tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25356459
07.12.2018
Vũ Hạnh
Tuyển tập Vũ Hạnh: Hai nhạc sỹ tài danh trong dòng văn học dân tộc


Phụ san Diễn Đàn Văn nghệ Việt Nam


Nàng Kiều quả thực là một thiên tài, điều ấy không còn hồ nghi gì nữa. Tiếng đàn phản ảnh trung thực lòng nàng, và qua một tâm sự ấy, người ta cảm thông được bao nhiêu nỗi xót xa của những kiếp người bạc mệnh. Nàng đã phát ngôn cho nhiều người khác cùng chung cảnh ngộ như nàng vì nàng đã sống chân thực sâu xa với mình và biết vượt khỏi nỗi niềm riêng tư để chia xẻ nỗi khổ đau kẻ khác. Nén hương và những giọt lệ của nàng trên mộ Đạm Tiên là những biểu chứng khơi dẫn cho sự cảm thông huyền diệu sau này. Khi Kiều gặp lại người yêu, tiếng đàn của nàng đã hết thảm sầu mà réo rắt lời “đầm ấm dương hòa” giữa một “xuân tình êm ái” trong sáng làm sao, ấm áp chừng nào! Bây giờ tiếng đàn là lời reo vui chung cho những cõi lòng nào đã thấy khổ xưa trút sạch làu làu, là khúc hoan ca, cố vươn đến một ngày mai tươi đẹp. Tiếng đàn phù hợp cảnh ngộ và tâm trạng nàng, đó là trạng thái, nội dung của con người Kiều thể hiện ở trên bình diện thanh âm. Không ai chối cãi được cái đức tính trung thực, chân thực nơi nghệ sĩ Kiều. Nàng đã cách xa với những lớp người theo đòi nghệ thuật “không khổ mà khóc, không đau mà rên”, đôi khi vì chút lợi quyền tư kỷ mà dùng mũi bút dệt lời khen, chê trái với lòng mình. Nàng cũng cách biệt với một loại hạng “chân thành giả dối” loại hạng bịa đặt nhiều ngày đến thành thói, quen đồng hóa tâm hồn với sự dối trá, tương tự như Tạt Ta Ranh cứ nói khoác mình đi săn sư tử đến nỗi về sau vẫn cứ ngỡ mình thực sự đi săn!


Tất nhiên, không ai lầm lẫn nàng Kiều với những gian thương văn nghệ chuyên môn bán đồ mạo hóa của lòng. Thân thể mỏng manh của nàng dù bị xã hội phi nhân xô đẩy vào ngõ thanh lâu, tiếng đàn của nàng, nghệ thuật của nàng vẫn chưa đánh đĩ bao giờ. Thúy Kiều bảo trọng nghệ thuật như bảo trọng tâm hồn mình, bảo trọng ý sống sâu xa, tha thiết và toàn vẹn nhất của mình.


Nhưng người ta vẫn có thể nghĩ rằng ngón đàn của Kiều vẫn còn quanh quẩn ở trong một số ý tình tiêu cực và dù có mối cảm thông với người bạc mệnh, nghệ thuật của nàng vẫn chưa ra thoát khỏi một tâm thức cá nhân. Vị trí của nghệ sĩ Kiều là vị trí một nạn nhân, người tự vệ tuyệt vọng giữa đời lang sói, một tiếng than buồn não nuột trước khi nhếch mếp reo vui và vui buồn này cũng là trạng thái thụ động mà thôi. Tội nghiệp nghệ sĩ Thúy Kiều! Nếu nàng có hưởng chút ân huệ nào đó thì cũng chỉ là món quà nhỏ mọn ăn xin khép nép của đời.


Nhưng trước Thúy Kiều ba bốn trăm năm(1) ở nước Việt này, đã từng nảy sinh một chàng nghệ sĩ tuyệt vời. Không phải lớn lên từ nơi gác tía lầu son, chàng đã xuất hiện giữa miền dân dã trong chốn hoang vu, theo dòng lục bát nôm na bình dị đẩy đưa mà chóng trưởng thành qua những biến cố hiểm nghèo. Người nghệ sĩ ấy, Thạch Sanh, đã phối hợp được nơi mình cả ba năng lực phi thường: tinh thần sáng tạo phong phú, khả năng sản xuất cần cù và sức chiến đấu gan lì, quyết thắng. Ba năng lực ấy đã bị khá nhiều xã hội làm cho tan tác, chia lìa từng mảnh, tưởng không nhìn thấy mặt nhau, thế mà ở nơi người ấy có sự hòa đồng hỗ trợ tinh diệu chừng nào!


Thạch Sanh là một mẫu người lý tưởng, hiện thân của một ước mơ toàn vẹn, trong sáng tuyệt vời, về một nhân cách mà lớp bình dân đã tạo xây nên giữa một cuộc sống kéo dài nặng nhọc nhưng cũng không ngừng hy vọng, tin yêu. Về mặt vật chất, chàng đã hưởng được cái vốn sản xuất cần cù ngàn đời của dân tộc, tượng trưng qua một chiếc nồi bé nhỏ mà có huyền phép lạ lùng, cái nồi đã có từ trong truyền thuyết về Nguyễn Minh Không đời Lý: Thết đãi no nê đại binh của mười tám nước chư hầu mà vẫn còn đầy. Về mặt tinh thần, Thạch Sanh là sự kết hợp của hai bản sắc truyền thống dân tộc: tinh thần đạo nghĩa đi đôi với tính chiến đấu kiên cường. Đạo nghĩa đối với mẹ cha, đối với bạn hữu, đối với người yêu, đối với những kẻ ngộ nạn giữa đường, đối với quan quân của mười tám nước, đối với những người đã tốt và cả những người muốn xấu, hoặc là quá xấu với mình. Nơi chàng không có mảy may ác ý, không hề bợn một vết nhơ, không nuôi dưỡng điều tà mị. Con người Thạch Sanh hiên ngang, trong trẻo lạ thường. Nhân cách của chàng cũng sáng long lanh như là khối ngọc. Nhưng con người ấy một khi nhìn rõ được cái xấu xa, ác đôc của đời, nhất quyết không để cho sự bất bằng khinh lộng. Dầu kẻ thù ấy quái ác như Chằng Tinh hay thủ đoạn như Đại Bàng, dù chúng tác quái riêng rẽ hay là về sau cấu kết với nhau, Thạch Sanh cũng quyết xông vào trong cuộc chiến đấu hiểm nghèo và đã chiến thắng vẻ vang.


Nhưng điểm mà chúng ta muốn đề cập ở đây là cái tác phong nghệ sĩ, tinh thần nghệ sĩ nơi chàng. Thạch Sanh là một nghệ sĩ tài hoa bậc nhất nhưng vẫn giữ một tác phong khiêm tốn khác thường. Đọc gần hai ngàn câu thơ, ta không thấy chàng khoe khoang tài nghệ, không hề vỗ ngực xưng danh và cũng chưa từng làm vẻ khác đời để cho nổi bật một cách nhem nhuốc ở giữa mọi người. Nếu chàng không mang đàn về từ chốn Thủy Cung, e rằng ta cũng không sao ngờ được là chàng có một biệt tài nghệ thuật. Ta còn yêu mến chàng hơn khi chàng từ chối bao nhiêu châu báu, ngọc vàng đã được Thủy Vương đưa tặng và xin chỉ mỗi cây đàn. Những của quí ấy chàng có thể hưởng như sự đền bù công lao nhưng chàng không phải là kẻ bán buôn đạo nghĩa của mình. Thạch Sanh không có đầu óc trục lợi, và chàng khác xa với loại Lý Thông buôn bán danh dự và cả con người để kiếm địa vị bạc tiền. Giữa vàng bạc và chiếc đàn, Thạch Sanh đã không ngần ngại trong sự gạt bỏ giàu sang mà lựa chọn lấy nghệ thuật, và cây đàn ấy, chàng mang về lại gốc đa, một sự quay về bám lấy nguồn cội của mình. Thạch Sanh không rời bỏ được mảnh đất mà mình đang sống và đã trải chịu bao nhiêu gian khổ với đồng bào mình. Thạch Sanh không bị mê hoặc bởi bất cứ huyễn tượng nào, và chàng vững chắc lâu bền như gốc đa kia sừng sững, gốc đa bám rễ sâu xa vào trong lòng đất nhiệm mầu. Nuôi dưỡng bởi một tinh thần như thế, trau dồi bởi một nhân cách như thế, nghệ thuật Thạch Sanh hội đủ cả những giá trị tinh thần và biểu dương xứng đáng cho một khả năng văn hóa tuyệt vời.


Trước hết, tiếng đàn Thạch Sanh cũng là tiếng đàn chân thực như của Thúy Kiều. Nó đã phát ngôn trung thành cho nỗi lòng chàng khi chàng bị giam cầm trong ngục tối, nó đã vì chàng mà thành một bản ai tố lâm ly đượm nỗi bất bình sâu sắc về những oan khuất trải qua. Do những tình cảm cụ thể và thống thiết ấy mà tiếng đàn mầu nhiệm kia có đủ khả năng xuyên thủng thành cao, tường dày, mang cái thông điệp ân tình đến lầu công chúa Quỳnh Nga. Và mối tình chân thực ấy có đủ bùa phép kỳ diệu phá vỡ được sự câm lặng tưởng như vĩnh viễn của nàng. Một khi tiếng nói chờ đợi được cất lên rồi, có nghĩa là mối giao hòa đã được khai thông, thì chân lý cũng sáng tỏ. Tiếng đàn vừa giải tỏa và giải tỏa cho đời chàng, cuộc đời chứa đựng bao nhiêu then khóa căn bản về những sự thực lớn lao. Bởi lẽ tiếng đàn kỳ diệu làm cho đen trắng được thêm phân minh và người có công phải được bù đền xứng đáng như kẻ có tội phải được trừng phạt thích nghi. Nghệ sĩ Thạch Sanh đã tự phát hiện bằng nghệ thuật mình, và xuyên qua tự phát hiện của chàng mà cuộc đời thêm phần nào trật tự, công bằng.


Điểm Thạch Sanh khác với Kiều là nghệ thuật chàng không bị dừng lại ở trong tư thế bị động của kẻ nạn nhân, mà đã vượt xa trong cái vai trò chủ động về đời. Thạch Sanh không chỉ sử dụng nghệ thuật như một phương tiện giải tỏa, trường hợp phân trần, khả năng tố cáo mà còn lấy đó làm một vũ khí tấn công, xây dựng cuộc đời. Tiếng đàn Thạch Sanh không chỉ thấm lọt vào tai của một người tình mà lay chuyển cả tâm hồn muôn vạn tinh binh, tiêu diệt hẳn được ý định phá hoại thấp hèn của họ, tiếng đàn của chàng không chỉ tranh thủ tình yêu, khôi phục địa vị xứng đáng của mình mà đã vượt khỏi biên giới cá nhân chật hẹp để vào xứ sở xã hội bao la, đã bảo vệ được máu xương của biết bao người, tranh thủ an cư lạc nghiệp cho cả quốc gia dân tộc. Đây quả không có chút gì gọi là gặp gỡ, dù trong kẽ tóc, đường tơ với loại nghệ thuật giả dối, nghệ thuật mua vui, nghệ thuật của loài trực giác, cảm giác, ảo giác, bản năng, hay của một trăm kiểu loại ngớ ngẩn là những lớp sơn do một lớp người bệnh hoạn, ích kỷ tô phết lòe loẹt bên ngoài, hầu che đậy cái tủ gỗ rệu nát chứa đựng miếng cơm cùng là tự ái.


Nghệ thuật Thạch Sanh mới chính thực là nghệ thuật của đời, của dân tộc, của nhân loại. Không thua kém sức tác động của khí giới - một loại khí giới của những con người nghĩa hiệp - không mâu thuẫn với quyền lực chính trị, một thứ chính trị vì lẽ sống còn của đa số người, không xa rời ý nghĩa của đạo đức, đạo đức phát sinh từ một kêu đòi nâng cao quyền sống thanh cao. Tiếng đàn Thạch Sanh vang lên, và mười tám nước chư hầu dẹp tan tự ái, bất bình, ngoan ngoãn rút lui với những ý tình phục thiện, biết ơn.


Hiện diện giữa đời như một sức mạnh củng cố, tạo dựng cho đời, khả năng của nghệ thuật ấy bắt nguồn từ những sinh lực của một con người, đúng hơn, của một lớp người chủ động, tích cực, lớp người sản xuất cần cù đồng thời cũng là lớp người chiến đấu dũng cảm.


 


SỚM XOI THỦNG TẦNG ĐẤT SÉT


Có lẽ phải mất cả ngàn trang giấy để ghi cho hết những chuyện buồn cười và cả những tấn bi kịch do nạn mê tín gây ra khoảng gần vài chục năm nay ở trên đất nước chúng ta. Trên báo Nhân Dân, vào cuối tháng 2 của năm 2004, ông Lê Tiến Dũng ở Bộ Văn hóa Thông tin có nêu lên một số sách bị các cơ quan thành tra thu giữ đây đó trong các lễ hội, đền chùa, chẳng hạn “Số kiếp định mệnh”, “Diễn giải đường đời” và nhiều cuốn khác thuộc loại “Tử vi số tướng”, trong đó chứa đầy những lời gạt lừa ngu xuẩn mà những ai có chút ít lương tri và sự suy ngẫm đều nhìn thấy rõ sự thực. Chẳng hạn, trong lời chú giải của bài “Thơ đoán vận mệnh” có câu: “Cô gái nào sinh vào mùa xuân, mùa hạ thì cuộc sống phải chịu gian lao, khổ cực suốt đời”, hoặc trong bài “Coi số có ở tù hay không” thì kết luận rằng “nếu ai trùng với tuổi này sẽ không bao giờ vào tù”… Những lời xuẩn ngốc như thế phải được viết ra từ các bộ óc tồi tệ chừng nào. Quả không làm sao đếm hết bao nhiêu ngôi mộ đã được tân trang sau ngày đất nước thống nhất, chẳng phải do lòng quý trọng những người đã khuất mà chỉ là để khoe giàu - và hẳn phần lớn số tiền bạc ấy đã được tóm thâu một cách bất chính. Làm sao xua sạch được lớp khói nhang mù mịt ở những miếu đền trong ngày lễ hội để khỏi vẩn đục nặng nề các môi trường sống, làm sao nhặt hết những tờ đôla - giả tạo - những chiếc xe hơi - bằng giấy - rải trên nghĩa địa và dọc trên đường di chuyển xe tang - ý rằng những người đã chết cũng thèm tiền Mỹ như một bọn người đang sống, và ở cõi âm cũng có xa lộ cùng trạm xăng dầu cho những “xế hộp” vòng vèo. Trong khi hàng triệu đồng bào vẫn còn thiếu đói thì cứ mỗi năm hàng trăm tỉ đồng được đem nuôi dưỡng bè lũ bất lương và làm ô nhiễm nặng nề môi trường xã hội.


Điều mà chúng ta luôn phải băn khoăn là kể từ sau Cách Mạng Tháng Tám đã có rất nhiều đổi thay ở trong đời sống xã hội, nhưng trong khối lượng không nhỏ của những người dân ít học thì sự nhận thức về nhiều mặt của cuộc sống chưa thấy có sự chuyển biến rõ nét. Từ đời người mẹ đến đời người con vẫn thờ bấy nhiêu ông thần hết sức huyền hoặc, vẫn lặp lại nhiều hủ tục cùng những mê tín, dị đoan hầu như đã được tồn tại cả ngàn đời rồi. Vẫn chuyện ngày tốt, ngày xấu, vía nặng vía nhẹ, vẫn những thổ địa, thổ thần cùng đủ loại thứ ma quỉ cứ sống dai nhách trong tâm não người, vẫn bấy nhiêu tin tưởng về vận mệnh, về duyên số, cả những cấm kỵ phi lý trong chuyện ăn uống, cả những thành kiến quái lạ trong chuyện sử dụng thuốc men…


Đa số hẳn đã nhìn thấy rất rõ điều này: văn hóa chúng ta đi vào cuộc sống như những giọt nước được thấm qua từng thớ đất, nhưng đến một nơi nào đó thì phải dừng lại, bị tầng đất sét cản ngăn. Văn hóa đọng lại, lềnh bềnh, không có khả năng thẩm thấu qua tầng đất ấy.


Bởi lẽ, tầng đất sét ấy quá dày đã được bồi đắp, kết dính từ ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là mấy ngàn năm phong kiến, với cái chính sách ngu dân - lấy sức tưởng tượng về loài ma quỷ và lớp thánh thần làm một thế lực hỗ trợ cho giới cầm quyền - đã ăn quá sâu vào tâm não người, truyền tiếp qua cõi tiềm thức của nhiều thế hệ. Không chỉ ở trong đời sống xã hội phải nhờ các loại thế lực siêu nhiên can thiệp - dĩ nhiên là bằng thủ đoạn dối lừa - mà ở trong các tác phẩm văn học hầu hết các sự kết thúc, gọi rằng có hậu cũng nhờ Trời, Phật, thánh thần cứu nạn. Đến ngày Cách Mạng Tháng Tám thành công - giai đoạn thứ hai - với một quan điểm xã hội khoa học có tính toàn diện, chúng ta có những nỗ lực đẩy lùi mê tín, dị đoan. Ở thời điểm ấy, trong sự sắp xếp thành phần xã hội, chúng ta đã liệt - một cách hợp lý - những “thầy” bói toán, tướng số vào loại bất hảo. Nhưng tầng đất sét ken dày đã mấy ngàn năm không thể một sớm, một chiều mà xuyên thủng được, thì tiếp hai cuộc kháng chiến khốc liệt đã buộc toàn dân ngày đêm dồn sức đối đầu với những kẻ thù trước mắt, gác lại bao nhiêu vấn đề chuyên sâu ở trong lĩnh vực tinh thần. Đồng thời, ở các vùng bị thực dân, đế quốc xâm chiếm, các trò ma mị tinh thần quần chúng lại được phục hồi, bồi tiếp, phát triển tối đa làm cho dày thêm tầng đất kết dính mấy ngàn năm trước. Đến ngày Giải phóng, sau cái thời gian ổn định ban đầu chúng ta lại phải mở rộng cánh cửa thị trường - đây là giai đoạn thứ ba - và với cửa mở cho giới thương nhân, công nhân đủ loại thì hạng đầu cơ cũng len lỏi vào, trong đó xuất hiện không ít những bọn bán thánh, buôn thần. Và những con buôn loại này, được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đối với chế độ chúng ta đã tìm mọi cách khai thác sơ hở trong sự quản lý, kể cả mua chuộc những bọn tham nhũng để mà lũng đoạn tinh thần quần chúng, kéo lùi bước tiến xã hội và tạo điều kiện gây sự bất ổn.


Đã vậy, văn hóa khi thành sản phẩm mua bán ở trên thị trường với sự tính toán lời lỗ phân minh, thì sản phẩm ấy luôn tìm mọi cách phục vụ những người tiêu thụ. Và người tiêu thụ, ở đây, không phải đa số là người lao động, vốn không đủ tiền để mua sách báo, thiếu hẳn thì giờ nhàn rỗi để xem, và nếu đọc được chắc cũng khó lòng hiểu được đầy đủ sách báo nói gì.


Tuy nhiên, khoảng mười lăm năm gần đây khối lượng đông đảo quần chúng vừa đề cập đến đã được chăm sóc bởi nhiều thế lực mà ta không hề chờ đợi. Đi về các vùng nông thôn hẻo lánh, các vùng sơn cước xa xôi chúng ta đã gặp khá nhiều khán giả ngồi xem suốt đêm những phim vi-đê-ô đen tuyên truyền bạo lực cũng như tình dục. Bất cứ nơi đâu, ở trong hàng quán, hoặc các bến tàu, bến xe, những bài tân nhạc “não tình” hải ngoại sẵn sàng phục vụ lỗ nhĩ con người không kể giờ giấc. Yêu đương, làm tình, đánh đấm, giết chóc, đùa với hình ma, bóng quỷ… đủ cả những gì có thể khiêu khích được óc tò mò của nhiều hạng người. Từ đấy, ở trên đường phố và trong xóm làng lại thấy xuất hiện những đám thanh niên gây gổ, tấn công nhau bằng mã tấu, dao lê, y hệt như trên màn ảnh, những cảnh hiếp dâm thô bạo và thật man rợ lại được xuất hiện, nhiều vụ cướp bóc, giết người cũng thấy xảy ra, và ở nông thôn các vụ tự tử mỗi ngày một tăng. Những loại sản phẩm, gọi là văn hóa nói trên, đã làm điên đầu, loạn não, khuấy động bản năng khiến cho con người không còn hiểu được chính mình, xa dần khỏi những giá trị truyền thống, tự biến thành những miếng mồi cho những cám dỗ hoặc tự đầu độc mà không hay biết.


Riêng về cái khoản mê tín, dị đoan, do tầng đất sét ken dày từ ba giai đoạn xã hội bao che, nó vẫn ngang nhiên tồn tại, không chỉ tác yêu tác quái đến một khối lượng đông đảo quần chúng lao động mà đang mở rộng phạm vi lung lạc đến cả lớp người gọi rằng có học. Ngoài việc gây nên lãng phí lớn lao về mặt tiền bạc, mê tín dị đoan đang làm ô nhiễm nặng nề môi trường thiên nhiên và cả xã hội, đồng thời biến thành cơ sở thuận lợi cho những bọn xấu thuộc về nhiều loại.


Như thế, phải có biện pháp hữu hiệu như những mũi khoan bén nhọn, to dày xoi thủng được tầng đất sét kinh niên vây bọc tâm não nhiều người, để các kiến thức chân chính nhiều loại có thể thẩm thấu sâu rộng tạo thành một sức đề kháng hữu hiệu cho toàn xã hội.


Từ trước đến nay, công việc bài trừ cái tệ trạng này thiếu một phong trào liên tục, mạnh mẽ, thiếu một cơ sở lập luận cụ thể, thuyết phục, đi đôi với một hệ thống quản lý, kiểm tra hữu hiệu. Sau ngày Giải phóng, đã có không ít những kẻ muốn biến mảnh đất tâm linh thành một trang trại nuôi trồng cỏ độc. Ngay từ ngàn xưa, không thiếu những người có sự hiểu biết chân chính đã từng lên án nặng nề các trò mê tín, dị đoan. Trong một bài báo, đăng trên Khoa học phổ thông số 460, luật gia Phan Tá viết về Tôn Tử lên án thuật bói toán đã nêu lên những sự việc cần được trân trọng về nhà quân sự đại tài ở trong thời cổ Trung Hoa. Một dịp gần Tết, có người học trò vừa là cận vệ đem tặng Tôn Tử một quyển sách bói, gọi là “báu thư”, bị ông nổi giận đuổi ngay ra khỏi quân ngũ, vì ông cho đó là điều nhảm nhí, dốt nát và ngu xuẩn. Trong một tác phẩm nổi tiếng về nghệ thuật quân sự của Lý Vệ Công - một người kế thừa binh pháp Tôn Tử - ghi lại một mẩu đối thoại như sau: “Vua Thái Tông hỏi Vệ Công rằng: Người đời nói đến sức mạnh to lớn của Trời là thời gian, ngày đêm và âm dương. Vậy các bậc trí tướng lại không tin vào điều này hay sao?” Lý Vệ Công tâu lại: “Châu Tấn chết trong ngày Giáp Tý, còn Ngô Vương thì cũng trong ngày đó giành đại thắng. Đứng về sức mạnh của Trời mà nói, ngày đêm ấy vẫn là cùng một ngày Giáp Tý, mà kết quả đem lại khác nhau, có người thắng, có kẻ thua. Nhà Ân bị tiêu diệt, nhà Chu lập quốc, một nước hưng khởi, một nước tiêu vong. Vậy đâu phải tại Trời định mệnh.” ([1])


Mấy trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du - ở trong Truyện Kiều - đã làm mất mặt một thầy tướng số. Ông này bảo Kiều: “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” mà Kiều nào có bạc mệnh? Trái lại, nàng còn “duyên sau đầy đặn, phúc sau dồi dào”. Và Nguyễn Du đã khẳng định:


Có Trời mà cũng tại ta


Trời có thể hiểu là hoàn cảnh, là những tình huống áp đặt con người vào đấy, nhưng với ý chí kiên bền của một sức sống không ngừng vươn lên tìm sự hoàn thiện, thì như Nguyễn Du đã nói:


Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều


Ngày xưa các điều kiện sống hạn hẹp, con người chịu nhiều thế lực kiềm tỏa, do đó nhà thơ phải dùng chữ cũng, khi viết cũng nhiều. Ngày nay, điều kiện sống được mở rộng, ý thức con người được nâng cao, thì sự “nhân định thắng thiên” hẳn phải “rất nhiều”. Chúng ta có thể nhắc lại câu nói từ mấy ngàn năm về trước của ông Hoàng đế La Mã là Marc Aurèle: “Đời chúng ta do tư tưởng chúng ta quyết định”, tương tự như một cổ ngôn Trung Quốc: “Muốn thành tùng bách thì thành tùng bách, muốn nên bồ liễu thì nên bồ liễu”, và đây không phải là duy ý chí, nhưng đã khẳng định nghị lực nội tâm quyết định vận mệnh của một con người, và cả vận mệnh của một dân tộc, như cuộc kháng chiến kéo dài ba mươi năm qua của dân tộc Việt đã chứng tỏ rằng bên cạnh bao nhiêu yếu tố quan trọng giúp ta chiến thắng thì chính nội lực chúng ta trong cái khát vọng cao cả: “Không gì quí hơn độc lập, tự do” đã có vai trò quyết định.


Các nhà nghiên cứu đều kết luận rằng mê tín, dị đoan đều bắt nguồn từ ngu dốt và sợ hãi. Do con người còn nhiều nỗi sợ hãi và còn mờ mịt trong việc lý giải nhiều hiện tượng của cuộc sống nên mê tín, dị đoan cũng có thiên hình vạn trạng. Một nhà nghiên cứu người Anh về chủ đề này - là Peter Haining - cho rằng có khoảng năm trăm ngàn thứ mê tín, dị đoan ở trên thế giới. Có lẽ con số ấy còn quá thấp. Qua một số sách báo nước ngoài, ta thấy ngay như chiếc dù mới được nhập vào châu Âu thế kỷ 17 mà đã tạo ra vô số dị đoan cho các ông Tây, bà đầm, bởi vì vô số bà đầm, ông Tây cũng còn ngu xuẩn và còn sợ hãi. Chẳng hạn cho rằng mở dù lúc trời đang đẹp thì sẽ khiến mưa kéo đến, đặt dù trên bàn hay trên giường sẽ dẫn đến cuộc ẩu đả, v.v… Sự mâu thuẫn trong mê tín của nhiều dân tộc cũng khá đặc biệt bởi lẽ do điều kiện sống khác nhau nên sự ngu xuẩn và nỗi sợ hãi không cùng một loại. Nếu người Trung Hoa cho con số 1 là tốt nhất và số 4 là tệ nhất - hẳn theo thứ tự trong cách đếm của 4 tiếng: sinh, lão, bệnh, tử - để từ đó có thể chuộng con số 5 và số 9 vì trừ cho 4 thì vẫn còn 1, thì ngược lại người Ấn Độ thích con số 4, để từ đó nhân lên mà cảm tình với số 8, 32… Trong các xứ sở theo Thiên Chúa Giáo người ta kiêng kỵ con số 13, bắt nguồn từ một bữa ăn ở Cène của Chúa Jésus và 12 tông đồ - trong đó có tên Judas phản bội đã hãm hại Chúa, nhưng ngày thứ sáu 13 lại được xem là ngày tốt, mang lại hạnh phúc, điều lành. Ở Việt Nam ta, hẳn do ngộ nhận, nhiều người cứ nghĩ đó là ngày xấu…


Nếu mê tín là do ngu dốt và sợ hãi thì sự lan truyền mê tín là do ý đồ vụ lợi, về mặt tài chánh và cả chính trị. Theo như chúng tôi được nghe thì ở Hà Nội có những địa điểm lên đồng với giá thấp nhất phải là 400 euro trả cho mỗi xuất, thì ngoài một vài cá nhân tò mò hẳn số tiền ấy phải được xuất kho từ một chủ trương lũng đoạn dân trí có tính lâu dài. Ở nhiều cửa khẩu chúng ta đã tịch thu được một khối lượng lớn các sách bói toán - viết bằng chữ Việt - nhập vào và hẳn không phải chỉ vì mỗi việc bán sách để mà kiếm tiền. Còn sự tác động đây đó cho thấy một số người ở nước ngoài đã thò bàn tay về đến quê hương nuôi dưỡng mê tín bằng nhiều thủ đoạn - như báo gần đây loan tin một vụ việc ở Bến Tre, và khắp đất nước đã thấy xuất hiện khá nhiều địa điểm mà chất mê-tín có tính khởi động một sự tập họp quần chúng rất là rõ nét. Chúng ta còn nhớ vụ một đồng bào dân tộc ở xã Tu Tra - Lâm Đồng làm đơn “xin được chém đầu một người hàng xóm” vì nghi anh này “ém ó-ma-lai” giết chết con mình, vụ cháy gọi là “tự nhiên” ở tỉnh Quảng Nam, vụ tấp nập đến Chùa Bà - Hà Tây để cúng giải hạn với giá… 70 ngàn đồng 1 người cũng đội ngũ “khấn thuê” đông đảo, vụ khu vườn kỳ lạ ở Long An dẫn dụ người từ khắp nơi kéo về, vụ tên vô học gọi là thầy bùa ở tại Bạc Liêu trục xuất linh hồn 42 tiến sĩ để về trị bệnh, vụ thầy chữa bệnh - nhà chật ních người - ở tại Kiên Giang thực chất chỉ là một tên ma-cô, lừa gạt đồng bào… Và còn vô số những nơi khác nữa… Điều lạ là trước âm mưu của bọn đế quốc từng muốn dùng đủ các loại bom đạn khốc liệt để mong đưa dân tộc này trở về với thời đồ đá thì chúng đã phải thất bại thảm thương, nhưng chẳng lẽ sau chiến thắng rất oanh liệt ấy những trò văn hóa ma mị lại đang dẫn dắt chúng ta tìm cách để trở lại sống như những con người của thời thái cổ với sự bói toán nhảm nhí, với những tin tưởng hoang đường?


Trong 30 năm chống các đế quốc chúng ta thực hiện hàng vạn những cuộc tấn công quân thù - những việc xen kẽ giữa sống và chết - và nếu mỗi lần xuất quân lại đi “coi ngày” thì hẳn đã không có được chiến thắng lịch sử. Và những quốc gia Tây phương có nền kinh tế phát triển cứ mỗi lần xây cất nhà cửa, tạo dựng công ty lại phải “coi ngày” thì có lẽ họ từ lâu đã tụt hậu rồi. Cái bi kịch lớn là những công việc mà từ ngàn xưa đã được xem là ngu xuẩn thì nay một số gọi là có học lại xem như là một thứ trang trí tinh thần, một kiểu… trí thức hợp thời.


Thiết nghĩ chống lại mê tín dị đoan phải được hình thành như một trận tuyến quy mô bức xúc, thể hiện qua sự giáo dục ở trong nhà trường các cấp - có những giáo trình phù hợp cộng với sinh hoạt đoàn đội thường xuyên về các chủ đề cuộc sống thiết thân - cùng các phong trào văn hóa quần chúng có sự phê phán thực tế kịp thời và những tính năng thuyết phục. Và ngoài một sự tuyên truyền sâu rộng, ngoài việc quản lý, kiểm tra chặt chẽ thì những luật pháp nghiêm minh để trừng trị bọn lợi dụng mê tín, dị đoan cần được ban hành.


Và có như thế cái tầng đất sét kết dày từ mấy ngàn năm mới mong xoi thủng một cách đáng kể để những dòng nước văn hóa mạnh lành có thể tưới đều xuống cõi hạ tầng.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


 







(1) Truyện Thạch Sanh phỏng đoán xuất hiện vào thế kỷ thứ 15, viết bằng lục bát, dài 1800 câu. Truyện Kiều khoảng cuối thế kỷ 18 (hoặc đầu 19) gồm 2254 câu lục bát.




 ([1]) Bài đã dẫn.




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
Danh sỹ Hà Nội: Trần Đức Thảo - “Người Việt Nam duy nhất được coi là triết gia” - Hoài Anh 10.01.2019
Danh sỹ Hà Nội: Nguyễn Mạnh Tường - Người tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam - Hoài Anh 10.01.2019
Nước Mỹ như tôi biết - Thái Chí Thanh 27.12.2018
Khu Năm thương nhớ tự hào - Triệu Xuân 26.12.2018
Làng Việt cổ Đường Lâm - Hà Nguyên Huyến 12.12.2018
Một vùng rau Láng xa xưa... - Vũ Thị Tuyết Nhung 11.12.2018
Tuyển tập Vũ Hạnh: Hai nhạc sỹ tài danh trong dòng văn học dân tộc - Vũ Hạnh 07.12.2018
Tuyển tập Vũ Hạnh: Số đào hoa của Khái Hưng - Vũ Hạnh 07.12.2018
xem thêm »