tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28949732
Lý luận phê bình văn học
19.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (45)


a.       Những người chịu khổ hạnh.


Cách thứ nhất ở đấy tinh thần biểu lộ sự có mặt của mình ở trong chủ thể con người đó là ở chỗ con người phản ánh ở trong bản thân mình, như ở trong một tấm gương cái quá trình có tính chất thần linh bằng cách trải qua cuộc đời vĩnh viễn của Chúa. Ở đây, sự hòa giải tích cực trực tiếp đã nhắc đến ở trên biến mất, vì con người phải đạt đến sự hòa giải này bằng cách chiến thắng tính hữu hạn của mình. Tình cảm về tính thấp hèn của con người, do đó, được nhấn mạnh và nhiệm vụ duy nhất, cao nhất mà con người phải làm, đó là chiến thắng tình trạng thấp hèn này và giải phóng tình cảm nhục nhã này.


(a)      Nội dung chân thực của lĩnh vực này là chịu đựng một cách anh dũng những hình phạt nghiêm khắc nhất, tình nguyện chịu mọi sự từ bỏ, hi sinih, thiếu thốn; qua mọi sự thiếu thốn đau khổ, hành hạ, dằn vặt, tâm hồn được hoán cải ở bên trong và cảm thấy nó hợp nhất, thỏa mãn, hạnh phúc ở trong bầu trời của nó. Mặt phủ định này của đau khổ trở thành một mục đích tự nó ở trong khổ hạnh, và trình độ hoán cải được đo bằng những điều đau khổ mà con người đã chịu đựng và những khổ sở mà anh ta đã trải qua. Điều đầu tiên có thể phủ định ở trong nội tâm của con người hãy còn chưa bộc lộ hết đó là tồn tại tự nhiên, đời sống của nó, sự thỏa mãn những đời hỏi cấp bách nhất, quan trọng nhất. Đối tượng quan trọng nhất góp phần vào việc làm cho con người thoát khỏi cuộc sống với những đòi hỏi và những như cầu được thỏa mãn, vào việc làm quen với đau khổ và khổ cực – những cái này cuối cùng được xem là một nguồn vui – đó là những khổ hình mà con người phải chịu hoặc do bọn thù địch và những kẻ lo tiêu diệt đức tin gây nên, hoặc bằng cách từ mình gây nên và sáng tạo, độc lập đối với mọi hoàn cảnh. Trong trường hợp thứ nhất cũng như trong trường hợp thứ hai, con người trong trái tim cuồng nhiệt vào sự khổ hạnh chấp nhận những điều xảy ra không phải như một bất công, mà như là một diễm phúc, như là phương tiện duy nhất để chiến thắng cái xác thịt, con tim và tâm hồn và để hòa giải với Thượng đế.


Nhưng bởi vì sự hoán cải nội tâm ở trong những hoàn cảnh mà chúng ta nói ở đây chỉ có được bằng sự lăng nhục, bằng những hình phạt  và những điều đau khổ bắt xác thịt phải chịu, cho nên hiển nhiên là vấn đề tình cảm cái đẹp dễ dàng bị xúc phạm; vì vậy những đề tài của lĩnh vực này là một tài liệu rất nguy hiểm cho nghệ thuật. Thực vậy, một mặt, các cá nhân phải được biểu hiện là những người mang dấu vết của sự tồn tại trần thế, chìm đắm trong tính hữu hạn và tính tự nhiên ở một mức độ cao hơn nhiều so với lịch sử truyện Giêxu bị hình phạt; và mặt khác, những sự hành hình  và những điều dã man không thể tưởng tượng, việc chặt tay chặt chân, dùng nhục hình, đốt vào lửa thiêu dần, bỏ vào vạt dầu, đặt trên bánh xe, chết trong hỏa đài v.v… tự bản thân là những biện pháp xấu xa, thô bỉ, hèn hạ, xa lạ đối với cái đẹp đến nỗi không thể dùng làm đề tài cho bất kỳ một nghệ thuật nào lành mạnh. Nghệ sĩ có thể thực hiện một tác phẩm tuyệt mỹ về một đề tài về loại này nhưng trong trường hợp này, cái hứng thú gây nên bởi sự thể hiện tuyệt mỹ, bao giờ cũng chỉ liên quan tới cái mặt chủ quan, mặt này mặc dầu có trả lời những đòi hỏi của nghệ thuật nhưng dù có cố gắng thực hiện một sự nhất trí tuyệt mỹ với cái tài liệu không thích hợp thì cũng chỉ hoài công mà thôi.


(b)      Vì vậy, sự thể hiện quá trình tiêu cực này còn cần đến một yếu tố khác nữa vượt ra ngoài những hình phạt của thể xác và tâm hồn và hướng về sự hòa giải khẳng định. Đó là sự hòa giải bên trong của tâm hồn, mục đích và kết quả của những điều khủng khiếp đã phải chịu đựng. Về mặt này, những người khổ hạnh là những người giữ cái yếu tố thần linh, bảo vệ nó chống lại sự tàn nhẫn của sức mạnh bên ngoài và tình trạng dã man của thái độ không tin Chúa. Để lên cái thế giới thần tiên, họ chịu đựng đau khổ và chấp nhận cái chết, vì vậy ở họ phải biểu lộ tinh thần dũng cảm, sức mạnh, sự kiên nhẫn và hăng hái. Song nội cảm này của lòng tin và cái đẹp tinh thần của tình yêu không phải là tình trạng mạnh khỏe về tinh thần được bộc lộ qua tất cả cơ thể, trái lại đây là một cảm nghĩ bên trong do đau khổ mà sinh ra, và ngay trong tình trạng hoán cải vẫn ở trong một bầu không khí đau khổ làm thành yếu tố chủ yếu thực sự.


Đặc biệt, hội họa thường lấy những đề tài về lòng mộ đạo như vậy để miêu tả. Nhiệm vụ chính của họ là thể hiện tình trạng hoang lạc mà những người chịu khổ hình tìm thấy ở trong hoàn cảnh xác thịt của họ bị hành hình, bằng cách nêu bật ở các nét của gương mặt trong cái nhìn v.v… tinh thần nhẫn nại, sự chiến thắng đau khổ, niềm vui họ cảm thấy khi nhận thấy tinh thần Thượng đế sống ở trong họ. Trái lại, khi điêu khắc muốn thể hiện một nội dung tương tự, thì nó không có khả năng thể hiện trình độ sâu sắc của tình cảm tập trung dưới hình thức tinh thần hóa bằng hội họa, nó bắt buộc phải nhấn mạnh những nét đã bị méo mó trong đau khổ bởi vì những nét này bộc lộ cụ thể hơn cả trong thể xác.


(c)      Thứ ba, bằng cách hi sinh mình, quên mình và chịu đựng, người chịu khổ hạnh không những tìm các thoát ra khỏi sự tồn tại tự nhiên và tính hữu hạn trực tiếp, mà chủ yếu lo hướng tâm hồn mình về phía thượng giới đến trình độ hủy bỏ ở mình tất cả những gì thực sự của con người, tất cả những gì gắn liền y với thế giới, thậm chí phá vỡ những mối liên hệ đạo đức và có tính chất trí tuệ. Thực vậy, tinh thần ở đây trong khi càng cố gắng làm cho mình tràn đầy sự sống của ý niệm bằng cách quay trở về bản thân lại tỏ ra thiếu học thức. Những phương tiện mà lòng mộ đạo say sưa thúc đẩy nó sử dụng để chống lại tất cả những gì (do bản chất hữu hạn của nó) đối lập lại tính vô hạn của tính tôn giáo ở bản thân là đơn giản, càng tỏ ra là dã man và trừu tượng. Nó chống lại cái tình cảm của con người, chống lại các xu hướng đạo đức, chống lại những đòi hỏi, những thiên hướng, những nhiệm vụ, những đòi hỏi của con tim. Lúc này đời sống đạo đức trong gia đình, những mối liên hệ về tình bạn về máu mủ, tình yêu, quốc gia, nghề nghiệp, tất cả những điều đó đều thuộc về cái thế giới trần tục. Bởi vì ở đấy những điều trần tục vẫn còn chưa thấm nhuần những quan niệm tuyệt đối của đức tin và chưa được nâng lên tới sự thống nhất và sự hòa giải với các quan niệm này, cho nên nội tâm trừu tượng của tâm hồn kẻ tin đạo, cho những điều đó đều không đáng được đưa vào phạm vi những tình cảm và nhiệm vụ, cho nên lòng mộ đạo cho chúng trái lại là không có giá trị, thù địch, và có hại.


Cái thể hữu cơ về mặt đạo đức của thế giới con người được xem là không đáng chú ý tới, bởi vì các phương diện và các nhiệm vụ của nó vẫn chưa được xem là những khâu cần thiết và chính đáng ở trong cái chuỗi của một thực tế hợp lý ở bản thân nó, là nơi không mặt nào được phép có một trình độ độc lập cô độc, trái lại vật nào cũng phải được xét với tính cách một yếu tố có giá trị và không bị gạt bỏ. Trong quan hệ này, bản thân sự hòa giải mang tính tôn giáo ở đây vẫn là trừu tượng và bộc lộ ở trong cái cảm nghĩ đơn giản bên trong thành một đức tin mạnh mẻ, không mở rộng; đây là lòng mộ đạo của một tâm hồn cô độc hãy còn chưa đạt tới một niềm tin tưởng phổ biến và đầy đủ, mọi sự tin cậy hợ lý và bao quát tất cả ở trong bản thân mình. Khi một tâm hồn có một sức mạnh như vậy vẫn khăng khăng duy trì thái độ tiêu cực này đối với thế giới và thoát ly khỏi thế giới bằng cách bẻ gẫy mọi liên hệ nhân tính dù là những liên hệ dầu tiên và vững chắc nhất thì nó tỏ ra là tàn nhẫn và có một thái độ dã man mà chúng ta cần phải tránh.


Xét theo quan điểm ý thức hiện nay của chúng ta, chúng ta có thể tôn trọng và đánh giá cao những mầm mống của tính tôn giáo trong những miêu tả như vậy. Nhưng khi lòng mộ đạo đi đến chỗ phủ nhận những điều hợp lý và đạo đức thì chúng ta bắt buộc không thể nào có thiện cảm với một thái độ ngoan đạo và mâu thuẫn với tính tôn giáo bỡi vì nó gạt bỏ, phá hoại và chà đạp tất cả những điều mà chúng ta cho là chính đáng và thiêng liêng. Có nhiều truyền thuyết, câu chuyện và bài thơ liên quan tới đề tài này. Chẳng hạn chúng ta có câu chuyện một gig rất yêu vợ và gia đình và cũng được gia đình yêu quí. Anh ta rời nhà và đi lang thang. Anh ta trở về nhà giả vờ làm một người ăn mày và không nói cho gia đình biết: Người ta cho anh ta của bố thí, và thương hại, cho anh ta một chỗ ở dưới cầu thang, anh ta sống trong trạng thái này trong hai mươi năm trong ngôi nhà của mình, dự vào nỗi buồn của gia đình khóc thương sự vắng mặt của anh và chỉ bộc lộ trước khi chết. Trước mắt chúng ta là một thái độ bướng bỉnh của tinh thần ngoan đạo mà người ta đề nghị với chúng ta đó là một tấm gương của một người thánh.


Thái độ kiên quyết chịu khổ hạnh có thể làm chúng ta nhớ tới những đau khổ nh xuẩn mà những người Ấn Độ tình nguyện gây nên cho mình nhằm mục đích tôn giáo song những hình phạt của người Ấn Độ tìm cách quên mình bằng cách đạt tới tình trạng đờ đẫn và không có ý thức thì mục đích mà người khổ hạnh Thiên Chúa giáo tìm lại là nỗi đau và ý thức về nỗi đau khổ và anh ta hi vọng càng đạt tới chắc chắn nếu những đau khổ của anh ta càng gắn liền với ý thức về giá trị những vật mà anh ta vứt bỏ, cũng như về tình yêu của anh ta đối với những vật ấy cũng như nhận thức về những cố gắng mà anh ta đã làm đê kéo dài tình trạng từ bỏ, con tim tự bắt mình phải chịu đựng những thủ thách như vậy sẽ càng phong phú và cao thượng và càng tự kết án mình một cách nghiêm khắc nếu nó càng thấy mình phong phú và cao thượng.


Nó sẽ càng cảm thấy gay gắt tình trạng không thể hòa giải và điều đó làm cho nó phải chịu đựng những sự dằn vặt kinh khủng nhất, những sự chia xé hung dữ nhất. Một con người như vậy chỉ cảm thấy mình an tâm ở trong thế giới của những điều có thể hiểu được, chứ không cảm thấy yên tâm ở trong cái thế giới trần tục với những nhiệm vụ, những mục đích thế giới bao hàm mà tính chất chính đáng đối với chúng ta là hiển nhiên. Mặc dầu nó bị mắc vào và gắn chặt với cái thế giới ấy, một tâm hồn như vậy vẫn gạt bỏ những đòi hỏi về đạo đức xem như là những điều trái ngược với mục đích của nó.


Đối với chúng ta, một con người như vậy là một người điên ngay trong những đau khổ và những sự phục tùng của anh ta thành ra chúng ta không cảm thấy thương hại anh, cũng không thấy anh ta có những sức mạnh cao quí làm gương cho chúng ta. Điều mà những hành động này không có, đó là một mục đích có giá trị, một nội dung có thể hiểu được đối với tất cả mọi người, bởi vì những điều anh ta làm ở đây là thuần túy chủ quan, mục đích anh ta theo đuổi là mục đích của một cá nhân duy nhất lo cứu vớt linh hồn của mình, lo đạt đến hạnh phúc của mình. Nhưng sự cứu vớt và hạnh phúc của một con người như vậy không làm cho nhiều người cảm thấy hứng thú.


 


b.       Sự hối lỗi và sự tu tĩnh ở bên trong.


 


Lĩnh vực tôn giáo này còn có một hình thức biểu hiện khác đối lập lại phương thức miêu tả mà chúng tôi vừa tóm lại ở chỗ một mặt, nó bỏ qua những đau khổ thể xác bên ngoài, và mặt khác có thái độ tiêu cực đối với cái nội dung chính đáng của cái hiện tượng trần tục. Phương thức miêu tả này, do đó, về mặt nội dung và hình thức là thuộc một lĩnh vực phù hợp hơn với lý tưởng chân chính. Lĩnh vực này chỉ đề cập tới những đau khổ tinh thần bằng sự tu tỉnh của tâm hồn. Như vậy, một mặt, ở đây trước hết, chúng ta tránh được những điều khủng khiếp và hung dữ của việc gây hình phạt cho cơ thể. Mặt khác, tính chất tôn giáo dã man của tâm hồn không nổi lên chống lại cái nhân tính đạo đức hay đạo đức của con người để tự giam hãm vào tình trạng đau khổ bằng cách từ bỏ tất cả và chà đạp mọi sự hưởng thụ khác để tìm một nguồn vui thuần túy trí tuệ. Tâm hồn chỉ nói lên chống lại những cái gì thực sự tội lỗi, xấu xa và đáng trừng phạt ở trong bản chất con người mà thôi.


Có một niềm tin tưởng vững vàng rằng đức tin, cái đà vươn tới Thượng đế ở trong lòng mình có thể biến những việc làm thành một cái gig xa lạ đối với chủ thể, ngay cả trong trường hợp nó là một tội lỗi và một tội ác – đức tin này có thể làm cho mọi tội lỗi của chủ thể đều được xóa bỏ. Sự thoát ly khỏi cái ác, khỏi cái tiêu cực tuyệt đối là nằm ở trong bản thân chủ thể, một sự thoát ly xem như kết quả của thái độ khinh bỉ mà ý chí và tinh thần cảm thấy đối với chúng do điều tội lỗi mà chúng đã phạm, để quay trở về cái tích cực từ nay được chấp nhận là hiện thực duy nhất đối lập lại cuộc sống trước đây ở trong tội lỗi: sự biểu hiện của cái sức mạnh thực sự vô hạn của tình yêu có tính chất tôn giáo, của hiện thực và của sực có mặt của tinh thần tuyệt đối ở trong chủ thể là như thế.


Thái độ kiên nhẫn và sức mạnh của cái tinh thần của chủ thể đã chiến thắng được cái ác nhờ sự giúp đỡ của vị Thượng đế mà nó kêu gọi, và nhờ được hưởng sự giúp đỡ ấy, chủ thể cảm thấy gắn liền với Thượng đế và điều đó đối với y là một điều thỏa mãn vô ngần. Thực vậy, mặc dầu chủ thể nhận thức rằng Thượng đế là một cái gì khác hẳn cuộc sống trần tục đầy tội lỗi, song chủ thể lại cảm thấy mình đồng nhất với cái vô hạn ấy và tin chắc là mang ở mình  nhận thức rằng Thượng đế đó là cái tôi sự nhận thức của tôi và điều đó cũng đáng tin như tôi là đáng tin đối với chúng tôi vậy. Đây là một sự hoán cải diễn ra ở trong thế giới nội tâm và thuộc về lĩnh vực tôn giáo hơn là thuộc về nghệ thuật. Song bởi vì sự hoán cải này diễn ra trong cái tâm hồn có khả năng biểu lộ sự sống ở trong yếu tố bên ngoài, cho nên ngay cả nghệ thuật miêu tả nhất là hội họa cũng có quyền làm cho ta tri giác được một sự hoán cải như vậy. Nếu như nó miêu tả tất cả quá trình nằm trong những loại chuyện như vậy thì ở đây lại có thể xuất hiện cái xấu xa, bởi vì trong trường hợp này phải biểu hiện yếu tố xấu và cái tội lỗi. Chẳng hạn trong chuyện kể về đứa con hoang phí ([1]). Vì vậy hội họa đạt đến những kết quả tốt hơn nếu nó tập trung sự chú ý vào một hình tượng duy nhất mà không miêu tả chi tiết những tội ác.


 Hình tượng Mari Mađơlen mà ta phải xếp vào những hình tượng đẹp nhất của đề tài tôn giáo là thuộc loại này. Nó đã được các họa sĩ Ý miêu tả một cách đặc biệt ưu tú và phù hợp với những đòi hỏi của nghệ thuật. Bên trong cũng như bên trong, nàng xuất hiện trong những bức tranh này như là một người đẹp đẽ đã phạm tội, và hấp dẫn bởi tội lỗi cũng như bởi sự tu tỉnh. Nhưng trong những trường hợp này, tội lỗi cũng như tính chất thần thánh đều không được chú ý một cách nghiêm túc. Nàng được tha thứ bởi vì nàng đã yêu nhiều, nàng được tha thứ bởi vì tình yêu và vẻ đẹp của nàng. Cí mặt cảm động là ở chỗ nang đã hối hận về chỗ đã yêu nhiều và đã nhỏ những giọt nước mắt đau khổ nên rõ tâm hồn của nàng dễ cảm một cách đẹp đẽ. Sai lầm của nàng không phải là ở chỗ đã yêu nhiều người; trái lại nàng đã phạm một điều lầm lạc cảm động ở chỗ nàng cho mình là một người tội lỗi, trong lúc đó thì cái vẻ đẹp đầy tình cảm của nàng gây cho ta một ân tượng rằng nàng có một tâm hồn cao thượng và sâu sắc ở trong tình yêu.


 


c.        Các phép màu và các chuyện hoang đường.


 


Chúng tôi nói đến phương diện cuối cùng gắn liền với hai phương diện trên đây và có thể có ảnh hưởng trong trường hợp thứ nhất cũng như trong trường hợp thứ hai, đó là những phép màu, là những cái đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo. Chúng ta có thể định nghĩa phép màu là chuyện hoán cải sự tồn tại tự nhiên trực tiếp. Hiện thực bao quanh chúng ta với tính cách một sự tồn tại bất biến ngẫu nhiên; đó là cái hữu hạn được yêu tố thần linh chạm tới. Bằng cách xâm nhập vào cái yếu tố bên ngoài và cá biệt, yếu tố thần linh bẻ gẫy nó, bóp méo nó, làm cho nó khác trước và phá vỡ sự diễn biến tự nhiên của sự vật. Mục đích chính của nhiều chuyện hoang đường tóm lại là nêu lên thái độ của tâm hồn trong những biểu hiện bên ngoài trước những hiện tượng vượt ra ngoài khuôn khổ của tự nhiên, ở đấy nó nhận thấy sự có mặt của Thượng đế. Nhưng trong thực tế, yếu tố thần linh chỉ có thể tồn tại trong tự nhiên và chỉ đạo nó với tính cách trí tuệ, dưới hình thức những qui luật bất biến mà chính Thượng đế đã đưa vào tự nhiên. Yếu tố thần linh không thể biểu hiện với tính cách thần linh trong những trường hợp và trong những hành động vi phạm các qui luật của tự nhiên, bởi vì chỉ có những qui luật vĩnh viễn và những đặc trưng của trí tuệ là chỉ đạo tự nhiên mà thôi.


Các truyền thuyết thường là ngu xuẩn, vô vị, vô nghĩa và buồn cười bởi vì trí tuệ và tâm hồn cần phải tin rằng Thượng đế có mặt và hành động ở trong những cái bản thân nó là chẳng có gì hợp lý, là giả dối và không có gì thần linh cả. Cảm xúc, lòng mộ đạo, sự hoán cải có thể có một hứng thú nhất định nhưng chỉ về một mặt, là mặt bên trong. Bởi vì mặt  bên trong này gắn liền với một mặt khác là mặt bên ngoài và cái bên ngoài này cần phải phù hợp với sự hoán cải của tâm hồn, cho nên cái bên ngoài thôi không làm thành một cái gì vô nghĩa và phi lý.


Những yếu tố chủ yếu của cái nội dung cốt tử mà trong lĩnh vực này có ý nghĩa của một tự nhiên có tính thần linh, và của một quá trình qua đó và ở đấy Thượng đế tồn tại với tính cách tinh thần là như thế. Đây là một đối tượng tuyệt đối không phải do nghệ thuật tạo ra và không bộc lộ bằng những phương tiện của nó mà vay mượn từ tôn giáo, và nó đề cập đến tôn giáo với ý thức rằng có biểu hiện và đại biểu cái chân thực. Đây là nội dung của một tâm hồn tin đạo, sôi nổi, tự bản thân nó là một tổng thể vô hạn; cái bên ngoài ở đây vẫn là ít nhiều có tính chất bên ngoài và bàng quan; vì không thực hiện được sự hài hòa hoàn toàn giữa cái bên ngoài và cái bên trong cho nên nó chí có thể cung cấp cho nghệ thuật những chủ đề không thích hợp, khó khăn, và nhiều khi trở thành thù địch, không phục tùng tài liệu nghệ thuật.


Chương thứ hai. CHẾ ĐỘ HIỆP SĨ


Như chúng ta đã thấy, cái làm thành nội dung của đức tin và của nghệ thuật đó là tính chủ thể vô hạn, đấng Tuyệt đối, tinh thần của Thượng đế, là cái chỉ tồn tại cho nó ở trong ý thức của con người. Cái tính chất thần bí mang màu sắc lãng mạn này vì lo tìm hạnh phúc chỉ ở trong đấng Tuyệt đối cho nên vẫn là một nội cảm trừu tượng bởi vì nó đối lập lại cái thế giới bên ngoài và gạt bỏ cái thế giới ấy chư không thâm nhập và tiếp thu cái thế giới bên ngoài.


So sự trừu tượng hóa này, đức tin tách rời khỏi sự sống, khỏi cái hiện thực cụ thể của sự tồn tại con người, khỏi những quan hệ tích cực nối liền những con người với nhau. Họ chỉ cảm thấy mình là đồng nhất và chỉ yêu nhau bởi một cái thứ ba, trong tinh thần của thể cộng đồng. Chỉ có cái thứ ba này là cái tấm gương sáng phản ánh hình ảnh của họ. Conhững người không cần cảm thấy phải nhìn trực tiếp vào mắt một con người khác, không có những quan hệ trực tiếp với họ và không cảm thấy tính thống nhất bắt nguồn ở trong tình yêu, trong lòng tin cậy, trong những mục đích và những hành vi chung dưới hình thức cụ thể và sinh động của nó. Ở trong cái nội cảm có tính chất tôn giáo một cách trừu tượng, con người hình dung các hu vọng và các khát vọng của mình như là những cái thuộc về cuộc đời ở trong vương quốc của Thượng đế, của cái thể cộng đồng với nhà thờ. Y vẫn chưa gạt bỏ ra khỏi ý thức của mình sự đồng nhất với một hình thức thứ ba để có thể trực tiếp trước mặt mình ở trong hiểu biết và ý chí của những người khác cái mà y hình dung ở trong sự tồn tại của thể độc lập của mình. Vì vậy, mặc dầu tất cả nội dung tôn giáo vẫn mang hình thức của hiện thực song nó chỉ ở trong cái thế giới  bên trong của biểu tượng, cái này thủ tiêu sự tồn tại bên ngoài được mở rộng và đầy sự sống và không thể nào thỏa mãn những đòi hỏi cao nhất của mình ở trong cái thế giới trần tục và hiện thực này.


Như vậy một tâm hồn chìm đắm ở trong tình trạng hạnh phúc vô ngần phải vượt ra ngoài cái thế giới cao siêu của nó để trở về bản thân, tự cấp cho mình một nội dung: đó là nội dung của chủ thể với tính cách chủ thể. Nói khác đi, nó phải hoán cải cái nội cảm từ trước đến nay vẫn có tính chất tôn giáo thành một nội cảm phàm tục. Giêxu đã nói: “Ngươi phải bỏ cha mẹ và theo ta” hay “người anh sẽ ghét người em”, “họ sẽ trừng trị và hi sinh các ngươi” v.v… Nhưng nếu như cái thế giới của Thượng đế đã tìm thấy chỗ đứng của mình ở trong thế giới này là nơi những quyền lợi vf những mục đích phàm tục thấm nhuần yếu tố thần linh  và bị hoán cải và ở đấy cha, mẹ, anh em đều họp nhau ở trong cùng một thể cộng đồng, thì lúc đó yếu tố phàm tục, về phía nó, cũng đòi hỏi cái quyền được thừa nhận và được thực hiện. Nếu như cái quyền này được thừa nhận thì cái thái độ tiêu cực của tâm hồn, từ trước đến nay hoàn toàn có tính chất tôn giáo đối với con người với tính cách con người sẽ biến mất, và tinh thần mở rộng và phát triển, bao quát mọi cái trước đây vẫn bị khinh rẻ và coi thường. Cái nguyên lý cơ bản vẫn không thay đổi, nhưng tính chủ thể vô hạn chỉ hướng về một lĩnh vực khác của nội dung.


Người ta có thể định nghĩa sự thay đổi này bằng cách nói rằng cái cá tính chủ quan trở thành tự do với tính cách tính chủ thể không có Thượng đế làm môi giới, độc lập đối với sự hòa giải với Thượng đế. Chính trong quá trình của cái môi giới trung gian này ở đẩy cá tính của chủ thể thoát khỏi tính hữu hạn chật hẹp và tự nhiên của mình, đã trải qua con đường phủ định, để có được sự tôn trọng đối với mình và đối với người khác với tính cách chủ thể, mặc dầu lúc đầu chỉ là một tính vô hạn có tính chất hình thức. Từ nay tất cả cái nội cảm từ trước đến nay chỉ chứa đựng có Thượng đế là ở trong tính chủ thể này.


Nếu như ta hỏi rằng trái tim con người ở giai đoạn mới này chứa đựng cái gì ở trong nội cảm thì sẽ thấy rằng nội dung chỉ là cái quan hệ vô hạn của chủ thể đối với chính mình. Chủ thể ngập tràn bản thân mình với tính cách tính đơn nhất vô hạn ở trong bản thân nó, trong lúc đó tình cảm không hề liên quan tới những mục đích, những hứng thú, những hành động khách quan và quan trọng nào hết. Chủ yếu có ba tình cảm co một trình độ vô hạn ở các chủ thể: tình yêu, danh dự và lòng trung thành. Đây không phải là những phẩm chất và những đạo đức thực sự mà chỉ là những hình thức của cái nội cảm lãng mạn của đời sống chủ thể. Bởi vì tính độc lập cá nhân đấu tranh cho danh dự không biểu lộ dưới hình thức những hành động dũng cảm được thực hiện vì thể cộng đồng, hay để có một danh tiếng là trung thực và thẳng thắn ở trong đời sống chung và trong cuộc đời tư. Trái lại, nó chỉ đấu tranh để làm cho người ta phải thừa nhận rằng cái chủ thể cá nhân là không thể bị xúc phạm một cách trừu tượng, cũng vậy tình yêu là cái làm thành trung tâm của lĩnh vực này chẳng qua chỉ là một dục vọng ngẫu nhiên mà một chủ thể cảm thấy đối với một chủ thể khác, và ngay cả khi tình yêu được trí tưởng tượng phóng đại và được tình cảm nội tâm làm thêm sâu sắc thì nó vẫn không biểu hiện những quan hệ đạo đức như hôn nhân và gia đình. Lòng trung thành hình như đã là một cái gì có tính chất luân lý hơn bởi vì nó không theo đuổi một mục đích cá nhân, mà có sứ mạng duy trì một cái gì cao hơn, khái quát hơn, theo ý muốn một người khác, theo ý muốn và mệnh lệnh của một ông chủ và như vậy nó phải từ bỏ lòng ích kỷ và tính độc lập của ý muốn cá nhân của chủ thể. Nhưng lòng trung thành không liên quan tơi quyền lợi trực tiếp khách quan của một thể cộng đồng đã dành được tự do của mình trong việc tổ chức thành nhà nước mà chỉ gắn liền với cá nhân của người chủ, người này hành động một cách cá nhân hoặc vì mình hoặc vì quyền lợi chung.


Cả ba mặt này hợp nhất lại làm một và đan chéo vào nhau, không kể những quan hệ có tính chất tôn giáo, làm thành nội dung chủ yếu của chế độ hiệp sĩ và làm thành giai đoạn quá độ cần thiết của nguyên lý đời sống nội tâm có tính chất tôn giáo chuyển sang đời sống tinh thần có tính chất phàm tục. Ở đây nghệ thuật lãng mạn bây giờ tìm được những khả năng sáng tạo độc lập và những nguồn gốc của cái đẹp có thể nói tự do hơn, bởi vì bây giờ nó đứng ở giữa cái nội dung tuyệt đối của những biểu tượng tôn giáo  bản thân vững chắc và tính chất sặc sỡ của những điều đặc thù riêng biệt và hạn chế của cái thế giới trần tục và hữu hạn. Trong các thể loại nghệ thuật thì thơ biết sử dụng tài liệu này hơn bởi vì nó có khả năng hơn các nghệ thuật khác trong việc biểu hiện cái nội cảm vùi sâu vào bản thân mình, với các mục đích và các biến cố của nó.


Bởi vì trước mắt ta cái tài liệu mà con người sử dụng là lấy ở trong tâmhồn của mình, ở trong cái thế giới những quan hệ nhân tính cho nên người ta có thể có cảm tưởng rằng ở đây nghệ thuật lãng mạn cũng đứng trên cùng một lĩnh vực với nghệ thuật cổ điển và thực vậy chính ở đây chúng ta có thể so sánh và đối lập hai nghệ thuật này. Ở trên, chúng ta đã định nghĩa nghệ thuật cổ điển là lý tưởng của tính nhân đạo chân thực một cách khách quan ở bản thân nó. Nội dung của hư cấu của nghệ thuật cổ điển mang tính bản chất và có một khát vọng đạo đức. Trong các trường ca Hômerơ, trong các bi kịch của Xôphôklơ và của Etsilơ nói đến những hứng thú cụ thể có nội dung hoàn toàn khách quan, nói đến những dục vọng không vượt ra ngoài cái nội dung ấy. Các tác phẩm này nổi bật bởi tính hùng biện và bởi phương thức thể hiện phù hợp với cái nội dung được tu duy. Ở trên cái số các anh hùng và các hình tượng độc lập có một khát vọng cá nhân là một số thần linh có tính khách quan còn nổi bật hơn nữa.


Ngay cả ở nơi nghệ thuật trở thành có tính chủ thể hơn như trong những trò chơi vô tận của điêu khắc, trong các phù điêu, trong các oán thi, épigramme và các sáng tác khác của thơ trữ tình những thời đại sau, cách trình bày chủ đề là bị qui định bởi bản thân chủ thể bởi vì chủ đề đã có từ trước một hình thức khách quan; ở đây xuất hiện những nhân vật tưởng tượng nhưng có những đường nét rắn chắc và chính xác, Vênut, Baccut, các nữ thần văn nghệ và trong các épigramme sau này chúng ta có trước mắt mình những sự vật quen biết, chẳng hạn những bông hoa quen thuộc được ghép lại thành một bó hoa và tình cảm làm thành sợi dây liên hệ, như Mêlêagrơ đã làm điều đó. Đó là những công việc vui vẻ ở trong một ngôi nhà giàu, có đầy đủ mọi thứ quà tặng, đủ mọi tác phẩm và những đồ dùng cho mọi mục đích; nhà thờ và nhà nghệ sĩ chỉ là một pháp sư lựa chọn chúng, tập hợp chúng làm cho chúng sinh động.


Tình hình là khác hẳn nếu ta bước vào thơ lãng mạn. Trong chừng mực thơ lãng mạn chú ý tới những việc phàm tục và không gắn liền trực tiếp với thánh sử thì những đạo đức và những mục đích của nó không phải là của những anh hùng Hy Lạp, trái lại đối với Thiên Chúa giáo thời sơ kỳ thì đạo đức của các anh hùng Hy Lạp chỉ là một lô những tội lỗi lộng lẫy. Thực vậy, luân lý Hy Lạp giả thiết sự tồn tại của một nhân loại có ý thức về bản thân mình, tự hào về hiện tại của mình, và ý chí của mình, phù hợp với khái niệm của mình, được áp dụng cho một nội dung nhất định trong một môi trường cụ thể ở đấy quyền tự do của những người thuộc môi trường này là phục tùng những điều kiện được xem là tuyệt đối. Đó là những điều kiện qui định các quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng với nhau, giữa công dân của một thành phố , của một nhà nước dã thực hiện được quyền tự do của mình. Bởi vì cái nội dung khách quan này của hành động là liên quan tới sự phát triển của tinh thần con người trên một cơ sở tự nhiên đã được thừa nhận là tích cực và chắc chắn, nên không có thể tương ứng với cái nội cảm cô đọng của một tâm hồn tôn giáo là cái ra sức tiêu diệt yếu tố tự nhiên ở trong con người. Nó cần phải nhường chỗ cho cái đạo đức độc lập của sự phục tùng, từ bỏ quyền tựdo của con người, từ bỏ lòng tự tin bình thản vào bản thân.


Các đạo đức của lòng mộ đạo Thiên Chúa giáo do tính  phiến diện của nó đã giết chết những cái gì trần tục và chỉ nhìn thấy quyền tự do của chủ thể ở chỗ phủ định tuyệt đối mọi cái gì nhân tính. Nhưng cái quyền tự do có tính chủ thể mà chúng ta khảo sát ở đây không còn là ở chỗ chỉ đơn thuần chịu nhẫn nhục và hy sinh mình, mà nó còn muốn khẳng định giá trị của mình ở trong những yếu tố trần tục. Song như chúng ta đã thấy, tính vô hạn của chủ thể là bắt nguồn từ cái nội cảm với tính cách nội cảm từ cái tình cảm có tính chủ thể vận động ở trong bản thân nó với tính cách miếng đất để thể hiện những xu hướng trần tục.


Về mặt này, thơ không đứng trước một tính khách quan nào đã có từ trước, không đứng trước một thần thoại nào, một hình tượng hay một bức tượng nào mà nó có thể sử dụng. Thơ nảy sinh hoàn toàn tự do, không có tài liệu nào hết, thuần túy sáng tạo; nó giống như một con chim mà tiếng hót tuôn ra tự do. Nhưng mặc dầu tính khách quan này là một ý chí cao thượng và của một tâm hồn sâu sắc, những hành động và những quan hệ trong đó nó thực hiện vẫn mang tính chất võ đoán và ngẫu nhiên, bởi vì quyền tự do và những mục tiêu mà nó theo đuổi đều là sản phẩm của một sự suy nghĩ bên trong không có mọi bản chất vững chắc về mặt nội dung đạo đức.


Như vậy chúng ta tìm thấy ở cá nhân không phải một khát vọng riêng biệt theo ý nghĩa Hy Lạp của danh từ này, tức là một cá tính độc lập và sinh động, trái lại ta chỉ tìm thấy những trình độ anh hùng khác nhau trong các biểu hiện của tình yêu, danh dự, tinh thần dũng cảm, lòng trung thành, những trình độ bị qui định chủ yếu bởi tính thấp hèn hay tính cao thượng của tâm hồn. Tuy vậy, điều chung cho các anh hùng trung cổ và các anh hùng của thời cổ đại đó là tinh thần anh dũng. Nhưng ngay cả tinh thần anh dũng ở đây cũng có một ý nghĩa khác hẳn. Ở các anh hùng trung cổ, tinh thần anh dũng không phải là lòng dũng cảm tự nhiên căn cứ trên tinh thần can đảm lành mạnh, trên sức mạnh của thân thể và ý chí, một sức mạnh hãy còn chưa bị học vấn làm yếu đi và không được dùng làm chỗ dựa để thực hiện những quyền lợi khách quan. Tinh thần anh dũng này là xuất phát từ nội cảm bên trong của tâm hồn, từ danh dự, từ luân lý hiệp sĩ, và tóm lại nổi bật bởi tính chất quái đản, vâng theo những sở thích phiêu lưu, vâng theo những điều ngẫu nhiên của các hoàn cảnh bên ngoài hay những kích thích của một lòng mộ đạo thần bí, và nói chung vâng theo cái quan hệ chủ quan của chủ thể đối với chính mình.


Hình thức này của nghệ thuật lãng mạn đã có hai bán cầu làm quê hương của nó; ở phương Tây, nhờ chỗ tinh thần đi vào trong thế giới có tính chủ thể và ở phương Đông ở đây lần đầu tiên ý thức được mở rộng, ra sức tự giải phóng mình khỏi cái hữu hạn. Ở phương Tây thơ vùi mình vào tâm hồn, quay trở về bản thân sau khi đã trở thành cái điểm tập trung đối với bản thân mình và nhận thức rằng mặt trần tục của mình chỉ là một bộ phận của cái quan hệ của mình, như là một mặt, phải phục tùng cái thế giới ca hơn đức tin. Ở phương Đông, đại biểu của hình thức này chủ yếu là Ả Rập, lúc đầu Ả Rập chỉ là một cái chấm không có cái gì ở trước nó hết ngoài sa mạc và bầu trời với mặt trời như thiêu như đốt, nó biểu lộ sức mạnh tràn đầy của mình, và vươn tới tình trạng huy hoàng của mình và mở rộng đến yếu tố trần tục, đồng thời vẫn giữ cái tự do nội tâm của mình.


Nói chung, Hồi giáo ở phương Đông đã mở rộng đường bằng cách gạt bỏ mọi việc thờ phụng những vật hữu hạn và quái đản. Nó đã đem đến cho tâm hồn cái tự do có tính chủ thể tràn ngập nó. Yếu tố trần tục ở đây không làm thành một lĩnh vực khác, nó bị nuốt mất cũng như mọi cái khác bởi tình trạng lệ thuộc phổ biến. Ở đây con tim và đấu óc trong khi không tạo nên một vị thần khách quan, đều được hòa giải ở bên trong một niềm vui sinh động, giống như một người ăn mày, trong việc thờ phụng thuần túy lý thuyết các đối tượng của nó, cả trong tình yêu, niềm vui sướng và nỗi hoan lạc.


1.       Danh dự.


Nghệ thuật cổ điển thời cổ đại không biết đến cái động cơ mà ngày nay chúng ta gọi là danh dự. Kể ra, trong “Iliat”, tất cả đều quay xung quanh cơn giận của Asin, và tất cả các biến cố sau này được miêu tả ở đấy đều lệ thuộc vào đó. Song cơn giận này không phải bị gây nên bởi sự xúc phạm danh dự, theo nghĩa hiện đại của từ này. Asin sở dĩ cho mình bị xúc phạm là vì Agamemnôn đã tước mất cái phần chiến lợi phẩm dành cho chàng làm thành phần thưởng danh dự của chàng, cái geras của chàng. Sự xúc phạm ở đây là liên quan tới một cái gì có thực, tới cái quà tặng, một dấu hiệu về quyền ưu tiên và sự thừa nhận vinh quang và lòng dũng cảm của chàng. Asin nổi giận bởi vì Agamemnôn đối xử với chàng một cách khinh thường và nêu rõ rằng ông ta không coi chàng ra gì trước những người Hy Lạp. Song điều xúc phạm vẫn không động đến nơi sâu thẳm nhất của cái cá tính thực sự bởi vì Asin cảm thấy mình hài lòng khi người ta trả lại cho chàng những của cải đã cướp được và thêm những tặng phẩm và những của cải khác nữa. Cuối cùng, Agamemnôn chấp nhận việc bù đắp này, mặc dầu theo cách quan niệm của chúng ta họ đã xúc phạm nhau một cách thô bạo. Nhưng những lời mắng nhiếc làm cho họ nổi giận, chỉ có thế, và chỉ cần một việc thu xếp hết sức vật chất là đủ để xóa bỏ một phần xúc phạm hết sức vật chất.


a.       Khái niệm danh dự.


Theo quan điểm lãng mạn thì khác hẳn. Ở đây, sự xúc phạm không phải là liên quan tới một sự vật, một giá trị hiện thực vật chất (tài sản, địa vị, nhiệm vụ v.v…) mà liên quan tới cá tính thực sự và những quan niệm về cá tính của chính mình, liên quan tới cái giá trị mà chủ thể tự cấp cho mình. Giá trị này ở giai đoạn này cũng vô hạn cũng như chủ thể là vô hạn. Nhờ chỗ có danh dự, con người mới có nhận thức tích cực về tính chủ thể vô hạn của mình, độc lập với nội dung của nó. Danh dự cấp một ý nghĩa tuyệt đối của tính chủ thể, ở trong quan niệm riêng của cá nhân cũng như làm thành một cái gì đặc thù ở cá nhân, mà nếu mất cái đó thì cá nhân dường như không có thể sống như trước; và ý nghĩa này ở đây là đối với nó và đối với những người khác.


Như vậy, phạm vi của danh dự bị qui định không phải ở chỗ con người là cái gì trong thực tế mà ở chỗ cái gì nằm ở trong quan niệm này. Nhưng một biểu tượng biến mọi cái đặc thù thành cái phổ biến sẽ dẫn đến chỗ tính chủ thể của tôi là nằm ở trong cái điểm đặc thù này, vốn là một điểm của tôi. Thường thường, người ta nói rằng danh dự chỉ là cái vẻ bên ngoài. Dĩ nhiên điều đó là đúng, xong theo quan điểm chúng ta xét ở đây, cần phải quan niệm nó là cái ngoại hiện của một cái tự do vô hạn cho nên danh dự cũng vô hạn. Chính do tính vô hạn này mà cái ngoại hiện của danh dự trở thành tồn tại thực tế của chủ thể, thành hiện thực cao nhất của chủ thể. Mọi phẩm chất đặc thù ở đấy danh dự thâm nhập vào, bằng cách biến nó thành phẩm chất của mình, nhờ sự soi sáng này mà đều có được một giá trị vô hạn.


Danh dự này làm thành một trong những đặc trưng chủ yếu ở trong thế giới lãng mạn, và tiền đề của danh dự đó là ở chỗ: con người đã bước ra khỏi lĩnh vực những hiện tượng thuần túy tôn giáo và những cảm nghĩ bên trong và đã bước vào cái hiện thực sinh động. Ở trong tài liệu của hiện thực, con người khẳng định sự tồn tại của mình, tính độc lập thuần túy cá nhân của mình và giá trị tuyệt đối của mình. Danh dự có thể có một nội dung hết sức đa dạng, bởi vì tất cả những điều tôi làm, tất cả những điều khác gây cho tôi, và tôi là như thế nào đều thuộc về danh dự của tôi. Vì vậy tôi có thể xem tất cả những gì là bản chất tuyệt đối ở tôi như lòng trung thành với vua, với tổ quốc, với nghề nghiệp, sự thực hiện những nhiệm vụ của người cha, lòng chung thủy vợ chồng, lối sống trung thực, sự trung thực trong việc nghiên cứu khoa học v.v… đều là đối tượng của danh dự. Nhưng theo quan điểm danh dự, tất cả những quan hệ có giá trị và chân thực trên đây sở dĩ được thừa nhận và được xác định không phải là vì bản thân nó mà chẳng qua chỉ vì tôi đã đưa vào đấy tính chủ thể của tôi, và do đó tôi đã biến chúng thành vấn đề danh dự.


Con người chú ý tới danh dự trong tất cả các trường hợp trước hết là nghĩ đến mình, câu hỏi đặt ra không phải là ở chỗ việc này hay việc kia tự nó có đúng hay là không, mà là ở chỗ theo danh dự của tôi, tôi có nên làm việc này hay tốt hơn là nên từ bỏ nó. Như vậy, con người có thể làm những hành động hết sức xấu xa nhưng vẫn là một con người có danh dự. Y cũng tự đặt cho mình những mục đích võ đoán, tự khoác cho mình những nét nhất định; nhờ đó y tự cấp cho mình một tính cách riêng và có những nhiệm vụ nhất định đối với mình và đối với người khác, nhưng thực ra, trong thực tế không cần phải như vậy. Lúc bấy giờ người ta bắt gặp những khó khăn và những rắc rối bắt nguồn không phải từ bản thân sự vật, mà từ cái biểu tượng chủ quan về mình bởi vì người ta cho rằng không phản bội cái tính cách mà người ta đã chấp nhận là một điều hợp danh dự. Chẳng hạn Đonna Điana cho rằng thú nhận tình yêu mà nàng cảm thấy là trái lại với danh dự bởi vì trước đây nàng cho mình là không biết đến tình yêu.


Nói chung, người ta có thể nói rằng nội dung của danh dự, do chỗ nó là một sáng tạo của chủ thể chứ không phải gắn liền với bản thân danh dự, làm thành bản chất cố hữu của nó, cho nên thuộc vào lĩnh vực ngẫu nhiên. Chính vì vậy chúng ta thấy trong các miêu tả lãng mạn, một mặt tuyên bố rằng cái tự bản thân nó là chính đáng là một qui tắc của danh dự, bởi vì cá nhân gắn liền cái ý thức tự giác vô hạn của cá tính mình với sự nhận thức cái chính đáng. Nói rằng danh dự đòi hỏi hay cấm đoán điều này hoặc điều khác, ở đây chỉ là nói rằng tính chủ thể hoàn toàn đặt mình ở trong nội dung của đòi hỏi này hay của sự cấm đoán này, thành ra sự vi phạm nó chỉ có thể gây nên một tình trạng không thể sửa chữa, và do đó, chủ thể không thể chú ý tới bất kỳ nội dung nào khác.


Trái lại, danh dự có thể trở thành một cái hoàn toàn hình thức và không có nội dung, nếu như nó chỉ bao gồm cái tôi khô khan, bản thân vô hạn, hay nếu những nội dung hoàn toàn xấu và đáng ghét được chấp nhận với tính cách là có tính chất bắt buộc. Lúc bấy giờ, danh dự nhất là các tác phẩm kịch trở thành một vật hoàn toàn chết cứng và lạnh lùng, bởi vì các mục đích của nó không nói lên một nội dung chủ yếu mà chỉ nói lên cái tính chủ thể trừu tượng. Một nội dung bản chất là có tính chất tất yếu. Nó tự bộc lộ ở trong những liên hệ đa dạng và tự nhận thức mình là một cái gì tất yếu. Tình trạng thiếu một nội dung sâu sắc hơn bộc lộ rõ rệt khi sự suy nghĩ khéo léo đưa vào danh dự những điều mặc dầu liên quan với chủ thể nhưng tự bản thân nó lại là ngẫu nhiên và vô nghĩa. Trong những trường hợp này tài liệu bao giờ  cũng có sẵn, bởi vì sự khéo léo sẽ phân tích một cách tế nhị và tiêu biểu cho cái biệt tài phân biệt và nhiều điều tự bản thân là hoàn toàn không quan trọng, ở đây có thể trở thành đối tượng của danh dự.


Chủ yếu những nhà viết kịch Tây Ban Nha đã nghiên cứu công phu trong các tác phẩm thơ những suy nghĩ phức tạp về những vấn đề danh dự và các nhân vật của họ nói những bài lý luận dài dòng về vấn đề này. Chẳng hạn sự trung thành của người vợ đã làm thành đối tượng kiểm tra hết sức chi tiết, song chỉ riêng việc ngờ vực của người khác và khả năng có thể có những điều ngờ vực như vậy (mặc dầu người chồng biết rõ rằng nó là sai) cũng có thể trở thành một vấn đề danh dự. Nếu như câu chuyện dẫn tới những va chạm, thì việc giải quyết chúng không làm cho người ta thỏa mãn gì hết, bởi vì  người ta không đứng trước một cái gì cốt yếu, thành ra thay thế vào sự hòa giải xảy ra sau sự va chạm, gây nên bởi tình trạng tất yếu, người ta chỉ cảm thấy một tình cảm chật hẹp nặng nề.


Trong các vở kịch của Pháp, hứng thú chủ yếu của các tác phẩm là cái danh dự khô khan được xét một cách hoàn toàn trừu tượng. Nhưng chúng ta bắt gặp cái danh dự này ở trình độ chết cứng và lạnh lùng hơn cả, chẳng khác gì băng giá ở trong “Alacôt” của M. F. P. Slêghen. Nhân vật chính giết người vợ cao thượng yêu quí mình. Vì sao thế? Vì danh dự; và danh dự này tóm lại là anh ta muốn lấy con gái nhà vua, một người anh ta chẳng hề mảy may yêu thương để trở thành phò mã. Một khát vọng đáng khinh và một quan niệm xấu xa những lại cố làm ra vẻ là một cái gì cao cả và vô hạn.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Câu chuyện trong kinh thánh kể về đứa con trai phóng đãng đã bỏ nhà ra đi rồi  hối hận về cha mẹ được đón tiếp ân cần.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »