tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869539
25.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (5)


Tôi là Thi sỹ


“Tôi đã vào tới Huế. Việc tôi cần làm trước hết là đóng chặt cửa phòng, ngồi viết bức thư này gửi anh.


Tôi cần kể anh nghe những nỗi vinh nhục trong mấy năm tôi sống ở Hà thành. Mà tất cả những vinh nhục đó đều ở trong nghề làm thi sĩ của tôi. Tôi đã bỏ học để làm thi sĩ. Tôi đã ăn cắp, ăn trộm để làm thi sĩ…, thôi thì chẳng còn thiếu tật gì. Vậy mà tôi cứ vênh mặt đeo cái danh từ to tát ấy trong một năm trời đấy. Âu là nghiệp dĩ tự trời! Bây giờ khi đã tỉnh ngộ, tôi thù văn chương hơn thù một thằng hung nó giết hụt mình, và thề không bao giờ để nó quyến dụ như xưa nữa.


Dạo ấy, một buổi tôi được hân hạnh khoác tay mấy nhà văn, nhà báo đi ăn chả cá và đi hát cô đầu. Được ăn với văn nhân, được nằm ngả nghiêng thân mật với văn nhân, đó là cái mộng tôi nuôi từ lâu lắm.


Trước giờ hẹn, tôi chải chuốt cực kỳ cẩn thận. Tất cả những thứ dùng trong người tôi đều mới hết. Soi gương, tôi thấy mình sang trọng quá, đến nỗi tôi ngỡ tôi sắp sửa đi làm bạn với những ông Hoàng. Tôi luyện điệu bộ, dáng dấp cho có vẻ trang nghiêm, đứng đắn, tôi sắp đặt những lời ăn nói để chốc nữa, tiếp các bậc văn nhân kia cho xứng với giá trị của dòng tôn thất đất kinh kỳ.


Đã đến giờ. Tôi nóng ruột, lo rằng mình hoặc vô duyên hoặc đã vụng về mời chẳng khéo lời nên các văn gia giận không cho mình cái may mắn được theo hầu.


Nhưng không, những văn gia yêu kính của tôi đã đến kia rồi. Tôi đứng trên bao lơn gác vui mừng nhìn xuống, một đoàn xe tay kiểu mới rầm rộ đỗ, trong số đó, tôi thấy có cả mấy cô rất đẹp, dáng chừng là nữ sĩ.


Tôi hồi hộp, luống cuống xức thêm nước hoa vào đầu, vào mùi xoa, quần áo. Tôi gò lại cái nút ca vát cho bé hơn tí nữa, vì đó là mốt mới của giới ăn chơi Hà Nội. Tôi đếm lại số tách uống nước và số ghế ngồi xem có đủ không.


Chờ đến năm phút mà chưa thấy ai lên, tôi chợt nghĩ ra các ông bạn, bà bạn danh giá của tôi có lẽ đang đợi chủ nhân xuống nghênh tiếp rồi mới chịu lên. Hối hận mình thiếu xã giao, tôi vội chạy xuống dưới nhà. Vừa bước hết bậc thang, tôi đã nghe thấy tiếng gắt nhau, mắng nhau ầm ĩ. Thì ra các văn gia đang nhường nhau trả tiền xe, nhưng ai nấy đều vỗ túi để phân trần là chẳng có một đồng chinh nhỏ. Tôi sợ nếu họ cứ vỗ túi phân trần với nhau thế mãi, ắt sẽ xảy ra xung đột, vì tôi thấy mặt người nào cũng sát khí đằng đằng, tôi vội nhanh nhảu chạy ra, nghiêng mình chào trân trọng, rồi tươi cười tranh giả tiền cho tám anh xe vừa vặn chẵn một đồng bạc giấy.


Họ rầm rộ trèo lên thang gác. Gót giầy tây đóng cá, gót bọc sắt giẫm ầm ầm, đến nỗi cái cầu thang ốm yếu sẵn phải trĩu mình xuống. Bà cụ chủ chạy ra trợn mắt nhìn, làu nhàu chửi rủa bằng những câu tục nhất của những người đàn bà An nam.


Bây giờ đến cuộc giới thiệu quý danh các danh nhân. Tôi nắm những bàn tay thân ái một cách hân hoan cảm kích, tôi nghiêng đầu chào những bộ mặt hoa một cách niềm nở, hữu tình.


Tôi lóng cóng pha nước đưa mời từng người một, đánh diêm châm hầu thuốc lá từng người, lăng xăng chạy đi, chạy lại, rồi đỏ mặt khi nghe những câu khen ngợi của các nhà báo, nhà văn đã hết sức phục văn tôi.


Cuộc đàm luận chứa toàn lời ca tụng về tôi đúng nửa giờ. Tôi cảm thấy no nê vì những lời ca tụng ấy mà quên hẳn việc mời các bạn đi chả cá, nếu nhà văn chính luận Quốc Hồn không cười rất lớn để phá tan cái không khí văn chương bằng vấn đề “nghệ thuật vị nhân sinh”:


- Thôi Hồng Vân thi sĩ hãy cho đi chén đã, đói lắm rồi.


Hồng Vân thi sĩ! Các ngài nghe thấy gì chưa? Ông Quốc Hồn vừa gọi tôi là Hồng Vân thi sĩ đấy! Thực là danh giá cho tôi. Vậy thì tôi còn đợi gì mà không mở tủ sách moi nốt cái món tiền dành mua xe đạp để tối nay đem đi khao cực kỳ long trọng cái mỹ hiệu “Hồng Vân thi sĩ” của tôi!


Tôi nhét tập giấy bạc vào ví, rồi dẫn đầu cả một đội binh danh sĩ ra ngoài phố. Tôi ngửa mặt nhìn thiên hạ, tôi đi ngầm với bất cứ ai rằng: đừng vô phúc mà chạm đến các bạn tôi, vì cô nữ sĩ của tôi đây sẽ làm ngay bài thơ đăng báo chửi, nhà báo của tôi kia sẽ viết ngay một bài thời sự đại hải tràng giang để nói xấu kỳ cho kẻ vô phúc ấy phải đến tòa báo mà xin lỗi bằng vài chục bạc mới tha. Trêu vào nhà báo, nhà văn, tức là chạm phải vía hung thần. Ấy, tôi yên trí thế, là vì các bạn tôi thường nghiêm nghị tự trỏ vào ngực bảo tôi rằng: “bọn chúng ta là thần linh cả, vì bọn ta sống trên một thế giới tinh thần cao khiết”.


Nhưng lúc này, khi mà những cặp chả cá đã bốc mùi thơm ngào ngạt trên chiếc hỏa lò than nóng, khi mà mùi mắm tôm sặc sụa trên mặt chiếc bàn bừa bãi những bánh đa, bún, lạc rang, rau mùi, và rượu đổ ra lênh láng, tôi mới thấy cái câu nói trên kia hơi sai nghĩa. Vì các văn nhân của tôi ăn một cách tục tĩu vô cùng. Tôi không ngờ những miệng hoa kia ban nãy ngâm cho tôi nghe những câu thơ Đường bằng một giọng êm như tiếng nhạc cung thiềm, vậy mà, lúc này những miệng hoa ấy ăn hung tợn như gấu ăn trăng. Tôi không ngờ những văn nhân của tôi lúc này ăn dữ dội tựa một bọn người chạy lụt đói bảy ngày và nói bẩn quá những kẻ tầm thường, đểu cáng.


Song việc đó không làm tôi ngã lòng sớm, vì tôi nghĩ: các bạn có yêu tôi thì mới chiếu cố thực thà như vậy.


Khi các bạn đã hả hê, ngồi vươn bụng thở, hoặc đứng lên đi bách bộ, thi sĩ Kiếm Thần xướng lên vấn đề đi hát để khao trước một tập thơ của tôi sắp ra đời.


Cả bọn ồn ào biểu đồng tình. Tôi không có can đảm chối. Và bây giờ tôi lại được cái hân hạnh dẫn đầu các văn nhân thi sĩ xuống Khâm Thiên. Cả mấy nữ sĩ cũng đi dự cuộc vui, điều này khiến tôi ngạc nhiên hơn hết. Ái Hoa đặt bàn tay ngọc lên vai tôi nói ngọt ngào:


- Hồng Vân ạ, bấy nay yêu tài Hồng Vân, bây giờ gặp mặt Hồng Vân, không hiểu sao tôi quyến luyến khôn cùng… Tôi muốn Hồng Vân cắt nghĩa tôi nghe duyên cớ ấy…


Tôi sung sướng nhìn Ái Hoa, Ái Hoa nữ sĩ đã yêu tôi!


Trong nhà cô đầu, các bạn tôi hút thuốc phiện như thần, nghịch đùa như quỷ. Tôi thì ngớ ngẩn chẳng biết gì, chỉ ngồi bên Ái Hoa, Ái Nguyệt nghe Kiếm Thần gõ trống.


Gần nửa đêm, Ái Hoa, Ái Nguyệt bảo tôi đưa về nhà. Tôi mừng rỡ vì được dịp may đi với hai người ngọc giữa đêm khuya. Tôi giúi tiền cho Kiếm Thần chi hát hộ. Một lát sau, giữa đường vắng, ba chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện. Khi đưa Ái Nguyệt đến nhà rồi, chì còn một Ái Hoa đi cạnh tôi.


Chúng tôi thú thực mối tình. Rồi trước lúc chia tay, Ái Hoa hẹn sẽ làm tặng tôi một bài thơ trên một tờ Nhật báo. Tôi vui mừng như được mọc đôi cánh để lên trời.


Sau lần đó, các văn nhân thi sĩ đối với tôi đã là bạn chí thân. Chúng tôi đã “mày tao”, đã dốc túi chia nhau tiêu từng xu, từng hào một.


Các anh các chị ấy luôn luôn thúc giục tôi làm thơ, họ bảo rằng về văn nghiệp, tôi sẽ có một tương lai to tát lắm.


Mỗi khi làm xong được mấy bài thơ, hoặc đoản thiên tiểu thuyết, tôi lại để dành tiền đi mua bánh đậu xanh, chè tàu, thuốc lá, rồi viết giấy đạt mời các bạn văn thơ đến họp mặt dự tiệc trà và phê bình tác phẩm của tôi. Ái Hoa, Ái Nguyệt tranh nhau ngâm thơ tôi, Kiếm Thần, Quốc Bảo tranh nhau đọc đoản thiên của tôi rồi cả bọn vỗ tay ầm ầm tán thưởng. Mỗi lần như thế, tôi lại thấy người tôi lớn hơn một chút, và danh giá to hơn một chút.


Dần dần, tôi nhận thấy Ái Hoa, Ái Nguyệt, hai người có ý ghen tỵ nhau để yêu tôi và để được tôi yêu. Tôi thường niềm nở, đi chơi với cả hai người, thường mua quà tặng cả hai người, nhưng thực tình thì tôi yêu quý Ái Hoa hơn bởi Ái Hoa có một giọng rất hay để ngâm thơ, mà nàng lại dùng giọng ấy để ngâm thơ và bình văn tôi thì còn có thi vị nào bằng!


Từ đấy tôi mê man về yêu đương, văn chương và bạn hữu.


Tiền cha mẹ tôi ở Huế gửi ra tháng tháng, tôi dùng để mời các bạn đi ăn, đi hát, để mua cho Ái Hoa, Ái Nguyệt đủ các tặng vật đắt tiền.


Tiêu pha liều lĩnh quá, tôi phải vay lãi bà chủ trọ và nợ ba bốn tháng cơm. Bà cụ đã có ý ghét tôi, càng ghét lũ bạn tôi hễ đến là giẫm ầm ầm thang gác, cười nói như bọn giặc.


Ngày xuân sắp đến. Các bạn một hôm kéo đến nơi tôi trọ để họp mặt. Bàn luận hồi lâu, kết cục các bạn nhất quyết khuyên tôi nên xuất bản một cuốn văn mùa xuân. Coi đó là việc to tát quá, tôi rùng mình, giẫy nẩy lên mà chối, vì tôi vẫn cảm thấy văn chương mình hình như còn dở lắm. Nhưng các bạn văn cam đoan sẽ làm giúp tôi nhiều bài thật đặc sắc mà lại cho tôi làm tác giả. Các nhà báo thì hứa sẽ viết bài phê bình ca tụng nó, kỳ cho sách chạy hết, thu vài trăm bạc về đi hát mới nghe. Ái Hoa, Ái Nguyệt thì ôm lấy cổ tôi mà nói nựng như dỗ trẻ: “Anh nên cho đời biết tài anh để chúng em được thơm lây! Nếu không, tình nghĩa chúng ta kể từ đây là đoạn tuyệt…”.


Nghe những lời thúc giục, khuyến khích ngon lành ấy, tôi xin phép các bạn cho tôi mười phút để nghĩ cho lung đã. Tôi tưởng tượng hàng mấy ngàn cô gái đẹp nõn nà sẽ ấp ủ cuốn sách của tôi vào lòng, sẽ đặt nó xuống dưới gối thêu khi ngủ để mộng một cuộc viễn du khắp trời xuân xa lạ với nhà thi sĩ đa tình. Khắp mọi chỗ sẽ có sách tôi, mọi người sẽ đón đọc văn tôi, cuộc hội họp ở các văn phòng sẽ kính cẩn nhắc đến cái tên “Hồng Vân thi sĩ”. Thật là vinh dự. Vậy còn lo gì mà không cho cuốn “Hương xuân” ra chiếm một địa vị trên văn đàn Việt Nam?


Tôi ưng thuận. Và khi cuộc họp tan, anh Kiếm Thần dắt tôi đến nhà in điều đình việc in sách, in quảng cáo. Xong việc ấy, anh Quốc Bảo dắt tôi đến nhà Vạn Bảo để tôi len vào đám đông người cầm cho chú khách Tầu tất cả những quần áo tôi mới may để lấy tiền đặt cho ông chủ nhà in. Vừa xong việc, Ái Hoa, Ái Nguyệt kèm tôi đi đến nhà một me tây già để bắt tôi xỉa tiền ra chuộc hai bộ cánh tân thời mà vì thua chắn, hai ả đã phải cầm tạm từ tuần lễ trước.


Mấy ngày sau, khắp các mặt tường đầu phố, khắp các cửa hàng hiệu sách ở Hà thành, người ta đã thấy mảnh giấy vàng in hai chữ “Hương Xuân” và cái tên “Hồng vân thi sĩ” thực lớn bằng mực đỏ.


Mấy ngày sau nữa, trong khi khắp vỉa hè phố hàng Bồ, hàng Gai, các thầy đồ ngồi bán tranh Chuột, bán câu đối đỏ, chợ Đồng Xuân bán đào, bán quất, bán các thực phẩm dùng ngày Tết, thì ở khắp hiệu sách người ta cũng bày món hàng văn chương cao quý của tôi.


Đêm nào tôi cũng trằn trọc trong chăn với trăm thứ mộng tình tốt đẹp. Sáng nào tôi cũng dậy rõ sớm cạo mặt, chải dầu bóng, mặc bộ tây cũ còn sót lại nhưng tôi đã thuê là gần như mới, mắt đeo cặp kính trắng mà Kiếm Thần đưa tôi mượn cho có vẻ đại gia thi sĩ, rồi tay cắp một mớ báo cũ, một mớ sách mà tôi có ý để hở mấy chữ “Hương Xuân” và cái tên Hồng Vân thi sĩ cho người đi đường trông rõ. Tôi trịnh trọng bước xuống cầu thang, song phải bước rón rén kẻo bà cụ chủ nhà gọi giật lại hỏi nợ, hỏi tiền cơm thì khốn. Khi thoát được ra đường, tôi vênh mặt, nghênh ngang đi lấy điệu, nhìn người này, ngó kẻ kia, có lúc cúi gằm mặt xuống cho ra vẻ một nhà thơ hay một triết lý gia đang mải suy nghĩ.


Qua hiệu sách nào tôi cũng nhìn vào. Thấy cô hàng sách nào xinh xinh, tôi bước hẳn vào trong, định tự giới thiệu, nhưng tôi lại hồi hộp, ngơ ngác ra bộ tìm một cuốn sách, đoạn bẽn lẽn quay ra. Gặp mặt bạn ngoài đường, bất luận thân hay sơ, lớn hay bé, tôi níu lấy, bắt tay thật mạnh, rồi nói huyên thiên về văn thơ, báo chí.


Tết đã qua, sự nô nức của thiên hạ mừng xuân đã nhạt, tôi cắp một chiếc cặp da rõ lớn đến các hiệu sách thu tiền, vì tôi yên trí sách của tôi lẽ tự nhiên là phải bán hết cả rồi.


Nhưng sự thực trái hẳn điều dự tưởng: sách tôi không một ai mua! Các cô hàng sách xinh đẹp nhăn nhó kêu rằng từ xưa tới nay, chưa có một cuốn nào khó bán như thế, dù là một cuốn sách tồi mạt hạng, một cuốn sách chỉ đáng để vứt đi, một cuốn truyện kiếm hiệp ba xu bẩn như miếng rẻ lau bàn ghế.


Tôi như bị người ta ném xuống cái vực sâu ba mươi trượng! Tôi lại hớt hải chạy đi khắp các hiệu khác, và vực sâu kia tôi càng thấy nó sâu hơn.


Về nhà, tôi bỏ cả ăn uống, nằm thẳng cẳng như chết dở.


Giữa lúc đó, tôi nghe tiếng giầy giẫm lộp cộp trên thang gác, tôi tưởng là các bạn đến để mình được chia xẻ nổi buồn, vội vàng ngồi nhỏm dậy nhưng kẻ vừa lên đó là… bà cụ chủ nhà và ông chủ nhà in. Ông này, mặt hầm hầm hỏi tôi món tiền thuê in sách. Tôi sợ hãi đứng khúm núm gãi đầu tìm lời khất. Ông đập bàn đập ghế cự tôi, và ông báo trước trong ba ngày không trả được, ông sẽ kiện tại tòa. Rồi ông hầm hầm đi xuống. Bà cụ chủ nhìn tôi như có vẻ mát ruột, bằng lòng lắm.


Tôi lập tức đi tìm các bạn, hy vọng lấy tình nhường cơm xẻ áo bấy nay họ sẽ cứu giúp tôi, song đập cửa từng nhà mới hay họ trốn mặt tôi.


Gặp Ái Hoa, Ái Nguyệt ngoài đường tôi cuống quýt vẫy, họ giục xe chạy thẳng, làm như chẳng quen tôi. Tôi tức giận, đến nhà Ái Hoa đập cửa, tên đầy tớ ra nhìn rồi nó thương hại kể tôi nghe: Ái Hoa, Ái Nguyệt chỉ là hai ả điếm làm nghề khiêu vũ trong các tiệm. Bọn văn nhân, thi sĩ của tôi xui chúng nó học thuộc lòng những bài thơ của tôi, tán phỉnh tôi để lợi dụng tính hiếu danh, hiếu thắng của tôi mà bóp lấy tiền, rồi chia cho cả bọn cùng tiêu. Việc bí mật này nó biết được là vì nó đã nghe trộm chủ nó và bọn văn sĩ nọ bàn định với nhau trước khi thi hành cái mưu kế nhét đầu tôi vào giọ.


Tôi ngã ngửa người, tức giận đến phát điên. Nhưng may trong khi điên như vậy, tôi chợt nghĩ ra một kế để gỡ thoát nỗi nguy nan. Tôi gửi điện khẩn vào Huế cho thày mẹ tôi nói là ốm nặng, hiện đang nằm ở nhà thương. Tôi phải nói dối, vì đã nhiều lần viết thư xin tiền nhà, tôi đều bị thày mẹ tôi cự tuyệt không cho, bởi tôi tiêu hoang phí lắm.


Quả nhiên mấy hôm sau, tôi lĩnh được “măng-đa”. Tức khắc, tôi đi trả tiền ông chủ nhà in, tiền cơm trọ. Rồi chán Hà thành, thù cả sự nghiệp văn chương, tôi xách va li ra ga vô Huế.


Trên toa xe lửa, tôi ngồi thu hình trong một xó, chán nản hết sự đời. Than bụi bám đầy tóc, đầy lỗ tai, lỗ mũi, đầy quần áo, tôi không muốn lau, muốn phủi, tôi chỉ muốn liều nhảy xuống đường tàu cho những bánh xe ghê gớm nọ sả xác tôi ra làm nghìn mảnh, nghiến bẹp cái sọ khốn nạn chỉ chứa một trí dại dột, cuồng ngu.


Tôi dựa đầu vào tấm cửa gỗ mà ngủ gật. Bỗng tàu chạy qua một cái cầu sắt, tiếng động ầm ầm, tôi choàng tỉnh. Khi ấy, tôi chợt thấy bên cạnh tôi, một bà cụ già cũng người xứ Trung kỳ đang cúi mở va li lôi ra một cuốn sách. Tôi thấy cái bìa sách quen quen, vội giụi mắt nhìn, thì ra đó là cuốn “Hương xuân”. Tôi có một cảm giác là lạ chạy khắp mình. Để ý dò nét mặt vị độc giả yêu quý, nhưng trên cái khuôn mặt già nua, khắc khổ ấy, tôi không nhận thấy một nét gì biểu lộ một xúc cảm đối với những dòng chữ dưới cặp kính của bà.


Tuy vậy mặc lòng, tôi vẫn có cảm tình với vị độc giả đầu tiên của mình. Tôi vẫn không ghét con người già nua ấy, vừa đọc vài câu lại lắc lư cái đầu tóc bạc theo tàu mà ngủ lia ngủ lịa, mặc cuốn sách rơi xuống dưới chân. Mỗi lần bị đánh thức bởi tiếng còi tàu thét, bà lão lại vội vàng tìm cuốn sách, nhặt lên, lau sạch bụi than, đọc vài dòng rồi lại ngủ, cuốn sách lại bị rơi xuống dưới sàn đầy vỏ cam, bã mía.


Tôi tưởng tượng đấy là một bà mẹ hiền từ, một vị phu nhân cao quý khi về nhà, sẽ dịu dàng đặt cuốn sách của tôi vào tay một cô con gái thân yêu. Rồi vị tiểu thư đó ngồi một mình trong chốn thâm khuê sẽ nâng niu nó, hé miệng hoa ngâm đọc từng dòng những lúc vén rèm chờ trăng xế, những lúc gây lư trầm ngồi gẩy khúc đờn tỳ…


Tôi ôm khối mộng ấy trong giấc ngủ ngồi mệt nhọc cho tới hồi khuya, tàu đến Huế.


Ra khỏi nhà ga, tôi bảo xe chạy theo xe bà cụ nọ nhưng chẳng mấy lúc chiếc xe ấy đã mất hút trong màn đêm đen kịt.


Tôi giục xe chạy thẳng về nhà. Cả nhà tôi đang ngủ, thấy chó sủa vang, và thấy tôi đẩy cửa xô vào thì hết thảy mọi người đều thức dậy.


Mẹ tôi mừng rỡ ôm chầm lấy tôi mà hôn hít. Tôi ngả đầu vào ngực mẹ tôi, khóc như một đứa trẻ thơ sắp thú một tội lỗi gì…”


 Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 195/1938


Những hình bóng cũ


Truyện viết một ngày trừ tịch


 


Năm đang tàn. Chợ Đồng Xuân đã có bao nhiêu hoa tươi bày bán. Bấy nhiêu hương sắc theo muôn màu áo, theo muôn bàn tay ngà ngọc mang đi khắp Hà thành.


Tôi bỗng chạnh lòng nghĩ tới cái chợ ở quê tôi. Chợ dựng giữa cánh đồng, bên một con sông đào nhỏ hẹp, có cái cầu bằng đá, người ta gọi là chợ Cầu Nôm. Hai ngày chợ có một phiên, và lệ thường mặt trời gần xế đỉnh đầu mới họp.


Ngày nay, đã đến hơn mười năm tôi không có dịp nào tới chợ Cầu Nôm nữa. Nhưng hình ảnh những túp lều xám mốc nối liền nhau, những cây đề cổ thụ bóng rợp trải rộng trên mặt cỏ xanh, những tiếng nói ồn ào huyên náo, vang rộn lên như sóng bể hiện giờ vẫn khiến tôi nghĩ đến, nhớ đến mỗi lần tôi đi qua một cái chợ nào nơi thành thị, hoặc ở một chốn thôn quê xa lạ.


Tôi nhớ nhất phiên chợ ngày 23 tháng Chạp. Hồi ấy tôi độ mười hai, mười ba tuổi. Mẹ tôi bảo tôi xuống ao rửa mặt, rồi lúc lên tôi đã thấy bà mở cái hòm da cũ kỹ - cái hòm da của người con gái đem theo về nhà chồng tự ngày xửa ngày xưa - bà bày ra giường chiếc khăn xếp, cái quần lụa xanh, chiếc khánh bạc, đôi giầy láng lót da trâu, chiếc áo vóc màu huyền, thêu nhằng nhịt những bông hoa to bằng cái bát. Chiếc áo ấy của ông ngoại tôi, mẹ tôi mang nó ở Huế ra rồi làm nhỏ lại cho tôi mặc.


Hôm nay, lần đầu, tôi được xỏ tay vào chiếc áo quý này. Vì từ hôm mẹ hóa phép cho tấm áo vóc thu bé lại vừa với cái mình bé gày lẳng khẳng của tôi, bà cất vào hòm ngay, thỉnh thoảng mới bỏ ra phơi nắng. Bữa nào phơi áo tôi lại có cái sung sướng được bà cắt ngồi dưới bóng cây canh giữ cho cẩn thận, kẻo sợ những thằng ăn mày, những thằng câu gà, bả chó lẻn vào lấy mất. Bao nhiêu lần, tôi chỉ được ngắm nghía chiếc áo đẹp của mình một cách khát thèm như thế mà thôi. Vậy mà sao buổi sáng hôm nay bà lại bỏ nó ra, và giục tôi mặc vội. Tôi hồi hộp cho đến lúc mẹ tôi đội khăn xong, dắt tôi ra cửa, ở đấy người u già đã đứng chờ với đôi quang thúng. Thì ra chỉ có xuống chợ Nôm mà tôi được mặc sang trọng như cậu Ấm thế này ư!


Mẹ tôi, không như mọi lần đi chợ chỉ mặc xềnh xoàng, bữa nay lại đội khăn nhiễu tam giang, mặc áo bông the, và đội nón lá dứa thêu chỉ ngũ sắc – chiếc nón Huế, chiếc nón của người con gái đem theo về nhà chồng tự ngày xửa ngày xưa.


Từ làng tôi xuống chợ, phải đi chừng ba cây số, theo dọc con sông. Thực là cực nhọc! đôi tất vải màu hoa đào ở chân tôi cứ trơn tuồn tuột trong cặp giầy mới, mỗi bước, giầy lại bắn đi rơi cả xuống ruộng, mà nếu bước mạnh nó sẽ rơi tõm xuống sông là khác nữa. Mẹ tôi phải dừng lại tháo tất cho tôi. Thế này đi dễ dàng hơn, nhưng lại khổ hơn, vì da giầy cứng quá, khía vào chân tôi như cắt. Tôi nhăn nhó, song cũng cố đi, chẳng lẽ bắt u già phải cõng, người ta cười chết. Tôi nhận thấy mọi người đang ngắm nghía tôi: cái thằng bé con sang trọng như cậu Ấm.


Đến chợ, việc cần hơn việc mua bán là mẹ tôi bảo u già ngồi dưới một gốc đề coi quang thúng, rồi dắt tôi tới chỗ các cô đồng dí họp.


Chỗ này đông nhất chợ. Trai gái xúm xít ghẹo nhau, và trêu các cô dí trẻ. Họ đặt trầu cau, đặt tiền để lỡm cô đồng: họ đọc tên, đọc tuổi một người có mặt ở đấy cho cô dí khấn. Thế rồi, một phút thôi, cô dí suýt xoa, vong hồn cái người... đó đã tự cõi âm về nhập vào cô. Cô rền rĩ hát:


Hồn rằng hồn thác ban ngày...


Hễ nghe thấy tiếng sì sào tỏ ra không chịu, cô liền chữa:


... Thương cha nhớ mẹ, hồn rày thác đêm.


Tiếng cười phá lên. Bọn trai gái tinh nghịch cúi xuống nhặt đòi lại món tiền chinh trên đĩa của cô đồng dí, rồi kéo nhau đi trêu cô khác.


Nhưng mẹ tôi thấy vậy rồi bà vẫn tin cô dí, tin quả có hồn về dưới mặt trời chói lọi đang đứng giữa đỉnh đầu! Bà triệu hồn ông ngoại tôi về. Một phút lâm râm khấn vái xong, cô đồng đã khá già này cất tiếng hát, giọng nỉ non, buồn rứt xương, rứt thịt. Tôi khẽ hỏi mẹ tôi: “Mả ông ở mãi tận Huế, sao ông bay ra mau thế? Mà ông nói tiếng Huế cơ mà?” Bà vội bịt ngay mồm tôi, vì bà đang kính cẩn nghe vong hồn ông tôi nói về những việc âm dương, cứ như chính ông tôi đã sống lại, ngồi ngay đấy.


- Ông dặn con sau này cố học mà làm quan. Nhà ta có ngôi mộ bà nội đang kết, sẽ phát về con...


Mẹ tôi nói câu ấy bằng một giọng vui mừng và tin tưởng trong lúc trở về, chúng tôi đi theo dọc bờ sông.


Từ hôm đó, tôi càng được mẹ tôi yêu quý bội phần. Những chiếc quần áo đũi ruộm hoa hiên, vỏ sò mẹ tôi đem phát cả cho trẻ con hàng xóm, rồi nhờ người ra tỉnh mua vải trúc bâu cát bá về may cho tôi mặc. Bà sốt sắng mua giấy bút, dắt tôi lên trường huyện học vỡ lòng.


Tôi không bao giờ quên được những buổi tinh sương, mẹ tôi dậy thổi cơm cho tôi để đến trường. Nhất là những buổi sáng mùa đông, nằm trùm chăn, tôi lắng nghe tiếng guốc của bà sẽ động trên nền sân đất rắn, tôi lắng nghe tiếng gạo sát vào lòng rá bên vại nước cạnh gốc cau.


Dậy ăn cơm, tôi thấy sách vở bút mực của tôi đã xếp sẵn cả rồi. Bà đưa tôi đến tận cửa trường, và đón tôi về ngày bốn lượt, không ngày nào thiếu. Những buổi tối đèn hết cả dầu, mẹ sợ tôi không học được phải xách chai sang tận làng bên mua, đi qua mấy cánh đồng, qua một cái miếu cây cỏ mọc um tùm gọi là miếu “Hai Cô”, người ta bảo thiêng lắm. Lần nào mẹ tôi cũng đứng lại khấn vái một lúc lâu, tôi chắc bà kêu cầu cho tôi học mau tấn tới... để sau này làm quan, như lời vong hồn ông ngoại tôi báo trước!


Học để làm quan! than ôi! cái hi vọng quá to tát ấy của mẹ tôi có viên mãn được bao giờ.


Mẹ tôi từ trần năm tôi mười bốn tuổi, mang theo cả cái hi vọng đứa con mình sẽ làm quan.


Ngày nay, giá mẹ tôi còn sống thì thật là đau đớn biết bao nhiêu. Cái đứa con bà hằng mong ước sẽ làm quan ấy vẫn chưa làm gì cả, nếu bà không muốn nhận rằng chính thật ra nó cũng có một nghề, cái nghề viết văn nhọc mệt và bạc bẽo, cái nghề hỡi ơi, không biết sống bây giờ rồi chết bao giờ.


... Khi ngọn đèn đã sáng, đôi mắt hiền dịu của mẹ tôi cũng sáng lên nhìn vào bàn tay tôi vụng dại tô những nét chì trên trang sách.


Muốn tôi không buồn ngủ để học nhiều, bà thường hay kiếm cho tôi một thức gì ăn. Thức tôi hay ăn nhất là khoai lang nướng. Những củ khoai lang vàng ngọt nóng bỏng tay, mẹ tôi bóc sẵn bày trên đĩa. Những hạt ngô rang khéo quá, nở trắng như những đóa hoa nhài đổ đầy chiếc rổ mây. Mẹ tôi ngồi hàng giờ dưới bếp rang từng mẻ một, mang lên bảo tôi ăn cho ròn, nóng. Tôi quên sao được tiếng đôi đũa tre quẹt quẹt vào mảnh nồi đất vỡ lót một lần cát mỏng..., cái tiếng đều đặn khô khan lẫn với tiếng củi nổ lách tách, tựa hồ xé vỡ cả cái im lặng đang đông đặc lại trong trời khuya vắng.


Ngày nay, những buổi tối mùa đông, có biết bao chiếc bóng lúi húi đi dưới vòm cây, dưới hàng hiên, trong ngõ tối... những chiếc bóng ấy rao bán ngô rang. Tôi nhớ ngay đến đứa trẻ ngồi khoác chăn lên mình bên chiếc đèn con, tập đọc, và tập viết... Tôi nhớ ngay đến người đàn bà ngồi trong xó bếp tối tăm, cái bóng to rộng in lên tấm vách ám tro khói, đang cầm đôi đũa quẹt đi quẹt lại trong chiếc mảnh nồi...


Người đàn bà đó đã chết từ lâu. Đứa trẻ ấy giờ đây “đã mang lấy nghiệp vào thân”, ấy là cái nghiệp viết hết truyện này sang truyện khác, viết không còn có thì giờ mà tính sổ để xem hôm nay năm sắp tàn mình đã viết được bao nhiêu truyện rồi.


Những hạt ngô, rang khéo quá, nở trắng như những đóa hoa nhài! Than ôi, tôi có còn nếm lại cái vị thơm bùi của những hạt ngô rang khéo quá ấy nữa đâu, như ngày xưa ngồi tập đọc và tập viết. Bây giờ, những đêm ngồi bên cây đèn điện trong gian phòng ấm áp, tập giấy trắng đặt trên bàn, tôi viết từng trang... Nhưng đâu còn có những hạt ngô nở trắng như những bông hoa nhài, nó đã thay bằng chiếc đĩa sắt chất cao tàn thuốc lá, vỏ hạt dưa. Đó là thói quen khi tôi thức đêm viết truyện, cũng như ngày xưa cái thói quen tối nào muốn học, mẹ tôi phải cung cho khoai nướng, ngô rang.


Tôi nhớ mẹ tôi cứ ngồi chọn từng hạt ngon đưa tận miệng tôi. Tôi lại nhớ, một đêm gần đây, một cô gái Huế nằm trên một chiếc bồng ở sông Hương, cắn từng hạt dưa đưa vào tận miệng tôi giữa lúc tôi lơ mơ say thuốc phiện.


Biết đến bao giờ quên đi!


Nắng đầy cả sân, vườn. Ấy là lúc mẹ tôi yêu nắng và tiếc nắng, nếu bỏ phí không phơi dưa, củ cải, phơi quần áo hay gội tóc. Nhất là gội tóc. Cách ba ngày bà lại phải gội một lần, sự sạch sẽ ấy đã bị đàn bà hàng xóm cho là dởm. Bởi người ta thấy mẹ tôi gội được mớ tóc thật là vất vả. Làn tóc dầy và dài chấm gót, thả đầy một chậu thau đồng lớn; lúc chải bà phải đứng lên giường, thả tóc xuống mới không bị vướng.


Ít ra cũng dùng năm sáu quả chanh, và bao giờ mẹ tôi cũng gội bằng thứ nước trầm. Thì ra cái thói vương giả, đài các của mẹ tôi, đến ngày sa cơ mà cũng vẫn còn.


Tôi chỉ săn đón lúc bà chải tóc để lượm những sợi bị đứt. Ngày ngày, tôi ham lượm tóc như con gà ham lượm thóc rớt trên thửa ruộng vừa mới gặt xong. Tóc mẹ tôi rụng nhiều, lòng tôi mừng lắm!


Những buổi trưa, tôi đem sách ra ngồi ở ngoài thềm. Đó chính là lúc tôi dỏng cả hai tai để ngóng cái tiếng dép lẹp kẹp đi qua ngõ, tiếng rao lanh lảnh của mụ đồng nát: “Ai tóc rối đổi kẹo ra?” Cái tiếng ấy mà cất lên thì dù đang học, đang ăn cơm, tôi cũng chạy đến các lỗ vách, các khe phên, kẽ liếp moi móc ra những mớ tóc tôi nhặt được của mẹ tôi. Đem tóc ấy ra đổi lấy que kẹo mạch nha hồng hồng dẻo quánh, ăn ngon lịm người, đến nỗi tôi thành nghiện, hôm nào mưa gió hàng kẹo không tới thì tôi thèm rỏ rãi. Một dạo, mẹ tôi ốm, tóc rụng rất nhiều tôi tha hồ nhặt, tha hồ ăn kẹo. Khi khỏi ốm, mớ tóc dầy, dài và óng chuốt của mẹ tôi đã mỏng đi, ngắn đi và khô xác. Nhưng cũng từ đấy, tóc mẹ tôi không rụng nữa. Tôi phải đi nhặt của những người đàn bà, con gái trong làng. Rình để nhặt, khốn nạn như con mèo rình ăn vụng. Vậy mà quá yêu tôi, quá chiều tôi, bà không hề đánh mắng. Một lần mẹ tôi ngồi sưởi nắng và chải đầu dưới gốc cây na. Tôi ngồi cạnh thầm mong sao cho tóc mẹ tôi đứt rõ nhiều, song chẳng có sợi nào bị đứt. Tôi mếu máo. Thấy thế, mẹ tôi lại phải chải thêm. Mỗi bận những chiếc răng lược nhọn sắc cào sát da đầu, mẹ tôi nhăn mặt suýt soa, hai mắt lấp lánh ngước nhìn tôi. Hí hửng được nhiều tóc rụng, tôi có để ý gì đến đôi mắt ướt ấy đâu!


Một lần, không bao giờ tôi quên. Một buổi trưa, mẹ tôi đang khâu vá thì kêu nhức đầu, nằm xuống nghỉ. Tôi đang ngồi vẽ nhảm, bỗng ngoài ngõ tiếng mụ đàn bà đổi kẹo cất lên. Tôi sục tìm các lỗ, các khe vẫn giấu tóc, chẳng còn một sợi nào, mà cơn thèm kẹo đã đưa nước bọt lên đầy cả miệng.


Tôi đứng sững nhìn mớ tóc dài của mẹ tôi sổ ra buông lòa xòa xuống đất.


Một ý táo bạo nảy ra, tôi nhìn chiếc kéo may trong cái thúng ở đầu giường. Tôi cúi xuống nghe mẹ tôi đã ngủ. Nhè nhẹ tay, tôi rón cầm chiếc kéo. Ồ, chiếc kéo mới mua ở chợ Nôm phiên trước, hẳn là sắc lắm đây! Tôi run sợ toan để nó vào trong thúng, nhưng mụ hàng kẹo đã đến ngoài cổng nhà tôi, nước bọt vẫn tràn đầy trong miệng, ý táo bạo nọ lại nảy ra. Tôi liều. Một nạm tóc rơi xuống đất. Mẹ tôi khẽ cựa. Tôi vội lùi lại nấp sau cái cột, tim nhẩy rực lên. Mẹ tôi lại ngủ, tôi vơ nhanh nắm tóc chạy vụt ra ngoài ngõ.


Đổi xong rồi, tôi cầm que kẹo vào nhà. Mẹ tôi đã dậy, tay cầm chiếc lược, nước mắt lặng lẽ rơi xuống má.


Tôi đứng sững ngoài thềm, que kẹo rơi khỏi tay. Tôi gục mặt vào lòng bà thổn thức.


 


Cây mùa thu lá trút đầy trời. Lòng tôi yếu, thầm mong gió heo đừng về mạnh, đừng lột trần tất cả những thân cây. Tôi mong không gió, tôi cầu cây xanh hoa nở cả bốn mùa. Vậy mà ngày xưa... Tôi đã mong cho làn tóc mượt dài của mẹ tôi trút xuống nhiều như lá mùa thu. Tôi đã mong lượm nhặt những sợi tơ óng đẹp ấy như con gà đồng nhặt thóc, như đứa trẻ nhà nghèo nhặt lá rụng giữa cơn giông.


“Thiếu nữ ơi, giữ sao cho tóc khỏi rụng nhiều”. Tôi cầu như thế cho những giai nhân không quen biết gặp ở đường đời có làn da xanh, có quầng mắt tối, có nụ cười nhạt héo. Tôi không muốn mắt họ mờ đi vì lệ, tóc họ mỏng đi như ngành tơ liễu úa...


Vậy mà ngày xưa tôi đã cầm chiếc kéo sắc để cắt đứt cả một nạm tóc dài của người đàn bà thân yêu nhất đời tôi!


Nhưng trước hay sau sự tiêu diệt cũng đến đối với con người, dù là một nàng công chúa, một nàng tiên nữ. Mớ tóc đẹp của mẹ tôi, dẫu tôi chẳng xén bớt đi, nó cũng tan thấm vào lòng đất. Những mẩu xương của mẹ tôi đã được moi lên để đặt vào cái tiểu sành. Tôi nâng niu cái đầu lâu dập vỡ nhẵn nhụi trên tay, kính cẩn nhúng vào chiếc chậu thau đựng nước trầm thơm ngát, thứ nước ngày xưa mẹ tôi vẫn dùng gội mớ tóc dài. Vậy mà tôi vẫn ngờ là một giấc chiêm bao.


 Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 298/1940


Một nàng tiên


Thuở ấy, tôi mới chừng đâu mười tuổi. Chúng tôi ở trong một căn nhà lá rất xinh bên một khu rừng.


Gia đình tôi không đông lắm: chỉ có bà nội tôi, người vú già, và... vong hồn mẹ tôi.


Bà nội tôi buổi thiếu thời đã ở Hà thành buôn hàng tơ lụa trong một cửa hàng nho nhỏ phố Hàng Đào. Người đã chịu gian lao nhiều lắm dạo chạy loạn khi Hà Nội thất thủ, quân Pháp kéo vào. Bồng con chạy hàng năm mươi cây số về làng, lại bị giặc Cờ đen đuổi, rồi lại trốn, có khi nhịn đói mấy ngày liền, ngô khoai không có mà ăn.


Buôn bán mãi, và việc đời thường thất bại càng khiến bà tôi sinh chán nản, rồi thu xếp về quê cho được an nhàn. Người thuê dựng cái nhà lá xinh xắn ấy để ở và để thờ ông tôi.


Mẹ tôi ở Huế ra, đã qua đời dưới mái nhà thân yêu đó. Bị mất mát quá nhiều rồi, nay chỉ còn có tôi nên bà nội chắt chiu tôi như hòn ngọc.


Suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn bên bà. Những buổi sáng nắng hanh, hai bà cháu ra thềm ngồi sưởi, bà tôi thì chẻ nan đan rổ rá hoặc khâu vá áo quần, tôi thì mang quyển “Ngũ ngôn thi” ra học hay lấy miếng son tập viết trên nền gạch, do bà tôi bảo, vì người cũng biết nhiều chữ Hán.


Tôi hay lẻn vào gian phòng mà mẹ tôi đã qua đời. Hàng giờ lâu, tôi ngồi yên lặng nhìn chăm chú chiếc giường tre mục nát để tượng tưởng ra cái xác mẹ tôi đã nằm trên đó, vải trắng bó khắp mình, mặt đậy tờ giấy bản, cạnh đầu đặt cây đèn con và bát cơm quả trứng.


Nghĩ như thế rồi tôi rờn rợn, đang lúc ấy có một con cóc nhảy ở gậm giường ra, bò theo chân tường ẩm ướt, kêu lên mấy tiếng, tôi vùng chạy ngay khỏi cửa buồng.


Bà tôi vẫn cấm tôi vào rừng chơi một mình e tôi bị lạc hay bị ai dỗ đem đi mất, nhưng tôi không thấy sợ, người phải đặt ra bao nhiêu câu chuyện yêu tinh, thú dữ, rắn độc để dọa tôi, song tôi chỉ nghe lời được một hai ngày, rồi chứng nào tật nấy, tôi lại chạy tót vào rừng. Có khi nghe rõ tiếng bà tôi đứng trên đồi gọi về ăn cơm mà tôi vờ không nghe thấy, cứ tha thẩn mãi với hoa, với bướm bởi tôi thừa biết bà tôi chẳng nỡ đánh mắng thằng cháu yêu quý của bà.


***


Một hôm, một sự lạ đã xảy đến với quãng ngày thơ ấu của tôi một cách đột nhiên và kỳ thú.


Tôi nhớ đó là một buổi trưa hè.


Tiết trời nặng nề, oi ả và nắng tưởng chừng đốt xém cả cỏ cây. Khí mát giữa rừng cũng giảm đi đôi chút. Tôi chạy tung tăng, ngửa mặt nhại tiếng hót của con chim đậu quanh đâu đó. Có khi tôi dừng lại tìm tránh một quãng nào có vắt, có khi tôi bẻ cành cây để đập những quả lê dại cho nó rụng lộp độp xuống đầu. Nấm hương thơm phưng phức mọc đầy dưới chân, tôi nhặt bỏ vào cái rổ con để đem về cho bà tôi nấu canh ăn, hẳn bà tôi sẽ tha cho tội lẻn vào rừng. Thích chí, tôi chạy một mạch luồn qua bụi nọ, cây kia. Áo tôi bị gai móc vài ba chỗ và da rớm máu, khắp người mồ hôi toát ra, nóng bừng bừng.


Đến con suối, tôi cởi áo quần vắt lên một cành cây, lội ùa xuống. Nước mát lạnh khiến tôi phải rùng mình. Con chim bói cá đậu trên cành cây thấy tiếng động bay vù đi mất. Những con nòng nọc đang bơi quanh hòn đá rêu, thấy bóng người vội chúi cả vào hang. Thỉnh thoảng mới có tiếng một cành khô gẫy, tiếng một trái cây rơi, rồi thì rừng sâu lại im lặng như tờ.


Nước suối chảy xiết, nghe rào rào một điệu đều như khúc đàn ai bấm tự bao giờ. Tôi nằm nhắm mắt cho sóng cuốn đi nhè nhẹ theo dòng nước trong suốt đáy lót toàn sỏi tròn và trắng, như có bàn tay nào đang ve vuốt thịt da. Để nắng lọt xuống kẽ lá chơi giỡn trên người, tôi khoan khoái ngụp đầu xuống, vẫy chân tay và nhại những con chim vừa bay đến đậu trên cành hót líu lo.


Nghịch chán, tôi đứng lên lội ngược về chỗ cũ. Tôi hoảng hốt khi thấy trên cây áo quần của tôi biến mất.


Một hồi lâu tìm mãi nhọc công, tôi đành ngồi xuống tảng đá ôm mặt khóc. Nghĩ đến lúc cứ trần truồng trở về nhà bị các bạn hàng xóm reo hò chế giễu, và nghĩ đến lúc bị bà tôi mắng tôi càng khóc lớn hơn.


- Tại sao mà khóc thế, em?


Tôi giật mình vội ngẩng mặt lên, sợ hãi nhìn người vừa hỏi tôi bằng một giọng vô cùng êm ái.


Đó là một người đàn bà mặc toàn đồ trắng, khuôn mặt đẹp lạ lùng, nước da hơi xanh, đôi mắt đen, và cái miệng xinh tựa bông hoa thắm nhất của rừng xanh.


Nàng bước đến, vuốt tóc tôi:


- Làm sao em khóc? Nói đi, chị giúp.


Tôi kể lại việc mất áo quần, nàng mỉm cười nắm lấy tay tôi:


- Chị biết chỗ người ta giấu áo quần em. Nhưng ở giữa rừng cơ, ở một chỗ kín lắm, em theo chị...


Tôi theo sau nàng. Nàng bước đi uyển chuyển; những bước chân nhẹ quá, không làm xao động đến cả một chiếc lá vàng khô.


Một nàng tiên! Có phải đấy là một nàng tiên vừa tự trên trời hiện xuống giúp tôi, vì thấy tôi là một đứa trẻ khôi ngô và ngoan ngoãn. Vừa bước, tôi vừa hoang mang nhớ đến những câu chuyện cổ do bà tôi kể, bao giờ cũng bắt đầu bằng câu: “Ngày xửa... ngày xưa, có một đứa trẻ ngồi bên đường khóc, ông bụt hiện thành lão ăn mày chống gậy đến hỏi rằng: Con làm sao mà khóc?”


Nhưng bây giờ, ông bụt ấy không biến ra lão ăn mày, mà lại hóa thành một cô tiên đang đi trước mặt tôi kia.


- Em có mỏi chân không?


Tôi chưa đáp thì nàng đã bảo tôi ngồi xuống bên một búi cây rậm rạp, và ở đấy cũng có một dòng suối chảy giữa những đám lau sậy um tùm.


Nàng bẻ một cây sậy, lấy nước suối đưa tôi uống. Đoạn nàng ngồi sát cạnh tôi, nhìn chằm chằm vào tận mặt tôi như nhìn một vật gì kỳ lạ. Thấy mắt nàng sáng lên, tôi sợ sệt ngồi lùi lại. Nhưng, thốt nhiên, nàng ôm chầm lấy tôi, bế xốc tôi vào lòng, hai cánh tay nàng ôm ghịt cả người tôi riết chặt vào tận ngực... Tôi thấy tôi như bị một con trăn lớn quấn tròn vào giữa. Nàng cúi xuống cắn vào mặt tôi, vào môi tôi; khắp người tôi buồn buồn vì bàn tay nàng xoa vuốt...


Tôi không kêu mà cũng không kháng cự. Tôi cảm thấy như thể là cô tiên ấy yêu tôi, yêu một đứa trẻ kháu khỉnh, mũm mĩm, cho nên tôi cứ nằm gọn trong lòng nàng.


Nàng bỏ tôi ra, đặt tôi ngồi trước mặt. Và nàng cầm tay tôi nhìn rất lâu những đường chỉ trên gan bàn tay rồi bảo:


- Về sau, lớn lên, em sẽ sung sướng lắm. Em có số đào hoa, sẽ được nhiều người yêu mến, như là chị yêu em lúc này.


Tôi không hiểu, chỉ ngây ra nhìn nàng.


Bỗng nàng cười rít lên một cách ghê rợn, rồi bá cổ tôi mà hôn. Hôn xong, nàng đứng dậy, đến một bụi cây, lấy quần áo của tôi ra:


- Em mặc vào đi!


Nàng ngắt hoa kết thành một vòng tròn quàng vào cổ tôi, giọng êm ái:


- Đây là vòng hoa của vinh quang chị tặng trước cho em. Mai sau, em đừng quên rằng chị đã tặng em vòng hoa này nhé!


Nàng buồn bã nhìn tôi, rồi đứng dậy quay đi.


- Thôi, vĩnh biệt em!


Tôi chạy theo nắm lấy áo nàng, mắt tôi rơm rớm ướt.


- Chị ở đâu, tên chị là gì... cho em biết để em về nói với bà em?


Nàng vuốt má tôi:


- Em bé ngoan quá. Thế em đã được học chưa?


- Em học chữ nho, bà em dạy.


Nàng cúi nhặt một hòn sỏi, viết hai chữ lên tảng đá gần ngay đấy.


- Đó, tên của chị. Còn nhà thì em không cần biết làm gì.


Tôi cúi gần xuống đọc. Nhưng ác thay hai chữ ấy tôi không đọc nổi vì khó quá, bà tôi chưa bảo.


Tôi ngoảnh lại định hỏi, nhưng cô tiên của tôi biến mất rồi. Tôi ngắt một chiếc lá, lấy que viết theo nét hai chữ đó, rồi bỏ vào túi áo, mang về hỏi bà tôi.


Thấy cháu về, bà cụ già hiền như bụt ấy chạy ra giang hai tay đón, ôm chặt vào lòng.


Tôi vội vàng lấy chiếc lá ra khoe:


- Bà ơi, ban nãy cháu gặp một cô tiên ở rừng. Cô tiên yêu cháu, quàng vào cổ cháu vòng hoa này, rồi cô viết tên cô lên tảng đá. Tên cô đây này, bà đọc hộ cháu, đi bà!


***


... Đến nay, bao nhiêu năm qua rồi mà người đàn bà ấy vẫn còn sống ở lòng tôi. Nàng bao giờ cũng là một nàng tiên hiện rực rỡ trong tâm tưởng tôi như hình ảnh Đức bà Marie để tôi thờ, tôi kính.


Tôi quên làm sao được buổi trưa hè ấy giữa rừng..., quên làm sao được cặp môi thắm ấy đã đặt vào cặp má mũm mĩm của tôi, và bàn tay ngà ngọc đã đặt lên thân thể của tôi.


Nàng là người đàn bà đầu tiên mở lòng cho tôi nhận biết, sau này, cả một trời hương ân ái... Nàng thường hiện ra trước mắt tôi, mỗi lần tôi đau khổ vì những cơn thất bại trong đời, rồi tôi tưởng tượng thấy cái bàn tay xinh mát ấy vỗ vào vai tôi, nói một giọng êm đềm: “Tại sao mà đau khổ thế Hoài?”


Bao năm nay, bao nhiêu người đàn bà đã bước vào cuộc đời niên thiếu của tôi, để rồi lại ra đi, phũ phàng như cơn gió độc - cái tâm hồn trống trải như quán chợ chiều này than ôi, nào có đón được gì đâu!


Có ai yêu làm gì anh chàng nghệ sĩ suốt đời khó tính, không cho cái gì là vững bền, không cho cái gì là tuyệt đối, chỉ hoài nghi, chỉ đùa giỡn với tất cả thế tình!


Tôi tin sẽ chẳng bao giờ tôi có thể gặp một người đàn bà như nàng tiên tôi đã gặp trong ngày thơ xưa, - ồ, ước mong làm gì! - chính nàng tiên ấy trọn đời sống ở lòng tôi rồi mà!


- Tố Hà! (            )


Hai chữ Hán mà hôm ấy bà tôi khẽ đọc bên tai, ngày nay tôi cảm như còn vọng vào tận đáy tâm hồn, vọng vào mãi mãi.


Tố Hà ơi! Ta muốn Tố Hà không là một kẻ phàm trần đủ xương, đủ thịt, ta muốn Tố Hà phải là một cô tiên đã ở một tinh cầu nào hiện xuống để gặp ta hôm đó giữa rừng, giống như một truyện thần tiên huyền ảo của muôn ngàn năm xưa.


Hà ơi, hãy xếp cặp cánh thiên nga lại, đừng có bao giờ bỏ lòng ta, phụ tình ta mà bay trở về trời nữa nhé!


 Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 232/1938


Hội chợ vì hội chợ


Trưa hôm thứ bảy, trời mưa rả rích. Tôi đang ngồi trước bàn giấy, cáu tiết vì chưa viết được bài để xếp vào số báo tuần sau thì thi sĩ J. Leiba bước vào, mũ, áo ướt như chuột lội. Anh giằng bút tôi vứt xuống bàn, vỗ vai tôi, cười khoan khoái, rồi chừng quá hứng, anh vừa hát vừa khiêu vũ một mình.


Tôi ngồi yên mặc anh làm những cái anh muốn, bởi tôi đã biết cái tính nết anh khi được yêu, nó “khỉ” như thế là thường lắm. Hát chán, anh chải đầu, đánh phấn, sửa lại chiếc pochette của “mợ choai” mới tặng, đoạn kéo ghế ngồi, nghiêm trang bàn với tôi về cái chương trình đưa “Phẩm tiên” của anh xuống Nam xem hội chợ. Lúc ấy, tôi sực nhớ ra ngày mai tỉnh Nam Định sẽ có cuộc vui. Người ta sẽ gặp dịp khoe những cái: trên ưỡn, giữa thon, dưới nở, người ta sẽ gặp dịp ngắm những cái ngang tàng, gớm ghiếc của các công tử Hà thành tải xuống để dọa hoa. Đầu tôi nóng lên bởi ý nghĩ đó, rồi tôi thèm đi xem hội chợ. Nhà thơ J. Leiba vạch tay áo xem giờ, đắc chí vì người yêu sắp đến để khởi hành. Anh cất giọng ngâm mấy câu thơ trong bài “Lệ Ảnh” của anh đăng trong tuần báo “Tin Văn”, dưới ký cái tên tàu Thanh Tùng Tử.


Nàng Dương chăm gội tóc mây thơm,


Trắng dịu mình ngà, thịt đẫm hương,


Son phấn điểm đô làn má thắm,


Quần non ấp ngọc gợi yêu đương...


- Đời thú lắm, anh!... Kia, “Phẩm tiên” của tôi đã đến... Em tôi bữa nay vấn tóc, đeo kiềng đẹp tuyệt.


Dứt lời, anh đội mũ, bước vội ra ôtô. Chiếc xe chạy vụt ngay tức khắc.


Đang lúc ấy, người loong toong của tòa báo đến đưa tôi một phong thư của ông chủ nhiệm Vũ Đình Long. Xin thực thà chép lại nguyên văn:


“Chiều nay, hồi sáu giờ, chúng tôi đem xe đến đón ông, để cùng xuống Nam thăm bạn Nguyễn Công Hoan, tiếp chuyện cô giáo Minh và nhân tiện xem hội chợ”.


Tôi nhận lời.


“Nội nhân” tôi sửa soạn hành lý giúp tôi. Tôi cảm động, thầm khen nàng ngoan ngoãn. Mà các ông cũng thế chứ gì? - khi sắp đi chơi xa mà thấy các bà “nội tướng” xếp vào vali đủ các thứ cần dùng như dao cạo, xà phòng, khăn mặt, pi gia ma, sơ mi, ca vát... rồi các bà ấy lại thân chinh xách va li ra cửa, gọi xe mặc cả, vẫy tay dặn với: “Về mau kẻo nhớ!” - thì hẳn các ông cũng cảm động như tôi.


Tám giờ ba mươi, chúng tôi tới Nam Định.


Bạn Nguyễn Công Hoan niềm nở dón vào nhà. Nước nôi chuyện trò một lát, rồi chúng tôi hỏi đến cô giáo Minh. Công Hoan mở ngăn kéo lôi ra một tập giấy, nhếch nụ cười tình dưới bộ ria mép mới cấy, kéo ghế ngồi:


- Đây là cuốn tiểu thuyết “Cô giáo Minh”. Mời các ngài bình luận, trước khi cho cô ra mắt độc giả.


Tôi đùa, bảo bạn:


- Giá tác giả tốt giọng đọc cho chúng tôi nghe thì hay...


Bạn đọc.


Ông chủ nhiệm Vũ Đình Long ngả cái mình không đến nỗi thiếu thịt ra lưng ghế, hai mắt lim dim..., nghe đến đoạn Công Hoan tả đám cưới chạy tang mà gọi là “một vụ bắt cóc”, và nghe đến đoạn cô giáo Minh về nhà chồng mà tác giả gọi là đi “Tân thế giới”, thì ông vỗ đùi cười phá lên một tiếng như để khuyên một cái chấm son. Anh Lê Văn Trương, hai tay ôm bộ tóc bóng, dí đôi kính gần đến đầu gối, ra vẻ trân trọng bắt hai tai làm việc, thỉnh thoảng anh lại bắt Công Hoan nhắc lại cái câu vừa mới đọc mà anh đãng trí quên khuấy mất, hoặc anh ngửa mặt nhìn chiếc “khène” treo trên tường như tưởng nhớ những tháng năm xưa anh sống ở Cao Miên. Anh Thanh Châu, thở khói thuốc, vừa nghe vừa nhìn những tấm ảnh xinh xắn vẽ sơn, tựa hồ nhà thi sĩ đang tìm tứ để tả một cảnh đủ hoa, lá, nước trời..., rồi anh ngắm chiếc ảnh mỹ nhân như nhớ đến “Angèle”, cô gái giết người trong thiên tiểu thuyết ngắn anh đã viết.


...


- Thế nào các ông? có đoạn nào cần bổ chính?


Công Hoan đọc xong, đặt xếp giấy xuống bàn, nhũn nhặn hỏi “chư thính giả”. Thì cũng nhã nhặn, chúng tôi góp thêm ý kiến, tuy bộ truyện của anh đã hoàn toàn hay.


Mười hai giờ khuya, ngoài phố khách chơi đêm gõ mạnh gót giầy trên đường vắng. Gió bấc rung ngọn cây bên hè xào xạc. Bỗng một điệu kèn khiêu vũ ở phía xa đưa đến..., anh Thanh Châu, có lẽ tâm hồn rạo rực vì tiếng gọi say sưa của chiếc pick-up đâu đây..., vội nhảy xuống cầu thang, ra phố, thăm dò cảnh lạ của Nam thành.


Đêm ấy, Công Hoan và tôi nói chuyện suông cùng cô giáo Minh - người đẹp vô hình - mãi gần đến sáng...


Một đêm chay tịnh...


***


Hôm sau, trong hội chợ chật ních những người như buổi chợ ngày ba mươi Tết. Chỉ khác cái, người ta không chen chúc nhau để mua thịt, cá, mà người ta chỉ có mục đích mua những cái liếc, những cái chạm nhẹ vào xác thịt nhau.


Gã này, thu chiếc máy ảnh trong tay, nheo mắt, sịt mũi, toét miệng cười một cái cười quá đỗi vô duyên; mỗi khi gặp một vài công nương đi qua trước mặt, hắn vội giơ máy lên ngắm, bấm..., rồi sung sướng lủi đi chỗ khác, trông chẳng khác một thằng ăn cắp vừa vớ được “miếng mồi” ngon.


Gã kia, làm ra bộ tay chơi ở nơi văn vật xuống, dắt một cô gái nhảy, ngang nhiên ngửa mặt nhìn thiên hạ, tưởng chừng như người yêu mình chửa biết yêu ai...


Cái mà người ta nhìn thấy luôn luôn là những chiếc bài ngà, mà sau mỗi chiếc bài ngà lại kèm một vài cặp môi son, má phấn...


Đi qua gian nhà bán các đồ thêu, Công Hoan đưa mắt bảo tôi nhìn một thiếu nữ đang đứng chúi đầu vào tấm gương con, trát phấn, bôi son, kéo sợi tóc mai xuống má, ưỡn ẹo nguýt tình, hệt như cô em chồng “cô giáo Minh” mà anh đã tả.


Chợt anh sửng sốt, rỉ tai tôi:


- Ta vào gian kia, sẽ có nhiều sự lạ.


Chúng tôi vào gian nhà bày những chiếc xe hòm kính sơn bóng loáng. Rồi anh chỉ cho tôi ngắm một bà tuổi ngoại sáu mươi vừa lùn, vừa mẫm. Theo sau bà, một tiểu thư gầy mà đẹp. Anh bảo nhỏ:


- Đó, mẹ chồng “cô giáo Minh”!


Tôi sực nhớ đến mấy câu văn “lầy nhầy những mỡ” của anh dùng để tả chân bà lớn Tuần, rồi tôi ngắm kỹ cái bà đứng trước mặt tôi, thì bà ấy cũng lầy nhầy những mỡ!


Chúng tôi vừa toan quay đi thì có một tiếng gọi đích danh anh Hoan, khiến anh vội quay đầu lại:


- Kìa cô Minh! Cô đi với bà lớn?


- Thưa vâng. Sao độ này anh không gởi báo cho em?


Anh Hoan cười đánh trống lảng, nói sang chuyện khác, nhưng cô vẫn không quên nhắc câu hỏi ấy:


- Anh gởi báo để em đọc truyện “Cô giáo Minh”. Mà sao anh lại đặt tên cô giáo nào cũng là Minh, trùng với tên em? Nếu anh không gởi báo về phủ, em sẽ kiện!


Mỉm cười, anh đáp:


- Thì cô có làm cô giáo đâu mà kiện!


Thiếu nữ khoe hàm răng trắng:


- Tối nay, me em đến nhà anh đánh tổ tôm, em cũng ngồi một chân đấy.


Sau gáy tôi, một tiếng quát khiến tôi giật nảy mình.


- Lệ! mày đi hầu thế ư? Tao lại quật cho mấy cái cán ô vào sọ bây giờ!


Tôi ngoảnh lại, chưa kịp “khám phá” tiếng quát của ai trong chỗ chợ người thì thiếu nữ tỏ vẻ ngượng ngùng, khẽ nói với anh Hoan:


- Gớm me em hay gắt quá! Lúc nào cụ cũng tưởng như ở phủ!


Cô nói xong, bước ra chỗ bà lớn đứng. Mặt mũi bà đỏ gay, hầm hầm tức giận, mà năm ngón tay mũm mĩm, nếu không nể công chúng, sẽ tát cháy má anh lệ gầy oặt như cây sậy.


Chúng tôi quay ra, nghĩ đến “những điều trông thấy” vừa rồi, thực nó phản cái thuyết “bỏ quan” của “Phong hóa”, mà cười.


***


Tối, riêng anh Thanh Châu, không bị sợi dây gia đình trói cẳng, ở lại vui với các hoa, tôi về Hà Nội.


Đến nhà, mấy đứa cháu nhỏ bên hàng xóm chạy sang xúm xít quanh tôi, hỏi quà; cô em gái rối rít đòi nước hoa, phấn, sáp. Tôi sực nhớ rằng tôi quên bẵng không mua những thức mà cô em quí đã dặn đi, dặn lại hàng mấy chục lần từ trước. Tôi đang an ủi cô em gái thì “nội nhân” của tôi ở trên gác xuống lườm tôi, nét mặt buồn rầu. Ngạc nhiên, tôi hỏi duyên cớ vì đâu mà giận dỗi. “Nàng” không đáp, ngồi phịch xuống giường, bưng mặt khóc. Tôi chán nản, ngây như pho tượng. Lũ trẻ, miệng tròn tựa con số chín cụt đuôi. Cô em lảng đi chỗ khác, ngồi phụng phịu.


Một lát sau, “nội nhân” tôi mới cất giọng nghẹn ngào, trách móc:


- Tôi đã biết mà... xuống Nam xem hội chợ, đi với gái... Đàn ông điêu trác thế thì thôi...


Trời ơi, nào tôi có đi với gái! Tôi cãi, tôi hùng biện với “nàng” cũng như, tối hôm trước ở Nam, anh Lê Văn Trương hùng biện với Công Hoan về những thuyết cá nhân sai lầm, vô lý, những thành kiến ích kỷ mà tai hại... Tôi hết sức viện đủ đức tính tốt của tôi để làm chứng, nhưng với lửa ghen kia, lời nói tôi không đủ làm tắt được. Sau “nàng” đứng phắt dậy, mở ngăn kéo, lôi ra một mảnh giấy dí vào mắt tôi.


- Thế cái gì đây? Còn chối nữa đi!


Các ông có hiểu cái chứng cớ đó là cái gì không? Thì tôi xin chép lại:


“Chiều nay, hồi 6 giờ, chúng tôi đem xe đến đón ông cùng xuống Nam thăm bạn Nguyễn Công Hoan, tiếp chuyện cô giáo Minh và nhân tiện xem hội chợ”.


- Đấy, chẳng tiếp chuyện cô giáo Minh là gì đây. Chẳng nhân tình với cô giáo Minh là gì đây! Thế mà còn lý sự, còn cãi, ai nghe được.


Tôi tức quá, cắt nghĩa mãi về bức thư kia, song “nàng” nhất định chẳng chịu tin lời. Mấy đứa cháu xúm lại giễu tôi, cô em gái, được dịp trả cái thù quên không mua phấn, sáp, cũng chế tôi thảm hại. Tôi vụt nghĩ đến cuộc bút chiến hăng hái giữa bốn phê bình gia về cái đầu đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, rồi tôi lại so sánh nó với cuộc “khẩu chiến” giữa tôi và “nội nhân” tôi, cô em gái và lũ cháu nhỏ tôi - thì ra lúc ấy, nó là cuộc hội chợ gia đình, chỉ vì đi xem hội chợ công chúng!


Nỗi ức không giải được, tôi uất quá, nhịn cơm, tức mình... ăn luôn hai nải chuối ngự Nam của văn sĩ hoạt kê Công Hoan gởi tặng làm quà!


Suốt đêm ấy, tôi không ngủ được. Sau tức cảnh, tôi vùng lên, bật đèn, ngồi hí hoáy viết bài “phóng sự ngắn” này để tự minh oan một cách cao thượng, lặng lẽ, - cũng như cô giáo Minh của Công Hoan, một nàng dâu tân thời lúc nào cũng sống nhẫn nại, thản nhiên mà gánh những nỗi âm thầm, đau đớn, chua cay, vì, dưới cái chết độ hà khắc của nhà chồng, nàng không được ai hiểu thấu lòng nàng...


Từ bữa đó, chúng tôi quả quyết... giận nhau.


Cho mãi tới hôm nay, nhận được số báo mới, “nội nhân” tôi rọc ra xem, thấy đăng tiểu thuyết “Cô giáo Minh” mới biết tôi bị tình nghi oan uổng. “Nàng” cười sung sướng, xin xử hòa.


Tôi cũng tạm nguôi nỗi ức, bởi nhờ có cái ghen “con nỡm” đó, nên tôi đã có dịp hiến “chư độc giả” một câu chuyện ngắn hình như không đậm lắm. Song, tuy vậy mặc dầu, tôi có thể cam đoan bài “phóng sự” đây chín mươi chín phần trăm có thực, và nhân tiện, tôi xin các ngài đừng nỡ nghi oan tôi đã dụng ý cổ động cho “cô giáo Minh” đấy nhé!


Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 80/1935


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »