tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748273
Lý luận phê bình văn học
15.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (44) Lĩnh vực tôn giáo của nghệ thuật lãng mạn


Chương thứ nhất. LĨNH VỰC TÔN GIÁO CỦA NGHỆ THUẬT LÃNG MẠN


Bởi vì nghệ thuật lãng mạn trong khi miêu tả tính chủ thể tuyệt đối với tính cách chân lý của tất cả, lấy sự hợp nhất của tinh thần với bản chất của nó, lấy sự thỏa mãn của tâm hồn, sự hòa giải của Thượng đế với thế giới và với chính mình làm nội dung cốt tử, cho nên người ta có cảm tưởng rằng lý tưởng phải tìm thấy sự thể hiện hoàn toàn và đẩy đủ ở trong hình thức này. Bởi vì các đặc trưng chủ yếu của lý tưởng là hạnh phúc và tính độc lập, sự thỏa mãn, tình trạng yên tĩnh và tự nhiên. Cố nhiên, chúng ta không có quyền loại trừ lý tưởng ra khỏi khái niệm và tính hiện thực của nghệ thuật lãng mạn. Nhưng so với nghệ thuật cổ điển thì nó có một hình thức khác hẳn. Mặc dầu chúng ta đã nhắc tới quan hệ giữ hai cái ở trong những nét khái quát, nhưng ở ngay từ đầu, cần phải xác lập cái ý nghĩa cụ thể hơn của nó để giải thích phương thức thể hiện cái Tuyệt đối của nghệ thuật lãng mạn dưới hình thức điển hình.


Trước hết, ở trong lý tưởng cổ điển, yếu tố thần linh là bị hạn chế bởi vì nó qui về tính cá biệt của mình; và thứ hai, tâm hồn và tình trạng hạnh phúc của mỗi vị thần biểu lộ ở trong hình dáng cơ thể của họ ; thứ ba, nghệ thuật này căn cứ trên sự thống nhất không thể phân chia của cá nhân ở trong bản thân y và trong biểu hiên bên ngoài của y, cho nên tính phủ định của sự phân đôi bên trong, của nỗi đau khổ về tinh thần và thể xác, của sự hy sinh và từ bỏ không thể làm thành yếu tố chủ yếu. Mặc dầu yếu tố thần linh của nghệ thuật cổ điển lại bị chia nhỏ ra thành nhiều vị thần, song ở trong bản thân nó vẫn không phải là một sự phân chia giữa cái bản chất phổ biến với cái biểu hiện cá biệt chủ quan mang hình dáng người và có tinh thần của con người. Cũng vậy, thế giới cái ác, tội lỗi và lầm lạc không đối lập lại yếu tố thần linh với tính cách đối lập với cái Tuyệt đối là cái không biểu lộ trong các hiện tượng. Ở đây, nghệ thuật lãng mạn không có nhiệm vụ hòa giải những mặt đối lập này và là thực sự hiện thực và thần linh chỉ với tính cách một sự hòa giải như vậy.


Trái lại, khái niệm tính chủ thể tuyệt đối giả thiết, phải có sự đối lập giữa tính phổ biến cốt tử và cá tính, một sự đối lập mà một khi đã thực hiện được sự can thiệp sẽ làm cho chủ thể tham dự vào cái bản chất phổ biến và làm cho tính bản chất thành một chủ thể tuyệt đối tự biết mình và muốn mình là như thế. Song thực ra, ở trong tính chủ thể với tính cách tinh thần, còn chứa đựng một điều sâu sắc hơn của thế giới hữu hạn và nhờ hòa giải với cái Tuyệt đối, cái vô hạn do hoạt động tuyệt đối của mình tạo nên bản chất của mình đối với chính mình và chỉ lúc đó mới trở thành tinh thần tuyệt đối.


Sự vượt bỏ thế giới hiện thực này ở trong phạm vi và hình tượng của tinh thần con người có một ý nghĩa khác hẳn nghệ thuật cổ điển trong quan hệ đối với cái đẹp. Cái đẹp Hy Lạp nêu lên một nội dung bên trong của cái cá tính tinh thần với diện mạo thể xác của nó; đời sống bên trong biểu lộ hoàn toàn ở cái bên ngoài và tồn tại một cách hạnh phúc ở đấy. Nhưng cái đẹp lãmh mạn còn yêu cầu một điều khác nữa: tinh thần trong khi bộc lộ ra ngoài, đồng thời cần phải nêu rõ rằng nó xuất phát từ tính cơ thể để quay trở về một cuộc sống độc lập. Vì vậy cái đẹp lúc này không liên quan tới sự lý tưởng hóa hình ảnh khách quan, mà liên quan tới cái diện mạo bên trong của tâm hồn ở trong bản thân nó. Nó trở thành cái đẹp có tính tâm hồn chỉ biểu hiện cái phương thức khiến cho mỗi nội dung được sử dụng và được phát triển ở trong đời sống bên trong của chủ thể chứ không hòa lẫn với cái vỏ bên ngoài trong khi dung hợp với tinh thần.


Vì vậy, hứng thú đối với việc nâng sự tồn tại hiện thực lên tới tính thống nhất cổ điển đã bị vượt bỏ và tập trung vào một mục đích đối lập; đem đến một vẻ đẹp mới cho hình thức bên trong của tinh thần, và nghệ thuật ít chú ý tới hình thức bên ngoài. Nghệ thuật sử dụng cái hình thức bên ngoài như nó tìm thấy một cách trực tiếp, tha hồ cho hình thức bên ngoài tự do mang hình thức này hay hình thức khác theo bản chất của nó. Sự hòa giải với cái tuyệt đối trong nghệ thuật lãng mạn làm thành một hành vi của cảm nghĩ bên trong, là cái mặc dầu bộc lộ ra ngoài nhưng vẫn không có cái nội dung cốt tử, và mục đích của nó là bản thân cái bên ngoài dưới hình thức thực tế của nó.


Thái độ thờ ơ như thế đối với sự hợp nhất có tính lý tưởng hóa của linh hồn với thể xác dẫ tới kết quả cấp những đặc điểm cá biệt cho sự biểu hiện những diện mạo bên ngoài, đó là yếu tố chân dung ở trong nghệ thuật. Nó không xóa mờ những hình thức riêng biệt như chúng ta vẫn tồn tại trực tiếp với tính chất xấu xí của tự nhiên không có sự sống – và không đưa ra một cái gì đẹp đẽ hơn để thay thế vào đó. Ngoài ra, chúng ta phải yêu cầu có sự tương ứng nhất định giữa hình thức với nội dung. Song cái hình thức nhất định của sự tương ứng này là rất chung và không thoát khỏi những ngẫu nhiên của tồn tại hữu hạn và có tính chất kinh nghiệm.


Mặt khác, tính tất yếu của nghệ thuật lãng mạn còn có thể được biện hộ bởi một đặc tính bao quát tất cả. Lý tưởng cổ điển, ở nơi nào nó đạt đến đỉnh thực sự cao nhất của mình, thì nó là hoàn mỹ ở bản thân, độc lập và không thể thâm nhập được. Nó đóng vai một cá nhân trọn vẹn, gạt bỏ tất cả những gì không phải ở mình. Hình thức của nó là hình thức của riêng nó, nó sống hoàn toàn ở đấy và chỉ ở đấy mà thôi; no không được hy sinh cái đó cho cái bình thường có tính chất kinh nghiệm và ngẫu nhiên. Vì vậy, những người tri giác cái lý tưởng này với tính cách một khán giả thì không thể nào hiểu sự tồn tại của thần xem như một cái gì bên ngoài, gần gũi với hiện tượng của riêng mình. Mặc dầu hình ảnh các vị thần vĩnh viễn vẫn là hình ảnh của con người, song các thần vẫn không phải là những người trần bởi vì họ đã vượt qua những điều thiếu sót của tồn tại hữu hạn và trực tiếp, đã chiến thắng những thiếu sót ấy. Tính chất chung gắn liền với yếu tố kinh nghiệm và tính chất tương đối đã bị phá hủy.


Trái lại, tính chủ thể vô hạn, yếu tố tuyệt đối của nghệ thuật lãng mạn, không chìm đắm ở trong hiện tượng của mình. Nó ở trong chính mình và do đó mà có cái diện mạo bên ngoài không phải vì mình mà vì những người khác, được người khác tự do đánh giá. Không những thế, cái hình thức bên ngoài không được mang diện mạo cái bình thường, cái có tính chất kinh nghiệm và cái nhân tính, bởi vì ở đây chính Thượng đế cũng hạ cố nhập thân vào cuộc sống hữu hạn và trần thế để thực hiện sự hòa giải và thâm nhập vào cái đối lập tuyệt đối nằm ở trong khái niệm cái Tuyệt đối. Nhờ vậy, con người thấy một khía cạnh mở ra một sự gần gũi với Chúa nên bắt đầu tiếp cận bản thân mình với lòng tin tưởng vào tính tự nhiên trực tiếp. Cái vẻ bên ngoài với sự nghiêm khắc có tính chất cổ điển đối với cá riêng biệt và cái ngẫu nhiên không còn làm cho y sợ hãi, trái lại chỉ cho y thấy y có cái gì, hay những vật xung quanh mà y biết và yêu quí có cái gì. Tính chất gần gũi ở trong sự bình thường là cái khiến nghệ thuật lãng mạn lôi cuốn chúng ta và làm chúng ta tin cậy. Nhưng bởi vì cái bên ngoài bị hy sinh cho cái bình thường, cho nên bản thân hành động hi sinh cần phải nói lên cái đẹp của tâm hồn, cái vĩ đại của tính tinh thần, sự thiêng liêng của tình cảm, do đó đồng thời  nó kêu gọi chúng ta vùi sâu vào đời sống bên trong của tâm hồn, vào nội dung tuyệt đối của nó và chiếm hữu những cái đó.


Cuối cùng từ sự hi sinh này còn toát ra một ý niệm phổ biến khác nữa. Đó là ở trong nghệ thuật lãng mạn, tính chủ thể vô hạn không phải là cô độc ở trong bản thân mình, như vị thần Hy Lạp sống hoàn toàn bó hẹp vào bản thân mình trong tình trạng hạnh phúc bất tuyệt ở thái độ từ chối của mình. Nó vượt ra ngoài giới hạn của mình, nhập vào một quan hệ với một cái khác, song cái này vẫn thuộc về nó; nó lại tìm thấy mình ở đấy và vẫn thống nhất ở bản thân mình. Sự nhất trí của tính chủ thể với cái không phải là nó làm thành vẻ chân chính của nghệ thuật lãng mạn, lý tưởng của nó, và đời sống bên trong tính chủ thể, tâm hồn và tình cảm làm thành hình thức và hiện thực của nó. Lý tưởng lãng mạn, do đó, biểu hiện mối quan hệ với một hiện tượng tinh thần khác gắn liền với tính chủ thể một  cách chặt chẽ đến nỗi tâm hồn chỉ có thể sống nhất trí với bản thân ở hiện tượng này mà thôi. Với tính cách tình cảm, một cuộc sống ở trong những người khác đó là tình yêu.


Vì vậy, ta có thể nói về tình yêu, rằng tình yêu làm thành nội dung phổ biến của nghệ thuật lãng mạn ở trong lĩnh vực tôn giáo của nó. Nhưng tình yêu chỉ có được cái hình thức thực sự lý tưởng khi nó biểu hiện tình trạng hòa giải trực tiếp và tích cực của tinh thần. Nhưng trước khi chúng ta khảo sát trình độ này của sự thỏa mãn có tính chất lý tưởng đẹp đẽ nhất trước hết chúng ta cần phải khảo sát cái quá trình phủ định ở đấy cái chủ thể tuyệt đối xuất hiện để khắc phục tính hữu hạn và tính trực tiếp của sự biểu hiện trong cuộc đời, những đau khổ và cái chết của Chúa vì thế giới và nhân loại cũng như khả năng hòa giải nhân loại với Chúa. Mặt khác, nhân loại tồn tại, nó cũng phải đi quá trình này theo một trật tự ngược lại, để thực hiện khả năng hòa giải này ở bản thân mình. Giữa hai giai đoạn này mà điểm tập trung là cái mặt phủ định của cái chết về thể xác và tâm hồn đó là sự biểu hiện cái hạnh phúc tích cực do chỗ tìm thấy sự thỏa mãn, và làm thành một trong những đối tượng đẹp đẽ nhất của nghệ thuật lãng mạn.


Để phân chia chương thứ nhất của chúng ta một cách chặt chẽ hơn, chúng ta cần phải khảo sát ba lĩnh vực khác nhau.


Trước hết, lịch sử Giêxu chuộc tội: những yếu tố của cái tinh thần tuyệt đối được thể hiện ở trong bản thân Thượng đế bởi vì Thượng đế trở thành một con người, có một tồn tại hiện thực ở trong cái thế giới hữu hạn với các điều kiện cụ thể của nó và bản thân cái Tuyệt đối bộc lộ ở trong sự tồn tại đơn nhất này.


Thứ hai, chúng ta sẽ khảo sát tình yêu dưới hình thức tích cực với tính cách một tình cảm hòa giải được yếu tố nhân tính và yếu tố thần linh: cái gia đình thần thánh, tình yêu của Maria, tình yêu của Giêxu và tình yêu của các môn đồ.


Thứ ba, thể cộng đồng, tinh thần của Thượng đế ở trong nhân loại sau khi các thần linh đã sửa chữa tội lỗi, sự hủy bỏ được mặt tự nhiên và hữu hạn, do đó nhân loại hướng về Thượng đế, một sự trở về ở đấy sự khổ hạnh và sa hi sinh làm thành sự liên kết của cong người với Thượng đế.


 


a.       Lịch sử của việc Giêxu chuộc tội.


 


Sự hòa giải của tinh thần với chính mình, lịch sử tuyệt đối, quá trình của chân lí đã trở thành trực quan và đáng tin nhờ chỗ Thượng đế xuất hiện ở trên thế giới. Nội dung đơn giản của sự hòa giải này là sự hợp nhất của cái chân lí tuyệt đối với tính chủ thể cá biệt của con người;  người nào cũng là Thượng đế, và Thượng đế là một con người cá biệt. Kết quả là tinh thần con người ở bản thân nó, theo khái niệm và bản chất của mình, là một tinh thần chân thực và mỗi chủ thể cá biệt đều có cái sở nguyện vô hạn là làm thành một mục đích để phục vụ Thượng đế và để thống nhất với Thượng đế. Con người cần phải làm cho khái niệm của mình trở thành hiện thực, khái niệm này lúc nguyên sơ chỉ là đơn giản, nói khác đi, con người lấy việc hợp nhất với Thượng đế làm mục đích của mình và đạt đến mục đích ấy. Một khi đã đạt được mục đích này, con người trở thành một tinh thần tự do và vô hạn. Song điều này chỉ có thể đạt được nếu như sự hợp nhất được quan niệm là một hiện tượng nguyên sơ, là cái cơ sở vĩnh viễn của bản chất thần linh và bản chất con người.


Mục đích này đồng thời là cái khởi điểm tuyệt đối, là tiền đề của ý thức tôn giáo lãng mạn. Nói tóm lại ở chỗ chính Thượng đế đã trở thành một con người, bằng xương bằng thịt, một chủ thể đơn nhất, thành ra sự hòa giải mà chúng ta tìm kiếm không chỉ còn là một điều trừu tượng đơn thuần chỉ biết được dựa theo khái niệm, trái lại nó đã tìm thấy sư thể hiện khách quan với tính cách một con người đơn nhất đã tồn tại thực tế. Hình thức của tính đơn nhất này là quan trọng bởi vì nó bộc lộ cho mỗi người thấy rằng sự hòa giải của chính mình với Thượng đế không phải chỉ là một khả năng, mà là một hiện thực và vấn đề làm cho hiện thực này có hiệu lực chỉ là lệ thuộc vào ý muốn của mỗi người. Nhưng bởi vì tính thống nhất với tính cách một thỏa hiệp có tính tinh thần của những yếu tố đối lập không phải chỉ là một sự tồn tại đơn nhất trực tiếp, cho nên cái quá trình làm cho ý thức trở thành tinh thần thực sự phải diễn ra trong mỗi chủ thể dưới hình thức lịch sử của chính chủ thể. Lịch sử này, như chúng tôi đã nêu lên ở trên, là lịch sử của mỗi người cá biệt đã tự tước bỏ cái tính cá biệt về tinh thần và thể xác của mình nghĩa là đã đau khổ và đã chết, và trái lại do nỗi đau khổ của cái chết, ông ta đã hồi sinh từ cái chết, làm thành một Thượng đế đầy vinh quang, làm thành một tinh thần hiện thực. Tinh thần này mặc dầu bây giờ với tính cách một chủ thể nhất định, vẫn có một tồn tại cá biệt, nhưng thực ra ở trong cái thể cộng đồng mà chủ thể này là một bộ phận, người chủ yếu vẫn là Thượng đế và tinh thần.


 


a.       Tính chất có vẻ không cần thiết của nghệ thuật.


 


Lịch sử này làm thành đối tượng chủ yếu của nghệ thuật lãng mạn có tính chất tôn giáo, một chủ đề mà đối với nó thì cái nghệ thuật với tính cách nghệ thuật thuần túy phần nào trở thành một điều thừa. Bởi vì cơ sở của câu chuyện này là một niệm tin tưởng vững chắc ở bên trong, tình cảm và quan niệm của chân lí vĩnh viễn, cơ sở của nó là cái đức tin tự tìm thấy ở chính mình bằng chứng của cái chân lý ấy, và như vậy, trở thành bộ phận tạo thành của chủ thể, thành thịt của xác thịt mình, linh hồn của linh hồn mình. Đức tin đạt đến sự phát triển đầy đủ dẫn tới lòng tin tưởng trực tiếp rằng biểu tượng, ý niệm của những yếu tố của câu chuyện này là đủ để cho ý thức nhận thức được bản thân chân lý. Nhưng nếu như nói đến sự nhận thức chân lý thì cái đẹp của hiện tượng và của biểu hiện bên ngoài trở thành một điều thứ yếu và bàng quan bởi vì chân lý tồn tại đối với ý thức ngay dù là ở bên ngoài và độc lập đối với nghệ thuật.


 


b.       Sự cần thiết của sự xuất hiện nghệ thuật.


 


Song mặt khác, nội dung tôn giáo lại mang ở nó một tính chất không những làm cho nó có thể biểu hiện bằng nghệ thuật mà một mặt nào đấy còn cần tới sự biểu hiện ấy. Như chúng tôi đã nêu bật nhiều lần, ở trong quan niệm tôn giáo của nghệ thuật lãng mạn có một nội dung có tính chất nhân tính tới trình độ cực điểm. Điểm tập trung của nội dung này là sự hòa đúc của cái Tuyệt đối, cái thần linh với tính chủ thể của con người – được tri giác thực sự và tồn tại thực tế ở trong hình thức bên ngoài và tính chất cơ thể. Yếu tố thần linh cần phải biểu hiện, bộc lộ ra ngoài dưới hình thức một diện mạo cá nhân có một tồn tại thực tế, một hình ảnh cụ thể thể hiện lại ngay cả những chi tiết bên ngoài, những biến cố liên quan tới sự ra đời của Giêxu, tới cuộc đời, những đau khổ, cái chết của Người, tới việc Người sống lại và được hoàn cải. Chỉ ở trong nghệ thuật thì cái hiện thực giây lát, hiện thực của vị thần mới được lặp lại lần này lượt khác.


 


c.        Những nét ngẫu nhiên của hiện tượng bên ngoài.


 


Nhưng vì ở trong hiện tượng này người ta nhấn mạnh tới chỗ Thượng đế là một chủ thể cá biệt, khác tất cả các chủ thể khác không những biểu hiện sự hợp nhất của yếu tố thần linh với tính chủ thể của con người nói chung mà còn thể hiện dưới hình thức một con người nhất định, cho nên do bản thân nội dung này nghệ thuật bộc lộ tính ngẫu nhiên và tính chất riêng biệt của thế giới hữu hạn bên ngoài và cái đẹp của lý tưởng cổ điển đã thoát khỏi những điều ngẫu nhiên ấy. Tất cả những điều mà khái niệm tự do của cái đẹp đã gạt bỏ, cho là không thích hợp, không liên quan tới lý tưởng thì ở đây được chấp nhận làm thành một yếu tố toát ra từ bản thân nội dung.


(a)      Chính vì vậy, cá nhân Giêxu thực tế thường được lựa chọn làm đề tài miêu tả. Song những nghệ sĩ nào đã muốn lấy Giêxu làm một lý tưởng theo tinh thần và hình thức của lý tưởng cổ điển đều đã phạm một sai lầm to lớn. Trong những cách miêu tả này, đầu và hình dáng của Giêxu biểu lộ vẻ nghiêm trang bình thản và oai vệ, nhưng điều đó vẫn chưa đủ, bởi vì Giêxu một mặt cần phải biểu hiện đời sống bên trong và tính tinh thần phổ biến, nhưng một mặt khác lại phải thể hiện một cá nhân có nội cảm và một các tính; sự thể hiện hạnh phúc ở trong cái hình tượng cảm quan của con người là mâu thuẫn với cả hai điều đã nói. Không có gì khó hơn là nối liền hai cực hữu hạn này là hình thức và sự biểu hiện; nhất là các họa sĩ bao giờ cũng lúng túng khi muốn vượt ra ngoài phạm vi của kiểu truyền thống. Những hình thưc bên ngoài này cố nhiên lại phải có cái vẻ sâu xa nghiêm trang, nhưng các nét và các hình dáng của nét mặt và của toàn thể dung mạo đều không được thiên về phía thấp hèn, xấu xí, cũng không được vươn lên tới cái Trác tuyệt thực sự. Về mặt hình thức bên ngoài, điều tốt nhất là giữ lấy cái trung dung giữa tính đặc thù của tự nhiên với cái đẹp lý tưởng, nắm được đúng cái trung dung này là khó và ở đấy biểu lộ nghệ thuật, mẫn cảm và trí tuệ của nghệ sĩ.


Nếu như ta không xét cái nội dung vốn thuộc về lĩnh vực đức tin tôn giáo thì các biểu hiện thuộc về lĩnh vực này là lệ thuộc vào lĩnh vực của lý tưởng cổ điển hơn là thuộc vào khả năng sáng tạo chủ quan của nghệ sĩ. Trong nghệ thuật cổ điển, yếu tố thần linh và yếu tố tinh thần đều được biểu hiện trực tiếp ở trong hình thức của cơ thể, ở diện mạo của thể hữu cơ của con người. Vì vậy những hình thức của cơ thể trong các biến đổi hình dạng của nó thoát ly khỏi cái bình thường và cái hữu hạn làm thành hứng thú. Ở trong nghệ thuật lãng mạn, hình ảnh vẫn để nguyên vẹn như ở trong những hoàn cảnh bình thường, hình thức của nó là bàng quan đến một mức độ nào đấy và làm thành một cái gì cá biệt có thể thế này hay thế khác cũng được; về mặt này, hình tượng có thể xử lý hết sức tự do. Hứng thú chủ đạo như vậy, một mặt là cái phương thức mà nghệ sĩ sử dụng để đạt đến tinh thần và cái đều quí báu nhất của tinh thần ở trong cái vẻ bình thường và quen thuộc ấy, và mặt khác, là ở cách thực hiện, những phương tiện kỹ thuật và tài nghệ mà nghệ sĩ sử dụng để cấp cho hình tượng của mình một sức sống tinh thần và cái vẻ trực quan, tính cảm quan của yếu tố tinh thần.


(b)      Ngoài ra, nội dung này, như chúng ta đã thấy, còn bao gồm cái lịch sư truyệt đối, xuất phát từ bản thân khái niệm tinh thần, lịch sử, là cái làm cho hiện tượng trở về tính cá biệt thể xác, và tinh thần trở về bản chất  và tính phổ biến. Bởi vì sự hòa giải của tính chủ thể đơn nhất với thần không đóng vai một sự hài hòa trực tiếp mà một sự hài hòa được thực hiện sau khi đã trải qua những đau khổ vô hạn, sau khi đã từ bỏ, hi sinh, gạt bỏ tất cả cá yếu tố cảm quan, hữu hạn và chủ quan. Cái hữu hạn và cái vô hạn ở đây gắn liền với nhau làm một, và sự hòa giải ở trong trình độ sâu sắc chân thực của mình, do sức mạnh và tính tinh thần của mình mà bộc lộ chỉ qua tính gắt gao và tính to lớn của một sự đối lập cần phải tìm cách giải quyết. Người ta có thể nói rằng tất cả tính sắc sảo và tình trạng không hài hòa bắt nguồn từ những đau khổ, những dằn vặt và những chia xé đều thuộc về bản chất của tinh thần và một phần của nội dung nghệ thuật ở đây là sự thỏa mãn tinh thần một cách tuyệt đối.


Cái quá trình này của tinh thần, xét một cách độc lập làm thành bản chất, khái niệm tinh thần và chứa đựng ở nó đặc trưng nó là một lịch sử khái quát đối với ý thức và lịch sử ấy cần được lặp lại ở từng ý thức cá nhân bởi vì chính ý thức của nhiều người cá biệt là một thực tế và là điều chứng minh sự tồn tại của cái tinh thần phổ biến. Song bởi vì tinh thần về thực chất là thể hiện ở trong cá nhân cho nên lúc đầu lịch sử phổ biến này chỉ diễn ra dưới hình thức lịch sử của một người duy nhất, ở đấy nó được thể hiện xem như lịch sử của riêng người ấy, lịch sử người ấy ra đời, chịu đau khổ, chết và tái sinh lịch sử của tinh thần phổ biến và tuyệt đối.


Bước ngoặt lịch sử ở trong cuộc đời này của Chúa đoa là, lúc bỏ mất sự tồn tại của mình trong diện mạo một con người đơn nhất nhất định Chúa thôi không còn là một con người nhất định; bước ngoặt này được thể hiện bằng lịch sử những cuộc hành trình, bởi những khổ hình trên thánh giá, bởi những quằn quại của cái chết. Ở đây bản thân nội dung không thể phù hợp với cái lý tưởng cổ điển và, do đó, càng ít thích hợp với sự thể hiện lý tưởng này bởi vì sự biểu hiện bên ngoài và thể xác, sự tồn tại trực tiếp tỏ ra là một sự kiện mà đối với nó cá  nhân chấp nhận một thái độ phủ định qua những đau khổ để có thể đạt tới chân lý và tới thiên đường của mình. Mặt khác, thực vậy, cái xác thịt trần tục và sự yếu đuối của bản chất con người được nâng cao và trở thành thiêng liêng do chỗ chính Thượng đế đã xuất hiện qua cái thân hình ấy, và cái bản chất ấy, nhưng mặt khác thân hình và bản chất này với tính cách là của con người trần tục, đều được nêu lên một cách phủ định và chỉ biểu hiện qua những đau khổ, trong lúc đó thì trong lí tưởng cổ điển cái thuần túy nhân tính vẫn duy trì với yếu tố tinh thần và yếu tố bản chất một sự hợp nhất hài hòa không bị cái gì quấy rối. Giêxu bị roi quất, phải mang một vòng gai, mang thập tự giá đến nơi hành hình, bị đóng đinh ở thập tự giá, chết một cái chết chậm chạp, đau đớn, một cái chết của người tử vì đạo, tất cả những điều đó không miêu tả dưới những hình thức của cái đẹp Hy Lạp. Trong những tình huống này bộc lộ sự thiêng liêng bên trong, trình độ sâu sắc bên trong, tính chất vô biên của đau khổ với tính cách một yếu tố vĩnh viễn của tinh thần, sự chịu đựng với thái độ thanh thản thần linh qua đó nói lên tính vĩnh viễn của tinh thần.


Xung quanh hình tượng trung tâm này là những người bạn và những người thù. Những người bạn không phải là lí tưởng, nhưng theo khái niệm của họ, họ là những con người bình thường, những con người riêng biệt mà sức mạnh tinh thần đã dẫn tới thánh giá. Còn những kẻ thù là những kẻ có thái độ chống đối lại Chúa, sẽ kết án Giêxu, sẽ chế giễu Người, hành hạ Người, sẽ đóng đinh Người, sẽ được biểu hiện như là có một bản chất độc ác. Bản chất này khi biểu hiện ra ngoài sẽ mang hình thức xấu xí, thô lỗ, dã man, hung hăng và dữ dội. Ở tất cả các quan hệ này cái xấu xí ở đây xuất hiện làm thành một yếu tố khách quan cái đẹp cổ điển.


(c)      Nhưng ở trong bản chất thần linh thì cái chết chỉ được xem là trạng thái quá độ, là một giai đoạn dẫn tới sự hòa giải của tinh thần với chính mình và tới sự dung hợp của cái nhân tính với cái thần linh, của cái phổ biến với tính chủ thể. Chính sự khẳng định này phải được biểu hiện một cách tích cực bởi vì nó làm thành cơ sở và yếu tố đầu tiên. Sự tái sinh và việc lên trời ở trong lịch sử của Giêxu làm thành những đề tài thuận tiện nhất đối với sự thể hiện nghệ thuật. Người ta còn có thể thêm vào đấy những đề tài liên quan tới những lúc Giêxu đóng vai người thầy dạy dỗ. Nhưng ở đây, nghệ thuật tạo hình lại vấp phải một khó khăn to lớn, bởi vì nó có hai nhiệm vụ: một mặt thể hiện tinh thần với tính cách bản chất trong cuộc sống nội tâm của nól thứ hai tinh thần tuyệt đối, thống nhất thâm trầm với tính chủ thể và được nâng lên vượt quá sự tồn tại trực tiếp vẫn phải tìm thấy ở trong thể xác và ngoại giới, sự thể hiện toàn bộ của tính vô hạn và cái nội dung bên trong của nó.


 


b.       Tình yêu tôn giáo.


 


Tinh thần với tính cách tinh thần tồn tại tự nó và cho nó không thể làm thành đối tượng trực tiếp của nghệ thuật. Sự hòa giải thực tế cao nhất với tinh thần chỉ có thể là một hòa giải thuần túy tinh thần, và do tính chất thuần túy lý tưởng của nó nên vượt ra ngoài sự biểu hiện nghệ thuật, bởi vì cái chân lý tuyệt đối là cao hơn ngoại hiện của cái đẹp là cái không thể nào tách rời khỏi yếu tố hiện tượng và cảm quan. Nhưng nếu như nghệ thuật muốn cấp cho tinh thần trong sự hòa giải tinh thần làm cho tinh thần không những đóng vai một ý niệm thuần túy với tính cách một đối tượng của tri giác thuần túy có tính lý tưởng, mà làm người ta có thể có tri giác và chiêm ngưỡng nó, thì nghệ thuật chỉ có thể làm điều đó dưới một hình thức duy nhất thỏa mãn đòi hỏi về tính tinh thần và tính chất bộc lộ ra ngoài bằng những phương tiện nghệ thuật: hình thức này là hình thức thể hiện nội cảm của tinh thần, những vận động của tinh thần, đời sống tình cảm. Cái nội cảm này là cái duy nhất tương ứng với khái niệm tinh thần tự do và thỏa mãn ở bản thân mình, đó là tình yêu.


 


      i.           Khái niệm của đấng Tuyệt đối với tính cách tình yêu.


 


Ở trong tình yêu được khảo sát về mặt nội dung chứa đựng những yếu tố mà chúng tôi đã nêu lên làm thành khái niệm của tinh thần tuyệt đối: sự quay trở về bản thân trong trạng thái hòa giải, xuất phát từ một tồn tại khác tồn tại của mình. Cái “khác” này ở đấy tinh thần có thể tồn tại mà vẫn cứ là tinh thần, đến lượt nó lại phải thuộc về yếu tố tinh thần, phải là một cá tính tinh thần: bản chất thực sự của tình yêu chính là ở chỗ tình yêu hủy bỏ ý thức về chính mình, quên mình ở trong một cái tôi khác, nhưng trước hết phải tìm lại được mình và làm chủ được mình trong tình trạng bị quên lãng và bị biến mất như vậy. Tình trạng tinh thần làm môi giới với chính mình và vươn lên đến cái toàn thể, làm thành cái Tuyệt đối, không phải theo nghĩa một tính chủ thể cá biệt và do đó hữu hạn, tìm thấy mình và tự thể hiện mình ở trong một cái chủ thể hữu hạn khác và hòa làm một với nó, nhưng cái Tuyệt đối đó là nội dung của tính chủ thể làm môi giới với chính mình ở trong một cái khác. Đây là một tinh thần chỉ cảm thấy hài lòng thỏa mãn khi nó đi đến chỗ nhận thức được mình ở trong một tinh thần khác và biểu lộ ý chí của mình với tính cách ý chí của đấng Tuyệt đối.


 


     ii.           Tâm hồn.


Nội dung này với tính cách tình yêu có hình thức của một tình cảm tập trung vào bản thân chứ không phải bộc lộ ra ngoài, và nhận thức đặc trưng của nó, tính phổ biến của nó, trái lại hạn chế trực tiếp tầm rộng lớn của nó ở tính chất bất biến, bằng cách quay trở về bản thân, và những nơi sâu thẳm của tâm hồn, và bộc lộ với tính cách một biểu hiện cô đọng của những nơi sâu thẳm này. Kết quả là, nội dung ở trạng thái phổ biến thuần túy tinh thần sẽ không thể nào biểu hiện một cách nghệ thuật được thì ở đây do chỗ tình cảm được chủ thể hóa, cho nên lại có thể thể hiện bằng nghệ thuật; bởi vì một mặt, nếu nó bị vùi sâu vào những nơi sâu thẳm của tâm hồn, thì nội dung này không thể bộc lộ hoàn toàn rõ ràng, nhưng một mặt khác nó lại vay mượn ở hình thức này một yếu tố nhất trí với nghệ thuật. Và thực vậy, tâm hồn, con tim, tình cảm mặc dầu vẫn có tính tinh thần và ở bên trong, nhưng lại vẫn gắn liền với yếu tố cảm quan và yếu tố thể xác. Ở trong thể xác, trong cái nhìn, trong những đường nét của gương mặt hay trong những biện pháp có tính tinh thần hơn – trong âm thanh và lời nói, bao giờ chúng cũng có thể bộc lộ những mặt sâu kín nhất của cuộc sống và của sự tồn tại của tinh thần. Những cái bên ngoài ở đây có nhiệm vụ thể hiện đời sống nội tâm bên trong trong những cảm nghĩ tinh thần bên trong của nó.


 


    iii.           Tình yêu với tính cách lý tưởng lãng mạn.


 


Nếu như quan niệm lý tưởng là ở sự hòa giải của nội tâm với hiện thực của nó, thì ta có thể định nghĩa tình yêu là cái lý tưởng của nghệ thuật lãng mạn ở phương diện tôn giáo của nó. Nó là cái đẹp có tính tinh thần, lý tưởng cổ điển cũng biểu lộ sự hòa giải của tinh thần với một cái khác của nó. Những ở đây cái khác là cái bề ngoài thấm nhuần tinh thần, cái vỏ thể xác của nó. Trái lại, ở trong tình yêu cái khác đối với tinh thần không phải là một cái gì tự nhiên, mà bản thân nó là một ý thức tinh thần, một chủ thể khác. Tinh thần được thể hiện ở đây như là ở bản thân nó trong cái yếu tố thích hợp nhất của nó. Như vậy, tình yêu ở trong sự thỏa mãn tích cực này và ở trong cái hiện thực này ở đấy nó tìm thấy sự nghỉ ngơi và hạnh phúc của nó, đem đến cho tình yêu một vẻ đẹp lý tưởng nhưng có tính chất tinh thần, chỉ chỉ có thể bộc lộ với tính cách nội cảm, với tính cách biểu hiện cuộc sống sâu xa nhất của tâm hồn. Bởi vì tinh thần tự biết rằng nó có mặt và tự biết trực tiếp rằng nó là tinh thần và sự tồn tại của nó là gồm những yếu tố tinh thần và diễn ra trong lĩnh vực tinh thần mang tính chất nội cảm cao nhất và đúng hơn tính nội cảm của tình yêu.


1.       Thượng đế là tình yêu. vì vậy bản chất sâu sắc nhất của Thượng đế phải được quan niệm là đã nhập thần vào Giêxu và được biểu hiện dưới một hình thức thích hợp với nghệ thuật. Nhưng Giêxu lại còn đại biểu cho cái tình yêu có tính thần linh, có đối tượng một mặt là bản thân Thượng đế với bản chất vô hình không bộc lộ ở trong hiện tượng và mặt khác là cái nhân loại cần được chuộc tội. Vì vậy Giêxu không thể thể hiện sự dung hợp của một chủ thể với một chủ thể khác nhất định mà GIêxu là bản thân ý niệm tình yêu trong tính phổ biến của nó, là yếu tố tuyệt đối, là tinh thần của chân lý trong các yếu tố và là hình thức của tình cảm.


Cùng với tính chất phổ biến của đối tượng, sự biểu hiện tình yêu cũng được khái quát hóa theo nghĩa sự tập trung chủ quan của con tim và của linh hồn thôi không còn đóng vai trò chủ yếu. Người Hy Lạp cũng làm như vậy mặc dầu theo một ý nghĩa khác hẳn. Trong các thần thoại về Erôt cổ xưa có tính chất Titan và thần Vênut Urania, ý niệm phổ biến đóng vai trò chính chứ không phải là cái phương diện chủ quan của tình cảm cá nhân. Chỉ trong trường hợp khi Giêxu (trong các miêu tả của nghệ thuật lãng mạn) được quan niệm đồng thời là một chủ thể đơn nhất, vùi sâu vào bản thân, đồng thời lại là một cái gì lớn hơn thì lúc đó tình yêu mới mang hình thức nội cảm của chủ thể, mặc dầu bao giờ nó cũng được nâng cao và được nâng đỡ bởi tính phổ biến của nội dung của mình.


2.       Nhưng đề tài thích hợp nhất với nghệ thuật trong lĩnh vực tôn giáo, đó là tình yêu của Maria, tình mẫu tử. Đây là đề tài ở đấy trí tưởng tượng lãng mạn có tính chất tôn giáo đã đạt được nhiều thành công nhất. Tình mẫu tử là hiện thực nhất và nhân tính nhất song nó lại hoàn toàn có tính tinh thần, không chứa đựng tính ích kỷ và dục vọng, không mang tính cảm quan những vẫn có hiệu lực; nó là nội cảm hạnh phúc hưởng sự thỏa mãn tuyệt đối. Đó là tình yêu không mong muốn những không phải là tình bạn, bởi vì tình bạn dù sâu sắc đến đâu cũng có một mục đích nhất định, tình bạn tồn tại là nhằm một mục đích chung làm thành cơ sở chủ yếu của nó. Trái lại, tình mẫu tử không có mục đích chung và quyền lợi chung mặc dầu nó trực tiếp dựa vào những quan hệ tự nhiên. Nhưng tình yêu của người mẹ không phải bó hẹp vào cái phương diện tự nhiên này. Ở trong đứa con mà Maria ôm trong lòng, mà bà đã sinh hạ trong đau khổ, bà đã gặp lại mình, bà đã nhận thức được bản thân mình ở đấy. Mặc dầu đứa con này, xác thịt của xác thịt bà, là cao hơn bà, nhưng mặc dầu cao như vậy, nó vẫn là của bà và vẫn làm thành một đối tượng ở đấy bà quên mình và duy trì bản thân mình. Cái nội cảm tự nhiên của tình yêu mẫu tử đã được tinh thần hóa hoàn toàn. Nó lấy yếu tố tinh thần làm nội dung thực sự của nó, nhưng yếu tố tinh thần này lại thấm nhuần một cách kỳ diệu, không thể thấy được và tự nhiên thấm nhuần tính thống nhất tự nhiên và tình cảm con người. Đó là cái tình mẫu tử đầy hạnh phúc, nhưng hạnh phúc này lúc đầu tiên chỉ là hạnh phúc của một người mẹ mà thôi.


Kể ra, tình yêu này không phải không có đau khổ, song những đau khổ là bị gây nên bởi số phận của đứa con chịu đau khổ, hấp hối và cuối cùng chịu chết, chứ không phải (như chúng ta sẽ thấy ở sự phát triển sau này) bị gây nên bởi tình trạng bất công và sự hành hạ do bên ngoài hay do những cuộc đấu tranh không ngừng chống lại tội lỗi hay do những sự dằn vặt trong đó bản thân con người bị chia xé. Nội cảm này bộc lộ cái đẹp tinh thần, lý tưởng, sự đồng nhất hóa nhân tính của con người với Thượng đế, với tinh thần, với chân lý. Đây là hành động hoàn toàn bỏ quên, khước từ tất cả làm cho người ta gặp lại mình và nhận ra mình ở trong đối tượng của tình yêu của mình và nhận thấy một sự thỏa mãn vô ngần ở trong sự thống nhất này.


Nếu như tình mẫu tử, cái hình ảnh có thể nói của tinh thần, xuất hiện đẹp đẽ như vậy ở trong nghệ thuật lãng mạn dưới hình thức này, thay thế bản thân tinh thần thì đó là vì tinh thần chỉ được lý giải bởi nghệ thuật dưới hình thức tình cảm mà thôi, và cái tình cảm của sự hợp nhất của cá nhân với Thượng đế, dưới hình thức nguyên thủy nhất, hiện thực nhất, sinh động nhất chỉ tồn tại trong tình mẫu tử của Đức mẹ đồng trinh. Tình yêu này tất yếu phải được thể hiện trong nghệ thuật bởi vì yếu tố lý tưởng, sự hòa giải tích cực, sự thỏa mãn cần phải được biểu hiện ở trong nghệ thuậ. Vì vậy một thời đã cho cái tình mẫu tử của Đức mẹ quang vinh là tình cảm cao quí nhất và thiêng liêng nhất. Nhưng khi tinh thần nhận thức được mình ở trong yếu tố của mình, độc lập với mọi cơ sở tự nhiên, cảm quan thì cái môi trường trung gian có tính tinh thần, thoát khỏi cái cơ sở này có thể được xem là một con đường tự do dẫn tới chân lý. Chính vì vậy ở trong đạo Tin lành, không phải việc thờ phụng Maria trở thành chân lý cao nhất của nghệ thuật và của đức tin mà là Chúa thánh thần và sự can thiệp bên trong của tinh thần.


Cuối cùng, thứ ba, sự hòa giải tích cực của tinh thần với tính cách một tình cảm biểu lộ ở các môn đồ của Giêxu, ở những người đàn bà và những người bạn đi theo Giêxu. Những người này nhờ tình bạn, nhờ việc dạy dỗ, và những lời truyền giáo của người bạn thần linh của họ là Giêxu, đã khắc phục được tính chất khác khổ của tư tưởng đạo Thiên Chúa, đã tiếp thu được nó mà không cảm thấy những dằn vặt và những đau khổ bên ngoài và bên trong. Họ đã nắm được tất cả ý niệm này, đã làm chủ được nó và bản thân họ gắn liền với nó một cách sâu sắc. Kể ra, họ vẫn còn thiếu tính thống nhất trực tiếp trước đây và cái nội cảm của tình mẫu tử, nhưng ở đây yếu tố ràng buộc họ cũng vẫn là sự có mặt của Giêxu, thói quen sống chung và ảnh hưởng trực tiếp của tinh thần.


 


c.       Tinh thần của thể cộng đồng.


 


Nếu như khảo sát việc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của lĩnh vực này thì chúng ta có thể nối liền nó với những điều đã nói về lịch sử của Giêxu. Sự tồn tại trực tiếp của Giêxu với tính cách một con người cá biệt cụ thể, đồng thời lại là Chúa, nói khác đi là Chúa đã mang hình thức một con người chính xác và cụ thể, sự tồn tại này được nêu lên tính cách vượt ra ngoài phạm vi của hiện thực. Tính hiện thực của đấng Tuyệt đối với tính chủ thể vô hạn là bản thân tinh thần: Chúa chỉ tồn tại trong sự hiểu biết trong lĩnh vực nội tâm.


Sự tồn tại tuyệt đối này của Thượng đế với tính cách phổ biến vừa của ý niệm vừa của chủ thể, không chỉ bó hẹp bởi một con người duy nhất là kẻ đã thể hiện sự hòa giải tính chủ thể của con người và của thần linh. Sự tồn tại tuyệt đối của Thượng đế mở rộng để trở thành sự hòa giả của ý thức con người với Thượng đế, và nói chung trở thành cái nhân loại tồn tại ở trong nhiều người cá biệt. Song con người nếu xét ở bản thân xem như một cá nhân đơn nhất thì y chẳng có cái gì là thần linh cả; trái lại y thuộc về lĩnh vực chân chính và hữu hạn. Y chỉ đạt đến sự hòa giải với Thượng đế trong chừng mực y thực sự cho rằng cái phần nhân tính và hữu hạn là một yếu tố tiêu cực, và bằng cách làm như vậy y gạt bỏ yếu tố ấy. Chỉ bằng cách giải phóng như vậy khỏi những thiếu sót của lĩnh vực hữu hữu hạn nhân loại mới tự khẳng định mình là sự tồn tại của tinh thần tuyệt đối, với tính cách tinh thần của thể cộng đồng ở đấy sự hợp nhất của yếu tố con người với yếu tố thần linh được sự thực hiện ở trong bản thân hiện thực của con người với tính cách một môi giới thực tế của cái mà theo khái niệm của tinh thần phải ở trong cái thể thống nhất ngay từ lúc ban đầu.


Những hình thức chính của cái nội dung mới của nghệ thuật lãng mạn có một ý nghĩa quan trọng có thể phân chia như sau.


Cái chủ thể đơn nhất, tách khỏi Thượng đế, sống trong tội lỗi và trong cuộc đấu tranh chống lại cái hiện thực trực tiếp và những nghèo nàn của tồn tại hữu hạn, có nhiệm vụ đạt đến sự hòa giải với mình và với Thượng đế. Nhưng bởi vì trong lịch sử của sự chuộc tội của Giêxu, chính việc phủ định tính cá biệt trực tiếp làm thành yếu tố chủ yếu của tinh thần, cho nên chủ thể chỉ có được khả năng vươn lên tới tự do và thế giới ở trong thần linh thông qua việc từ bỏ cái mặt tự nhiên và cái tính hữu hạn của nó.


Sự vượt bỏ tính hữu hạn có thể có được bằng ba cách:


Thứ nhất, bằng cách lặp lại ở bên ngoài câu chuyện Giêxu bị hành hình, và cuối cùng, những sự đau khổ này trở thành những đau khổ xác thịt thực tế: sự khổ hạnh.


Thứ hai, bằng cách tu nhân ở trong nội tâm của tâm hồn, bằng cách chiêm ngưỡng bên trong được thực hiện bởi cách ăn năn, hối hận, chịu hình phạt.


Thứ ba, cuối cùng, sự biểu hiện của yếu tố thần linh ở trong cái hiện thực của thế giới bên ngoài được quan niệm theo nghĩa gạt bỏ sự diễn biến tự nhiên của các biến cố và hình thức bình thường của sự vật: đó là lòng tin vào những phép màu qua đó thể hiện sức mạnh và sự có mặt của yếu tố thần linh.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Nga Nghĩ và Viết lịch sử Văn học - Lã Nguyên 18.11.2018
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
xem thêm »