tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24723126
Tiểu thuyết
07.11.2018
Thomas Hardy
Trở lại cố hương


*Nhấp chuột vô  Đọc Lời giới thiệu về tác phẩm Trở lại cố hương


Lời đầu truyện


Thời điểm của các sự kiện thuật lại trong sách xảy ra vào khoảng giữa 1840 và 1850, khi miền đất ngập trũng xưa cũ mà ở đây gọi là “Budmouth” vẫn còn giữ được trọn vẹn ánh hoàng hôn rực rỡ và đầy uy thế của kỷ nguyên Georgian để khoác lên nó một vẻ quyến rũ đắm hồn đối với tâm hồn lãng mạn và giàu tưởng tượng của một kẻ ngụ cư cô lẻ trong miền nội địa.


Quang cảnh ảm đạm của vùng đất mang cái tên chung “Egdon Heath” này là sự kết hợp hoặc điển hình hóa của ít nhất hơn một chục cánh đồng thạch nam có thật khác nhau; những cánh đồng hoang hầu như là một về đặc tính và ngoại diện này, dù vẫn đồng nhất về nguồn gốc hay thành phần, hiện đang bị che đậy bởi những dải đất đã được cấy cày ở nhiều mức độ khác nhau hoặc đã được trồng rừng.


Thật thú vị khi mơ mộng rằng một mảnh đất nào đó trong dải đất rộng lớn mà phần phía tây nam được mô tả ở đây của nó có thể chính là miền đất xưa cũ của Vua Lear xứ Wessex.


Tháng 7, 1895


Thomas Hardy


 “Đã chào từ biệt nỗi buồn


Tưởng như đã bỏ lại nàng sau lưng


Nhưng nàng tốt bụng, thủy chung


Vẫn luôn nối bước dặm trường bên tôi


Dù tôi có thể xa rời


Với lời chót lưỡi đầu môi dối nàng


Nhưng ôi nàng quá thủy chung.”


              JOHN KEATS (Endymion)


 


QUYỂN MỘT. BA NGƯỜI PHỤ NỮ


1 — Một gương mặt mà trên đó thời gian


   không tạo được nhiều ấn tượng


Một buổi chiều thứ Bảy của tháng Mười một đang tiến dần về phía hoàng hôn, và cánh đồng thạch nam mênh mông của miền hoang dã có tên gọi là Egdon Heath đang dần nhuộm nâu chính nó. Bên trên, dải mây trắng thênh thang trùm khắp bầu trời như một tấm lều mà toàn bộ vùng đất này là cái nền lều.


            Màn trời trải rộng một màu xanh nhợt nhạt, còn cây cỏ trên mặt đất thẫm một màu xanh âm u nhất, đường tiếp tuyến của chúng tại chân trời hiện lên thật rõ. Trong sự tương phản đó, màn đêm đang chiếm lĩnh vùng hoang địa trước cả giờ khắc tự nhiên: bóng tối đã bao trùm khắp chốn, trong lúc ngày vẫn còn hiện diện tỏ tường trên bầu trời. Nếu ngẩng lên nhìn, một người thợ cắt kim tước hẳn sẽ muốn tiếp tục làm; nhưng nhìn xuống, anh ta sẽ quyết định chấm dứt công việc và trở về nhà. Những mép rìa của thế gian và bầu trời dường như là một sự phân cách về thời gian cũng như vật chất. Bộ mặt của cánh đồng hoang đã nhích về phía bóng đêm thêm nửa giờ thông qua màu sắc của nó; cũng theo cùng cách thức đó, nó có thể trì hoãn lại ánh bình minh, khiến vầng trăng trở nên ảm đạm, dự báo về những cơn bão hiếm khi khởi phát, và tăng thêm vẻ mịt mùng của một đêm tối không trăng, khiến người ta phải rùng mình sợ hãi.


            Trên thực tế, ngay tại thời điểm chuyển giao lùi dần vào bóng tối này, vẻ rực rỡ tuyệt diệu và riêng biệt của vùng hoang địa Egdon đã khởi đầu, và có thể nói rằng không một ai thấu hiểu được miền đất này nếu không có mặt tại chỗ ngay đúng thời khắc đó. Người ta có thể cảm nhận nó tốt nhất khi không thể nhìn rõ nó, tác động và lời giải thích trọn vẹn của nó nằm ngay ở lúc này và những giờ khắc tiếp theo trước lúc rạng sáng hôm sau; khi đó, và chỉ khi đó, nó mới kể ra câu chuyện thật sự của mình. Thật sự, thời khắc này là một người bà con thân cận của đêm, và khi bóng đêm xuất hiện, người ta có thể nhận thấy rõ ràng xu hướng thu hút lẫn nhau giữa cảnh vật và những bóng tối. Những dải đất hình tròn hay những lòng chảo tối tăm dường như vươn cao lên để tiếp đón màn đêm mờ mịt trong niềm cảm thông thuần khiết; cánh đồng lan tỏa bóng tối, và bầu trời lắng tụ nó, nhanh chóng như nhau. Bầu trời tối tăm và mặt đất tối tăm tiếp cận nhau như thế, trong màn đêm đen thân thiện mà mỗi phía đều đã đi được nửa phần đường hướng tới nó.


            Lúc này, vùng hoang địa chất chứa một sự căng thẳng đầy cảnh giác; vì khi vạn vật khác chìm vào giấc ngủ, có vẻ như nó đang chậm rãi thức giấc và lắng nghe. Hằng đêm, hình dáng kỳ vĩ của nó dường như đang chờ đợi một điều gì đó; nhưng nó đã đợi chờ như vậy, không hề dịch chuyển trong suốt nhiều thế kỷ, trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng, tới mức chỉ có thể hình dung rằng nó đang đợi chờ cơn khủng hoảng cuối, sự lật đổ cuối cùng.


            Thời khắc này sẽ quay trở lại hồi ức của những ai yêu thương nó với một tâm trạng khác thường và niềm cảm thông chân thật. Những cánh đồng đầy hoa trái khó mà làm được điều này, vì thông thường chúng chỉ hòa hợp với một sự hiện hữu vốn nổi tiếng về các vấn đề của chính nó hơn là về hiện tại. Ánh chiều chạng vạng kết hợp với cảnh vật của Egdon Heath mở ra một sự uy nghi mà không khắc nghiệt, ấn tượng mà không phô trương, dứt khoát trong những lời cảnh báo của nó, vĩ đại trong sự giản đơn của nó. Những phẩm chất, vốn thường được trưng ra ở mặt tiền của một nhà tù với một phẩm cách cao trọng hơn nhiều so với thứ mà người ta tìm thấy ở mặt tiền của một cung điện, đã nhân đôi tầm vóc của nó để trao cho vùng hoang địa này một sự uy nghi mà những mảnh đất lừng danh về vẻ đẹp đã được thừa nhận luôn cực kỳ mong muốn. Những triển vọng tốt đẹp kết hôn một cách hạnh phúc với những thời kỳ tốt đẹp; nhưng ái chà, nếu như những thời kỳ đó không tốt đẹp! Con người thường đau khổ vì sự chế nhạo của một nơi chốn cười cợt quá nhiều trên nỗi đau của họ hơn là vì sự áp chế của môi trường pha màu buồn thảm một cách thái quá xung quanh họ. Vùng Egdon bất khả thuần hóa chỉ hấp dẫn được một thứ bản năng vi tế hơn, hiếm hoi hơn, một thứ cảm xúc chỉ mới được biết tới gần đây hơn so với thứ cảm xúc chỉ thích hợp với dạng vẻ đẹp được mệnh danh là quyến rũ và yêu kiều.


            Thật ra, vấn đề ở đây là sự ngự trị toàn quyền của vẻ đẹp chính thống này có đang tiếp cận với miền đất cuối cùng của nó hay không. Cái Thung Lũng Tempe  mới này có thể là một hoang mạc thảm đạm ở Thule ; những tâm hồn của nhân loại có thể nhận ra rằng chúng đang ngày càng hòa điệu với ngoại vật mang một vẻ buồn thảm chẳng có gì là thi vị đối với nòi giống của chúng ta khi nó còn non trẻ hơn. Thời điểm đó dường như sắp tới gần, nếu như thật sự nó còn chưa tới, khi sự uy nghi đầy kềm chế của những cánh đồng hoang, một biển cả hay một ngọn núi sẽ có trọn vẹn thứ bản chất hoàn toàn hòa hợp với những tâm trạng của những kẻ ưa trầm tư suy nghĩ của nhân loại. Và rốt cuộc, đối với một lữ khách bình thường nhất, những nơi như Iceland có thể trở thành những vườn nho và vườn mía ở Nam Âu đối với anh ta hiện giờ; và anh ta sẽ đi ngang qua Heidelberg  và Baden  mà không hề chú ý tới chúng, trong lúc vội vã đi từ dãy núi Alps tới những cồn cát ở Scheveningen .


            Một nhà tu khổ hạnh triệt để nhất có thể cảm thấy rằng ông ta có quyền tự nhiên đi lại lang thang trong vùng Egdon – ông ta đang tiến bước trong phạm vi của một niềm đam mê hợp pháp khi tự cởi mở bản thân ra trước những tác động như những điều này. Những sắc màu và vẻ đẹp quá nhẹ nhàng đó, ít ra, là thứ đặc quyền dành cho tất cả. Chỉ vào những ngày hè phấn khích nhất, tâm trạng của nó mới chạm tới mức độ vui tươi. Người ta thường đạt được cảm xúc mãnh liệt nhờ sự uy nghiêm hơn là nhờ vẻ rực rỡ, và một cảm xúc mãnh liệt như thế thông thường sẽ tới trong bóng tối, những cơn bão và màn sương mù của mùa đông. Lúc đó Egdon bị đánh thức để làm một cuộc đổi trao; vì bão tố là tình nhân của nó, và gió là bạn nó. Lúc đó nó trở thành ngôi nhà của những bóng ma xa lạ; và người ta phát hiện rằng cho tới nay nó vẫn chưa được nhìn nhận như là nguồn cội của những miền tối tăm hoang dã mà chúng ta mơ hồ cảm thấy đang dẫn lối cho chúng ta trong những giấc mơ về sự trốn chạy và tai họa giữa đêm khuya, và sau đó chúng ta không bao giờ nghĩ tới nó nữa, cho tới khi những cảnh tượng tương tự giúp nó hồi sinh.


            Hiện tại, vùng đất này là một nơi chốn hoàn toàn hòa hợp với bản chất loài người – không kinh khủng, mang vẻ thù ghét hay xấu xí; cũng không tầm thường, vô nghĩa hay đã bị thuần hóa; mà, giống như con người, nhẹ dạ và giàu chịu đựng; và cũng chứa đầy lạ lùng bí ẩn trong nét đơn điệu tối tăm của nó. Giống như với vài cá nhân nào đó từng sống cách biệt lâu ngày, sự cô đơn quạnh quẽ dường như toát ra ở vẻ ngoài của nó. Nó có một gương mặt cô độc, chất chứa những khả năng bi đát.


Miền quê cổ xưa, hoang phế, ít người biết tới này từng được ghi lại trong cuốn Domesday . Tình trạng của nó, theo ghi chép trong đó, là một miền hoang địa mọc đầy thạch nam, kim tước và các bụi gai, gọi là “Bruaria”. Lúc đó đơn vị để đo chiều dài và chiều rộng là lý ; và, dù mức độ chính xác của cách thức đo lường xưa cũ còn chưa được xác định, theo những con số thì diện tích của Egdon cho tới tận ngày nay vẫn không sụt giảm đi nhiều lắm. “Turbaria Bruaria” – quyền được cắt các loại cây cỏ mọc trên đó – hiện diện trong những bản hiến chương có liên quan tới quận này. Leland  cũng có nói về miền đồng cỏ ảm đạm này rằng nó “mọc đầy những thạch nam và rêu”.


            Ít nhất đây là những thực tiễn dễ nhận biết có liên quan tới miền này – những chứng cứ xa xôi hơn có khả năng mang lại sự thỏa mãn đích thực.  Miền đồng cỏ hoang vu, không thể thuần hóa Egdon ngày nay vẫn giống hệt như nó trước đó. Văn minh là kẻ thù của nó; và ngay cả vào thời kỳ đầu tiên của cây cỏ, mặt đất của nó đã khoác lên mình cùng một màu nâu xưa cũ, thứ trang phục tự nhiên và bất biến của một hình thái đặc thù. Trong lớp áo khả kính duy nhất của nó có một sự châm biếm nhất định đối với thói xa hoa phù phiếm của con người trong trang phục. Một cá nhân trên một cánh đồng thạch nam ăn mặc những thứ quần áo cắt may và có màu sắc tân thời ít nhiều gì cũng trông có vẻ dị thường. Dường như chúng ta sẽ muốn mặc thứ quần áo cổ lổ nhất và đơn giản nhất, khi trang phục trên trái đất vẫn còn rất nguyên sơ.


Việc tựa lưng vào một bụi cây ở giữa thung lũng Egdon, giữa khoảng chiều và tối, như lúc này, nơi con mắt không thể nhìn thấy gì khác của cái thế giới bên ngoài những chỏm cao và sườn đồi của cánh đồng thạch nam đang phủ đầy lên toàn bộ cảnh vật, và biết rằng vạn vật xung quanh và bên dưới lòng đất đã có mặt từ những thời kỳ tiền sử và vẫn không hề thay đổi hệt như những vì sao trên đầu, mang lại sự cân bằng cho tâm trí đang trôi nổi dật dờ cùng sự đổi thay biến chuyển và luôn bị quấy rầy bởi Cái Mới. Nơi chốn không hề bị xâm phạm này có một sự vĩnh hằng xưa cũ mà biển cả không thể nào đòi hỏi. Ai có thể nói về một biển cả cụ thể nào đó rằng nó đã già? Bị mặt trời làm cho bốc hơi, bị mặt trăng nhào nặn, nó được làm mới lại chỉ trong vòng một năm, hay trong vòng một giờ. Biển cả đổi thay, những cánh đồng đổi thay, những dòng sông, những thôn làng, và những con người cũng đổi thay, nhưng Egdon thì vẫn còn mãi thế. Những bề mặt đó không quá dốc đến mức có thể bị thời tiết tàn phá, nhưng cũng không bằng phẳng đến mức trở thành nạn nhân của những trận lụt và các chất khoáng trầm tích. Ngoại trừ một con đường lộ xa xưa, và một nấm mộ cổ thậm chí còn xa xưa hơn vừa mới được nhắc tới gần đây – tự bản thân chúng hầu như đã hầu như kết tinh thành những sản phẩm tự nhiên bởi sự tiếp diễn lâu ngày – ngay cả những bề mặt không đều vụn vặt cũng không phải do cuốc chim, lưỡi cày hay lưỡi thuổng gây ra, mà tồn tại ở đó như những cú chạm khẽ đầu ngón tay của đợt biến chuyển địa chất cuối cùng.


Con đường vừa được nhắc tới bên trên băng ngang qua những vùng thấp của cánh đồng hoang, kéo dài từ chân trời này sang chân trời nọ. Ở nhiều đoạn, nó nằm chồng lên một con đường địa phương xưa cũ, vốn là một nhánh của Con Đường Lớn về miền tây của đế quốc La Mã, đường Via Iceniana, hoặc đường Ikenild. Khi quan sát nó vào buổi ban chiều, người ta có thể nhận thấy rằng, dù bóng tối đã tăng tới mức làm nhòa đi những đường nét chính của cánh đồng hoang, bề mặt trắng xóa của con đường vẫn còn rõ ràng như cũ.


 


2 — Con người xuất hiện, tay trong tay với rắc rối


            Một cụ già đang lần bước trên con đường đó. Ông có mái đầu bạc trắng như một ngọn núi, đôi vai còng xuống, và bị nhòa đi trong cảnh vật chung. Ông đội một cái mũ rộng vành, khoác một chiếc áo choàng thủy thủ không tay kiểu cổ, và mang giày; trên mặt những chiếc cúc áo có hình mỏ neo. Trong tay ông là một chiếc gậy có cán bịt bạc, mà ông sử dụng như một cái chân thứ ba, nhẫn nại chấm lên mặt đất những điểm cách nhau chừng vài tấc. Có thể cho rằng vào thời trai trẻ ông đã từng là một dạng sĩ quan hải quân này khác.


            Trước mặt ông trải dài con đường khó nhọc, khô cằn, trống vắng và trắng toát. Nó hoàn toàn mở rộng sang hai phía của cánh đồng hoang, và cắt đôi cái bề mặt tối thẫm rộng lớn đó như một đường ngôi trên một cái đầu có mái tóc đen, thu nhỏ và cong dần ở phía chân trời xa nhất.


            Ông cụ thường xuyên hướng mắt về phía trước để quan sát vùng đất mà ông chưa từng đi ngang qua. Cuối cùng ông nhận ra, ở phía trước ông một quãng xa có một chấm nhỏ đang di động, trông như một cỗ xe, và có thể thấy rằng nó đang đi trên cùng con đường mà ông đang bước. Nó là vật thể sống động duy nhất mà quang cảnh này hàm chứa, và nó chỉ giúp tăng thêm chứng cứ cho sự quạnh quẽ chung. Tốc độ của nó khá chậm, và ông cụ sải bước nhanh hơn để theo kịp nó.


            Khi tới gần hơn, ông thấy đó là một cỗ xe tải, hình dáng bình thường, nhưng màu sắc thì riêng biệt, toàn một màu đỏ lòm kinh khủng. Người đánh xe bước bên cạnh nó; và, giống hệt nó, gã cũng toàn màu đỏ. Cái màu ấy bao phủ lên quần áo, cái mũ trên đầu gã, đôi ủng, gương mặt, và đôi bàn tay của gã. Cái màu ấy không phủ trùm khắp thân hình của gã một cách tạm thời; nó đã thấm sâu vào gã.


            Ông cụ hiểu ý nghĩa của điều này. Người lữ khách đi cạnh cỗ xe là một người bán thuốc nhuộm lông cừu – một người cung cấp thuốc nhuộm làm từ đất sét đỏ cho các trại chủ để họ đánh dấu những con cừu. Gã là một trong các tầng lớp đã nhanh chóng mất đi ở Wessex, hiện tại chỉ còn xuất hiện trong thế giới thôn dã, nơi mà trong suốt thế kỷ trước, chỉ có loài chim cưu trong toàn bộ thế giới muông thú ngụ cư. Gã là một sự nối kết lạ lùng, thú vị và hầu như đã mất giữa những hình thức đời sống cổ xưa và những hình thức nhìn chung đang chiếm phần ưu thế.


Dần dà, viên cựu sĩ quan già yếu cũng lần bước tới cạnh người bạn cùng đường của mình, và chúc gã một buổi chiều tốt đẹp. Người bán thuốc nhuộm quay đầu sang, và đáp lại bằng một giọng buồn buồn, lơ đãng. Gã còn trẻ, và gương mặt của gã, nếu không thật sự đẹp trai, cũng  rất gần với sự đẹp trai mà không ai có thể quả quyết phủ nhận nếu nó còn giữ lại màu sắc tự nhiên của nó. Đôi mắt của gã, sáng lạ lùng bên dưới làn da bẩn thỉu, cũng khá thu hút – sắc sảo như mắt của một con chim săn mồi, và xanh biếc như sương mùa thu. Gã không có râu quai nón hay ria mép, điều này cho phép những nét cong của phần dưới gương mặt gã trở nên rõ rệt. Môi gã mỏng, và mặc dù, như nó có vẻ, bị đè nén bởi sự suy tư, thi thoảng vẫn có một chuyển động thú vị ở khóe môi. Gã mặc một bộ quần áo nhung kẻ vừa vặn, chất lượng còn khá, chưa bị sờn rách nhiều, và rất khéo chọn cho mục đích của người mặc nó, nhưng đã bị tước đi màu sắc nguyên thủy do nghề nghiệp của gã. Nó phô bày rõ một thân hình rắn chắc. Một phong thái ung dung toát ra từ chàng trai này cho thấy gã không nghèo so với địa vị của mình. Thắc mắc tự nhiên của một người quan sát sẽ là: Tại sao một con người đầy hứa hẹn như thế lại che đậy ngoại hình đáng mến của mình bằng cách đi theo cái nghề khác thường đó?


Sau khi đáp lại lời chào của cụ già, gã tỏ ra không muốn tiếp tục chuyện trò, dù họ vẫn đi bên cạnh nhau, vì người đi đường lớn tuổi hơn có vẻ như mong muốn có bạn đồng hành. Không có âm thanh nào ngoại trừ tiếng gió lướt qua những cây cỏ nâu vàng quanh họ, tiếng bánh xe kẽo kẹt, tiếng bước chân của hai người đàn ông và của hai con ngựa nhỏ lông bờm xờm đang kéo cỗ xe. Chúng là những con vật nhỏ bé, dạn dày, lai giữa nòi Galloway và Exmoor, và được biết như là những con ngựa đồng hoang tại vùng này.


Hiện giờ, trong khi họ cứ rong ruổi như vậy, tay bán thuốc nhuộm thỉnh thoảng lại rời khỏi vị trí cạnh người bạn đường, bước ra sau cỗ xe, nhìn vào bên trong qua một cửa sổ nhỏ. Cái nhìn luôn có vẻ băn khoăn. Rồi gã quay lại với cụ già, người vừa đưa ra một nhận xét khác về tình trạng của vùng này, và gã trả lời một cách thờ ơ, sau đó họ lại rơi vào im lặng. Sự im lặng không hề tạo ra cảm giác khó chịu cho bất kỳ bên nào; trong những vùng hiu quạnh này, sau những lời chào hỏi ban đầu, những khách bộ hành thường đi suốt nhiều dặm mà không nói lời nào; sự gần gũi lên tới mức độ của một cuộc đối thoại ngấm ngầm, và khác với trong các thành phố, một sự gần gũi như thế có thể kết liễu một mong muốn trò chuyện đơn giản nhất, và khi không kết liễu nó sẽ tự đối thoại với chính mình.


            Có lẽ hai người sẽ không nói gì nữa cho tới lúc chia tay, nếu không có những lần chàng trai trẻ tới xem xét bên trong cỗ xe ngựa. Khi gã quay lại lần thứ năm, cụ già nói, “Ngoài đồ đạc, anh còn có thứ gì khác bên trong xe hả?”


“Vâng.”


            “Ai đó cần chăm sóc chăng?”


            “Vâng.”


            Không lâu sau đó, một tiếng khóc mơ hồ phát ra từ trong xe. Chàng trai vội vã tới sau xe, nhìn vào, rồi lại trở lên.


            “Trong đó có một đứa bé hả, anh bạn?”


            “Không, thưa ông, đó là một người phụ nữ.”


            “Anh gặp rắc rối rồi! Sao cô ta khóc vậy?”


            “Ồ, cô ta đang ngủ, và do không quen đi đường, cô ta không thoải mái, và nằm chiêm bao.”


            “Một cô gái?”


            “Phải, một cô gái.”


            “Bốn mươi năm trước, hẳn tôi sẽ thấy thú vị với điều này. Có lẽ đó là vợ anh?”


            “Vợ tôi!” Gã nói với giọng cay đắng. “Cô ta ở trên mức kết bạn với một gã như tôi. Nhưng không có lý do gì để tôi nói với ông về chuyện đó.”


            “Đúng thế. Và cũng không có lý do gì để anh không nói. Tôi có thể làm điều gì tổn hại cho anh hay cho cô ta?”


            Chàng trai nhìn vào gương mặt của cụ già. “Vâng, thưa ông,” cuối cùng gã nói, “tôi biết cô ta trước hôm nay, dù có lẽ tốt hơn tôi đừng nên biết. Nhưng cô ta chẳng là gì đối với tôi và tôi cũng chẳng là gì đối với cô ta; và hẳn cô ta sẽ không ngồi trong xe của tôi nếu có bất kỳ cỗ xe nào đó tốt hơn tới đó để đón cô ta.”


            “Tôi có thể hỏi là ở đâu không?”


            “Ở Anglebury.”


            “Tôi biết rõ thị trấn đó. Cô ta làm gì ở đó?”


            “Ồ, không có gì quan trọng – chỉ tới đó để chuyện trò. Tuy nhiên, giờ cô ta mệt lắm rồi, và không khỏe trong người, và điều đó khiến cho cô ta trằn trọc. Một giờ trước cô ta đã ngủ được một giấc ngắn, và điều đó sẽ tốt cho cô ta.”


            “Một cô gái xinh đẹp, chắc vậy?”


            “Ông có thể nói thế.”


            Người khách bộ hành lớn tuổi quay về hướng cửa sổ xe với vẻ thích thú, và vẫn dán mắt vào đó, ông nói, “Tôi cho là tôi có thể nhìn cô ta chút xíu?”


            “Không,” chàng trai nói cộc lốc. “Trời đã tối đến nỗi ông không thể nhìn thấy rõ cô ta; và hơn thế, tôi không có quyền gì để cho phép ông. Tạ ơn Thượng đế là cô ta ngủ rất ngon, tôi hy vọng cô ta sẽ không thức giấc cho tới lúc về nhà.”


            “Cô ta là ai? Một trong những người hàng xóm?”


            “Là ai không quan trọng, xin thứ lỗi.”


            “Không phải là cái cô gái ở Blooms-End đó chứ, người mà thiên hạ nhắc tới ít nhiều dạo gần đây? Nếu thế, tôi cũng biết cô ta; và tôi có thể đoán chuyện gì đã xảy ra.”


            “Chuyện đó không quan trọng… Bây giờ, thưa ông, tôi rất tiếc phải nói rằng chúng ta sẽ sớm chia tay. Hai con ngựa của tôi đã mệt, và tôi còn phải đi xa, vì thế tôi sẽ cho chúng nghỉ ở dưới chỗ bờ sông chừng một tiếng.”


            Người khách bộ hành lớn tuổi lãnh đạm gật đầu, và chàng trai vừa vòng đôi ngựa cùng cỗ xe lên mặt cỏ, vừa nói, “Chào ông”. Cụ già đáp lại, và tiếp tục bước đi như trước.


            Người bán thuốc nhuộm dõi theo hình dáng của ông trong lúc nó thu nhỏ dần thành một cái chấm trên đường, rồi trở nên trầm tư trong màn đêm dày đặc. Gã rút một mớ cỏ khô từ một bó cỏ lớn treo bên dưới cỗ xe, ném một phần ra trước đôi ngựa, rồi đan thành một tấm nệm với số còn lại và đặt nó lên mặt đất cạnh cỗ xe. Gã ngồi lên đó, tựa lưng vào bánh xe. Từ bên trong phát ra tiếng thở khe khẽ. Có vẻ nó làm cho gã hài lòng, và gã trầm ngâm quan sát cảnh vật, như thể đang cân nhắc công việc kế tiếp của mình.


            Thật sự, việc thực hiện mọi thứ trong sự trầm tư, ở những mức độ nhỏ nhoi, là một bổn phận trong những thung lũng Egdon vào giờ khắc chuyển giao này, vì chính cánh đồng hoang, giống như thế, cũng đã trải dài ra và tạm ngưng lại nỗi nghi ngờ. Đó là phẩm chất của sự yên tĩnh thích hợp với cảnh vật. Đây không phải là trạng thái yên tĩnh của sự đình trệ thật sự, mà là trạng thái yên tĩnh hiển nhiên của sự chậm chạp đến khó tin. Một điều kiện của cuộc sống khỏe khoắn lại gần giống với trạng thái mê mệt của cái chết là một điều đáng chú ý; nó phô bày tính chất trì trệ của vùng hoang mạc, đồng thời thực thi những sức mạnh tương tự với vạn vật của đồng cỏ, ngay cả của khu rừng, đánh thức những ai nghĩ về nó với thái độ lưu tâm vốn thường được mang tới bởi sự giảm thiểu hành động và sự bảo tồn.


            Quang cảnh trước mắt gã là một chuỗi địa hình dốc dần lên, tính từ độ cao của con đường ngược về sau cho tới trung tâm của cánh đồng hoang. Nó ôm lấy những cồn gò, những hào hố, những dãy đồi, những con dốc, cái này tiếp nối cái kia, cho tới khi tất cả kết thúc tại một ngọn đồi cao nổi bật như cắt trên nền trời sáng yên tĩnh. Đôi mắt của gã dán vào những thứ này một lúc, rồi cuối cùng cố định vào một đối tượng đáng chú ý trên đó. Nó là một gò đất. Chỗ lồi hống hách này cùa quả đất bên trên độ cao tự nhiên của nó chiếm lĩnh phần đất cao nhất của đỉnh đồi cô lẻ nằm trong cánh đồng hoang. Dù từ chỗ thung lũng, trông nó chỉ giống như một hạt mụn cơm trên lông mày của một gã khổng lồ, kích thước thật sự của nó rất lớn. Nó tạo thành cực và trục của cái thế giới toàn những thạch nam này.


            Trong lúc nhìn lên gò đất, chàng trai đang ngơi nghỉ nhận ra chóp của nó, do vậy là đối tượng cao nhất trong toàn cảnh xung quanh, bị phủ lên bởi một vật gì đó cao hơn. Nó nhô lên từ gò đất hình bán cầu giống như một mũi thép nhọn trên một cái mũ sắt. Bản năng đầu tiên của một khách lạ giàu tưởng tượng hẳn sẽ cho rằng đó là một trong những người Xen-tơ  đã dựng nên gò đất, vì cho tới lúc này mọi thứ của thời hiện đại đều rút lui khỏi cảnh vật. Trông như thể đó là loại người cuối cùng giữa vạn vật, đăm chiêu suy nghĩ một hồi trước khi gieo người vào màn đêm vĩnh cửu với những người còn lại trong nòi giống của y.


            Hình dáng đó đứng yên, bất động, như ngọn đồi bên dưới. Bên trên thảo nguyên là ngọn đồi, bên trên ngọn đồi là gò đất, bên trên gò đất là hình dáng đó. Bên trên hình dáng đó không còn gì khác ở mọi nơi ngoại trừ hình cầu của bầu trời.


            Hình dáng đó mang tới cho những dãy đồi sẫm tối một sự kết thúc hoàn hảo, tinh tế và cần thiết đến nỗi dường như nó là sự biện minh rõ ràng duy nhất cho đường nét của những ngọn đồi. Không có nó, cũng giống như một mái vòm không có lồng đèn; có nó, những đòi hỏi kiến trúc về hình khối đã được đáp ứng. Cảnh vật thuần nhất đến lạ lùng, trong cái thung lũng đó, vùng đồi, gò đất và cái hình dáng nổi lên bên trên nó chỉ để hợp nhất cùng nhau. Nhìn vào thành phần này hoặc khác của tập hợp này không phải là quan sát một đối tượng hoàn chỉnh, mà chỉ một bộ phận của nó.


            Hình dáng đó giống như một phần cơ thể của một cấu trúc hoàn toàn bất động đến độ việc nhìn thấy nó chuyển động sẽ tạo một ấn tượng lên tâm trí như một hiện tượng lạ lùng. Sự bất động là đặc tính chủ yếu của toàn cảnh vật mà hình dáng đó góp phần vào, sự kết thúc trạng thái bất động ở bất kỳ khu vực nào sẽ khiến cho người ta rối trí.


            Thế nhưng đó là điều đã xảy ra. Có thể nhận ra hình dáng đó đã thôi bất động, cất một hai bước, và quay đi. Như thể đang cảnh giác, nó đi xuống mé phải của gò đất, như một giọt nước trôi xuống một chồi non, rồi biến mất. Sự chuyển động đủ để chỉ rõ đặc điểm của hình dáng đó, rằng nó là của một người phụ nữ.


            Nguyên do cho sự rời chỗ đột ngột của nàng giờ đã xuất hiện. Khi nàng khuất khỏi mé phải, một người mang vác nặng nhô lên ở nền trời bên trái, đi lên gò đất, và đặt gánh nặng lên trên đỉnh gò. Tiếp theo là người thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm, và cuối cùng toàn bộ gò đất đông nghẹt những dáng người mang vác nặng.


            Ý nghĩa dễ hiểu duy nhất trong vở kịch câm cắt bóng trên nền trời này là người phụ nữ không liên quan gì tới những kẻ đã chiếm chỗ của nàng, đang kiên trì né tránh họ, và đã tới đó vì một đối tượng khác chứ không phải họ. Trí tưởng tượng của kẻ quan sát bám chặt lấy hình dáng lẻ loi đã biến mất đó, như bám vào một điều gì đó thú vị hơn, quan trọng hơn, có khả năng có một lịch sử đáng để biết tới hơn là những kẻ mới tới này, và bất giác xem họ là những kẻ xâm phạm. Nhưng họ vẫn ở lại đó, và tìm chỗ nghỉ ngơi; còn con người cô độc từng là nữ hoàng của chốn quạnh hiu hiện tại không có khả năng quay trở lại.


3 — Phong tục miền quê


            Nếu người quan sát ở ngay tại khu vực lân cận của gò đất, gã sẽ hiểu rằng những người này là đàn ông và trai tráng của những thôn xóm lân cận. Khi bước lên gò đất, từng người đều gánh trên vai những bó kim tước nặng, với một cái đòn gánh chuốt nhọn hai đầu để đâm xuyên qua chúng dễ dàng hơn – hai bó phía trước và hai bó phía sau. Họ đến từ một chỗ trên đồng hoang cách đó một phần tư dặm, nơi loài kim tước hầu như chiếm thế độc quyền.


            Mỗi cá nhân đều lẩn vào giữa những bó kim tước do cách gánh của mình đến độ trông như thể y là một bụi cây trên đôi chân cho tới khi y đặt chúng xuống đất. Cả đoàn đi thành một hàng, giống như một đàn cừu đang di chuyển; nghĩa là người khỏe nhất đi đầu, người yếu và còn trẻ đi sau.


            Những bó kim tước được đặt cạnh nhau, và một kim tự tháp kim tước có chu vi ba mươi bộ hiện đang chiếm cứ chỏm của gò đất, được biết đến từ nhiều dặm xung quanh với cái tên Gò Mưa . Một vài người bận rộn với những que diêm hoặc chọn những nhánh kim tước khô nhất, số khác mở những sợi dây gai cột mấy bó kim tước. Số khác nữa, trong lúc đang làm những việc này, ngước mắt lên và nhìn lướt qua vùng đất quê rộng lớn nằm dưới sự ngự trị của gò đất, lúc này hầu như nhòa nhạt trong bóng tối. Trong những thung lũng của cánh đồng hoang, người ta không trông thấy thứ gì khác ngoài bộ mặt hoang dã của chính nó vào bất kỳ thời khắc nào trong ngày; nhưng gò đất này thống trị một chân trời bao quanh một vùng đất rộng lớn hơn nhiều, và trong nhiều trường hợp nằm ở mé ngoài cánh đồng hoang. Hiện giờ không thể nhìn thấy đường nét nào của nó, nhưng toàn cảnh khiến người ta cảm thấy nó giống như một dải đất xa xôi.


            Trong lúc bọn đàn ông và trai tráng đang chất kim tước thành đống, một sự biến chuyển diễn ra trong khối bóng tối bao quanh quang cảnh xa xa. Những vầng sáng đỏ rực và những cụm lửa lần lượt nổi lên, thắp sáng toàn bộ vùng quê. Đó là những đống lửa mừng của những giáo xứ và thôn làng khác cùng tham gia vào một hoạt động kỷ niệm chung.  Một số xa xôi, và nằm trong một bầu không khí dày đặc, khiến những chùm tia sáng trông như những cọng rơm tỏa ra quanh chúng theo hình rẻ quạt. Một số to hơn và gần hơn, tỏa lên trên bóng tối một vầng sáng đỏ tía, trông như những vết thương trên một mảnh da đen. Một số trông như các nàng hầu của tửu thần, với những gương mặt màu rượu vang và mái tóc nâu. Những đống lửa này tô điểm sắc màu cho bộ ngực thinh lặng của những vầng mây bên trên và soi sáng những hang động phù du của chúng, mà từ lúc ấy trở đi dường như trở thành những cái vạc nóng bỏng. Người ta có thể đếm được khoảng ba mươi đống lửa mừng trong phạm vi địa bàn huyện; và cũng như người ta vẫn có thể đoán biết giờ trên mặt một cái đồng hồ khi không thể nhìn thấy bản thân những con số, những người này cũng nhận ra vị trí của từng đống lửa nhờ góc độ và hướng nằm của nó, dù không thể trông thấy quang cảnh ở đó.


            Ngọn lửa cao đầu tiên từ Gò Mưa vọt thẳng lên bầu trời, thu hút mọi con mắt đang dán vào những đám lửa xa trở về với nỗ lực cùng loại của chính họ. Ánh lửa hân hoan tạo thành những vệt sáng bên trong bề mặt của vòng người – lúc này đang tăng lên với những kẻ đi tụt lại ở phía sau, cả nam lẫn nữ – với bộ chế phục vàng của chính nó, thậm chí trùm lên cả mặt cỏ tối xung quanh với một ánh phản quang sống động rồi chìm dần vào bóng tối thấp hơn quanh gò đất ngoài tầm mắt. Nó cho thấy gò đất là một phần của một hình cầu, hoàn hảo không kém gì so với ngày nó được đắp bồi nên, ngay cả cái rãnh nhỏ vẫn còn nằm ở chỗ mặt đất bị đào. Chưa từng có một lưỡi cày nào quấy rầy tới ngay cả một hạt của thứ đất bướng bỉnh ấy. Trong sự cằn cỗi của cánh đồng hoang đối với người làm nông chất chứa sự phì nhiêu đối với nhà sử học. Không có sự tàn phá, vì không có sự giữ gìn.


            Dường như những người đốt lửa mừng đang đứng trên một tầng cao chói lọi nào đó của trần gian, tách rời và độc lập với những dải đất bên dưới. Cánh đồng hoang dưới kia lúc này là một vực sâu, và không còn sự tiếp nối nào với thứ mà họ đang đứng bên trên; vì mắt họ, do đã điều tiết theo ánh lửa, không còn nhìn thấy gì của những chiều sâu nằm ngoài tầm ảnh hưởng của nó. Thi thoảng, điều này đúng, một ngọn lửa mạnh mẽ hơn mức bình thường bắn lên những tia lửa soi rọi khắp những sườn dốc, tới những bụi cây, vũng nước hay khoảnh cát trắng, tạo nên từ những điểm này ánh phản chiếu với cùng một sắc màu, cho tới khi tất cả lại chìm vào bóng tối. Khi đó toàn bộ quang cảnh tối đen bên dưới trông như một địa ngục qua con mắt của một người xứ Florence đứng trên bờ vực, và tiếng gió thì thầm trong những lũng nhỏ nghe như những lời than van cầu khẩn từ những “linh hồn vĩ đại” đang trôi giạt lửng lơ tại đó.


            Như thể những người đàn ông và trai tráng này đột nhiên lao sầm vào những kỷ nguyên quá vãng, và từ đó bị mê hoặc trong một thời khắc và hành động mà trước đó đã rất quen thuộc với chỗ này. Tro của những giàn hỏa thiêu cổ xưa của nước Anh từng bùng cháy trên đỉnh gò đó vẫn nằm tươi rói và yên tĩnh trong gò đất dưới chân họ. Những ngọn lửa giàn thiêu được nhen lên từ rất lâu trước đó từng soi sáng những vùng đất thấp giống như những đống lửa đang cháy sáng lúc này. Những đống lửa kính mừng thần Thor và thần Woden từng được đốt trên cùng một mảnh đất và từng có một thời huy hoàng của chúng. Thật sự, người ta biết rất rõ rằng những đống lửa giống như đống lửa những người dân đang thưởng thức lúc này là dòng dõi trực hệ của sự pha trộn giữa các nghi lễ của các giáo sĩ thời Trung cổ với các nghi lễ của chủng tộc Saxon hơn là câu chuyện bịa đặt của mọi người về Âm mưu đặt thuốc nổ .           


Ngoài ra, đốt lửa là một hành động mang tính bản năng và phản kháng của nhân loại khi, cùng với mùa đông kéo tới, hiệu lệnh tắt lửa lan truyền khắp chốn Tự nhiên. Nó chỉ ra một sự phản kháng tự phát, mang tính chất Promethean  nhằm chống lại mệnh lệnh của cái mùa tái diễn hàng năm luôn mang tới những thời khắc đáng ghét, bóng tối lạnh lẽo, sự bất hạnh và cái chết này. Sự hỗn độn tối đen xuất hiện, và những linh thần bị câu thúc của quả đất bảo, Hãy mang Ánh sáng tới.


            Những ánh sáng rực rỡ và những bóng tối âm u đang chiến đấu với nhau trên làn da và quần áo của những người đứng quanh đống lửa khiến cho nét mặt và những đặc điểm chung của họ trở nên tràn trề sinh lực và niềm háo hức. Thế nhưng người ta không thể nào phát hiện ra biểu hiện đạo đức thường ngày của mỗi gương mặt, vì khi những ngọn lửa nhanh nhẹn bốc cao, nhún nhảy và xuyên qua bầu không khí xung quanh, những những vệt sáng và tối trên mặt của nhóm người cũng không ngừng thay đổi hình dáng và vị trí. Tất cả đều chập chờn, run rẩy như những chiếc lá, chóng phai như ánh chớp. Những hốc mắt phủ đầy bóng tối, sâu thẳm như hốc mắt của người chết, đột ngột biến thành những hố ánh sáng huy hoàng: một chiếc cằm nhô chợt trũng xuống, rồi sáng lên; những nếp nhăn biến thành những khe sâu, hoặc hoàn toàn bị xóa mờ bởi một tia sáng đổi thay. Những lỗ mũi là những cái giếng tối tăm; những lằn gân trên những cần cổ già nua được mạ lên những nét gờ; những vật không có gì chói lọi đột nhiên bừng sáng; những vật thể sáng, như mũi của một lưỡi hái cắt kim tước mà một gã trong đám đàn ông đang cầm, trở nên lóng lánh như pha lê; những nhãn cầu tỏa sáng như những chiếc đèn lồng nhỏ xíu. Những thứ là lạ do Tự nhiên tạo tác trở nên kỳ cục, và sự kỳ cục trở thành siêu phàm; vì tất cả đều ở mức độ cực đoan.


            Có lẽ do đó mà gương mặt của một ông già, kẻ đã tìm tới đỉnh đồi theo tiếng gọi của những đống lửa giống như những người khác, không thật sự chỉ là mũi và cằm như nó có vẻ thế, mà nó chứa đựng một khối lượng đáng kể đường nét gương mặt của loài người. Ông đứng phơi mình trong lửa ấm một cách mãn nguyện. Với một cái que, ông đẩy những đoạn kim tước vào đống lửa, nhìn vào đó, thỉnh thoảng ngước mắt lên để đo lường độ cao của ngọn lửa, hay dõi theo những đốm lửa lớn bắn vọt lên và bay vào bóng tối. Quang cảnh rạng rỡ, hơi ấm tỏa lan, dường như thổi vào lòng ông một niềm vui sướng ngày càng mạnh mẽ, và sớm chuyển thành nỗi hân hoan. Với chiếc gậy trong tay, ông bắt đầu nhảy một điệu mơnuét, một chùm vòng đệm bằng đồng sáng lấp lánh và đong đưa như quả lắc bên dưới chiếc áo gilê của ông; ông cũng bắt đầu cất tiếng hát, với giọng của một con ong bay lên ống khói:


                        Nhà vua cho gọi các quan


                        Một, hai, ba; cả một dàn quý ông


                        Vua rằng, ‘Này quan Lễ Công


                        Nay ta muốn biết hậu xưng tội gì,


                        Y trang thay đổi rồi đi…’


                        ‘Lẽ nào dám dối dám khi bà hoàng,’


                        Quan Lễ Công dạ ngổn ngang


                        Nhanh chân quỳ xuống, vội vàng tâu lên.


Nhu cầu thở ngăn cản việc tiếp tục bài ca; và sự gián đoạn này thu hút sự chú ý của một người đàn ông trung niên có dáng đứng vững chãi. Ông nhếch mạnh hai khóe môi lên, như thể để gạt bỏ bất cứ ngờ vực nào về sự vui vẻ có thể bị gán cho mình một cách sai lầm.


“Một khúc ca hay, Ông Nội Cantle; nhưng tôi e là nó quá sức của cái cổ họng già nua của một ông cụ như ông,” ông nói với ông cụ. “Ông có muốn trở lại thời mười tám tuổi như khi ông học hát nó lần đầu không, Ông Nội?”


“Sao hả?” Ông Nội Cantle nói, dừng lại giữa điệu nhảy.


            “Tôi nói là ông có muốn trẻ lại hay không? Dường như hiện giờ có một cái lỗ trong buồng phổi của ông.”


            “Nhưng ở ta có chút xíu nghệ thuật nào đó chứ? Nếu ta không thể làm cho một cơn gió nhỏ đi một quãng đường xa, có vẻ như ta không trẻ hơn người đàn ông già nhất, phải không, Timothy?”


            “Thế còn cặp mới cưới ở quán Người Phụ nữ Lặng lẽ thì sao?” Người kia hỏi, chỉ vào quầng sáng mờ mờ ở phía con đường đất đằng xa, cách chỗ người bán thuốc nhuộm nghỉ chân một khoảng khá đáng kể. “Chuyện của họ đúng sai thế nào? Là một người hiểu chuyện, hẳn ông phải biết.”


            “Nhưng hơi phóng túng, hả? Ta phải thú nhận thế. Thầy Cantle là thế đó, hoặc không là gì cả. Nhưng đây là một thiếu sót vui vẻ mà tuổi tác sẽ bù đắp được, anh bạn hàng xóm Fairway ạ.”


            “Tôi nghe nói tối nay họ về nhà. Lẽ ra giờ này họ phải tới nơi rồi. Còn gì khác nữa không?”


            “Ta cho rằng điều kế tiếp là chúng ta tới và chúc mừng họ, phải không?”


            “Chà, không đâu.”


            “Không à? Thôi nào, ta nghĩ chúng ta phải tới. Ta phải là người đi đầu trong mọi trò vui đang diễn ra, không thì ta đâu có còn là ta nữa!


            ‘Nào nào, cận thần của ta


            Áo kia ta khoác giả vờ thầy tu


            Rồi cùng tới chỗ Eleanor


            Nghe lời xưng tội trước giờ lâm chung.’


            Đêm qua ta đã gặp bà Yeobright, bác gái của nàng dâu trẻ, và bà ấy nói với ta rằng cậu Clym con trai của bà ấy sắp trở về nhà đón lễ Giáng sinh. Thông minh xuất chúng, ta tin thế. Chà, ta cũng muốn có tất cả những thứ nằm dưới mái tóc của chàng thanh niên đó. Ờ, lúc đó ta nói với bà ấy như thế theo cung cách vui nhộn mà ai cũng biết của ta, và bà ấy nói, ‘Ồ, cái gì làm cho một người đáng kính nói năng như một kẻ ngốc thế này!’ – đó là những gì bà ấy nói với ta. Ta không quan tâm tới bà ấy, ta sẽ là đồ quỷ tha ma bắt nếu quan tâm tới bà ấy, và ta nói với với bà ấy như vậy. ‘Tôi sẽ là đồ quỷ tha ma bắt nếu tôi quan tâm tới bà,’ ta nói. Ta đã thắng bà ấy một keo, phải không?”


            “Tôi nghĩ bà ấy thắng ông một keo thì đúng hơn,” Fairway đáp.


            “Không,” Ông Nội Cantle nói, hơi nhăn mặt, “Không phải thế là quá tệ với ta sao?”


            “Hình như vì cái đám cưới này mà Clym về nhà vào lễ Giáng sinh; để sắp xếp lại mọi chuyện vì hiện giờ mẹ cậu ta chỉ còn lại một mình ở nhà?”


            “Phải, phải, đúng thế. Nhưng, Timothy à, nghe ta nói này,” ông cụ nói với vẻ nghiêm túc. “Dù nức tiếng là một kẻ hay đùa cợt, ta là một người biết chuyện nếu anh nghiêm túc nghĩ về ta, và lúc này ta đang nghiêm túc. Ta có thể kể cho anh nghe nhiều điều về đôi trai gái mới kết hôn này. Phải, hồi sáu giờ sáng nay họ ra thị trấn để làm lễ, và mất tăm mất tích kể từ lúc đó, dù ta cho là chiều nay họ sẽ về, chú rể và cô dâu, đúng thế. Không phải một gã đàn ông nên nói thế sao, và không phải bà Yeobright đã nghĩ sai về ta sao?”


            “Vâng. Mọi chuyện sẽ là thế. Tôi không biết là hai người này đã hẹn hò với nhau từ mùa thu trước, khi bà bác của cô gái ngăn cấm việc rao hôn phối. Vậy cách sắp xếp mới này đã tiến hành được bao lâu? Anh có biết không, Humphrey?”


            “Phải, bao lâu?” Ông Nội Cantle cũng quay nhanh về phía Humphrey. “Ta đang hỏi cậu đó.”


            “Từ khi bà bác đổi ý, và bảo rằng nói cho cùng cô gái có thể cưới anh chàng đó,” Humphrey đáp, không rời mắt khỏi đống lửa. Đó là một thanh niên trông có vẻ nghiêm nghị, đeo cái lưỡi hái và đôi găng tay của một người thợ cắt kim tước; đôi chân của anh, do nghề nghiệp, được bọc kín trong đôi xà cạp dày, cứng đơ như đôi giáp đồng che ống chân của gã Philistine . “Đó là lý do vì sao họ phải ra thị trấn để làm lễ, tôi đoán. Ông thấy đó, sau khi gây ra một vụ om xòm và ngăn cấm việc rao hôn phối, hẳn là bà Yeobright sẽ tỏ ra ngốc nghếch khi tổ chức một lễ cưới ồn ào trong cùng một giáo xứ như thể bà ấy chưa bao giờ phản đối nó.”


            “Đúng thế, trông có vẻ ngốc nghếch; và nếu thế thì thật tệ hại cho đôi trai gái tội nghiệp, dù ta chỉ phỏng đoán thế thôi, dĩ nhiên,” Ông Nội Cantle nhấn mạnh, vẫn giữ nguyên sắc mặt và thái độ đầy hiểu biết.


            “Chà, tôi có mặt ở nhà thờ hôm đó,” Fairway nói, “một chuyện rất kỳ lạ đã xảy ra.”


            “Nếu tên ta là Đơn giản, cả năm nay ta không tới đó; và giờ đã sắp vào đông, ta không nói là ta sẽ tới.”


            “Ba năm nay tôi không tới đó,” Humphrey nói; “Vì tôi quá thèm ngủ vào ngày Chủ nhật; và đường tới đó cũng xa khủng khiếp. Nếu ông tới đó cũng cực kỳ có ít cơ may ông được chọn lên thiên đường khi có nhiều người không được chọn, thế nên tôi ở nhà phứt cho rồi.”


“Tôi không chỉ có mặt ở đó,” Fairway nhấn mạnh, “mà còn ngồi cùng dãy ghế với bà Yeobright. Và dù ông có thể không nhìn sự việc theo cách đó, tôi thấy lạnh cả người khi nghe bà ấy nói. Phải, đó là một sự kiện kỳ lạ; nhưng nó khiến máu tôi lạnh đi, vì tôi ngồi sát bên cạnh bà ấy.” Ông nhìn lướt qua những người đứng xung quanh, lúc này đang nhích lại gần hơn để nghe ông nói. Đôi môi của ông mím chặt, đầy vẻ nghiêm trang.


            “Nhìn thấy những thứ xảy ra ở đó là một sự việc nghiêm túc,” một người phụ nữ ở phía sau cất tiếng.


            Fairway nói tiếp:


            “‘Bà sẽ tuyên bố nó,’ vị linh mục nói. Và người phụ nữ ngồi cạnh tôi, sát ngay bên cạnh, đứng lên. Tôi tự nhủ, ‘Chà, quỷ tha ma bắt mình đi nếu không phải là bà Yeobright đang đứng lên. Phải, các vị láng giềng ạ, dù tôi đang ở trong một ngôi nhà nguyện, đó là những gì tôi đã nói. Lương tâm tôi chống lại việc nguyền rủa và chửi tục trước đám đông, và tôi hy vọng các vị phụ nữ sẽ bỏ qua cho tôi. Tuy nhiên tôi đã nói những gì tôi đã nói, và nếu không thú nhận nó, tôi sẽ là một gã nói dối.”


            “Cứ thế đi, anh bạn Fairway.”


            “‘Quỷ tha ma bắt mình đi nếu không phải là bà Yeobright đang đứng lên,’ tôi nói.” Người kể chuyện lặp lại, thốt lên câu rủa với vẻ mặt cực kỳ nghiêm trang trước đó, chứng tỏ rằng sự lặp lại là hoàn toàn cần thiết dù ông không thích thú gì. “Và câu kế tiếp tôi nghe bà ta nói là, ‘Tôi ngăn cấm việc rao hôn phối.’ ‘Tôi sẽ nói với bà sau buổi lễ,’ vị linh mục đáp, với thái độ hoàn toàn đơn giản. Vâng, với một thái độ ngay lập tức biến ông ta thành một người bình thường, không có gì thánh thiện hơn tôi hay các bạn. Chà, mặt bà ấy tái nhợt! Có lẽ các bạn còn nhớ cái tượng đài trong nhà thờ Weatherbury, tượng người lính ngồi gập chân có một cánh tay đã bị đám học trò làm gãy? Ờ, nét mặt của anh ta cũng hệt như nét mặt của người phụ nữ ấy, khi bà ta nói, ‘Tôi ngăn cấm việc rao hôn phối.’”


Đám khán giả hắng giọng và ném vài nhánh cây vào đống lửa, không phải vì đó là việc cần thiết, mà để cho họ chút thời gian để đo lường ý nghĩa đạo đức của câu chuyện.


            “Tôi chắc rằng khi tôi nghe thấy họ bị cấm, tôi vui mừng như thể ai đó đã cho tôi cái bùa may mắn,” một giọng nói nghiêm chỉnh cất lên. Đó là tiếng của Olly Dowden, một phụ nữ sống bằng nghề làm chổi sể từ nhánh thạch nam. Bản chất của cô là đối xử lịch sự với kẻ thù cũng như với bạn hữu, và biết ơn toàn cõi thế vì vẫn để cho cô sống sót.


            “Và bây giờ cô gái đã lấy anh ta như chẳng có gì xảy ra,” Humphrey nói.


            “Sau đó bà Yeobright đổi ý và hoàn toàn đồng ý,” Fairway nói tiếp, với vẻ thờ ơ, để chỉ ra rằng những lời của mình không phụ thuộc vào câu nói của Humphrey, mà là kết quả của tư duy độc lập.


            “Cứ cho là họ xấu hổ, tôi vẫn không thấy có lý do gì để họ không tiến hành nó ngay tại đây,” một phụ nữ vai rộng tham gia. Cái áo ngực của cô ta kêu sột soạt mỗi khi cô ta cúi xuống hay xoay người. “Cũng hay khi thi thoảng tập hợp những người láng giềng lại với nhau để có một đêm đốt lửa vui vẻ; và cũng hay không kém khi có một cái đám cưới vào dịp hội hè. Tôi không quan tâm tới sự kín cổng cao tường.”


            “Chà, chắc cô hầu như không tin điều này, nhưng tôi không quan tâm tới những đám cưới vui vẻ,” Timothy Fairway nói, đảo mắt một vòng. “Tôi gần như không phiền trách gì khi Thomasin Yeobright và cậu bạn láng giềng Wildeve tiến hành nó một cách lặng lẽ, nếu tôi phải thú nhận. Một cái đám cưới tại nhà có nghĩa là năm hoặc sáu điệu vũ xoay tròn vào giờ này, và chúng không tốt tí nào cho cặp giò của một gã đàn ông trên bốn mươi.”


            “Phải. Khi đã tới nhà của cô ta, anh không thể từ chối tham gia một điệu nhảy jig, dù luôn biết rằng người ta mong đợi anh tỏ ra xứng đáng với những thứ được chiêu đãi.”


            “Anh phải nhảy vào lễ Giáng sinh vì đó là thời điểm của năm; anh phải nhảy ở các đám cưới vì đó là thời điểm của cuộc đời.  Trong các buổi lễ rửa tội, thậm chí người ta sẽ lén lút thực hiện vài điệu nhảy, nếu chỉ có đứa đầu lòng hay thứ hai. Điều này không nhằm gọi tên những bài ca anh phải ca… Về phần mình, tôi thích một đám tang vui vẻ như bất kỳ cuộc vui nào khác. Anh có những món đồ ăn đồ uống ngon lành như ở các bữa tiệc khác, thậm chí còn khá hơn. Và cặp giò của anh sẽ không mỏi rời khi ngồi trò chuyện về cung cách sống của một con người tội nghiệp thay vì nhún nhảy trong những điệu múa lăng xăng.”


            “Chín trên mười người sẽ cho rằng họ phải đi quá xa để được nhảy, ta cho là thế?” Ông Nội Cantle gợi ý.


            “Đó là loại tiệc tùng duy nhất một người trầm lặng có thể cảm thấy an toàn sau khi ca rượu đã chạy được vài vòng.”


Susan Nunsuch, người phụ nữ vai rộng, thích quay lại đề tài ban đầu hơn, “Chà, tôi không hiểu sao một cô gái bé nhỏ lặng lẽ có phong thái tiểu thư như Tamsin Yeobright lại chấp nhận làm lễ cưới theo cách thức khốn khổ như thế. Nó còn tệ hơn lễ cưới của những kẻ nghèo hèn nhất. Và tôi không thèm để ý tới cậu thanh niên đó, dù một số người có thể nói là cậu ta dễ nhìn.”


“Nói cho đúng, cậu ta là một gã thông minh có học, theo cách của cậu ta, hầu như không kém gì Clym Yeobright. Cậu ta được giáo dưỡng cho những điều tốt đẹp hơn là trông nom quán Người Phụ nữ Lặng lẽ. Theo như chúng ta biết, cậu ta là một kỹ sư; nhưng cậu ta đã vất bỏ cơ hội của mình, và chọn cách sống bằng một lữ quán. Học thức chẳng có ích gì cho cậu ta cả.”


“Trường hợp đó rất thường tình,” Olly thợ làm chổi nói. “Thế nhưng mọi người gắng sức biết bao để theo đuổi và đạt được nó! Tầng lớp người vốn không thể viết chữ cho rành rẽ để cứu bộ xương của mình khỏi cái hố giờ có thể viết tên của họ mà không hề có tiếng sột soạt nào của cây bút, nhiều khi không có cả một vết mực; tôi đang nói gì nhỉ? – sao chứ, hầu như không có cả một cái bàn để tựa bụng hay cùi chỏ vào đó.”


            “Đúng, thật kỳ lạ khi thế giới trở nên văn minh như thế,” Humphrey nói.


            Ông Nội Cantle xen vào: “Sao chứ, trước khi ta đi lính trong Đơn vị Địa phương quân Xuất chúng hồi năm lẻ bốn, ta không biết nhiều hơn chút nào so với những người bình thường nhất trong số các bạn, rằng thế giới giống cái gì. Và giờ đây nhìn lại, ta sẽ không nói ta không hợp với công việc gì, phải không?”


“Chắc chắn là ông không thể ký tên vào sổ,” Fairway nói, "nếu ông còn đủ trẻ để tay nắm tay với một người phụ nữ lần nữa, như Wildeve và cô Tamsin. Điều này cũng nằm ngoài khả năng của cậu Humph, vì cậu ta cũng nối gót cha mình trong việc học hành. Chà, Humph à, tôi nhớ rất rõ hồi tôi cưới vợ, cha cậu đã nhìn chằm chặp vào mặt tôi khi tôi viết tên tôi vào sổ. Ông ấy và mẹ cậu làm lễ cưới ngay trước lễ cưới của chúng tôi, và họ đứng đó trước tượng thập giá của đức cha với hai tay dang rộng như một con bù nhìn lớn. Đó là một cây thập giá đen khủng khiếp; cha cậu trông giống hệt nó! Thú thật tôi không thể nhịn cười khi nhìn thấy cảnh tượng này, dù suốt thời gian đó tôi nóng bừng bừng cả người, với việc kết hôn, với người phụ nữ tôi lấy làm vợ, với Jack Changley và nhiều gã trai khác đang nhe răng cười với tôi qua cửa sổ nhà thờ. Nhưng trong khoảnh khắc kế tiếp một hạt bụi rơm cũng xô ngã tôi được, vì tôi sực nghĩ ra rằng nếu cha mẹ cậu đã từng cãi cọ nhau trước đó, hẳn họ sẽ thực hiện việc đó vài chục lần sau khi trở thành chồng vợ, và tôi nhìn thấy chính mình như gã trai ngốc nghếch khốn khổ kế tiếp sắp đâm đầu vào tình trạng lộn xộn đó… Ôi chao, đó đúng là một ngày kinh khủng!”


“Wildeve lớn hơn Tamsin Yeobright khá nhiều tuổi. Cô ấy còn là một thiếu nữ xinh đẹp nữa. Một thiếu nữ với một ngôi nhà phải là một kẻ ngu xuẩn khi từ bỏ tương lai của mình vì một gã đàn ông như thế!”


Người phát ngôn, một thợ cắt cỏ, kẻ vừa tham gia vào nhóm, vác trên vai một cái thuổng có lưỡi hình quả tim cỡ lớn, dùng cho cái nghề riêng biệt đó, và mép thuổng được mài sắc sáng lấp loáng như một cây cung bằng bạc trong ánh lửa.


“Có cả trăm cô gái sẽ nhận lời nếu cậu ta cầu hôn họ,” người phụ nữ vai rộng nói.


“Người bạn hàng xóm, ông có biết người đàn ông nào mà chả phụ nữ nào chịu lấy hay không?” Humphrey hỏi.


“Tôi chưa từng biết,” người thợ cắt cỏ đáp.


“Tôi cũng vậy,” một người khác nói.


“Ta cũng vậy,” Ông Nội Cantle nói.


“Chà, tôi từng biết,” Timothy Fairway cất tiếng, dồn hết sức nặng thân người lên một chân. Tôi từng biết một người như thế, nhưng chỉ một lần.” Ông hắng giọng rõ to, như thể bổn phận của mọi người là không được nhầm lẫn bởi giọng nói khàn khàn. “Phải, tôi biết một người như thế.”


“Thế kẻ khốn khổ đó trông xấu xí như thế nào, thầy Fairway?” Người thợ cắt cỏ hỏi.


“Ờ, anh ta không phải là người đui, điếc, hay câm. Như thế nào thì tôi không nói được.”


“Ở vùng này có ai biết anh ta không?” Olly Dowden hỏi.


“Hầu như không,” Timothy đáp; “nhưng tôi không đưa ra cái tên nào cả… Kìa, bỏ thêm củi vào đống lửa đi, các chàng trai.”


“Bộ răng của Christian Cantle đang đánh bò cạp vì cái gì vậy há?” Một thanh niên lên tiếng từ giữa đám khói và những bóng tối ở phía bên kia đống lửa. “Anh bị nhiễm lạnh hả, Christian?”


Một giọng đáp khẽ, lúng búng cất lên: “Không, không hề.”


“Bước ra đây trình diện coi, Christian. Tôi không biết là cậu đang ở đây,” Fairway nói, ánh mắt hiền từ hướng về phía đó.


Theo lời yêu cầu, một thanh niên có mái tóc hơi ngã sang màu đỏ, vai hẹp, chỉ toàn xương với da ló ra phía ngoài bộ quần áo, ngập ngừng bước tới một hai bước theo ý muốn của chính mình, và bị đẩy tới trước năm sáu bước nữa do ý muốn của những kẻ khác. Gã là con trai út của Ông Nội Cantle.


“Anh run rẩy vì cái gì vậy, Christian?” Người thợ cắt cỏ từ tốn hỏi.


“Tôi là kẻ đó.”


“Kẻ nào?”


“Người đàn ông mà không phụ nữ nào muốn lấy.”


“Thật khốn khổ cho cậu!” Timothy Fairway nói, mở to mắt nhìn khắp gương mặt và toàn bộ thân hình của Christian. Trong lúc đó Ông Nội Cantle cũng nhìn chòng chọc gã như một con gà mái nhìn con vịt con mà nó đã ấp bước ra khỏi vỏ trứng.


“Phải, tôi là kẻ đó. Và điều đó khiến tôi e sợ,” Christian nói. “Ông có nghĩ là nó sẽ làm tổn thương tôi không? Tôi luôn nói rằng tôi không quan tâm, và nguyền rủa nó, dù lúc nào cũng nghĩ tới nó.”


“Chà, mẹ kiếp, đây đúng là sự khởi đầu kỳ lạ nhất tôi từng biết,” Fairway nói. “Tôi không hề có ý nói tới cậu. Có một người khác ở vùng này! Vì sao cậu tiết lộ chuyện không may của mình vậy, Christian?”


“Chuyện thế thì phải thế, tôi cho là vậy. Tôi không thể không nói ra, phải không?” Gã  hướng đôi mắt tròn đau khổ vào họ; quanh chúng là những quầng tròn đồng tâm trông như hai tấm bia.


“Phải, điều đó đúng. Nhưng đây là một chuyện buồn, và máu tôi lạnh đi khi cậu nói, vì tôi nhận ra có hai kẻ khốn khổ trong lúc tôi từng nghĩ chỉ có một mà thôi. Nó là một điều đau buồn đối với cậu, Christian. Sao cậu biết đám phụ nữ không muốn lấy cậu?”


 “Tôi đã hỏi họ.”


“Chắc chắn là tôi không bao giờ nghĩ cậu có đủ can đảm. Được rồi, người cuối cùng nói gì với cậu? Nói cho cùng, không gì là không thể vượt qua, phải không nào?”


“Cô ta nói, ‘Biến khỏi mắt tôi, đồ thứ ngu xuẩn, lười nhát, lừ đừ, ốm tong teo.”


“Phải thừa nhận không có gì gọi là khuyến khích,’ Fairway nói. “‘Biến khỏi mắt tôi, đồ thứ ngu xuẩn, lười nhát, lừ đừ, ốm tong teo,’ là một cách nói Không khá nặng nề. Nhưng cậu có thể vượt qua ngay cả câu nói đó nhờ thời gian và lòng nhẫn nại, thế nên cứ mặc cho vài nhúm tóc bạc tự phơi mình trên đầu của người đàn bà xấu tính đó. Cậu bao nhiêu tuổi rồi, Christian?”


“Ba mươi mốt vào mùa đào khoai tây năm ngoái, thưa ông Fairway.”


“Không còn là một chàng trai… không còn là một chàng trai. Thế nhưng vẫn còn hy vọng.”


“Đó là tuổi tính theo lễ rửa tội của tôi, vì nó được ghi lại trong cuốn sổ ở nhà thờ; nhưng Mẹ nói với tôi rằng tôi chào đời trước khi làm lễ rửa tội một thời gian.”


“Ờ.”


“Nhưng bà không thể nói là khi nào, ngoại trừ việc lúc ấy không có trăng.”


“Không có trăng; đó là điềm xấu. Nè, các bạn láng giềng, đó là điềm xấu cho cậu ấy!”


“Phải, nó là điềm xấu.” Ông Nội Cantle nói và lắc đầu.


“Mẹ biết đêm đó không có trăng, vì bà hỏi một phụ nữ khác, người có một cuốn niên lịch, mỗi khi bà sinh một đứa con trai. Câu tục ngữ ‘Không trăng, không đàn ông’  khiến bà lo sợ cho mỗi đứa bé trai của mình. Ông có thật sự nghĩ rằng câu này nghiêm túc không, ông Fairway?”


“Phải, ‘Không trăng, không đàn ông.’ Đây là câu tục ngữ đúng nhất xưa nay. Đứa bé ra đời vào lúc trăng non không bao giờ đạt được bất cứ thứ gì.”


“Tôi cho là trăng rất tròn khi ông chào đời?” Christian nói, với một cái nhìn hâm mộ đầy tuyệt vọng vào Fairway.


“Ờ, nó không phải trăng non,” Fairway đáp, với một ánh mắt lãnh đạm.


“Ít lâu nữa tôi sẽ tới mà không uống giọt bia nào trong dịp lễ hội Lammastide  vì là một người sinh vào lúc không có trăng,” Christian nói tiếp, với cùng kiểu nói hơi xao lãng, bối rối. “Người ta bảo tôi chỉ là bộ xương của một con người, không ích gì cho nòi giống của mình hết; và tôi đoán đó là nguyên nhân.”


“Phải,” Ông Nội Cantle nói khẽ. “Mẹ nó khóc hàng giờ khi nó còn bé, vì sợ nó lớn nhanh quá mức rồi bỏ nhà đi đăng lính.”


“Nhiều người cũng xấu số như cậu ta,” Fairway nói. “Cừu thiến cũng phải sống cuộc đời của chúng như những con cừu khác, chàng trai khốn khổ ạ.”


“Vậy có lẽ tôi phải cố mà sống tiếp? Tôi có nên sợ ban đêm không, thầy Fairway?”


“Cậu sẽ phải nằm một mình suốt đời; và một hồn ma chỉ hiện ra trước những kẻ ngủ một mình chứ không phải trước những cặp vợ chồng. Gần đây có người đã nhìn thấy ma. Một con ma rất kỳ lạ.”


“Không, nếu ông không phiền, đừng nói về chuyện đó! Tôi sẽ sởn da gà khi nằm trên giường một mình và nghĩ tới nó. Nhưng ông sẽ nói, ồ, ông sẽ nói, tôi biết, Timothy; và tôi sẽ nằm mơ thấy nó suốt đêm! Một con ma rất kỳ lạ à? Ông định nói về loại hồn ma nào khi nói nó rất kỳ lạ, Timothy? Không, không. Đừng nói với tôi.”


“Tôi không hề tin có ma. Nhưng tôi nghĩ những gì tôi nghe kể khá là ma quái. Một cậu bé đã nhìn thấy nó.”


“Trông nó như thế nào? Ồ không, đừng…”


“Một con ma màu đỏ. Phải, hầu hết các hồn ma có màu trắng; nhưng con ma này giống như đã bị nhúng ngập trong máu.”


Christian lặng lẽ hít sâu một hơi, và Humphrey cất tiếng, “Nó đã được nhìn thấy ở đâu?”


            “Không chính xác tại đây, nhưng cũng trong cánh đồng này. Nhưng đó không phải là thứ chuyện nên nói tới. Ông nói sao hả, Ông Nội,” Fairway tiếp tục với giọng hăng hái hơn. “Ông nói sao về việc tặng cho đôi vợ chồng mới cưới một bài ca trong tối nay trước khi chúng ta đi ngủ; đêm nay là ngày cưới của họ? Khi người ta mới cưới nhau, tốt nhất nên nhìn nó với sự vui vẻ, vì nhìn nó với sự buồn bã sẽ khiến họ phân ly. Tôi không phải là tay bợm nhậu, như mọi người biết, nhưng khi đám đàn bà trai trẻ đã về nhà, chúng ta có thể đi xuống quán Người Phụ nữ Lặng lẽ, và diễn một vũ khúc balê trước cửa của đôi vợ chồng. Nó sẽ làm cho cô vợ hài lòng, và đó là điều tôi muốn thực hiện, vì nhiều ca rượu đầy nhóc tôi đã nhận từ tay của cô ta khi cô ta sống với bà bác ở Blooms-End.”


            “Vậy sao? Thế thì chúng ta sẽ tới đó!” Ông Nội Cantle đáp, xoay người nhanh đến độ những cái vòng đệm đong đưa thật mạnh. “Ta đang khô như một nhánh cây khô với việc ngồi đây trong gió, và đã không nhìn thấy màu rượu bia từ trưa tới giờ. Nghe nói mẻ rượu cuối ở lữ quán rất ngon. Và, các bạn láng giềng, nếu chúng ta kết thúc muộn một chút thì sao chứ, mai là Chủ nhật, chúng ta có thể ngủ bù.”


            “Ông Nội Cantle! Ông luôn làm những việc rất bất cẩn đối với một ông già,” người phụ nữ vai rộng nói.


            “Ta làm những việc bất cẩn; đúng thế, quá bất cẩn, để làm hài lòng những người phụ nữ. Khà khà! Ta sẽ hát bài ‘Đám đông vui vẻ’ hay bất kỳ bài nào khác, khi một ông già lụ khụ cố cất tiếng ca. Đúng thế. Ta muốn làm bất cứ điều gì.


Nhà vua liếc mắt qua vai


Bừng bừng lửa giận thốt lời răn đe,


‘Nếu ta không nhớ lời thề


Phạt ngươi treo cổ tức thì một phen.’


            “Được rồi, đó là điều chúng ta sẽ làm,”  Fairway nói. “Chúng ta sẽ tặng họ một bài ca, và nó sẽ làm vui lòng Chúa. Cậu Clym anh họ của Thomasin về nhà sau khi lễ cưới đã xong xuôi thì còn tác dụng gì nữa nhỉ? Lẽ ra cậu ta nên về trước, nếu muốn ngăn nó lại, và tự cưới cô ta.”


            “Có lẽ cậu ta sẽ về ở với mẹ một thời gian, vì hẳn là bà ấy cảm thấy lẻ loi khi cô gái đã rời khỏi nhà.”


            “Thật lạ lùng, nhưng ta không bao giờ cảm thấy lẻ loi, không hề,” Ông Nội Cantle nói. “Ta kiên cường trong đêm tối như một vị đô đốc!” 


            Lúc này đống lửa bắt đầu hạ thấp, vì thứ chất đốt ở đây không phải là loại có thể duy trì lâu một ngọn lửa. Phần lớn những đống lửa khác trong phạm vi chân trời rộng lớn cũng đang thu nhỏ lại. Việc chăm chú quan sát độ sáng, màu sắc và độ lâu bền của chúng hẳn sẽ hé lộ thứ chất liệu được đốt cháy, và thông qua đó, ở một mức độ nhất định, sản phẩm tự nhiên của huyện nơi có các đống lửa. Độ sáng trong trẻo, huy hoàng của đa số các đống lửa thể hiện một miền đất thuần thạch nam và kim tước như miền đất của chính họ; nó kéo dài vô số dặm về một phía, những đống lửa bừng lên và lụi đi nhanh chóng ở những hướng khác cho thấy nhiên liệu là loại kém nhất – rơm, dây đậu và thứ rác thông thường ở những vùng đất trồng trọt. Thứ nhiên liệu lâu bền nhất, cháy sáng đều đều và không thay đổi trước mắt như những hành tinh, là những thứ gỗ giá trị, như cành phỉ, các bó cây gai và những thanh củi cứng. Những đống lửa đốt lên từ những chất đốt nói sau cùng khá hiếm hoi, và dù tương đối nhỏ về tầm vóc bên cạnh những đống lửa chóng tàn, lúc này chúng bắt đầu sáng rực hơn bao giờ hết, đơn giản là do sự kéo dài liên tục. Những đống lửa to đã lụi tàn, nhưng những đống lửa nhỏ này vẫn còn cháy bập bùng. Chúng chiếm lĩnh những vị trí xa xôi nhất trong phạm vi có thể nhìn thấy – những cao điểm nổi lên nền trời của những huyện có nhiều bãi trồng chất đốt và đồn điền ở phía bắc, nơi có loại đất khác, và những dạng đồng hoang xa lạ.


            Ngoại trừ một đống lửa; và đây là đống lửa gần nhất, vầng trăng của toàn bộ những quầng sáng bập bùng. Nó nằm đúng ngay hướng đối diện với khung cửa sổ nhỏ trong thung lũng bên dưới. Nó ở gần đến độ, bất chấp kích thước thật sự nhỏ bé của nó, vầng sáng của nó chói lọi hơn đống lửa của họ nhiều.


            Con mắt lặng lẽ này đã thu hút sự chú ý vào lúc này lúc khác; và khi đống lửa của họ đã hạ thấp, mờ đi, nó càng thu hút mạnh hơn; một số, ngay cả những đống lửa được đốt lên chậm hơn đã bắt đầu tàn lụi, nhưng người ta không thấy thay đổi nào ở nó.


            “Chắc chắn là đống lửa đó ở rất gần!” Fairway nói. “Dường như là vậy. Tôi có thể nhìn thấy một dáng người thả bước quanh nó. Phải công nhận là đống lửa đó nhỏ nhưng cháy đều.”


            Một thanh niên nói, “Tôi có thể ném một hòn đá tới đó.”


“Cả ta cũng thế!” Ông Nội Cantle hưởng ứng.


“Không, không thể đâu, các bạn à. Đống lửa đó cách chưa đầy một dặm, thế nên trông nó có vẻ gần như thế.”


“Nó nằm trong đồng thạch nam, nhưng ở đó không có kim tước,” người thợ cắt cỏ nói.


“Đó là gỗ chẻ, đống lửa đốt bằng gỗ chẻ,” Timothy Fairway nói. “Không thứ gì cháy như thế trừ gỗ chẻ. Và nó ở trên cái gò trước nhà của ông thuyền trưởng già ở Mistover. Ông ta là một người kỳ lạ! Đốt một đống lửa nhỏ bên trong ranh giới của mình, để không ai có thể chung vui hay tới gần nó! Và ông cụ này đúng là lập dị khi đốt một đống lửa mà chả có thanh niên thiếu nữ nào thưởng thức nó.”


“Hôm nay Thuyền trưởng Vye đã đi bộ một quãng xa, và hẳn đã mệt đừ người,” Ông Nội Cantle nói, “thế nên không có khả năng ông ta đốt.”


“Và chắc ông ta cũng không đủ tiền để mua thứ củi tốt như thế,” người phụ nữ vai rộng nói.


“Vậy đó phải là cháu gái của ông ta,” Fairway nói. “Một người ở lứa tuổi cô ta không thể thích đốt một đống lửa đến thế.”


“Cô ta có những cách thức lạ lùng, sống ở đó một mình, và những thứ đại loại khiến cô ta hài lòng,” Susan nói.


“Cô ta là một cô gái xinh xắn,” Humphrey thợ cắt cỏ nói, “nhất là khi cô ta mặc một trong những chiếc áo dài đẹp nhất của mình,”


“Đúng thế,” Fairway đồng ý. “Thôi, cứ mặc cho đống lửa của cô ta cháy tùy thích. Đống lửa của chúng ta trông đã sắp tàn rồi.”


“Khi lửa hạ thấp, trời tối làm sao!” Christian Cantle nói, nhìn ra phía sau với đôi mắt thỏ. “Các bạn có nghĩ là tốt hơn chúng ta nên trở về nhà hay không? Cánh đồng này không bị ma ám, tôi biết; nhưng tốt hơn chúng ta nên trở về… Chà, đó là cái gì vậy?”


“Chỉ là gió,” người thợ cắt cỏ đáp.


“Tôi nghĩ ngày lễ Năm tháng Mười một không nên được duy trì vào ban đêm ngoại trừ ở các thị trấn. Nó nên diễn ra vào ban ngày ở những chốn xa xôi hẻo lánh như nơi này!”


“Vớ vẩn, Christian. Hãy củng cố tinh thần như một gã đàn ông đi nào! Susy thân mến, cô và tôi sẽ nhảy một điệu jig, phải không, người đẹp? Trước khi trời quá tối để nhìn thấy cô vẫn còn xinh đẹp thế nào, dù nhiều mùa hè đã trôi qua từ khi chồng cô, con trai của một mụ phù thủy, đã cướp cô khỏi tay tôi.”


Mấy lời này dành cho Susan Nunsuch; và cảnh tượng kế tiếp mà những người chứng kiến nhận thức được là ảo ảnh của một thân hình phụ nữ đẫy đà nhún nhảy tiến về khoảng trống nơi đống lửa đã được tiếp thêm củi. Cô ta được nhấc bổng lên bởi cánh tay của Fairway, vốn đã vòng quanh eo cô ta trước khi cô ta nhận ra dự định của ông. Ở vị trí của đống lửa lúc này chỉ còn một vòng tròn tro lập lòe ánh than và những tia lửa đỏ, mớ nhánh kim tước đã hoàn toàn cháy hết. Khi đã bước vào cái vòng ấy, Fairway xoay tròn cô ta hết lần này sang lần khác trong một điệu nhảy. Cô ta là một phụ nữ bẩm sinh có khí chất ồn ào, ngoài cái áo ngực có khung bằng phiến răng cá voi và thanh gỗ dẹt, cô ta mang ủng đế cao suốt hè và đông, trong tiết trời ẩm thấp và khô hạn, để giữ gìn đôi ủng lâu hơn; và khi Fairway bắt đầu nhảy múa với cô ta, tiếng lách cách của đôi ủng, tiếng sột soạt của chiếc áo ngực, và những tiếng hét vì kinh ngạc của cô ta, tạo thành một bản hòa tấu rất ư sôi động.


“Tôi sẽ dần cho anh một trận, cái gã chết tiệt này!” Nunsuch nói, trong lúc nhảy vòng quanh với Fairway một cách bất lực, đôi bàn chân của cô ta cử động liến thoắng như đôi dùi trống giữa những tia lửa lập lòe. “Hai mắt cá của tôi đã sưng tấy từ trước do đi bộ qua đồng kim tước đầy gai, và giờ anh còn làm cho chúng tệ hơn với những tia lửa này!”


Niềm hứng khởi của Timothy Fairway có tính lây lan. Tay thợ cắt cỏ túm lấy cô nàng Olly Dowden lớn tuổi, và nhẹ nhàng dìu cô ta vào vòng nhảy. Đám thanh niên không hề chậm bước trong việc bắt chước các đàn anh, cũng túm lấy các cô gái. Ông Nội Cantle và chiếc gậy của ông xoay tròn trong hình thù của một vật có ba chân giữa những người còn lại. Và trong vòng nửa phút, những gì có thể nhìn thấy trên Gò Mưa là những bóng người đen sẫm xoay tròn giữa những tia lửa văng tung tóe; chúng văng lên tới tận eo của đám người đang khiêu vũ. Những âm thanh chủ yếu là tiếng la hét của đám đàn bà, tiếng cười hô hố của đám đàn ông, tiếng áo ngực sột soạt và tiếng đôi ủng đế cao lách cách của Susan, tiếng hò reo “heu, heu, heu” của Olly Dowden và tiếng gió rít vi vu qua những bụi kim tước, tất cả hợp thành một bản hòa âm cho điệu nhảy ma quái của họ. Chỉ có Christian đứng một mình ở ngoài, vừa lắc lư người một cách khó khăn vừa lẩm bẩm, “Họ không nên làm chuyện này; mấy tia lửa bay ghê quá! Nó sẽ gọi mời Kẻ Xấu tới, đúng vậy.”


“Cái gì thế?” Một trong số các chàng trai cất tiếng và dừng lại.


“Hả, ở đâu?” Christian hỏi, vội vã tới gần số còn lại.


Đám người đang nhảy giảm tốc độ lại.


“Nó ở phía sau anh, Christian, tôi nghe thấy nó. Ở dưới này.”


“Phải, ở phía sau tôi!” Christian nói. “Lạy bốn thiên thần bảo hộ Matthew, Mark, Luke, và John, xin phù hộ cho cái giường mà con nằm lên…”


“Im nào. Gì thế nhỉ?” Fairway nói.


“Xin chào-o-o!” một giọng nói cất lên từ bóng tối.


“Xin chào-o-o!” Fairway đáp lại.


“Xin cho hỏi có đường xe ngựa nào băng qua nơi này để tới nhà của bà Yeobright ở Blooms-End hay không?” Giọng nói đó lại cất lên, trong lúc một hình dáng lờ mờ, cao, mảnh khảnh tới gần gò đất.


“Chúng ta có nên chạy thật nhanh về nhà không, các bạn láng giềng, vì đã khuya rồi?” Christian nói. “Đừng chạy cách xa nhau, các bạn biết đó; ý tôi là chạy sát bên nhau.”


“Hãy gom góp một vài mớ kim tước và đốt lửa lên, để chúng ta có thể thấy người đó là ai,” Fairway nói.


Khi lửa bừng lên, nó để lộ một thanh niên trong bộ y phục bó sát thân người và đỏ từ trên tới dưới. “Có con đường mòn nào băng qua đây để tới nhà của bà Yeobright không?” Gã lặp lại.


“Có, đi theo con đường mòn dưới kia.”


“Ý tôi là một con đường mà một cỗ xe hai ngựa có thể đi qua.”


“Ờ, có; anh có thể đi theo cái thung lũng dưới này. Con đường khó đi, nhưng nếu anh có một ngọn đèn ngựa của anh có thể đi từ từ được. Anh có đưa cỗ xe lên đây không, anh bạn bán thuốc nhuộm?”


“Tôi để lại nó ở dưới chân gò, cách đây nửa dặm. Tôi đi bộ lên trước để chắc chắn là có đường đi, vì đang đêm và tôi chưa quen thuộc vùng này.”


“Ồ, anh có thể đi tới đó,” Fairway nói. “Tôi giật mình khi mới nhìn thấy anh ta!” Ông nói thêm với cả nhóm, bao gồm cả người bán thuốc nhuộm.” “Lạy Chúa, tôi đã nghĩ, không biết thứ hình nộm đáng sợ nào tới để phá đám chúng ta? Không phải tôi coi thường ngoại hình của anh đâu, anh bán thuốc nhuộm, vì về cơ bản trông anh không xấu trai, dù phần còn lại thật kỳ lạ. Ý tôi là tôi chỉ muốn nói tôi đã cảm thấy lạ lùng ra sao. Tôi đã nghĩ đây chính là quỷ sứ hay con ma đỏ mà thằng bé đã kể.”


“Tôi cũng sợ hết hồn như anh,” Susan Nunsuch nói, “vì tối qua tôi nằm mơ thấy đầu của một người chết.”


“Mấy người đừng nói nữa,” Christian xen vào. “Nếu anh ta trùm một cái khăn tay trên đầu, hẳn cả thế giới đều tưởng anh ta là Quỷ sứ trong bức tranh về Sự cám dỗ.”


“Chà, cám ơn các vị đã nói cho tôi biết,” người bán thuốc nhuộm nói, mỉm cười. “Và xin chào tất cả mọi người.”


Gã quay trở xuống phía dưới gò đất.


“Tôi cho là tôi đã nhìn thấy mặt của anh chàng này trước đó,” Humphrey nói. “Nhưng tôi không biết ở đâu, hay bằng cách nào, và tên của anh ta là gì.”


Người bán thuốc nhuộm đi khỏi chưa được vài phút thì một kẻ khác tiến tới gần đống lửa đã được khôi phục một phần. Đó là một quả phụ khả kính và có nhiều người biết ở vùng này, với một phong cách chỉ có thể diễn tả bằng từ quý phái. Gương mặt của bà, bị bao trùm bởi bóng tối của cánh đồng thạch nam đang lùi lại, hiện lên trắng nhợt mờ mờ, như một gương mặt chạm vào đá.


Bà là một phụ nữ trung niên, với những đường nét đẹp đẽ, loại thường được tìm thấy ở nơi sự minh mẫn là phẩm chất chủ yếu của tâm hồn. Đôi khi, dường như bà quan tâm tới những vấn đề rất lớn lao mà những người khác xung quanh không hiểu nổi.  Bà có cái gì đó của một vẻ mặt bị xa lánh; sự cô quạnh tỏa lên từ cánh đồng thạch nam tập trung vào gương mặt này, vốn đã nảy sinh từ nó. Vẻ mặt khi bà nhìn những cư dân vùng này cho thấy một thái độ hờ hững với sự hiện diện của họ, hay với những quan điểm của họ về bà khi bà bước vào nơi chốn quạnh hiu đó vào giờ giấc khuya khoắt này, từ đó ngụ ý một cách gián tiếp rằng ở phương diện này hay phương diện khác họ không thể vươn tới đẳng cấp của bà. Lý giải nằm ở thực tế rằng dù chồng bà chỉ là một trại chủ nhỏ, bản thân bà là con gái của một vị cha phó, kẻ từng mơ tới việc thực hiện những điều tốt đẹp hơn.


Những cá nhân có cá tính mạnh mẽ, giống như những hành tinh, mang theo bên mình bầu khí quyển của họ trong quỹ đạo riêng của họ; và người phụ nữ đứng tuổi lúc này đang bước vào gò đất có thể, như vẫn thường thực hiện, áp đặt cung cách của mình lên một đám đông. Phong cách thông thường của bà giữa những người dân vùng hoang địa chứa đựng sự trầm tĩnh hình thành từ ý thức về quyền lực bề trên trong giao tiếp. Nhưng kết quả của việc bước vào xã hội và ánh sáng sau khi đi lang thang một mình trong bóng tối là thái độ hòa đồng của kẻ mới tới nằm ở mức độ cao hơn mức thông thường của nó, thể hiện trong nét mặt nhiều hơn trong lời nói.


“Đây là bà Yeobright,” Fairway nói. “Bà Yeobright, trước đây chưa đầy mười phút có người hỏi thăm về bà, một người bán thuốc nhuộm lông cừu.”


“Anh ta muốn gì?” Bà Yeobright hỏi.


“Anh ta không nói với chúng tôi.”


“Muốn bán thứ gì đó, tôi cho là vậy; một người lạc đường như tôi làm sao hiểu nó có thể là cái gì.”


“Tôi rất vui khi nghe nói cậu Clym con bà sẽ về nhà vào dịp Giáng sinh,” anh thợ cắt cỏ Sam lên tiếng. “Hồi trước cậu ấy rất thích những đống lửa!”


“Phải. Tôi tin là nó sắp về.” Bà đáp.


“Lần này về hẳn cậu ấy đã là một chàng trai chững chạc rồi,” Fairway nói.


“Giờ nó là một người đàn ông,” bà lặng lẽ đáp.


“Bà ơi, bà rất đơn độc trong đồng thạch nam đêm nay,” Christian lên tiếng, bước ra khỏi tình trạng tách biệt gã vẫn duy trì cho tới lúc đó. “Bà lưu ý đừng để bị lạc nhé.  Egdon Heath là một nơi tệ hại nếu bị lạc, và những cơn gió đêm nay gào rít lạ hơn tôi từng nghe trước giờ. Những người biết rõ Egdon nhất đôi khi cũng bị yêu tinh dẫn đi lạc lối đó bà.”


“Phải cậu đó không, Christian?” Bà Yeobright hỏi. “Sao lúc nãy cậu lại trốn tôi?”


            “Là vì tôi không nhận ra bà trong ánh sáng này, thưa bà; và là một kẻ đau khổ nhất đời, tôi hơi sợ một chút, chỉ có thế. Nếu bà có thể thấy tôi thường cảm thấy kinh khủng thế nào, hẳn bà sẽ rất lo âu vì e rằng tôi có thể tự sát.”


            “Cậu không chăm sóc cho cha cậu gì hết,” bà Yeobright nói, nhìn về phía đống lửa, nơi Ông Nội Cantle, với một mong muốn nguyên thủy nào đó, đang nhảy múa một mình giữa những tia lửa, như mọi người đã thực hiện trước đó.


            “Nè, Ông Nội,” Timothy Fairway, “chúng tôi thật xấu hổ cho ông. Một lão trượng đáng kính như ông, có lẽ bảy mươi tuổi cũng nên, lại nhảy múa lăng xăng như thế một mình!”


            “Một ông cụ ưa gây đau khổ cho kẻ khác, thưa bà Yeobright,” Christian nói với vẻ chán nản. “Tôi sẽ không sống với ông dù chỉ một tuần nếu có thể trốn đi, ông quá ham vui.”


            “Có vẻ như sẽ tốt hơn nếu ông thôi nhảy múa và chào mừng bà Yeobright, và ông là người khả kính nhất ở đây, Ông Nội Cantle,” người phụ nữ làm chổi nói.


            “Ý hay, và ta sẽ làm như thế,” kẻ đang ham vui đáp, tự kiểm bản thân một cách ăn năn. “Tôi có một trí nhớ rất kém bà Yeobright ạ, đến độ tôi quên mất mấy người còn lại nhìn tôi như thế nào. Chắc bà sẽ nói đầu óc của tôi còn minh mẫn chán, phải không? Nhưng không phải luôn luôn. Được xem là người đứng đầu là một gánh nặng trên người, và tôi thường cảm nhận được nó.”


            “Tôi xin lỗi phải cắt lời ông,” bà Yeobright nói. “Nhưng giờ tôi phải từ giã ông. Tôi đang đi xuống con lộ Anglebury chạy về phía ngôi nhà mới của cháu gái tôi. Nó đang trên đường trở về với chồng nó tối nay; và khi nhìn thấy đống lửa và nghe tiếng của Olly trong số còn lại, tôi lần mò lên đây để biết chuyện gì đang diễn ra. Tôi muốn cô ta đi với tôi, vì cô ta cùng đường với tôi.”


            “Vâng, chắc rồi, thưa bà, tôi cũng vừa nghĩ tới việc rời khỏi đây,” Olly đáp.


            “Sao chứ, bà sẽ an toàn gặp tay bán thuốc nhuộm mà tôi đã kể với bà,” Fairway nói. “Anh ta chỉ quay lại với cỗ xe. Chúng tôi nghe nói rằng cháu bà và chồng cô ta đang về thẳng nhà ngay sau khi họ kết hôn, và chúng tôi sẽ mau chóng xuống đó để tặng họ một bài hát chúc mừng.”


            “Thật sự cám ơn anh,” bà Yeobright đáp.


            “Nhưng chúng tôi sẽ đi lối tắt qua những bụi kim tước, bà không đi lối đó được với y phục dài; vì vậy chúng tôi sẽ không làm phiền bà phải đợi lâu.”


            “Tốt lắm. Cô đã sẵn sàng chưa, Olly?”


            “Rồi, thưa bà. Và có một ánh đèn chiếu ra từ cửa sổ của cháu bà, thấy không. Nó sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng.”


            Cô ta chỉ tay về phía một ánh đèn xa xăm ở dưới đáy cái thung lũng mà Fairway đã chỉ tới lúc nãy; và hai người phụ nữ rời khỏi gò đất.


 


4 — Dừng chân trên con lộ lớn


            Họ đi xuống dốc, xuống nữa, và vẫn còn xuống xa hơn; mỗi bước đi xuống dường như kéo dài thêm quãng đường của họ. Những nhánh kim tước cào vào váy áo họ một cách ồn ào, những lùm xương xỉ quẹt vào vai họ; dù đã chết khô, chúng vẫn đứng thẳng như khi còn sống, tiết đông trọn vẹn chưa tới để xô đổ chúng. Một số người có thể nói tình thế lưng chừng của chúng là sự vô tâm đối với hai người phụ nữ lẻ loi. Nhưng những nơi chốn um tùm hẻo lánh này là một môi trường quen thuộc quanh năm suốt tháng đối với Olly và bà Yeobright; và sự bổ sung của bóng tối không hề mang đến vẻ kinh khủng nào cho gương mặt của một người bạn.


            “Thế là rốt cuộc Tamsin đã lấy cậu ta,” Olly nói, khi đường đi đã bớt dốc đến mức những bước chân của họ không còn đòi hỏi toàn bộ sự chú ý.


            Bà Yeobright chậm rãi đáp, “Phải, rốt cuộc.”


            “Bà sẽ rất nhớ cô ấy; sống với bà như một đứa con gái, cô ấy luôn là vậy.”


            “Tôi nhớ nó.”


            Olly, dù thiếu tinh tế để nhận ra những câu nhận xét không đúng lúc, vẫn tránh được việc nêu ra chúng một cách xúc phạm nhờ sự quá đơn giản của mình. Cô ta có thể đưa ra những câu hỏi hẳn sẽ khiến cho kẻ khác bực tức mà không hề hấn gì cả. Điều này lý giải cho sự ngấm ngầm đồng ý của bà Yeobright đối với việc nhắc lại một chủ đề rõ ràng là rất đau lòng.


            “Tôi rất sốc khi nghe bà đã chấp nhận đám cưới, thưa bà,” người thợ làm chổi nói tiếp.


            “Cô chưa bị sốc bằng tôi hồi thời gian này năm ngoái đâu, Olly. Có rất nhiều khía cạnh đối với cái đám cưới đó. Tôi không thể nói cho cô biết tất cả, ngay cả khi tôi cố gắng.”


            “Tôi thiết nghĩ cậu ta không đủ vững vàng để làm rể của bà. Làm chủ một lữ quán là cái quái gì chứ? Nhưng cậu ta thông minh, điều đó đúng, và người ta bảo cậu ta từng là một quý ông kỹ sư, nhưng đã xuống dốc vì quá có xu hướng hướng ngoại.”


            “Tôi đã thấy điều đó. Nhìn chung, tốt hơn nó nên lấy người mà nó muốn.”


            “Cô bé khốn khổ, chắc chắn là cảm xúc của cô ấy đã giành phần thắng. Đó là bản chất. Ờ, họ có thể gọi cậu ta là thứ gì tùy ý; cậu ta có nhiều mẫu đất hoang đã cày xới ở đây, ngoài cái lữ quán và những thứ hoa lợi trên đồng, và cung cách của cậu ta hoàn toàn giống cung cách của một quý ông. Và người ta không thể không chấp nhận một việc đã rồi.”


            “Đúng vậy,” bà Yeobright đáp. “Nhìn kìa, rốt cuộc đã ra tới đường mòn rồi. Giờ chúng ta sẽ đi dễ dàng hơn.”


            Đề tài đám cưới không được nhắc tới nữa; và sau đó không lâu họ tới một con đường mòn tẻ nhánh mờ mờ, nơi họ chia tay nhau, dù trước đó Olly xin được đi theo để nhắc Wildeve rằng y chưa gửi cho ông chồng đang ốm của cô chai rượu vang đã hứa vào dịp y làm lễ cưới. Người thợ làm chổi ngoặt sang trái để về nhà mình, nằm sau một góc đồi, và bà Yeobright đi theo con đường thẳng mà ở đoạn trên nối với con đường lớn chạy qua quán Người Phụ nữ Lặng lẽ, nơi bà cho là cháu gái mình đã quay lại với Wildeve sau lễ cưới của họ tại Anglebury ngày hôm đó.


            Đầu tiên bà tới “Khu đất của Wildeve,” như người ta gọi, một mảnh đất được mua lại từ cánh đồng thạch nam, và sau nhiều năm dài lao tác đã trở thành đất trồng trọt. Người đàn ông, kẻ đã phát hiện ra rằng có thể canh tác miếng đất, đã chết vì lao lực; người kế tiếp làm chủ miếng đất bị phá sản do đầu tư phân bón cho nó. Wildeve xuất hiện như Amerigo Vespucci , và nhận được vinh dự nhờ những người đi trước.


            Khi tới gần quán, và sắp bước vào, bà Yeobright nhìn thấy một cỗ xe ngựa ở mé ngoài, cách đó chừng hai trăm mét. Nó đang tiến về phía bà, một người đàn ông đi bộ bên cạnh xe, tay cầm một cái đèn lồng. Rõ ràng đây là tay bán thuốc nhuộm đã hỏi thăm nhà bà. Thay vì bước ngay vào quán, bà bước ngang qua nó, đi về phía cỗ xe.


            Khi cỗ xe tới gần, và người đàn ông sắp đi ngang qua bà mà không chú ý mấy, bà quay sang gã và nói, “Tôi nghĩ cậu đã hỏi thăm về tôi? Tôi là bà Yeobright ở Blooms-End.”


            Người bán thuốc nhuộm giật mình, và giơ một ngón tay lên. Gã dừng ngựa lại, và đề nghị bà cùng lùi vài mét sang một phía. Bà làm theo, hơi thắc mắc trong lòng.


            “Chắc bà không biết tôi, thưa bà,” gã nói.


            “Tôi không biết,” bà đáp. “À, mà không, tôi biết. Cậu là Venn trẻ. Cha cậu là người nuôi bò sữa ở đâu đó gần đây phải không?”


            “Vâng, và tôi quen biết chút ít với cháu của bà, cô Tamsin. Tôi có một tin xấu phải nói với bà.”


“Về nó sao? Không! Tôi tin là nó vừa về tới nhà với chồng nó. Họ đã sắp xếp để trở về chiều nay, về cái lữ quán ở đằng kia.”


            “Cô ấy không có ở đó.”


            “Sao cậu biết?”


            “Vì cô ấy ở đây. Cô ấy ở trong xe của tôi,” gã chậm rãi nói thêm.


            “Rắc rối mới nào đã đến?” Bà Yeobright lẩm bẩm, đưa tay lên che mắt.


            “Tôi không thể giải thích nhiều, thưa bà. Tất cả những gì tôi biết là khi tôi đang đi trên đường hồi sáng này, cách Anglebury chừng một dặm, tôi nghe có gì đó đang lủi thủi chạy theo tôi như một con hươu. Và khi tôi nhìn lại thì thấy cô ấy, trắng bệt như đã chết. ‘Ôi, Diggory Venn!' cô ấy nói, ‘Tôi đã nghĩ đó là anh, anh giúp tôi với nhé. Tôi đang gặp rắc rối.’”


            “Làm sao nó biết tên thánh của cậu?” Bà Yeobright hỏi với vẻ ngờ vực.


            “Hồi còn trẻ tôi có gặp cô ấy trước khi tôi đi theo cái nghề này. Cô ấy hỏi có thể quá giang tôi không, rồi lăn ra ngất xỉu. Tôi bế cô ấy và đặt vào xe, và cô ấy ở trong xe từ lúc đó tới giờ. Cô ấy đã khóc nhiều, nhưng hầu như không nói gì; tất cả những gì cô ấy nói với tôi là lẽ ra cô ấy đã kết hôn lúc sáng này. Tôi cố thuyết phục cô ấy ăn chút gì đó, nhưng cô ấy không thể, và cuối cùng cô ấy ngủ thiếp đi.”


            “Cho phép tôi thăm nó ngay,” bà Yeobright nói và vội vã đi tới cỗ xe.


            Người bán thuốc nhuộm đi theo với cái đèn lồng, rồi bước lên xe trước để giúp bà Yeobright trèo lên cạnh gã. Ở cánh cửa xe để mở, bà nhìn thấy ở cuối thùng xe có một cái giường làm tạm, xung quanh treo đầy những thứ vải vóc mà người bán thuốc nhuộm có trong tay, nhằm ngăn không cho người nằm trên cái giường nhỏ tiếp xúc với thuốc nhuộm. Một cô gái trẻ nằm trên đó, trên người phủ một chiếc áo choàng. Nàng đang ngủ, và ánh sáng từ chiếc đèn lồng rọi lên mặt nàng.


            Một gương mặt gái quê trắng trẻo, chân chất, dịu dàng lộ ra, nổi bật trên mái tóc lượn sóng màu nâu hạt dẻ. Nó ở khoảng giữa phạm vi xinh xắn và đẹp. Dù đôi mắt của nàng đang khép, người ta có thể dễ dàng hình dung ánh sáng tỏa ra lấp lánh khi chúng mở ra. Về cơ bản, gương mặt ấy chất chứa niềm hy vọng, nhưng lúc này che phủ bên trên nó như một chất liệu xa lạ là một lớp màng lo âu và đau khổ. Nỗi đau khổ quá ngắn ngủi nên chưa tước bỏ chút nào vẻ thanh xuân mơn mởn, thế nhưng mang tới một phẩm giá mà rốt cuộc nó có thể xói mòn. Màu đỏ thắm của đôi môi chưa có thời gian để trở nên nhợt nhạt, và ngay lúc này nó càng nổi bật hơn do sự vắng mặt của màu sắc gần bên và có tính chất tạm thời hơn của đôi má. Thỉnh thoảng đôi môi hơi hé mở, với những lời lẩm bẩm. Nàng giống như một khúc ca cổ không nhạc đệm, chỉ có thể được thưởng thức thông qua vần và sự hài hòa.


            Ít nhất có một điều rõ ràng: nàng không được tạo ra để bị nhìn soi mói như thế. Người bán thuốc nhuộm tỏ ra ý thức được vấn đề này, và trong khi bà Yeobright quan sát nàng, gã xoay mắt sang một phía với vẻ tế nhị. Hiển nhiên người đang ngủ cũng nghĩ như thế, vì ngay khoảnh khắc kế tiếp nàng mở mắt ra.


            Đôi môi hé mở với đôi chút đề phòng, đôi chút hoài nghi; những ý nghĩ và những mảnh nhỏ rời rạc của ý nghĩ, biểu hiện qua những thay đổi trên gương mặt nàng, được trưng bày bởi ánh đèn tới mức độ tinh tế tột cùng. Một cuộc đời ngây thơ, trong sáng lộ ra, như thể người ta có thể nhìn thấy dòng chảy của sự hiện hữu của nàng đang luân chuyển bên trong. Nàng thấu hiểu hoàn cảnh trong chớp mắt.


            “Ôi, phải, cháu đây, bác ơi,” nàng kêu lên. “Cháu biết bác đã lo sợ thế nào, và không thể tin nổi thế nào; nhưng đúng là thế, chính là cháu đây, kẻ đã về nhà như thế này!”


            “Tamsin, Tamsin!” Bà Yeobright nói và khom xuống để hôn nàng. “Ôi, cháu cưng của ta!”


            Lúc này Thomasin muốn bật khóc sụt sùi, nhưng do một mệnh lệnh bất ngờ nào đó xuất phát từ thâm tâm, nàng không thốt ra âm thanh nào cả. Với một tiếng thở hổn hển khe khẽ, nàng ngồi thẳng người lên.


“Cháu không mong gặp bác trong tình trạng này chút nào, cũng hệt như bác đối với cháu.” Nàng nhanh chóng nói tiếp, “Cháu đang ở đâu vậy bác?”


 “Gần nhà, cháu cưng. Ở dưới đáy Thung lũng Egdon. Chuyện đáng sợ đó là gì?”


“Cháu sẽ nói với bác ngay. Chúng ta đang rất gần nhà, phải không? Vậy cháu sẽ xuống xe và đi bộ. Cháu muốn về nhà bằng con đường mòn.”


“Nhưng ta chắc rằng chàng trai tốt bụng này, kẻ đã làm rất nhiều điều tốt, sẽ đưa cháu về tới tận nhà ta?” Bà bác nói, quay sang người bán thuốc nhuộm, vốn đã rời khỏi cỗ xe khi cô gái thức giấc, và đang đứng trên đường.


“Vì sao bà nghĩ cần phải hỏi tôi? Tất nhiên là tôi sẽ làm như thế,” anh nói.


“Anh ấy thật sự tốt bụng,” Thomasin nói khẽ. “Hồi trước cháu quen anh ấy, bác ạ, và hôm nay khi nhìn thấy anh ấy cháu nghĩ cháu thích cỗ xe của anh ấy hơn bất kỳ phương tiện nào của một người lạ. Nhưng giờ cháu sẽ đi bộ. Anh bán thuốc nhuộm ơi, xin dừng ngựa lại.”


Chàng trai lắng nghe nàng với vẻ miễn cưỡng, nhưng cũng dừng xe lại.


Hai bác cháu bước ra khỏi xe. Bà Yeobright nói với chủ xe, “Giờ thì tôi hoàn toàn nhận ra cậu rồi. Điều gì khiến cậu chuyển qua nghề khác, từ bỏ cái nghề tốt đẹp cha cậu để lại vậy?”


“Vâng, tôi đã đổi nghề,” gã đáp và nhìn Thomasin, lúc này hơi đỏ mặt. “Vậy đêm nay bà không cần tới tôi nữa, thưa bà?”


Bà Yeobright đưa mắt nhìn quanh, từ bầu trời tối tới những ngọn đồi, những đống lửa đang tàn, và khung cửa sổ sáng đèn của cái lữ quán họ đã tới gần. “Tôi cho là không,” bà nói, “vì Thomasin muốn đi bộ. Chúng tôi sẽ nhanh chóng tới con đường mòn và về tới nhà. Chúng tôi biết nó rất rõ.”


Sau vài lời qua lại nữa, họ chia tay. Người bán thuốc nhuộm và cỗ xe đi tiếp, hai người phụ nữ đứng lại trên đường. Ngay khi cỗ xe và chủ nhân của nó đi xa khỏi tầm nghe, bà Yeobright quay sang cô cháu gái.


“Giờ, Thomasin, ý nghĩa của sự việc nhục nhã này là gì vậy?” Bà nghiêm khắc hỏi.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Trở lại cố hương. Tiểu thuyết của Thomas Hardy. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh: The Return of the Native. NXB TYổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2018. Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 16.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »