tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24959340
Tiểu thuyết
25.10.2018
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn


Người đàn bà ấy tên là Pêtra Côtêt. Ả cùng người chồng sống bằng nghề xổ số, đến Macônđô lúc chiến tranh đang ác liệt và khi chồng chết ả vẫn tiếp tục nghề ấy. Đó là một phụ nữ lai đen sạch sẽ và trẻ trung, đôi mắt hình quả hạnh đào màu hung vàng khiến bộ mặt dữ tợn như mặt báo, nhưng lại có trái tim hào hiệp và nghệ thuật mồi chài ái tình rất tuyệt. Khi Ucsula biết Hôsê Accađiô Sêgunđô đã là kẻ chơi gà chọi và Aurêlianô Sêgunđô chơi phong cầm trong những đêm náo nhiệt ở nhà nhân tình thì cụ tức phát điên lên. Điều đó như thể chúng chả những đã tập trung vào mình mọi xấu xa, kém cỏi mà còn không nối dõi được bao đức tính quý báu của gia đình. Vậy là cụ quyết định sẽ không một ai được gọi bằng tên Hôsê Accađiô hay tên Aurêlianô. Tuy nhiên, khi Aurêlianô Sêgunđô có con trai đầu lòng và đặt tên cho nó là Hôsê Accađiô thì cụ đã không dám trái ý cậu.


- Được, ta đồng ý - Ucsula nói - nhưng với điều kiện phải để ta nuôi dạy nó.


Dẫu rằng đã là cụ già trăm tuổi và suýt lòa vì màng đã kéo sắp kín con ngươi, nhưng cụ vẫn giữ được thể trạng, sức khỏe, không hề trái thói trái nết và cũng cũng không hề lẫn cẫn. Không ai giỏi bằng cụ trong việc dạy dỗ người đàn ông danh giá có thể khôi phục danh dự của gia đình, một người đàn ông không bao giờ nghe nói đến chiến tranh, đến gà chọi, đến gái điếm, đến các nghề nông nổi, đó là bốn thảm họa, mà theo suy nghĩ của Ucsula, đã dẫn tới sự sụp đổ của dòng họ cụ. "Thằng bé này sẽ trở thành thầy tu" cụ trang trọng hứa. "Và nếu như Thượng đế để ta sống, nó sẽ là Giáo hoàng". Nghe vậy, tất cả đều phá lên cười, không chỉ ở trong phòng mà trong toàn ngôi nhà lúc này đang có mặt những người bạn vui nhộn của Aurêlianô Sêgunđô. Chiến tranh, vì bị lãng quên bởi chính trí nhớ tồi, bỗng nhiên sống dậy trong tiếng mở nút sâm banh.


- Nào, chúng ta chúc mừng sức khỏe Đức Giáo hoàng - Aurêlianô Sêgunđô nâng cốc nói.


Các vị khách mời đồng thanh chúc tụng. Sau đó, chủ nhà chơi phong cầm. Pháo nổ rền và trống khua rộn cả làng. Sáng sớm, những vị khách chuếnh choáng men sâm banh mổ liền sáu con bò cái rồi bày thịt ra đường sẵn sàng mời cả làng cùng dự cuộc vui. Không ai ngạc nhiên. Kể từ khi Aurêlianô Sêgunđô đứng lên trông nom gia đình, những cuộc vui tương tự thế này là chuyện thường tình, mặc dù chúng chưa hề có lý do chính đáng, kiểu như tiệc vui lần này nhằm chúc mừng sự chào đời của một Đức Giáo hoàng. Trong ít năm, anh đã tích cóp được một gia sản thuộc hàng lớn nhất ở vùng đầm lầy mà không cần phải công phu gì lắm, chỉ đơn thuần nhờ vận may, đó là sự sinh sôi cực kỳ mau mắn của các đàn gia súc. Bò cái đẻ sinh ba, gà mái một ngày hai lần đẻ trứng còn lợn thì lớn nhanh như thổi. Không một ai có thể lý giải được sự giàu có dường như là kết quả của phép mầu nhiệm. "Bây giờ phải hà tằn hà tiện" Ucsula bảo thằng chắt tiêu pha như đồ phá hoại, "vận may chẳng theo ai suốt đời đâu". Aurêlianô Sêgunđô không nghe lời cụ. Trong lúc càng mở nút sâm banh thết bạn thì súc vật của anh càng đẻ như điên và anh càng tin rằng cái vận đỏ của mình không khởi sự ở việc làm ăn biết tính toán mà ở ảnh hưởng của Pêtra Côtêt, nhân tình của anh, người có tình yêu đủ sức làm mủi lòng con tạo. Và anh yên lòng rằng đó là cội nguồn của cải của mình, do đó không bao giờ anh để Pêtra Côtêt ở xa đàn gia súc, và ngay cả khi đã cưới vợ và có con, anh vẫn sống với ả trong sự đồng lõa của Phecnanđa. Với thân xác rắn rỏi và vâm váp như thân xác cố nội và ông nội mình, nhưng hơn họ ở tính tình vui vẻ và hồn nhiên, Aurêlianô Sêgunđô hầu như không có đủ thời gian để chăm nom đàn gia súc của mình. Chỉ cần anh mang Pêtra Côtêt đến các chuồng trại, để ả ngồi trên ngựa dẫn ả đi chơi các trang trại là đủ cho súc vật của anh phải sinh con đẻ cái ầm ầm.


Như tất cả các sự vật tốt đẹp từng xảy ra trong cuộc đời dài của mình, số của cải bất kham ấy dường như được con tạo định trước. Ngay trong thời kỳ cuối của chiến tranh, Pêtra Côtêt vẫn phát hành vé xổ số và đôi lúc Aurêlianô Sêgunđô vẫn phải ăn cắp tiền của Ucsula để trang trải mọi tốn kém. Họ thoải mái sống cùng nhau, chả bận tâm gì ngoài việc để đêm nào cũng được làm tình cho tới khi trời sáng, cả trong những ngày cần kiêng cữ. "Cái con đàn bà ấy sẽ làm cho mày phải điêu đứng đấy" Ucsula mắng mỏ thằng chắt anh mỗi khi thấy nó bước vào nhà như kẻ mắc chứng mộng du. "Nó đã làm cho mày ngớ ngẩn, rồi một ngày nào đó ta sẽ thấy mày quằn quại vì đau đớn với con cóc ôm trong bụng đấy". Hôsê Accađiô Sêgunđô, vốn phải mất rất nhiều thời gian mới phát hiện ra việc thằng em trai xỏ mũi mình, không thể hiểu được nỗi đam mê của nó. Anh nhớ Pêtra Côtêt như nhớ một người đàn bà dễ dãi, đúng hơn là ươn lười trên giường, và hoàn toàn nhạt nhẽo đối với tình yêu. Làm ngơ trước những lời mắng mỏ của Ucsula và trước những lời chế giễu của anh mình, Aurêlianô Sêgunđô chỉ nghĩ sẽ gặp được một nghề để anh duy trì ngôi nhà cho Phecnanđa và để chết với nàng, trên nàng và dưới nàng, trong một đêm ái ân cuồng nhiệt. Khi đại tá Aurêlianô Buênđya mở lại xưởng kim hoàn, do niềm vui thanh thản của tuổi già lôi cuốn, thì Aurêlianô Sêgunđô nghĩ rằng nếu theo nghề chế tạo những con cá vàng cũng là điều tốt. Anh ở trong căn phòng nhỏ nực nụa nhiều giờ liền xem những tấm kim loại cứng được ngài đại tá kiên trì rèn đục đã dần trở thành những cái vẩy óng ánh. Anh thấy công việc rất tỉ mẩn mà nỗi nhớ Pêtra Côtêt lại hết sức thôi thúc và da diết, đến mức chỉ ba tuần sau anh đã biến khỏi xưởng. Đó là thời kỳ Pêtra Côtêt đang phát tài bằng việc lấy thỏ treo giải để mở xổ số. Những con thỏ này sinh ra và lớn nhanh như thổi. Chúng nhiều vô kể. Dù có tăng vé và số lần quay lên nhiều lần ả vẫn không dùng hết thỏ vào việc trả thưởng. Thoạt đầu, Aurêlianô Sêgunđô không nhận ra những con thỏ này đã sinh sản như thế nào, nhưng có một đêm, khi không một ai trong làng muốn bàn tán về các cuộc xổ số lấy thỏ, anh cảm thấy có tiếng sấm động ngay bên tường. "Anh đừng có mà giật mình nhé" Pêtra Côtêt nói, "đó là những con thỏ đấy!". Bọn họ không thể ngủ thêm được nữa, băn khoăn trăn trở vì nỗi lo cho đàn gia súc. Vào lúc trời hửng sáng, Aurêlianô Sêgunđô mở cửa và nhìn thấy ở sân lúc nhúc những thỏ là thỏ, lông xanh mượt trong ánh bình minh. Pêtra Côtêt cười ngặt nghẽo, không hể kìm được ý muốn chòng ghẹo anh:


- Đó là những con thỏ vừa sinh ra đêm qua đấy - ả nói.


- Eo ơi, sợ quá! - Anh nói - Vì sao mình không thử với bò cái xem?


Ít ngày sau đó, dọn dẹp lại sân nhà, Pêtra Côtêt nuôi ở sân một con bò cái thay cho đàn thỏ. Vài tháng sau, con bò cái đẻ sinh ba. Mọi sự đều bắt đầu từ đấy. Nhanh như chớp, Aurêlianô Sêgunđô đã trở thành ông chủ, nắm trong tay nhiều ruộng đất và nhiều đàn gia súc và hầu như anh không có đủ thời gian để mở rộng hơn nữa các chuồng và bãi thả chúng. Đó là một sự giàu có ngây ngất mà ngay chính anh cũng phải buồn cười và không thể kiềm chế nổi sự quá trớn để bộc lộ nỗi niềm vui sướng. "Hỡi những con bò cái, hãy giạng háng ra kẻo cuộc đời quá ư ngắn ngủi" anh gào lên. Ucsula tự hỏi không biết anh đã phạm tội gì, nếu không ăn cắp thì cũng thành tên trộm gia súc và cứ mỗi bận thấy anh mở nút sâm banh chỉ để xịt bọt nó lên đầu mình một cách thích thú thì cụ lại chửi bới anh vì tội phá gia chi tử. Cụ không cho anh yên thân lấy một lúc, do đó một hôm, Aurêlianô Sêgunđô thức dậy với niềm vui điềm tĩnh, cầm một sọt tiền giấy, một xô hồ và một chổi phết, hát trong họng những bài hát cũ của cụ Phranxixcô - Con Người, rồi dán những tờ bạc một đồng pêsô lên tường nhà, từ trên xuống dưới, cả bên trong lẫn bên ngoài. Ngôi nhà cũ, vốn được quét vôi trắng từ hồi mua cây đàn pianô tự động, nay có vẻ lạ lẫm, dễ lầm với giáo đường của đạo Hồi. Giữa cảnh gia đình thì lộn xộn, Ucsula thì bực tức, dân làng thì đổ ra đường để chứng kiến cảnh hợm mình của kẻ giầu xổi, Aurêlianô Sêgunđô cũng vừa dán xong đồng tiền cuối cùng, kể từ bức tường mặt tiền đến tận nhà bếp, kể cả cầu tiêu và phòng ngủ, rồi ném số tiền thừa xuống sân.


- Bây giờ thì - anh nói - mong rằng không một ai trong nhà này sẽ xỉ vả ta về tiền bạc nữa.


Chuyện là như thế. Ucsula sai bóc các tờ bạc dính bê bết vôi tường, và quét vôi trắng đè lên. "Hỡi Thượng đế lòng lành" cụ cầu khẩn, "hãy làm cho chúng con lại nghèo như cái thuở mới thành lập làng này, để ở cuộc đời khác ngài khỏi bắt tội chúng con vì đã hoang phí". Những lời cầu khẩn của cụ được nghe theo nghĩa ngược lại. Quả có thế. Một người làm công lột những tờ bạc khỏi tường đã vô ý đụng phải bức tượng thánh Hôsê, một bức tượng thạch cao khổng lồ do một người nào đó đã đem đến nhà vào lúc chiến tranh sắp kết thức, và nó vỡ toang ra khi chạm phải mặt đất. Bên trong nó đựng toàn tiền vàng. Không ai còn nhớ ai đã mang tới nhà bức tượng to gần bằng người thực này. "Ba người đàn ông đã mang nó tới" Amaranta nói. "Người ta nhờ tôi nói lại với nhà ta sẽ trông bức tượng này cho đến khi nào mùa mưa qua đi, và tôi đã bảo họ là hãy đặt ở đấy, trong xó kia, để không ai va chạm phải, và bọn họ đã cẩn thận để nó ở đấy, và nó vẫn nguyên ở đấy, vì chả thấy họ trở lại tìm nó". Gần đây, Ucsula đã thắp nến và quỳ lạy trước bức tượng thánh Hôsê mà không hề nghi ngờ rằng bên trong tượng thánh ấy lại có gần hai trăm kilô vàng. Sự hiển linh muộn màng của lòng tin đa thần giáo trong cụ càng khoét sâu thêm nỗi lo lắng của cụ. Ucsula nguyền rủa đống tiền vàng đáng giá này, nhét chúng vào ba bao tải gai, rồi chôn chúng ở một nơi kín đáo để chờ ba người lạ mặt sẽ đến đòi nó. Mãi về sau này, trong những năm tháng vất vả của tuổi già, Ucsula vẫn thường xen vào cuộc chuyện trò của khách lạ đến nhà, để hỏi rằng trong lúc loạn lạc họ có gửi bức tượng thánh Hôsê bằng thạch cao nhờ gia đình trông hộ trong thời kỳ mưa gió không?


Những sự kiện ấy, vốn thường làm cho Ucsula lo lắng nhiều, lại là chuyện thường tình trong thời kỳ này. Macônđô bị chìm ngập trong sự tàn phá mầu nhiệm. Những ngôi nhà tranh vách đất của các bậc sáng nghiệp giờ đây được thay thế bằng nhà gạch, sàn láng xi măng và có rèm chắn nắng đan bằng những phiến gỗ nhỏ. Chúng làm cho bầu không khí vốn đã nóng càng oi nóng hơn vào lúc hai giờ chiều. Cái làng cũ của cụ Hôsê Accađiô Buênđya lúc này chỉ còn lại những cây hạnh đào phủ đầy bụi, sẵn sàng chịu đựng những hoàn cảnh còn khó khăn hơn nhiều, và con sông nước trong như pha lê mà những tảng đá thời tiền sử của nó đã bị đập vỡ thành từng mảnh vụn dưới sức nện điên cuồng những cú búa quai xuống của Hôsê Accađiô Sêgunđô, khi anh khởi sự công việc nạo vét lòng sông để thiết lập đường thủy trên nó. Đó là một giấc mơ khùng khùng, điên điên có thể so sánh với những mơ ước của các vị tiền bối mình, bởi lòng sông ngổn ngang đá tảng, cùng các thác ghềnh, đã ngăn cản sự đi lại bằng thuyền bè từ Macônđô ra biển. Nhưng Hôsê Accađiô Sêgunđô, trong cái táo bạo thiếu tính toán, vẫn lao vào công việc. Cho đến lúc này anh vẫn chưa bộc lộ khả năng tính toán của mình. Ngoại trừ mối tình ngắn ngủi với Pêtra Côtêt, chưa bao giờ anh gần gũi phụ nữ. Ucsula coi anh là điển hình cho sự kém thông minh mà gia đình mình, trong lịch sử trường tồn của nó, đã sản sinh ra. Anh hầu như không có khả năng tự làm nổi bật mình ngay cả khi đã là người nổi tiếng chơi gà chọi. Khi đại tá Aurêlianô Buênđya kể cho nghe về chiếc tàu Tây Ban Nha nằm cách biển mười hai kilômét, mà mạn tàu của nó bị hóa thành than đã được chính mắt ngài nhìn thấy hồi chiến tranh, thì câu chuyện này đối với người khác trong thời gian dài có vẻ ma quái nhưng với anh lại là điều dễ hiểu. Anh bán hết gà chọi với giá cao nhất, tập hợp trai làng và bỏ tiền ra mua cưa đục rồi khởi sự công việc to lớn gồm việc phá đá, khoét lòng sông bạt ghềnh, vượt thác… "Cái đó thì ta biết tỏng" Ucsula nói. "Cứ như thể thời gian chạy vòng tròn và giờ đây chúng ta trở lại từ đầu". Khi tin chắc có thể cho tàu bè đi lại trên sông được, Hôsê Accađiô Sêgunđô liền trình bày tỉ mỉ các kế hoạch của mình và người em đã cho ông anh đủ số tiền chi dùng cho công việc. Anh vắng mặt một thời gian dài. Người ta đang bàn tán rằng kế hoạch mua tàu thủy của anh chỉ là thủ đoạn để lấy tiền của ông em thôi, thì cũng là lúc một tin được lan truyền rộng rãi: có chiếc thuyền đang tiến về gần thị trấn. Dân Macônđô, vốn đã quên khuấy những kỳ tích của cụ Hôsê Accađiô Buênđya, ồn ào kéo nhau ra bờ sông và với con mắt nghi ngờ họ nhìn thấy một con tàu đang từ từ trôi đến. Đó là con tàu đầu tiên và cũng là cuối cùng đã cập bến ở đây. Thực ra nó chỉ là một bè gỗ được hai mươi người đàn ông đi bộ dùng dây chão to hò nhau kéo đi. Đứng ở cuối thuyền, với ánh mắt sáng và hương mặt đầy hào hứng, Hôsê Accađiô Sêgunđô điều khiển chuyến đi tốn kém này. Cùng về với anh còn có một tốp gái làng chơi diêm dúa đội những chiếc ô lộng lẫy để che ánh nắng gay gắt, trên vai quàng những tấm khăn lụa quý giá, mặt trét bự son phấn, đầu gài hoa, những con rắn vàng cuốn lấy cánh tay và hàm răng cấy hạt ngọc. Cái bè gỗ ấy là phương tiện giao thông duy nhất mà Hôsê Accađiô Sêgunđô có thể đẩy ngược dòng về tới thị trấn Macônđô, và cũng chỉ một lần ấy thôi. Nhưng sẽ không bao giờ anh chịu thừa nhận đó là sự thất bại của mình trong sự khởi đầu, mà trái lại, lúc nào cũng tuyên bố đó là một chiến tích, và hơn thế, là "một thắng lợi của ý nguyện". Anh trút lên vai cậu em mọi tốn kém của hành trình đã được tính toán chi li. Cái duy nhất đáng nói trong sự kiện này là luồng gió mới do những gái làng chơi theo mốt Pháp mang đến thị trấn. Nghệ thuật chiều chuộng đàn ông tuyệt vời của họ đã làm thay đổi lối chơi gái truyền thống của đàn ông cả làng, và ý nghĩa phúc lợi xã hội của nó đã đánh đổ tiệm bác Catarinô, biến đường phố thành cái chợ chung với những ngọn đèn pha kiểu Nhật Bản và những chiếc máy hát phát ra những bản nhạc buồn nhớ. Họ là động lực cổ vũ ngày hội Cacnavan đẫm máu từng dìm Macônđô trong sợ hãi liền ba ngày và kết quả duy nhất mãi mãi còn lại là việc nó tạo điều kiện cho Aurêlianô Sêgunđô làm quen với Phecnanđa đên Cacpiô.


Rêmêđiôt - Người đẹp được chọn làm hoa hậu. Ucsula, từng run sợ trước sắc đẹp mê hồn của cô chắt gái, không thể làm gì để ngăn cản việc tuyển chọn này. Cho đến tận lúc ấy cụ vẫn tìm mọi cách để không cho cô ra đường, nếu như không phải đi lễ misa cùng với Amaranta, nhưng buộc cô phải dùng tấm mạng đen che kín mặt. Những người đàn ông ít thành kính, những kẻ giả danh thầy tu để làm lễ misa bất kính ở tiệm bác Catarinô, đi nhà thờ với mục đích duy nhất để xem, dù chỉ một thoáng thôi, khuôn mặt của Rêmêđiôt - Người đẹp, mà nhan sắc huyền thoại của nàng đã, đang và sẽ mãi mãi được tán tụng khắp vùng đầm lầy, có thể còn vượt xa nữa mà họ không biết. Chuyện ấy xảy ra khá lâu trước khi họ tìm được dịp và đối với họ, cái dịp này còn quan trọng hơn, bởi vì rất nhiều người trong số họ sau khi chiêm ngưỡng nhan sắc của Rêmêđiôt - Người đẹp, đã không bao giờ lấy lại được giấc ngủ bình an. Cái người đã có thể tạo nên dịp ấy là một kẻ lạ mặt, đã vĩnh viễn đánh mất cái thanh thản của tâm hồn mình, đã rơi vào tâm thế trầm tư mặc tưởng và đau khổ dễ bị kích động, và mấy năm sau đã bị tàu hỏa nghiến nát vì ngủ quên trên đường ray… ngay lúc thấy chàng tại nhà thờ trong bộ quần áo nỉ trắng xanh, thì không một ai nghi ngờ rằng chàng là người lạ mặt đã từ phương xa, có thể là một thành phố cổ xưa nào đó tít trong nội địa, tới đây do bị cám dỗ bởi sắc đẹp của Rêmêđiôt - Người đẹp. Chàng rất đẹp trai, hào hoa và nhã nhặn, thân thể cân xứng hài hòa đến mức nếu Piêtrô Crêspi có ở bên cạnh thì cũng chỉ là một kẻ ốm yếu hom hem. Rất nhiều phụ nữ thì thầm với nhau trong lúc mỉm cười buồn bã rằng chàng mới là người xứng đáng với cô gái. Chàng không đi lại với ai ở Macônđô. Chàng đến vào sáng sớm chủ nhật, giống như một hoàng tử trong truyện cổ tích cưỡi trên lưng chú ngựa thắng bộ yên nỉ và bàn đạp bằng bạc, rồi chàng lại đi khỏi làng sau lễ misa.


Đó là tư thế hiện hữu của chàng, vì với tư thế đó, ngay từ hôm đầu tiên thấy chàng ở nhà thờ, mọi người đều đồng ý với nhau rằng đó là một đám tang thầm lặng và nặng nề, một cú giao kèo bí mật, một nỗi thất vọng ê chề mà kết quả của nó không thể là tình yêu giữa chàng và Rêmêđiôt - Người đẹp, mà phải là cái chết. Đến lần thứ sáu có mặt ở nhà thờ vào các chủ nhật, chàng công tử xuất hiện tay cầm bông hồng vàng. Chàng đứng nghe kinh misa, như lâu nay vẫn đứng như thế, rồi khi kết thúc lễ, chàng chặn bước Rêmêđiôt - Người đẹp và tặng cô bông hồng đơn lẻ trên tay. Với vẻ tự nhiên, cô nhận bông hoa, như thể cô đã được chuẩn bị sẵn để đón nhận sự dâng tặng ấy, rồi ngay lập tức, trong chớp mắt cô vén mạng để lộ khuôn mặt, và mỉm cười cám ơn chàng. Đó là tất cả những gì cô làm. Nhưng cái phút chớp nhoáng ấy là một khoảnh khắc bất tử không những đối với chàng công tử mà còn đối với tất cả những người đàn ông có vinh hạnh được sống cái khoảnh khắc nhức nhối ấy.


Từ sau hôm đó, công tử lập ban nhạc ngay cạnh cửa sổ phòng Rêmêđiôt - Người đẹp, và đôi khi ban nhạc chơi cho đến sáng hôm sau. Aurêlianô Sêgunđô, người duy nhất đồng cảm với chàng, còn định làm cho chàng tỉnh mộng. "Không nên mất thời gian thêm nữa" anh nói với chàng vào một đêm nọ. "Con gái nhà này còn ngu hơn cả lừa đấy". Anh kết thân với chàng, mời chàng cùng tắm trong sâm banh, cố làm cho chàng hiểu con gái nhà này có "lòng dạ sắt đá" nhưng không lay chuyển được chàng. Khó chịu trước những đêm nhạc kéo dài không dứt, ngài đại tá Aurêlianô Buênđya đã đe dọa dùng báng súng để chữa cho chàng nhạc trưởng cái bệnh tương tư. Song chẳng gì có thể buộc chàng từ bỏ mối tình si ấy, ngoại trừ tình trạng loạn trí đáng thương của chính mình. Từ một người đàn ông hào hoa và đứng đắn, chàng trở nên xấu tính và rách rưới. Người ta đồn rằng chàng đã từ bỏ quyền lực và của cải ở quê hương xa xôi của mình, mặc dù trên thực tế không một ai biết đích xác nguồn gốc của chàng. Chàng trở thành người hay cãi vã, người chạy bàn trong các quán giải khát, và rồi một hôm chàng thức dậy, đầm đìa cứt đái của chính mình ngay trong tiệm bác Catarinô. Điều đáng buồn nhất trong tấm thảm kịch của chàng là Rêmêđiôt - Người đẹp không bao giờ buồn để ý đến, ngay cả khi chàng xuất hiện trong tư thế hoàng tử ở nhà mình. Nàng thản nhiên nhận bông hồng vàng không hề có ý xấu mà đúng hơn còn thích thú trước cử chỉ quá ư hào phóng của chàng, và nàng vén tấm mạng lên cốt để nhìn rõ mặt chàng chứ đâu phải để chàng nhìn thấy mặt mình.


Thực ra, Rêmêđiôt - Người đẹp không phải là người thuộc cõi thế tục này. Cho đến khi cô đã quá tuổi dậy thì khá lâu, Santa Sôphia đê la Piêđat vẫn còn phải tắm và mặc quần áo hầu cô, và ngay cả khi cô đã có ý thức về mình rồi bà vẫn cứ phải để mắt canh chừng kẻo cô lấy cứt mình vẽ những con vật lên tường nhà. Hai mươi tuổi đầu rồi mà cô vẫn chưa học đọc và học viết, vẫn chưa ngồi vào bàn ăn và tự dùng lấy thìa nĩa, vẫn cứ để truồng thỗn thện đi lại trong nhà, bởi vì bản thể con người cô không chịu được bất cứ hình thức lễ nghi nào. Khi người chỉ huy trẻ tuổi của đội gác thổ lộ tình yêu với cô thì cô đã đơn giản cự tuyệt, vì những lời nói nông nổi của anh khiến cô quá đỗi ngạc nhiên. "Bà thấy chưa, sao mà anh chàng ấy ngốc thế" cô nói với Amaranta. "Anh chàng bảo cháu là anh chàng đang chết vì cháu, làm như thể cháu là thứ bệnh thổ tả không bằng". Khi thấy anh ta quả nhiên chết bên cửa sổ phòng mình, Rêmêđiôt - Người đẹp đã khẳng định lại cảm giác lúc ban đầu:


- Bà thấy chưa - cô nói vẻ bình phẩm - anh chàng quả là ngốc thật.


Dường như có một sự thông minh sắc bén nào đó đã cho phép cô gái nhìn ra bản chất các sự vật ẩn sau bất kỳ hiện tượng nào. Theo cách nhìn của đại tá Aurêlianô Buênđya thì Rêmêđiôt - Người đẹp không phải là người chậm phát triển trí tuệ như người ta vẫn tưởng, mà hoàn toàn ngược lại. "Nó cứ như người vừa trở về sau hai mươi năm lăn lộn trong chiến tranh" ngài vẫn thường nói vậy. Về phần mình, Ucsula cảm tạ Thượng đế vì Ngài đã thưởng cho gia đình cụ một cô gái cực kỳ trong trắng, nhưng đồng thời cụ lại lo âu trước sắc đẹp ấy của nó, bởi cụ cho đó như là một lực lượng siêu nhiên đầy mâu thuẫn, một cạm bẫy của quỷ dữ nằm ngay giữa cái thiện chân. Vì thế mà cụ quyết tách cô ra khỏi cuộc sống, bảo vệ cô trước mọi ý muốn trần tục mà đâu hay rằng Rêmêđiôt - Người đẹp đã được miễn dịch trước mọi thói xấu của người đời ngay từ trong bụng mẹ. Chưa bao giờ cụ nghĩ rằng người ta sẽ chọn cô chắt gái của mình làm hoa hậu ngự trị nơi trung tâm vũ hội Cacnavan. Nhưng Aurêlianô Sêgunđô, rất thích thú được trá hình con hổ, đã mời cha Antôniô Isaben về nhà để thuyết phục cố nội mình rằng vũ hội Cacnavan không phải là một ngày hội đa thần giáo mà là ngày hội truyền thống của đạo Thiên chúa. Cuối cùng, tuy còn đầy hậm hực, cụ phải nghe theo lời cha xứ đồng ý để người ta phong hoa hậu cho cô chắt gái mình.


Tin đồn Rêmêđiôt Buênđya sẽ làm chủ ngày hội nhanh chóng lan đi khắp vùng đồng lầy, bay tới tận những hang cùng ngõ hẻm vốn là nơi sắc đẹp lừng danh của cô vẫn chưa được biết tới và gây nên nỗi lo lắng cho những ai đến lúc này còn nghĩ rằng tên họ của cô là biểu tượng cho sự bại hoại. Đó là một nỗi lo không có cơ sở. Nếu có ai trong lúc này không còn đáng lo ngại nữa thì đó chính là ngài đại tá Aurêlianô Buênđya, một cụ già buồn bã, ngày một để mất dần mối liên hệ giữa mình với thực tại đất nước. Giam mình trong xưởng kim hoàn, mối liên hệ duy nhất của ngài với bên ngoài chính là việc buôn bán những chú cá vàng. Một trong số những người lính từng canh gác ngôi nhà đại tá khi hòa bình mới lập lại, ngày ngày đi tới các làng lân cận bán cá vàng và trở về với tiền bạc và tin tức. Có tin rằng chính phái Bảo hoàng, được sự giúp đỡ của phái Tự do, đã làm lại luật pháp để mỗi vị Tổng thống có quyền giữ ngôi trong khoảng trăm năm. Có tin rằng một thỏa ước với tòa thánh Vatican đã được ký kết và rằng một Hồng y Giáo chủ đội vương miện lấp lánh kim cương, cưỡi trên ngai bằng vàng cũng đã từ thành Rôma đến và các vị Bộ trưởng thuộc phái Tự do đã cho chụp ảnh buổi lễ họ quỳ gối hôn lên chiếc nhẫn của ngài. Còn có tin rằng cô đào chính của một gánh hát Tây Ban Nha, trong đêm nghỉ lại ở thủ đô đã bị một toán đeo mặt nạ bắt cóc trong phòng ngủ và ngay ngày chủ nhật cô ta đã khỏa thân khiêu vũ ở nhà nghỉ mát của ngài Tổng thống nước Cộng hòa. "Chớ có nói chuyện chính trị với ta" ngài đại tá quát tên lính, "vấn đề của chúng ta là làm ra và bán hết những con cá vàng". Lời đồn đại nói rằng sở dĩ ngài đại tá không muốn hay biết gì về hoàn cảnh đất nước là vì ngài đã làm giàu nhờ xưởng kim hoàn của mình, khi đến tai Ucsula đã khiến cụ phải bật cười. Với cảm quan thực tế sắc nhạy của mình, cụ không thể hiểu được việc kinh doanh của ngài đại tá hết đổi những con cá vàng lấy những đồng tiền vàng, để rồi sau đó lại biến những đồng tiền vàng thành những con cá vàng, và cứ như thế luân hồi mãi theo cách thức phải lao động nhiều hơn khi bán được nhiều hơn để thỏa mãn cái vòng luẩn quẩn vô vọng. Quả như thế, đối với đại tá, điều khiến ngài thích thú là lao động chứ không là kinh doanh. Ngài phải tập trung tâm tưởng đến cao độ để xếp các vây, để khảm con ngươi vàng bé tí hin vào đôi mắt, để dát mỏng các vảy trước vảy sau, để cắm đuôi cho cá, nên đầu óc không còn chỗ trống để nỗi thất vọng vì chiến tranh lẩn vào. Cái nghề nghiệp kỳ khu tỉ mẩn đòi hỏi phải dốc hết trí lực đã làm cho ngài già khọm đi, nhanh hơn tất cả những năm tháng chinh chiến gian lao cộng lại, tư thế ngồi làm việc đã vặn cong sống lưng ngài và con ngươi mắt ngài đã mờ đi mất hết sức nhìn. Bù lại, sự tập trung cao độ trong công việc đã trọng thưởng ngài, cho ngài một tinh thần thanh thản. Lần cuối cùng người ta thấy ngài quan tâm tới một vài vấn đề có liên quan đến chiến tranh, ấy là khi các cựu chiến binh của cả hai chính đảng đã cầu viện sự giúp đỡ của ngài để đòi chính phủ phải thông qua lương hưu chiến tranh, một thứ lương luôn luôn được hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn ở tình trạng khởi sự nghiên cứu. "Các vị hãy quên quách nó đi" ngài nói. "Các vị thấy đấy, ta đã từ chối nó để tránh phải đau khổ trong mỏi mòn trông đợi cho đến chết". Lúc đầu, đại tá Hêrinênđô Mackêt đến thăm ngài vào tất cả các buổi chiều, cả hai ngồi ở cửa nhìn ra đường để cùng nhớ lại quá khứ của mình. Nhưng Amaranta đau khổ vì không thể ghìm nổi những kỷ niệm xưa được gợi lại do chính người đàn ông mệt mỏi mà cái đầu hói đã đẩy ông ta vào vực sâu của sự già trước tuổi, nên bà đã làm khổ ngài bằng những cái không đâu, cho đến khi ngài chỉ đến chơi nhà vào những dịp đặc biệt, rồi thì không đến nữa, vì bệnh bại liệt đã buộc ngài phải nằm yên một chỗ. Lầm lì, lặng lẽ, không hề nhận ra luồng gió mới đầy sinh khí đang lộng thổi trong nhà mình, ngài đại tá Aurêlianô Buênđya hầu như mới chỉ hiểu được rằng cái bí mật của một tuổi già bình yên không phải là cái gì khác mà chính là sự gắn bó sâu sắc với cái cô đơn. Ngài thức dậy vào lúc năm giờ sáng sau khi ngủ giấc ngủ chập chờn, uống tách cà phê không đường vốn gắn với cả đời ngài, sau đó tự giam mình trong xưởng kim hoàn, rồi đến bốn giờ chiều, ngài kéo lê chiếc ghế đẩu dọc theo hành lang mà không hề nhìn vườn hồng đỏ rực hoa, không hề để ý tới vẻ kiên nhẫn đầy nghị lực của Amaranta mà nỗi buồn của bà đang dõi theo thứ tiếng động kêu u u được cảm nhận vào lúc chiều xuống, rồi ngài ngồi ở trước cửa nhìn ra đường cho tới khi muỗi đốt dữ dội mới thôi. Đôi lúc mới có người nào đó dám làm khuấy động nỗi cô đơn của ngài.


- Có khỏe không, ngài đại tá? - Họ hỏi ngài khi đi qua.


- Vẫn thế - ngài thong thả đáp - Tôi đang đợi đám tang của mình đến.


Vậy là nỗi lo ngại được gây nên bởi sự xuất hiện lại một cách công khai của họ Buênđya qua việc phong hoa hậu cho Rêmêđiôt - Người đẹp đã mất đi những cơ sở thực tiễn của nó. Tuy nhiên, rất nhiều người không tin như vậy. Ngây thơ trước thảm họa đe dọa mình, dân chúng ào ạt đổ xô về quảng trường trong niềm vui ồn ĩ khôn xiết kể. Vũ hội Cacnavan đã đạt tới đỉnh cao cuồng nhiệt, còn Aurêlianô Sêgunđô thỏa chí với việc mình giả dạng con hổ, sung sướng đi giữa đám đông tự buông thả mà gào mà hát tới khản cả cổ họng. Ngay khi đó, trên con đường từ đầm lầy dẫn vào thị trấn xuất hiện một đoàn người giả trang đủ màu đủ vẻ, rước cỗ kiệu thếp vàng trên đó có một cô gái đẹp rực rỡ đến mức không ai dám nghĩ tới. Những cư dân hiền lành của thị trấn Macônđô cùng lúc gỡ bỏ mặt nạ để có thể nhìn rõ hơn cô gái lộng lẫy trong chiếc vương miện gài ngọc bích và chiếc áo khoác bằng lông điểu thử, dường như là một hoàng hậu đích thực chứ không phải là một hoa hậu trong vũ hội giả trang Cacnavan. Không thiếu những ai có lý trí sáng suốt đủ để nghi ngờ rằng đoàn người lạ kia muốn khiêu khích. Nhưng Aurêlianô Sêgunđô đã ngay lập tức vượt qua tình trạng rắc rối phức tạp này, hét to lên rằng đó là khách mời danh dự, rồi anh trịnh trọng đặt Rêmêđiôt - Người đẹp và hoàng hậu đóng giả cùng ngồi trên đài cao. Đến nửa đêm, đám lạ mặt giả trang người Bơđuyn(1) bắt đầu tham gia các trò vui ngây ngất của đêm hội, và họ đã khiến cuộc vui thêm phong phú với thuật hỏa công rực rỡ và cả các trò ảo thuật leo dây khiến đám người già nhớ tới các trò chơi mầu nhiệm của người Digan. Bỗng nhiên, đúng lúc đêm hội đang náo nhiệt nhất, thì một ai đó đã phá vỡ không khí hội hè đầm ấm.


- Đảng Tự do muôn năm!- Người ấy hô lớn - Đại tá Aurêlianô Buênđya muôn năm!


Những tràng súng đã dập tắt ánh sáng rực rỡ muôn màu của pháo hoa, những tiếng kêu thất thanh đầy hoảng sợ đã bóp nghẹt âm nhạc rộn ràng, và nỗi sợ hãi đã xua tan niềm vui. Nhiều năm sau dư luận vẫn tiếp tục khẳng định rằng đội lính hoàng gia bảo vệ hoàng hậu đóng giả là một trung đội lính thường trực giấu vũ khí bên dưới bộ áo đẹp đẽ của người Bơđuyn. Trong một thông cáo đặc biệt chính phủ phản đối dư luận đó và hứa sẽ tiến hành điều tra vụ đổ máu này. Song sự thật sẽ chẳng bao giờ sáng tỏ nổi, còn lời giải thích rằng đội cận vệ hoàng gia không hề có biểu hiện khiêu khích nào, đã tác chiến theo mệnh lệnh của viên chỉ huy và đã nổ súng không thương tiếc vào đám đông thì vẫn dai dẳng tồn tại mãi. Khi trật tự lập lại, cả thị trấn bỗng chốc không còn bóng dáng một người Bơđuyn giả dạng nào, trên quảng trường còn lại những kẻ bị thương và những xác chết, trong đó có ba thằng hề, bốn người đóng vai Côlông, mười bảy hoàng đế, một con quỷ, ba nhạc công, ba hoàng hậu Nhật Bản. Trong lúc hỗn độn, Hôsê Accađiô Sêgunđô đã kịp cứu thoát Rêmêđiôt - Người đẹp và Aurêlianô Sêgunđô kịp ôm lấy cô gái đóng giả hoàng hậu với váy viếc xộc xệch, chiếc áo khoác lông điểu thử đẫm máu, để chạy trốn. Cô gái tên là Phecnanđa đên Cacpiô. Người ta đã chọn cô trong số năm ngàn cô gái đẹp nhất nước và mang cô đến Macônđô với lời hứa sẽ phong cô là hoàng hậu xứ Mađagasca. Ucsula chăm sóc cô như chăm sóc con gái mình. Dân làng, đáng lẽ sẽ hoài nghi vẻ ngây thơ thì lại thương hại đức tính chân thực của cô gái. Sáu tháng sau vụ thảm sát, khi những người bị thương đã bình phục hẳn và những bông hoa cuối cùng để ở phần mộ chung đã héo, Aurêlianô Sêgunđô lên đường đi tìm Phecnanđa đên Cacpiô ở một thành phố xa xăm, nơi cô đang sống với cha mình, rồi sau đó cưới cô ở thị trấn Macônđô trong một tiệc vui ồn ĩ kéo dài suốt hai mươi ngày.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







1.  Người Arập du cư sống trong nước hoặc ở Xiri, ở châu Phi xích đạo.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
xem thêm »