tới việc chung, anh quên mình… Em, em…


Tờ giấy này, chàng cất như của quý.


- Phước ơi, bây giờ em ở đâu? Ngày ấy anh khóc vì xấu hổ, không đáng được em xưng tụng. Em biết đâu rằng anh lãng mạn, anh đem cái tâm hồn mộng mơ của mình vào cuộc đấu tranh, yêu mê cuộc sống và con người, kể cả những cô gái đẹp, những Thanh Liễu, Hồng Loan…


Phước gửi cho chàng một chai sâm Đại Hàn thật quý, nói là của chú Mười Hương tặng. Sau ngày Giải phóng, Phước đã đi xa, chàng có gặp anh Mười Hương. Anh Mười nói chai sâm quí đó do anh Phạm Hùng tặng anh, nhưng anh không uống, cho chàng. Từ đó thành lệ, mỗi tết Nguyên đán, anh Mười đều gửi cho chàng một chai whisky, mãi tới lúc anh về hưu.


Chàng có hỏi anh Mười việc hồi ấy thì nhận được một cái gật đầu. Chàng biết Phước không bao giờ dối mình. Nhưng chai sâm đó, mặc dù biết nó rất quí và thực ra sức khỏe của chàng bấy giờ cũng rất cần. Nhưng bản tính chàng giống anh Mười, dùng cái gì cho mình cũng thấy tiếc. Lúc đó, có một nhà sư đang nằm bệnh ở Sùng Chính như chàng. Nhà sư này đang biết một chủ trương khá quan trọng của Mỹ trong đối sách với cách mạng sau Hiệp định Paris. Thương thế còn rất nặng, phải lê mình trên đôi nạng, nhưng quyết tâm phục vụ, lợi dụng cả sự đau yếu của chính mình, chàng đã vất vả, một mình sờ soạng leo lên lầu ba vào giữa khuya, tới tận giường vị sư đánh thức ông dậy, lạy ông ba lạy, kính dâng ông chai sâm quí của chú Mười Hương và đổi lại, chàng được ông tin cẩn tiết lộ cho một tin tức rất cần thiết cho yêu cầu bấy giờ.


Khai thác bệnh tình nguy ngập của chàng, các báo lên tiếng chỉ trích chính quyền Thiệu. Chàng nghĩ mình bị thương nặng mà Trời Phật chưa bắt chết lại còn thiện duyên với đại cuộc, lòng cũng thấy yên.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Chống Diệm, ở tù 1960-1963, cựu Tổng Thư ký Quốc hội.




[2] Thanh niên - sinh viên Công giáo.




[3] Con gái lớn.




[4] Con trai cả.




[5] Giáo sư, Thạc sĩ, cựu Tổng Trưởng Giáo Dục.




[6] Trung tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng.




[7] Bác sĩ Phó thủ tướng.




[8] Bác sĩ Bộ Xã hội.




[9] Dược sĩ, Bộ trưởng Văn hóa Giáo dục.




[10] Chủ tịch Hạ viện.




[11] Đại tướng Quốc trưởng VNCH năm 1963, sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm.




[12] Luật sư nổi tiếng, nhân sĩ miền Nam bấy giờ.




[13] Các vị Thượng tọa lớn của Giáo hội PGTW trước 1975, nay đã mất.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 16.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 06.05.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 06.05.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.04.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 09.04.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.04.2019
xem thêm »