tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30546248
19.11.2018
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (tiếp 2)

Ga xép


Những ngày xa xưa, ai đã từng xuôi ngược trong những chuyến đi gần đi xa, trên các toa tàu hỏa được khó nhọc kéo đi bởi cái đầu tàu xấu xí phì phò nhả khói, tất nhiên còn lưu giữ trong trí nhớ những nhà ga nhỏ bé đứng trơ vơ đơn độc trên cánh đồng mênh mang hiu quạnh, ngày đêm ít có bóng người.


Ngày ấy, tôi còn trẻ lắm, ở cái tuổi thiếu niên. Lớn lên, qua đây qua đó cũng nhiều, ghi trong tâm tưởng kể hàng trăm ga nhỏ bé mọc lên khắp miền đồng bằng, sơn cước, “đường thuộc địa”, ôm chặt lấy các tuyến đường sắt Bắc Nam. Ngày nay, quá già rồi, tôi không còn đôi chân nhanh nhẹn, cơ thể gọn gàng để chuyển hành lí cồng kềnh hoặc khi toa đông khách, cái gã thanh niên tháo vát này tự tiện phi thân lên cửa toa xe, nhảy phắt vào chiếc ghế gỗ dài, ngồi vắt vẻo. Ở lứa tuổi xanh rờn ấy, tôi tự đắc là khỏe mạnh, ít bỏ lỡ dịp trổ cái vốn võ thuật ít ỏi của mình, nhờ một núi truyện kiếm hiệp Tàu đăng câu khách trên hầu hết báo chí của thủ đô, hơn nữa, tuổi trai chưa vợ, tôi thích cái chuyện “ân oán giang hồ” vặt, mê lăn các tuyến đường đất nước, nhất là đường sắt. Mê đường sắt bởi lí do: trong toa tàu chạy xuyên đêm mịt mờ tối sáng, luôn ánh lên một đôi mắt biếc, một nụ cười duyên, tiếng nói ngọt ngào có hiệu lực ru mấy hành khách đang ngủ gật và làm tỉnh táo mấy gã đầu xanh, tim đập rộn ràng, mở to mắt đoán tìm ánh mắt ấy, nụ cười, giọng nói ấy tất phải của người đẹp hành hương. Thế rồi, tới lúc sáng trời, họ đã nhanh chóng trở thành đôi bạn chim xanh, say sưa viết trang tình sử. Tuổi xanh, ở thuở nào cũng vậy, con người sống với trời tình biển hận, nghĩa là phải có yêu đương, ngủ cũng mơ yêu, thức cũng mơ yêu, yêu đến già, đến chết. Tình yêu là đất thánh nhiều màu mỡ, ở đó, chỉ ở đó nảy mầm thơ văn, làm nên văn học, làm nên truyện Kiều.


Tôi vốn người quê Kinh Bắc, sinh quán phủ Thuận Thành. Sử cũ chép: Đời nhà Hán Trung Hoa, phủ Thuận Thành của ta tên gọi Liên Lâu, hai Bà Trưng ngày khởi nghĩa đã hội tướng hội quân ở đó. Cũng ở đó, sau này Tô Định đã sát hại Thi Sách, gây cho Bà Trưng mối thù chồng phải báo; cũng ở đó, Mã Viện đã xuất quân, diệt Nữ Vương anh hùng đất Việt.


Mỗi lần tôi từ quê ra Hà Nội, phải cuốc bộ hơn mười cây số tới ga Lạc Đạo, đợi tàu Hải Phòng lên.


Chao ôi, cái ga Lạc Đạo bé nhỏ này! Một đời người có muôn nghìn thương nhớ. Bảo rằng thương nhớ khôn nguôi, song dù nhớ sâu như biển, thương cao như núi, nhưng rồi nhớ thương biết mấy cũng phải tàn.


Ga Lạc Đạo cũng như các ga xép khác thuộc mạng lưới đường sắt dăng như mạng nhện khắp đường thuộc địa. Cấu trúc nhà ga xép giống hệt nhau. Một căn nhà hai phòng hẹp, cửa trông ra sân ga xây cao lát xi măng kề bên đường xe hỏa. Hai phòng, một dùng làm phòng bán vé, cân hàng; phòng trong, tối như hũ nút, dành cho gia đình thầy ký ga chui rúc. Lương nhân viên hỏa xa quá thấp, chẳng đủ nuôi thân, nói gì gánh vác vợ con, cũng không hòng nuôi cha mẹ. Biết vậy, nhưng cái nợ thê nhi khó tránh, thầy ký nhà ga vẫn phải đèo bòng, với lương còm mười lăm đồng tháng không phụ cấp, chẳng có tăng. Các cô gái tỉnh, gái quê tấp tểnh kén chồng, mong chờ ký, phán. Kén được chồng ký còn dễ, kén tham phán khó hơn lên trời. Ký gì cũng được, song nói đến ký la ga thì các cô lè lưỡi chạy dài ngay. Câu nói mỉa mai quen thuộc ngày đó là “thầy ký la ga ăn cắp gà bỏ túi”. Câu ấy nói hết cái nghèo, cái khổ của những viên chức xấu số này. Nhưng bún chua gạo mốc thì ế, chớ người đàn ông, dẫu hẩm hiu đến mấy, vẫn không chịu làm đồ bỏ vào nồi nước gạo. Các cô gái muộn chồng, bỏ chồng, sớm góa, cuối cùng cũng phải nhắm mắt làm vợ ký la ga. Nhờ vậy, và vì thế, các thầy xếp ga thầy nào cũng lúc nhúc vợ con một bầy sống trong gian buồng phụ cận phòng bán vé. Cái trò đời nó thế. Công chức ở tỉnh thành sống vui, sống sướng, lương khá cao, thừa sống, nếu vợ biết xoay xỏa, mở cửa hàng buôn bán hoặc ít ra cũng cầm cái họ, sống nhởn nhơ. Ông chồng thì phè phỡn, sớm vác ô đi tối vác ô về, phởn hơn tí nữa thì kéo nhau gom tiền làm chầu hát Vạn Thái, Khâm Thiên, đi nhảy... Còn thầy ký la ga làm gì? Đi đâu? không tiền nằm xó, lấy vợ giải sầu, càng đẻ như gà mái.


Quanh cái ga xép buồn tênh, dân cư thưa thớt lặng lẽ sống sau mấy lũy tre xanh xơ xác, ruộng nương cằn cỗi. Ngày ngày, mặt trời mọc quá con sào, một hai anh dân cày mới đánh trâu còm ra cánh đồng vắng ngắt “vắt, hò, họ”. Tiếng con người nói với con vật như hơi thở tàn của anh ốm đói sắp xa đời.


Hàng xóm với thầy ký la ga có chừng vài ba hộ, người đông, vại gạo không bao giờ đầy, nhà bên phải với nhà bên trái thi nhau rách, đói, ốm la trời, oán đất. Ga xép Lạc Đạo tuy như cái xác thoi thóp thở, nhưng xem ra còn sinh khí. Nó cũng như mọi ga xép khác, có một chõng hàng bún riêu cua ngon nổi tiếng vùng Lạc Đạo. Cái hàng bún riêu bà Bơ được bà con xã, huyện đều mến tiếng. Bún riêu bà Bơ ăn với đậu nướng chợ Đường Cái, ăn vào hai bát thì cô vợ đoảng sắp bỏ chồng cuốn gói theo giai cũng phải ở lại ăn thêm dăm bát nữa mới chịu lìa chồng. Cái miệng bà Bơ bún riêu mà nở ra thì cụ sắp tới giờ viên mãn cũng nam mô xin ở lại cõi tạm này thêm một giáp. Liền cạnh hàng bà Bơ, bỗng một hôm, khách đi tàu đêm xuống ga Lạc Đạo, bấn người lên vì nhác thấy nẻo gần nẻo xa lãng đãng dăm ba tà áo lụa trắng xanh, nhẹ gót gõ mặt đường đá vụn xanh mát bóng trăng suông. Hỏi ra: một quán đào nương, ca nữ lầu xanh mới mở. Rồi thì người Lạc Đạo, cạnh ga Lạc Đạo, chuyên nấu rượu ngang thơm ngon bấy lâu nổi tiếng, không bảo nhau mà cùng phao tiếng lên rằng: Một bà chủ cô đầu tài sắc có thừa, đã ôm cầm theo ông phủ Thuận Thành về phủ làm tiểu thiếp. Bà phủ nghe tin, tức tốc về phủ đánh ghen loạn phủ. Ông phủ bỏ thương vương nhớ, chờ bà phủ ra Hà Nội rồi, ông cho người đẹp món tiền to, mua mấy gian nhà cho người đẹp mộ lũ con em xinh như mộng, lại gọi tay kép đàn đáy cao tuổi nghề từ Hải Dương về đây đờn cho bà chủ trổ tài sênh phách, tiếp khách cao sang, phần đông là bạn hữu ông phủ từ các tỉnh ngự xe hơi hoặc ngồi xe lửa đáp ga Lạc Đạo.


Nơi hàng viện lạ cảnh lạ người, ế khách hai hôm. Tối thứ ba, đèn nhà hát đã thêm dầu lửa, tiếng đờn, tiếng phách, tiếng trống đã xốn xang reo cái duyên ti trúc. Nhờ vậy, cái ga xép hẻo lánh này bỗng nhiên khởi sắc. Bún riêu bà Bơ càng thêm màu mỡ, có khách tầu xe ăn ngày, lại có khách chơi son phấn ăn đêm. Bà Bơ vui mừng. Duy vợ chồng thầy ký la ga, nghề đã sầu, cảnh lại thêm sầu. Thầy túng thiếu, cả ngày đóng đanh cặp mắt lèm nhèm vào tập lịch trên tường, cháy ruột chờ đợi ngày bây (Jour paicment: ngày lĩnh lương).


Nhân viên ga xép có ba người: xếp ga, người bẻ ghi, người cắm cờ đỏ xách đèn xanh đỏ giơ lên đón những chuyến tàu vào ga, dừng bánh trước sân ga. Sau này, tổng giám đốc xe lửa hạ lệnh: Con số ba người phục vụ ga xép, rút xuống còn hai. Không cần người cầm đèn đỏ, việc này xếp ga đảm nhiệm, bớt một nhân công, com-pa-nhi Vân Nam đỡ tốn tiền chi phí. Thế là ông xếp ga Lạc Đạo, tục danh ông xếp Nhã, thêm việc làm, thêm cả cái ốm đau, túng quẫn. Một vợ, ba con. Gạo thiếu chỉ đủ cháo húp, bà bếp bí quá phải vừa ra đồng mót thóc rơi, vừa đánh bạo vào làng vay tạm một bà quen việc bốc vác gồng gánh ở sân ga khi có chuyến tàu về.


Ông xếp Nhã vốn lành hiền, đời khó sống mà ông cố bóp bụng để thành sống dễ. Cơm thừa sức ăn ba bát, ông chỉ dám ăn một bát, nhịn phần con nhỏ. Món ăn chỉ có mớ lá khoai lang ngoài bãi, nhai với con cua muối mặn, cố sống, phải sống, cặm cụi làm công việc tối ngày: bán vé, cân hàng, đánh morse. Lạch cạch, lạch cạch, cái cần sắt kêu nhịp nhàng dưới ngón tay người ký la ga nửa kiếp hành nghề, nửa đời nghèo đói.


Nhà cô đầu cách nhà ga chừng mươi thước. Đêm có khách, trống phách nói cười dâm ô, khả ố hành hạ cái thân gầy còm, tật bệnh. Ông nhăn mặt, ôm ngực đau, ôm bụng đói, cúi gục đầu xuống đánh morse “lạch cạch, tành tạch...”. Có một đêm, bên kia nhà cô đầu, lưu linh loạn đả nơi phòng khách, mấy tên chánh tổng, lí trưởng ma men ám, cuồng dâm, níu quần bấu áo mấy ả đào chanh cốm, kẻ đuổi theo rơi tuột cả khăn; kẻ bị đuổi, quần đứt dải, ôm nhau vật, thằng cười con khóc.


Thầy xếp ga kêu khổ, nhắm mắt, bịt tai. Tai thầy vẫn nghe tiếng động bên ngoài, óc thầy vẫn nghĩ trên những dòng chữ chạy trong sóng morse. Đêm kinh khủng đó qua đi. Hôm sau, một nhân viên hỏa xa đáp tàu nhất đến ga Lạc Đạo, đưa lệnh gọi thầy xếp về hầu Tổng giám đốc công đoàn xe lửa. Thầy xếp Nhã, con người hiền lành vô tội, con người không còn biết sống kiếp người, run sợ nghe tiếng quát của cấp trên:


- Tối qua, anh đánh morse cho tàu vào ga. Anh nghe nhầm, đánh lẫn, làm thế nào mà đến nỗi hai đầu tàu cái ngược cái xuôi, đâm vào nhau, một tàu đổ ba toa, người không ai chết, chỉ mười sáu người bị trọng thương, xe vào viện. Việc làm ăn bất cẩn cố tình hay vô ý này, cao ủy phủ Pháp quốc nghi anh âm mưu với đảng phái chính trị nào đó phá hoại hệ thống đường sá giao thông. Anh sẽ đi tù.


Quả nhiên, con người khốn khổ ấy bán cả một kiếp đời cho guồng máy áp chế, đã bị xích điệu ra tòa, đã ngồi tù, và đã lĩnh án lưu đầy biệt xứ.


Chuyện cũ qua đi đã có tới năm mươi năm trên xứ đen nô lệ. Cái gã thiếu niên thích nhảy tàu không có vé, yêu cái ga xép Lạc Đạo bé nhỏ, ở đấy, sống hiu hắt một thân hình còm cõi, lầm lì, ngày đêm phải nhớ như in vào óc giờ tàu sắp tới ga, để vẫn lầm lì xách cái đèn vuông gắn kính đỏ, xanh, ra đứng đầu ghi ray giơ đèn, tay cầm lá cờ vải tây đỏ, vẫy, phất. Tàu dừng bánh đỗ trước sân ga, thầy xếp mẫn cán ấy vội vã rời đầu ghi về nhìn khách xuống tàu, thu vé khách đưa lúc rời ga. Ông lưu ý đếm cả việc mấy người nông dân tranh thủ việc đồng áng rỗi ra ga làm bốc vác, gánh hành lí đồ đạc về các làng xóm ở quanh. Ông còn căn dặn mấy người bốc vác phải bảo đảm an toàn hành lí, đồ đạc cho khách thuê, và không được bắt chẹt khách, tính giá đắt.


Ga xép Lạc Đạo, sau đó, có thầy xếp khác đến thay. Người sau cũng như người trước, đều vợ con quấn quýt với đồng lương chết tiệt. Người vợ, lũ trẻ nhỏ, vẫn như vợ con người nhân viên đường sắt bị tù đày chỉ vì đã yếu mềm để cho rối trí óc trong cảnh hỗn loạn xảy ra ở cái nhà hồng lâu, khách quý nát rượu cưỡng dâm mấy gái sa chân lỡ bước phải bán mình.


Cái nhà ga xép Lạc Đạo, khi tôi qua tuổi thiếu niên, đã biến dạng ra sao, tôi không được chứng kiến.


Có còn không cái tiếng morse yếu đuối dưới ngón tay run đói của thầy xếp thoi thóp sống tháng ngày quá tẻ nhạt như con giun con dế chân tường bãi cỏ.


Có còn không miệng cười, khóe mắt bà Bơ bán bún riêu ngon quá là ngon đối với cái tuổi còn hay ăn thích uống của tôi.


Có còn không cái nhà hát cô đầu của cô gái điếm lỡ thời, tiểu thiếp ông phủ hung thần.


Thôi rồi. Hết cả rồi. Trải hơn bán kỷ, tất thảy con người lẫn cảnh vật ở đây, ở đó, đều cuốn theo thiên luật “hữu hình hữu hoại”, trở về bụi cát.


Chao ôi, cái ga xép Lạc Đạo tôi yêu, tôi quý thời trai trẻ, như kẻ hành hương yêu thánh tích, ngày nay không còn dấu vết, chỉ là một bãi hoang tàn.


 Người Hà Nội, số 34 / 1996


 


Sư tử Hà Đông đại chiến sư tử Hà Nội


Thuở ấy, Hà Nội dấy lên phong trào vũ thuật cực kỳ sôi nổi trong dân chúng. Đáng kể nhất là phường võ Hàng Bột, Sinh Từ, Quốc Tử Giám, Hàng Buồm, ngõ Hàng Hương. Lãnh tụ nổi danh của võ sinh mấy phường ấy là Cử Tốn, cử nhân khoa cuối cùng triều vua Khải Định. Rồi đến Tư Dậu, Ba Lập Lơ, Yêu Râu Xanh, Phúc Đen, Công tử Ân Hàng Lược, Nồi Hàng Buồm, Cậy Béo ngõ Hàng Giấy, Hàn Bái...


Trong số võ sĩ đó, được bái phục nhất là lò võ Cử Tốn ở ngõ Văn Tần, phố Sinh Từ. Cụ Cử Tốn trao quyền huấn luyện cho con trai trưởng là Sáu Du làm trưởng tràng, dạy ba mươi võ sinh quyền, tấn, sử dụng thành thạo các môn võ khí như đao, kiếm, thiết linh, đinh ba...


Thực dân Tây, hồi đầu, theo dõi lò võ nức tiếng này. Sau chúng thấy thái độ tư cách cụ Cử đáng kính trọng, chúng cũng lờ đi, mặc cha con cụ Cử tự do hoạt động miễn đừng gây chuyện phá rối nền bảo hộ. Tuy nhiên, phố phường Hà Nội, cứ cách dăm ba ngày, lại nháo lên vì cuộc ẩu đả xảy ra giữa các lò võ bề ngoài vẫn giao du, thân thiết song bên trong không tránh khỏi ngấm nguýt, thách đố nhau tỉ thí. Đấu trường nhất định là mấy cao lâu, tửu quán nổi danh của Hoa kiều như Đông Hưng Viên, Nhật Tân, Tây Nam, Tửu Giang, Tự Hưng Lâu. Gây chuyện nhiều nhất là Hàn Bái. Ông này ra đường không bao giờ có vũ khí trong mình, ngoài tấm khăn tay hoặc dải lụa dây lưng đầu buộc hai chục đồng tiền trinh, xu đồng; khi đối chiến ông vung dải lụa lên đủ sức đoạt đao của địch rất dễ dàng.


Hàn Bái đến tửu quán, lên gác cao không qua cửa mà chỉ khẽ vỗ đùi, rón gót phi thân lên mái hiên, nhảy qua bao lơn, nhảy qua cửa sổ, chễm chệ ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng đến mức khách ăn nhộn nhịp chung quanh không ai biết. Ông thường đi một mình, uống rượu một mình, không có bạn. Nhưng rồi, ông có ngay thù địch, bất cứ nơi nào có mặt ông. Kẻ thù ấy là mấy anh mật thám Tây lai, mấy trọc phú chủ những chiếc xe hơi bóng loáng đậu dưới đường, mấy ông quan phủ quan huyện ở tỉnh xa về Hà Nội nhìn người bằng nửa đuôi mắt nhà quan, quát hầu sáng bồi bàn, mắng khách ăn thiếu lễ phép. Hàn Bái ngứa mắt, nóng tay, đứng phắt lên, đạp đổ bàn ăn, vít đầu những thằng đáng ghét, hạ những nắm đấm như búa bổ đánh cho hả giận. Hàn Bái móc tiền ném xuống bàn trả tiền ăn, phi mình qua cửa sổ xuống mái hiên, nhẹ nhàng đặt chân dưới vỉa hè, biến mất. Kẻ thù thò đầu qua cửa sổ nhìn theo, bở vía. Từ chủ hiệu đến khách ăn đều biết là Hàn Bái, nhưng không ai dám hé răng. Cái tên Hàn Bái vang trong Hà Nội, nhất là khu phố Hàng Buồm, như một hung thần. Vậy mà, Tây cứ lờ đi, không ai hiểu lí do gì khiến thực dân nể tránh cái ông Hàn này đến thế.


Ông Hàn không nhận học trò, ít bạn, cũng không ai thấy ông quen biết một người Tây. Rồi, bỗng một ngày, người ta nghe tin võ sĩ Hàn Bái chết. Xác ông chơ vơ trong một căn phòng nhỏ xếp đầy hoa. Có thể ông đã mua hết hoa Hà Nội, tự sát giữa mùi hoa. Ông cắt mạch máu cổ tay, máu thấm đỏ cả một chồng khăn bông, rỏ xuống cái chậu thau hứng máu. Cái chết của một con người kỳ quặc giữa Hà thành như thế đấy.


Sau cái chết Hàn Bái, làng võ Hà Nội chợt trở nên tĩnh lặng. Phường ăn chơi Hà Nội thỉnh thoảng mới thấy Ba Lập Lơ, Tư Dậu, Yêu Râu Xanh xuất hiện.


Họ thân ái với nhau, khoác tay nhau, đĩnh đạc vào tửu quán bác tôi, huynh đệ, sống như những thư sinh đọc sách.


Hà Nội vào thu. Cái thu Hà Nội nhắc nhủ mọi nhà nhớ đến ông tiến sĩ giấy, cái đèn kéo quân, chủ yếu là cái đầu sư tử, không chỉ riêng cho trẻ nhỏ, mà cái đầu sư tử của người lớn làm nổi hội hè đình đám. Phường võ Hà Nội lại sôi lên hoạt động sau thời gian im lặng mang tấm khăn tang Hàn Bái. Phường múa sư tử truyền thống là phường Hàng Bột, Hàng Hương hàng năm vẫn thù địch nhau, gửi chiếu thư cho nhau, thách đố tranh lèo đoạt giải bằng vũ lực. Đầu tháng Tám phường Hàng Bột, phường Hàng Hương ra công làm đầu sư tử mới to hơn đầu sư tử năm trước để thị uy với đối phương, không làm bằng nan tre, mà kết bằng mây, đủ sức thay lá chắn đỡ đòn búa bổ, giáo đâm của địch. Đầu sư tử làm rất công phu, nặng đến mức một võ sinh phải khỏe lắm mới nâng được nó lên múa theo điệu võ, đón đỡ che thân, tấn công địch thủ.


Mở mắt mong chờ ngày mười bốn, ngày rằm trăng tròn máu đỏ. Cả Hà Nội nóng lòng đợi ngày thi võ. Võ sinh của hai phường đã dày công luyện tập những động tác múa đầu sư tử, những bài võ của người đánh côn phối hợp với người múa lân. Luyện cả cách trồng người đứng trên vai nhau, đội đầu lân lên đầu, vừa múa vừa giơ tay giật gói tiền treo trên ngọn cột đèn hoặc trên bao lơn nhà treo giải.


Hôm ấy, khoảng bốn giờ ngày mười bốn, phường Hàng Hương do võ sư Yêu Râu Xanh cầm đầu, tất cả mười lăm người đứng trên xe bò, hùng dũng kéo đến Hàng Ngang, cờ rong trống mở, chiêng não bạt khua ầm ĩ. Phường đứng trước cửa hàng to nhất phố. Đó là ông Bang Si đứng đầu kiều dân Trung Hoa, giao dịch về mặt chính trị với chính quyền thực dân Pháp. Cửa hàng ông Bang Si rất đồ sộ, bán đồ gia dụng đắt tiền, chủ yếu là đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ. Tháng Tám hàng năm, Bang Si treo giải thưởng múa kỳ lân, giải to hơn các cửa hiệu tơ lụa Hoa kiều, Ấn kiều phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Mọi nhà giải treo chỉ có 5 đồng. Giải nhà Bang Si những 10 đồng hai giấy con công, món tiền thời ấy là quá hậu.


Phường Hàng Hương bắt đầu khua chiêng trống và bắt đầu giễu võ giương oai. Chợt ở đầu phố Hàng Đường kéo đến một xe bò chở ních người, côn kiếm, giáo mác, reo hò như “đổ thành vỡ núi”. Xe bò này đứng lại, mấy chục người vũ khí tua tủa nhảy ào xuống theo. Anh đi đầu múa đầu lân xanh xông vào húc đầu lân phường Hàng Hương màu tím. Hai đầu lân chọi nhau cực mạnh. Anh múa côn của phường mới đến cũng vung côn quét ngang mình anh múa côn của phường Hàng Hương. Thế là chiêng trống hai phường cũng hòa vang. Hai võ sinh múa côn của hai phường võ động hai ngọn côn vun vút. Côn va mạnh nhau chan chát, sểnh ra là mất mạng. Cùng lúc, hai đầu lân cũng huy động hết sức bình sinh húc vào nhau nảy lửa. Đồng thời, mấy chục võ sinh của hai phường, kẻ giáo, người gươm, đánh nhau túi bụi. Phường Hàng Hương thấy đối thủ toàn lạ mặt không rõ từ đâu đến cướp giải, anh nào cũng có những miếng võ lợi hại khác thường. Yêu Râu Xanh, người cầm đầu phường Hàng Hương, quát ầm lên:


- Anh em từ đâu đến cướp giải của chúng ta? Cho biết đã, rồi sẽ đánh nhau.


Võ sinh phường lạ mặt không thèm đáp, càng tăng chiêng trống. Người múa đầu lân càng nhảy nhót, đảo lộn theo thế võ, hai tay nhấc bổng đầu sư tử lên, rung rung cho tiếng nhạc trong đầu lân kêu to, phóng hai chân ra đá bật một võ sinh phường Hàng Hương lăn ra giữa mặt đường, lại vặn mình phi song cước đá một anh múa kiếm của phường Hàng Hương ngã bổ nhào vào gầm xe bò.


Nổi giận, Yêu Râu Xanh xông vào trả đòn người múa sư tử phường lạ mặt. Người múa sư tử ấy nhảy sang bên, nhấc đầu lân khỏi đầu mình, rung nhạc kêu giòn giã, nhẹ tay ném đầu sư tử cho một võ sinh đỡ lấy. Lúc đó Yêu Râu Xanh trợn mắt nhìn kẻ địch. Thì ra đó là một cô gái có khuôn mặt đẹp, búi tóc, mặc áo cánh nâu, quần lĩnh, thắt dải lụa đỏ quanh lưng, chân giẫm đất. Cô gái mặt thản nhiên, không thở, không mệt, nhìn thẳng mặt Yêu Râu Xanh, cười mỉm:


- Võ sư lạ lắm ư? Tôi chỉ là một gái quê từ Hà Đông kéo quân ra đây dự cuộc thi đoạt giải múa lân, nhân tiện xem tài vũ dũng của các phường lân Hà Nội. Nhưng xem ra thì tài năng các ông cũng bình thường.


Yêu Râu Xanh bốc giận, múa quyền đánh cô gái múa sư tử Hà Đông. Hai người thử sức nhau bằng quyền thuật. Hai bên ngang tài. Nói vậy là vì nể Yêu Râu Xanh mà không nói thẳng, bởi một đòn song cước lẽ ra đánh trúng ngực Yêu Râu Xanh, nhưng cô gái múa sư tử Hà Đông đã rụt chân lại, chỉ đánh nhẹ vào cánh tay ông Râu Xanh dữ tướng.


Cô gái Hà Đông nhảy lùi lại, che miệng cười.


Ông Râu Xanh đỏ mặt, nhưng không nổi giận, bởi cô gái múa sư tử Hà Đông đẹp quá. Tất cả võ sinh, đệ tử ông Râu Xanh đều tinh mắt nhận thấy sư phụ suýt thua. Họ thu vũ khí, ngừng chiêng trống.


Cô gái Hà Đông tiến đến trước mặt Râu Xanh, giơ hai bàn tay không lên, tươi cười nói:


- Cuộc đấu võ đến đây đã xong rồi. Xin mời sư phụ và huynh đệ phường Hàng Hương vượt lên đoạt giải. Anh em chúng tôi xin lỗi, và xin bái biệt trở về Hà Đông ngay bây giờ kẻo trời đổ tối.


Phải nói là nửa dân Hà Nội bịt kín Hàng Đào, Hàng Ngang xem cuộc thi võ đặc biệt này. Khi đã nhìn rõ gương mặt đẹp, cơ thể thanh nhã, và những đường võ khủng khiếp của cô gái đội đầu sư tử Hà Đông, bà con mới thì thào:


- Sư tử Hà Đông, Sư tử Hà Đông!


Thì ra nó là như thế.


 Người Hà Nội, số 42 / 1996


 


 Hoang thai


Chị là cái thứ đàn bà đã trải qua non thế kỷ làm ái tình với lính lê dương nghĩa là đã có cái sức khỏe ném mười anh săng đá da đen qua cửa sổ, tát “mông ma ghì” liền ba cái, tung túi dết hắn ra đường rồi thở phì phò như đầu xe hỏa lên dốc, than tiếc cái chữ trinh ba vạn của mình đã trao nhầm chàng Sở tóc quăn, dẫu rằng trong khi ấy chị đang giấu một anh tình nhân trong tủ áo. Chị đã ở biên thùy với các đấng Từ Hải sống cái đời lính thú nhưng không hát khúc “ba năm trấn thủ lưu đồn”, mà lại hát Mác-xây-e để giết những “dân phiến loạn” Cổ Am, Yên Bái.


Và chị đã ở Tông, ở Đáp Cầu, ái ân với tất cả cơ này, đội khác, rồi thì lại một dạo lấy tầu má chín.


Ấy thế mà tôi được gặp cái “trường đua ngựa” ấy hôm nay, trong một ngõ cụt phố cửa Đông.


Thực vậy, tôi đi tìm chị chúa-me này với tất cả thiện chí của một kẻ ký giả trái khoáy, nghĩa là một kẻ làm báo không biết gõ cửa những ông quan chính phủ mà phỏng vấn về chương trình cứu nước nuôi dân hay là - cho sát thời sự hơn - đi phỏng vấn cái quái nhân về các trò ma tịt, mà lại dẫn xác vào hang cọp tìm gặp mụ chúa me này. Để làm gì?


Thưa rằng để xem một lũ lợn con, sản phẩm của thời đại loạn.


Chị chúa me đã hết cả vẻ hồng nhan, trông chị via-cà-cộ như chiếc xe cút kít thời Hà Nội còn thắp đèn dầu và chiều chiều có con lừa vĩ đại đi tưới nước đường các phố.


Tôi đã leo lên cái thang lộ thiên mà những bậc lát xi măng vỡ nát nhiều vì đầu đanh giầy lính tẩy. Bước lên sàn gác, tôi phải sững sờ. Trước mắt tôi: đúng bảy chị nhà quê vừa nằm vừa ngồi ngổn ngang trên hai lá chiếu rải liền. Mỗi người ôm một đứa con. Chị chúa me mời tôi ngồi xuống chiếc ghế sa lông thổ phỉ, mặt da bọc đã nát bét như da mặt một me già như chị. Và nhe mấy chiếc răng nhuộm cốt trầu, chị nói:


- Đĩ dại, ai bảo thấy nó vào không chạy, để nó tóm được rồi thì ễnh mẹ nó ra. Chửa thì đẻ, xấu chó gì!


Nghe chị chúa me cong cớn nói, tôi sực nhớ đến những lời giáo huấn rất hùng hồn của một bà đốc trường nữ học hồi thịnh Sa-Tiền đã ban cho mấy nữ sinh, mà bây giờ, thầy đã lên rừng đền tội ác, mà trò thì một số ít đã rất thạo cái nghề vành ngoài bảy chữ...


Chị chúa me trỏ một ả gái non ngồi quay mặt vào tường kéo áo lau nước mắt ôm cái bọc hài nhi mà tôi đã trông rõ cái đầu nhọn hoắt, mấy sợi tóc quăn lơ thơ trên màu da đen trũi. Thằng bé ưỡn người khóc, mở mắt trắng dã nhìn lên trần nhà như lên cơn sài uốn ván.


- Con bé này mới mười bảy tuổi. Chui xuống bè tre ngâm dưới ao sen rồi, nó chưa đi hẳn đã chui lên tắm rửa cầu ao. Nó lôi lên. Thế là đẻ ra con chuột nhắt.


Chị đứng lên vạch cái tã phủ kín một cục than nữa đang ngủ ở chân tường:


- Cha mẹ đẻ cái thằng nhãi này, mặt mũi trông mà gớm! Về sau tha hồ đẹp giai như bố!


Tôi cúi xuống nhìn để tưởng đến bộ mặt Cáp Tô Văn của rạp Quảng Lạc ngày xưa. Người mẹ đang ngồi vá mớ giẻ không còn hình là mảnh áo quần, càng cúi đầu thấp xuống. Thằng bé cựa quạy, người mẹ ẵm con lên vạch vú teo cho bú, rồi quay vào tường khẽ nựng “Dào ôi, bố mày!”.


Một người mẹ nữa ở phía tường kia tự nhiên cười khúc khích. Tôi ngoảnh lại: cô ả này răng trắng, lông mày kẻ chỉ. Ả ẵm thằng bé có đủ sáu nét gạch trên hai má, môi dầy thâm như cặp chả, ả tiến ra cửa sổ mà hát ru bài “Chiến sĩ hải quân”. Chị chúa me lườm dài một cái:


- Cái con này thì truyền đời mười lần đẻ hoang. Càng đẻ nó càng vui sướng.


Cô ả quay ngay lại:


- Chứ làm sao ạ? Giời sinh đàn bà để đẻ ra con chứ đẻ ra chó đâu mà sợ. Nó đen hay nó trắng, cần gì. Khối đứa lên bà lớn mà cũng đẻ ra con khác máu, thiên hạ vẫn đăng báo mừng rối cả lên.


Ả cười sằng sặc và lại ru con bằng bài “Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia”. Một tiếng nấc ở sau lưng tôi. Người đàn bà đứng tuổi ngồi úp mặt vào bàn tay khóc. Chị chúa me trề môi nói:


- Khóc cái xác mẹ mày à? Nó chết thì bọc lại, bỏ vào đáy sọt rác, sáng mai đổ lên xe rác, thế là xong nợ, rồi còn đi kiếm cơm mà nhét vào mồm chứ. Quý hóa cái gì mà xót với thương.


Tôi hỏi chị chúa me:


- Chị nuôi những người này để làm gì?


Chị cười nhạt:


- Có đứa được chúng nó thương hại cho bíu xe nhà binh mà ra đây. Có đứa vì xấu hổ với chồng con, làng nước, mà cũng bò ra để kiếm việc làm. Tôi mới vơ được lũ lợn nhớn lợn nhỏ này đem về nuôi chơi đấy rồi thì... làm gì có người thừa, hở ông!


Chị nheo mắt cười một cách rất Tú Bà.


Tôi bước xuống cầu thang. Tiếng khóc của lũ trẻ nhũn nhẽo như mèo con sắp chết khiến tôi se lòng nghĩ đến cái xe rác ngày kia sẽ đến hót dần chúng đi như hót những cái rác không tên tuổi.


Ra đường, tôi đi rảo bước. Hôm nay Hà Nội vào thu. Tiếng chuông giáo đường vẳng trên thành phố khiến tôi nghĩ nhiều về tiếng khóc của lũ hài nhi vô tội và bọn đàn bà oan nghiệt trên căn gác nọ.


Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai, 1950.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »