tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24722854
Lý luận phê bình văn học
15.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (43)


Thuộc loại này, trước hết cần phải nói đến văn châm biếm. Ở đây, trong những lời hô hào trống rỗng các tác giả cố gắng bộc lộ thái độ căm phẫn có tính chất đạo đức chống lại cái thế giới xung quanh. Hình thức nghệ thuật này – tự thân nó là nôm na – chỉ có thể mang một cái vẻ nên thơ bằng cách trình bày cái thế giới hư hỏng như là đang giãy giụa chống lại tình trạng trạng hư hỏng của mình, tình trạng này biến mất do tính chất vô nghĩa lý ở bản thân nó. Chẳng hạn Horaxơ, người mà trong thơ trữ tình đã hoàn toàn tiếp thu hình thức và cách diễn đạt nghệ thuật của Hy Lạp, trong các bức thư và các bài thơ châm biếm ở đấy ông tỏ ra độc đáo hơn, đã phát họa một hình ảnh sinh động những phong tục đương thời, bằng cách nêu lên tình trạng ngu xuẩn tự phá hủy mình do chỗ các địa phương tiện sử dụng là không ăn khớp. Nhưng đây là một lời bông đùa tế nhị và có tính chất văn hóa chứ hoàn toàn không phải một niềm huân hoan nên thơ, cảm thấy hài lòng về chỗ chế nhạo cái xấu. Các nhà thơ khác, trái lại, trực tiếp đối lập trừu tượng về công lý và đạo đức với những tật xấu. Ở đây sự phẫn nộ, tức tối, giận dữ, căm thù, khi thì biểu lộ thành những lời nói trừu tượng dài dòng về đạo đức về sự khôn ngoan, khi thì mang hình thức một sự chống đối của một tâm hồn cao thượng bị xúc phạm tàn nhẫn, đả kích vào những tật xấu và cái tính nô lệ của thời đại, đem các bức tranh những phong tục của thời xưa, của cái tự do ngày xưa, của những đạo đức một thời đã qua ra đối lập lại những tội lỗi của ngày hôm nay song vẫn không hi vọng và không tin tưởng thực sự rằng có thể quay trở lại những thời xa xưa ấy. Tính chất bấp bênh, thay đổi, những khó khăn và những nguy hiểm của một thời đại, của cái hiện tại xấu xa không thể dùng một cái gì khác để đối lập lại ngoài thái độ thản nhiên khắc kỷ, và tinh thần cứng rắn bên trong của một tâm hồn tin tưởng vào đạo đức.


Tình trạng bất mãn này cũng phản ánh một các tương tự ở trong sử ký và triết học La Mã. Xalutxtơ cho rằng mình phải lên tiếng chống lại  tình trạng hư hỏng về đạo đức mà chính tác giả cũng không thoát khỏi. Titut Liviut, mặc dầu khái quát vẻ lịch sử có tính chất từ chương, tìm an ủi và thỏa mãn trong việc miêu tả quá khứ; nhưng quan trọng hơn cả là Taxit với thái độ bất bình vừa cao thượng lại vừa sâu sắc, phơi bày tình trạng thối nát của thời đại mình, và làm điều đó một cách rất trực quan không cần đến mọi lời hô hào trống rỗng.


Trong số các nhà văn châm biếm thì Pecxơ tỏ ra kịch liệt nhất. Ông còn gay gắt hơn Giuvênan. Sau này người Hy Lạp ở Xiri là Luxiêng lên tiếng với thái đọ o vui vẻ suồng sã chống lại tất cả mọi thứ trên đời: chống lại các triết gia, các anh hùng, các thần, chủ yếu ông lấy các vị thần của Hy Lạp cổ đại làm đối tượng để chế nhạo, bằng cách nêu bật khía cạnh con người và cá nhân của họ. Nhưng ông thường nói nhảm về những nét thuần túy bên ngoàiu hình tượng các thần và cái hành động của họ. Điều đó làm cho việc đọc ông trở thành chán ngấy, nhất là đối với những người hiện đại chúng ta, bởi vì những điều ông muốn tiêu diệt từ lâu đã thôi không không tồn tại đối với chúng ta và mặt khác chúng ta biết rằng những nét của các thần mà ông tìm cách chế nhạo, vẫn giữ một giá trị vĩnh viễn xét theo quan điểm cái đẹp.


Ở thời chúng ta, loại văn châm biếm cũng không thành công. Côtta và Gơt đã nêu giải thưởng để thưởng các tác phẩm châm biếm, nhưng vẫn có những tác phẩm thơ về loại này. Muốn làm tác phẩm châm biếm thì cần phải có những nguyên lý vững chắc, nhưng những nguyên lý này lại mâu thuẫn với thời hiện đại, bởi vì sự khôn ngoan vẫn là trừu tượng. Đạo đức trong khi bướng bỉnh chỉ vâng theo mình, mặc dầu có thể xung đột với hiện thực vẫn không thể nào dùng những phương tiện thực sự  nên thơ thực hiện việc tiêu diệt mặt giả dối và đáng ghét của đời sống cũng không thể thỏa hiệp thực sự với sự chân thực.


Nhưng nghệ thuật không thể dừng lại ở sự chia rẽ này giữa sự suy nghĩ trừu tượng bên trong với cái hiện thực bên ngoài mà không từ bỏ cái nguyên lý của mình. Mặt chủ thể cần phải được quan niệm là vô tận ở bản thân mình, là tồn tại vì mình và cho mình. Mặc dầu nó không thể để cho hiện thực hữu hạn tồn tại như một cái gì chân thực, nhưng nó cũng không được có một thái độ thuần túy tiêu cực với cái hiện thực ấy. Trái lại, phải tìm mọi cách thực hiện một sự tổng hợp của hiện thực và cái chân thực. Và chỉ bằng cái hoạt động này, lần đầu tiên nghệ thuật mới có thể đóng vai một tính chủ thể tuyệt đối độc lập lại các cá nhân lý tưởng của hình thức nghệ thuật cổ điển.


 


III. HÌNH THỨC LÃNG MẠN CỦA NGHỆ THUẬT


Lời nói đầu


BÀN VỀ TÍNH LÃNG MẠN NÓI CHUNG


Hình thức của nghệ thuật lãng mạn, như chúng ta đã thấy qua tất cả sự trình bày của chúng tôi, là bị qui định bởi cái khái niệm bên trong của một nội dung mà nghệ thuật có nhiệm vụ phải thể hiện. Trước hết, chúng ta phải thấy rõ nguyên lý độc đáo của cái nội dung mới mẻ này là cái bây giờ được nhận thức xem như nội dung tuyệt đối của chân lý và xây dựng nên một cách nhìn mới về thế giới và một hình thức nghệ thuật mới.


Ở giai đoạn đầu của nghệ thuật, xu hướng của hư cấu là muốn thoát ra khỏi tự nhiên để hướng về tính tinh thần. Nhưng cố gắng này vẫn chỉ mới là những tìm tòi của tinh thần. Bởi vì tinh thần vẫn còn chưa có thể cấp cho nghệ thuật một nội dung thực sự, cho nên nó bắt buộc phải đóng vai một hình thức bên ngoài đối với cái ý nghĩa có tính chất tự nhiên, hay đối với những điều từu tượng không có tính chủ thể, và tinh thần lấy các hình thức bên ngoài và các điều trừu tượng này làm thành trung tâm của bản thân nghệ thuật.


Ở trong nghệ thuật cổ điển chúng ta thấy một điều ngược lại. Ở đây, tính tinh thần mặc dầu lần đầu tiên đạt đế những trình độ độc lập nhờ chỗ vượt bỏ ý nghĩa tự nhiên, nhưng vẫn làm thành cơ sở và nguyên lý của nội dung còn các hiện tượng tự nhiên với tính chất cụ thể cảm quan và thể xác của nó làm thành hình thức bên ngoài. Nhưng hình thức này không phải vẫn cứ hời hợt, mơ hồ và không thấm nhuần nội dung của tinh thần như ở giai đoạn thứ nhất. Ở đây tính hoàn mỹ của nghệ thuật đã đạt đến cái đỉnh khiến cho yếu tố tinh thần hoàn toàn thâm nhập vào biểu hiện bên ngoài, bằng cách lý tưởng hóa yếu tố tự nhiên ở trong sự thống nhất đẹp đẽ này và làm cho tự nhiên thành một hiện thực ăn khớp với tinh thần mang hình thức một cá tính có tính bản chất. Do đó, nghệ thuật cổ điển đã trở thành một sự thể hiện của lý tưởng tương ứng với khái niệm, thành sự thiết lập vương quốc của cái đẹp. Không thể có và sẽ không thể có cái gì đẹp hơn.


Song vẫn còn có một cái gì cao hơn là sự thể hiện cái đẹp của tinh thần dưới một hình thức cảm quan, trực tiếp, ngay dù cho hình thức này là do tinh thần tạo ra xem như thích hợp với tinh thần. Bởi vì sự thống nhất này ( được biểu hiện ở trong yếu tố bên ngoài và làm cho hiện thực cảm quan có một tồn tại ăn khớp) đến lượt nó, vẫn đối lập lại cái khái niệm chân chính của tinh thần cũng do sự hòa giải của tinh thần với chính minh ở trong yếu tố cơ thể tính thống nhất đẩy tinh thần đến sự hòa giải ở trong bản thân mình. Tính toàn vẹn đơn thuần, tích cực của lý tưởng bị tan rã và trở thành một chỉnh thể có hai mặt: mặt chủ thể ở trong bản thân mình và mặt hiện tượng bên ngoài. Sự phân đôi này khiến cho tinh thần có thể đạt đến một sự hòa giải sâu sắc hơn trong yếu tố riêng của mình, trong yếu tố đời sống nội tâm. Tinh thần (là cái vẫn dựa trên nguyên lý sự ăn khớp với bản thân, tính thống nhất của khái niệm với thực tại) chỉ có thể tìm thấy một thực tại tương ứng với mình ở trong cái thế giới của mình, trong cái thế giới tinh thần của tình cảm, con tim v.v… và của một đời sống nội tâm nói chung. Nhờ đó, tinh thần nhận thức được rằng, với tính cách tinh thần, nó có một tồn tại khác, sự tồn tại của nó ở bản thân và ở trong bản thân và chỉ nhờ vậy mà nó có thể hưởng tính chất vô hạn của mình.


 


1.       Nguyên lý tính chủ thể bên trong.


 


Trong khi quay trở về mình, tinh thần có được ở trong bản thân nó cái tính khách quan mà nó vẫn hoài công tìm kiếm ở trong thế giới cảm quan và bên ngoài. Nó cảm thấy mình và nhận thức được rằng mình thống nhất với bản thân mình. Sự nâng cao này làm thành nguyên lý cơ bản của nghệ thuật lãng mạn. Gắn liền với nguyên lý này có một đặc trưng tất yếu, đó là ở giai đoạn này của nghệ thuật, cái đẹp của lý tưởng cổ điển, và, do đó, cái đẹp dưới hình thức ăn khớp nhất đối với cái nội dung được thể hiện, không làm thành mục đích cao nhất, mục tiêu cuối cùng của nghệ thuật lãng mạn. Bởi vì, ở giai đoạn nghệ thuật lãng mạn, tinh thần biết được rằng tính chất thực của nó không phải là do vùi mình vào yếu tố thể xác; trái lại nó chỉ nhận thức được tính chân thực của mình bằng cách rời khỏi cái bên ngoài để vùi mình vào cái bên trong, bằng cách từ bỏ cái thế giới bên ngoài, bởi vì nó không tìm thấy ở đây những yếu tố ăn khớp với sự tồn tại của mình. Vì vậy, mặc dầu nội dung mới này nêu lên nhiệm vụ là phải làm cho nội dung ấy thành đẹp đẽ, song đối với nó, cái đẹp – theo ý nghĩa trước đây, - vẫn chỉ là một cái gì thứ yếu, và biến thành cái đẹp tinh thần, cái nội cảm vì bản thân nó, tức là trở thành tính chủ thể vô hạn và có tính chất tinh thần ở trong bản thân mình.


Nhưng, để có thể vươn lên tới tính vô hạn, tinh thần cần phải vượt ra khỏi cái cá tính thuần túy hình thức và hữu hạn, vươn lên tới cái tuyệt đối. Nói khác đi, yếu tố tinh thần cần phải được biểu hiện thành một chủ thể thấm nhuần hoàn toàn yếu tố cốt tử, một chủ thể có được sự hiểu biết và ý muốn ở bản thân mình. Và ngược lại, cái yếu tố chân thực và cốt tử không được quan niệm chỉ là vượt quá cái nhân tính. Cần phải vứt bỏ chủ nghĩa nhân hình Hy Lạp tiêu biểu cho trực giác Hy Lạp và phải xem nhân tính như là một chủ thể hiện thực làm nguyên tắc; chỉ có như vậy chủ nghĩa nhân hình như chúng ta đã thấy ở trên  mới đạt đến trình độ hoàn mỹ.


 


2.       Các yếu tố chính của nội dung và hình thức bên trong nghệ thuật lãng mạn.


 


Trong số các thành tố gần nhất nằm ở trong đặc trưng cơ bản này, chúng ta phải phát triển dưới những nét khái quát của toàn bộ các đối tượng cũng như cái hình thức, cái hình tượng đã bị thay đổi do cái nội dung mới của nghệ thuật lãng mạn qui định.


Nội dung thực sự của nghệ thuật, đó là đời sống nội tâm tuyệt đối, và hình thức tương ứng, đó là một tính chủ thể tinh thần thần nhận thức được tính độc lập và tự do của mình. Yếu tố vô hạn ở trong bản thân mình và yếu tố phổ biến “tự nó và vì nó” là một sự phủ đinh tuyệt đối với tất cả mọi điều riêng biệt, một tính thống nhất đơn giản với bản thân, là cái không biết đến mọi chia tách, mọi quá trình của tự nhiên (với quá trình ra đời, xuất hiện, tiêu diệt  và tái sinh của chúng) mọi điều hạn chế sự tồn tại có tính tinh thần. Nó đã kéo tất cả các vị thần cá biệt về một sự đồng nhất thuần túy và vô hạn với bản thân. Ở trong cái thiên đình này tất cả các vị thần đều bị lật đổ khỏi ngai vàng, đều bị ngọn lửa của tính chủ thể thiêu đốt, và thay thế cho chủ nghĩa đa thần có tính chất tạo hình, từ nay nghệ thuật chỉ biết có một Thượng đế duy nhất, một tinh thần duy nhất, một tính độc lập tuyệt đối duy nhất vẫn ở trong một chủ thể duy nhất tự do với mình với tính cách hiểu biết tuyệt đối và ý chí tuyệt đối chứ không bị phân ra thành những tính chất và những chức năng riêng biệt, chỉ được hợp nhất bởi cái tất yếu mù quáng.


Nhưng tính chủ thể tuyệt đối xem như bản chất sẽ vượt ra ngoài lĩnh vực nghệ thuật và chỉ có thể tiếp cận bằng tư duy nếu nó không nhập vào cái tồn tại bên ngoài và không rời khỏi cái thực tế này, vùi vào chính mình để làm thành một hiện thực phù hợp với khái niệm tính chủ thể của mình. Yếu tố này của hiện thực là thuộc vào đấng Tuyệt đối, bởi vì đấng Tuyệt đối vốn là sự phủ định vô hạn tạo nên kết quả của hoạt động của mình dưới hình thức sự thống nhất đơn thuần của hiểu biết với chính mình và dưới hình thức cái trực tiếp. Nhờ sự tồn tại trực tiếp này mà cơ sở là cái Tuyệt đối, cái Tuyệt đối không đóng vai một Thượng đế (mà tất cả hoạt động tóm lại là nhằm hạ thấp, đến chỗ hủy bỏ tự nhiên cũng như tồn tại của con người), không biểu lộ ở đây thành một tính chủ thể hiện thực, và thực sự có tính chất thần linh, trái lại tỏ ra là cái Tuyệt đối chân chính thực sự và do đó có thể tiếp cận được và có thể thể hiện một cách nghệ thuật.


Nhưng sự tồn tại của Thượng đế không phải là một hiện tượng tự nhiên và cảm quan vê thực chất, mà là một hiện tượng vượt quá cái cảm quan: đây là một cảm quan đã trở thành một tính chủ thể tinh thần, cái này chẳng những không bỏ mất tính tuyệt đối của mình ở trong biểu hiện bên ngoài, trái lại còn có được sự tin tưởng chắc chắn vào mình với tính cách cái Tuyệt đối. Chúa trong bản chất chân thực của mình không phải là một lý tưởng do trí tưởng tượng tạo ra. Và mặc dầu Chúa nhập vào cái lĩnh vực hữu hạn và sự tồn tại bên ngoài có tính chất ngẫu nhiên, Chúa vẫn nhận thức được mình ở trong chủ thể có tính thần linh bằng cách vẫn là vô hạn ở trong bản thân và tạo nên tính vô hạn này cho bản thân mình. Chính vì thế mà chủ thể hiện thực là một hiện tượng của Chúa cho nên nghệ thuật này bây giờ có được cái quyền cao nhất là sử dụng hình dáng con người cũng như phương thức biểu hiện bên ngoài của nó để thể hiện cái Tuyệt đối.


Song hình thức mới của nghệ thuật có thể chỉ tóm lại ở chỗ lấy diện mạo con người làm thành đối tượng của trực giác, không phải bằng cách chuyển tất cả nội tâm vào hình thức bên ngoài của cơ thể, mà trái lại bằng cách bảo vệ tính độc lập của nội cảm, làm cho chủ thể nhận thức được cái ý thức tinh thần của Chúa. Những thành tố khác nhau tạo nên toàn bộ cái nhãn tượng này về thế giới, với tính cách toàn bộ cái chân thực, từ nay đóng vai những biểu hiện của con người, không liên quan gì tới các biểu hiện của các giai đoạn trước dây, ở đấy hình thức và nội dung được nêu lên, hoặc bởi những đối tượng tự nhiên thực sự như mặt trời, bầu trời, các ngôi sao v.v… cũng không phải bởi những vị thần Hy Lạp đẹp đẽ, bởi những anh hùng và những kỳ công bên ngoài liên quan tới những nhiệm vụ và mà đạo đức gia đình hay đời sống chính trị yêu cầu. Bây giờ cái chủ thể cá nhân, hiện thực, có một sức sống bên trong có một giá trị vô hạn, làm cho cái trung tâm duy nhất và những yếu tố vĩnh viễn của cái chân lý tuyệt đối được thực hiện với tính cách tinh thần được tập trung và tỏa ra ở đấy.


Nếu như chúng ta so sánh đặc trưng này của nghệ thuật lãng mạn với nhiệm vụ của nghệ thuật cổ điển là nghệ thuật đã tìm thấy sự thể hiện hoàn mỹ nhất ở trong điêu khắc Hy Lạp, thì chúng ta nhận thấy rằng các hình tượng tại hình của các thần linh không biểu hie những vận động và hoạt động của tinh thần của một tinh thần đã rời khỏi lĩnh vực biểu hiện bên ngoài của nó để quay trở về với bản thân, quay trở về sự tồn tại vì mình ở trong nội tâm. Kể ra, các nét thay đổi và ngẫu nhiên của cái cá tính có tính chất kinh nghiệm vẫn không bị thủ tiêu ở trong những hình tượng đẹp đẽ này của các thần, song nó vẫn thiếu một tồn tại thực sự của một tính chủ thể tồn tại vì mình, tuy biết rằng nó là cái gì và nó muốn gì. Thiếu sót này ở bên ngoài bộc lộ ở chỗ trong các hình tượng của điêu khắc đều thiếu biểu hiện của tâm hồn biểu lộ một cách đơn giản bằng ánh sáng của đôi mắt. Những tác phẩm cao nhất của nghệ thuật Hy Lạp cũng thiếu cái nhìn, nội cảm của chúng không bộc lộ thành một đời sống nội tâm nhận thức được mình ở trong tình trạng tập trung về tinh thần mà chỉ có đôi mắt là nói lên được. Ánh sáng này của tâm hồn là ở ngoài tác phẩm nghệ thuật và thuộc về người xem, người xem không nhìn tác phẩm theo lối một tâm hồn nhìn một tâm hồn bằng cái nhìn hướng về cái nhìn.


Nhưng vị thần y nghệ thuật lãng mạn lại là một Thượng đế biết nhìn, biết rằng mình là Thượng đế, có một tính chr thể bên trong, và bộc lộ nội cảm của mình cho nội tâm người xem. Bởi vì tính phủ định vô hạn, hiện tượng yếu tố tinh thần quay trở về mình đã xóa bỏ sự dung hợp với lĩnh vực cơ thể. Tính chủ thể đó là một ánh sáng tinh thần tự soi sáng mình, ánh sáng này chiếu ở nơi mà trước đây là không gian tối tăm, trong khi ánh sáng tự nhiên chỉ có thể chiếu vào một vật suy nhất. Ánh sáng tinh thần này lấy chính mình làm địa hạt và đối tượng, nghĩa là nó chiếu sáng ở trong sự vật mà nó biết, và nó biết rằng nó chính là sự vật này. Nhưng bởi vì cái nội cảm tuyệt đối này bộc lộ ở trong tồn tại hiện thực của mình với tính cách một phương thức biểu hiện nhân tính, và yếu tố nhân tính lại gắn liền với toàn bộ thế giới mà nó là một bộ phận, cho nên kết quả là có một trình độ đa dạng rộng lớn cả về yếu tố tinh thần có tính chất chủ thể cũng như về yếu tố khách quan cụ thể bên ngoài mà tinh thần cho đó là thuộc về mình.


Tính hiện thực của cái chủ thể tuyệt đối có thể biểu hiện về hình thức và về nội dung theo ba cách.


a)       Điểm xuất phát của chúng ta sẽ là bản thân cái Tuyệt đối. Cái Tuyệt đối tự thể hiện mình, tự khẳng định và tự biết mình là tinh thần. Ở đây hình dáng con người được nêu lên tạo cho người ta nhận thấy trực tiếp rằng nó chứa đựng yếu tố thần linh. Con người không phải chỉ là con người đơn thuần với cái tính cách thuần túy con người của y, với những dục vọng chật hẹp, những mục đích hữu hạn và sự thực hiện những mục đích này dưới hình thức chỉ nhận thức được Thượng đế. Trái lại, y biết rằng y là vị Thượng đế duy nhất và phổ biến; ở trong cuộc đời và trong những đau khổ của người, ở trong sự ra đời, cái chết và sự tái sinh của người nói lên với cái ý thức hữu hạn rằng tinh thần là gì, cái vĩnh viễn và cái vô hạn theo chân lý của mình là gì.


Nghệ thuật lãng mạn biểu hiện nội dung này ở trong lịch sử cuộc đời của Giêxu, của mẹ ông, của các môn đồ của ông cũng như tất cả những người chịu ảnh hưởng của Chúa. Bởi vì ở trong sự tồn tại của con người ta thấy Thượng đế là kẻ có một nội dung phổ biến ở bản thân mình, thì hiện thực này không bó hẹp vào sự tồn tại trực tiếp, duy nhất, ở trong hình ảnh của Giêxu mà bộc lộ trong tất cả tính chất nhân loại ở đấy tinh thần của Thượng đế biểu lộ sự có mặt của mình trong khi vẫn nhất trí với bản thân trong sự thống nhất ấy. Sự mở rộng tình trạng tự chiêm ngưỡng này của cái tồn tại của tinh thần “tự nó và cho nó” đó là thế giới, sự hòa giải về tinh thần với chính mình trong tính khách quan của nó, là cái thế giới thần linh, cái vương quốc của Thượng đế ở đấy yếu tố thần linh là cố hữu ở trong nguyên lý hòa giải với cái thực tại của mình đã thực hiện được cả sự đồng nhất hóa với bản thân.


b)       Mặc dầu sự đồng nhất hóa này là căn cứ vào bản chất của cái Tuyệt đối, song với tính cách là tự do tinh thần và tính vô hạn, nó vẫn không phải là sự hòa giải xảy ra trực tiếp ở trong hiện thực tự nhiên cũng như ở trong hiện thực trần tục và tinh thần. Trái lại, sự đồng nhất hóa này được thực hiện chỉ với tính cách tinh thần vươn lên từ sự tồn tại trực tiếp hữu hạn tới chân lý của mình. Muốn cho tinh thần có thể đạt tới tính hoàn chỉnh và tự do thì trước hết nó phải tự tách mình ra khỏi bản thân và đối lập lại cái vô hạn xem như một tồn tại hữu hạn có tính chất tự nhiên và tinh thần. Và ngược lại, gắn liền với sự chia tách này là tính tất yếu phải vượt ra khỏi tình trạng chia rẽ với bản thân, trong đó lĩnh vực cái hữu hạn và cái tự nhiên, tính trực tiếp của sự tồn tại cụ thể, những tình cảm tự nhiên đều được xem là một sự phủ định xấu xa và tội lỗi; chỉ có khắc phục sự tồn tại không hiện thực này  người ta mới có thể bước vào lĩnh vực cái chân thực và sự thỏa mãn.


Vì vậy, chúng ta cần phải hiểu và miêu tả sự hòa giải về tinh thần với tính cách chỉ là một hoạt động, một vận động của tinh thần, một quá trình trong đó nảy sinh những cố gắng, cuộc đấu tranh và những yếu tố chủ yếu của nó là đau khổ, cái chết, tình cảm đau đớn về tình trạng vô nghĩa của mình, những đau khổ của tinh thần và của thể xác. Đầu tiên, Thượng đế tách mình ra khỏi cái hiện thực hữu hạn.  Con người hữu hạn, trong khi sống ở ngoài vương quốc của Thượng đế, nhận được mục đích và vươn lên tới Thượng đế, là tách mình ra khỏi cái hữu hạn, ra khỏi cái không có giá trị và nhờ việc thủ tiêu cái hiện thực trực tiếp của mình mà trở thành cái hiện thực chân chính mà Thượng đế đã biến thành khách quan, trong khi xuất hiện với hình dáng một con người. Nỗi đau khổ vô hạn đi kèm theo sự hy sinh tính chủ thể, sự đau đớn và cái chết ít đi kèm theo sự hy sinh tính chủ thể, sự đau đớn và cái chết ít nhiều bị loại trừ ra khỏi lĩnh vực miêu tả của nghệ thuật cổ điển hay chỉ biểu lộ ở đấy như một đau khổ của thể xác, và chỉ ở trong nghệ thuật lãng mạn thì những điều này mới trở thành một điều thực sự cần thiết.


Không thể nào nói rằng người Hy Lạp đã hiểu được ý nghĩa chủ yếu của cái chết. Và họ không cho tự nhiên ở bản thân nó cũng như tính trữ tiếp của tinh thần trong sự thống nhất của nó với cơ thể là một cái gì phủ định ở bản thân, cho nên họ chỉ xem cái chết là một sự biến mất trừu tượng diễn ra không làm người ta sợ hãi và hoảng hốt: đây là sự sống chấm dứt mà không gây những hậu quả sau này không thể lường được đối với con người đã chết. Nhưng khi tính chủ thể (đã đạt đến sự tồn tại ở bản thân mình có tính chất tinh thần) đã có được một giá trị vô hạn, thì lúc bấy giờ sự phủ định nằm ở trong bản thân cái chết làm sự phủ định cao nhất và quan trọng nhất bởi vì nó là đáng sợ. Nó trở thành cái chết của linh hồn, linh hồn về thực chất có thể xem mình là bị phủ định, vĩnh viễn không được hưởng hạnh phúc, dứt khoác chịu bất hạnh, bị lâm vào sự bất hạnh tuyệt đối, những khổ ải vĩnh viễn. Trái lại, cá tính Hy Lạp nếu xét như là một tính chủ thể tinh thần thì lại không tự cấp cho mình một giá trị như vậy. Đương nhiên là nó nhìn cái chết một cách thanh thản bởi vì con người chỉ cảm thấy sợ trước những vật mà anh ta cho là có giá trị to lớn. Nhưng cuộc sống chỉ có giá trị vô hạn đối với ý thức trong trường hợp chủ thể tinh thần, tự nhận thức mình là cái hiện thực duy nhất: anh ta cần phải sợ hãi một cách chính đáng khi nghĩ rằng cái chết là một sự phủ định mình.


Mặt khác, cái chết đối với nghệ thuật cổ điển không có cái ý nghĩa tích cực mà nó đã có ở trong nghệ thuật lãng mạn. Người Hy Lạp không cho cái chúng ta gọi là sự bất tử là điều quan trọng. Chỉ với sự phát triển của sự suy nghĩ và của ý thức của chủ thể sau này, chẳng hạn ở Xôkrat thì tính bất tử mới mang một ý nghĩa sâu sắc hơn và trở thành sự thỏa mãn một đòi hỏi phát triển hơn. Chẳng hạn Ôđixê (“Ôđixê” XI câu 482 – 491) sau khi đến thăm thế giới âm ty, đã tuyên bố rằng Asin là người sung sướng nhất trong số tất cả những người đã sống trước chàng và sống sau chàng, bởi vì trước kia chàng được tôn trong ngang với các thần linh, bây giờ chàng trị vì những người chết. Để đáp lại, Asin lại tỏ ra không đánh giá cao cái hạnh phúc này cho lắm. Chàng trả lời, yêu cầu Ôđixơ đừng nói một lời để an ủi chàng về cái chết. Chàng thà sống làm một người đầy tớ lĩnh lương của một người nghèo còn hơn là ở đây trị vì những người chết.


Trái lại, trong nghệ thuật lãng mạn, cái chết chỉ là cái chết của cái linh hồn tự nhiên và của tính chất chủ thể hữu hạn, một cái chết chỉ có thái độ tiêu cực đối với cái gì bản thân là tiêu cực. Cái chết gạt bỏ cái không có giá trị, và do đó góp phần giải phóng tinh thần ra khỏi tình trạng hữu hạn và phân đôi cũng như sự tìm hòa giải tinh thần của chủ thể với đấng Tuyệt đối. Đối với người Hy Lạp, chỉ có một cuộc sống gắn liền với sự tồn tại tự nhiên, bên ngoài, trần tục là tích cực. Cho nên họ cho cái chết là thuần túy tiêu cực, là sự hủy bỏ cái hiện thực trực tiếp. Nhưng ở trong thế giới quan lãng mạn thì cái chết lại có ý nghĩa tính phủ định, tức là phủ định của phủ định và, do đó, tức là chuyển thành khẳng định với tính cách tái sinh của tinh thần khỏi cái tính tự nhiên thuần túy và tính hữu hạn không tương ứng của nó. Chính vì vậy đau khổ và cái chết của tính chủ thể đang hấp hối nói lên việc quay trở về bản thân, sự thỏa mãn hạnh phúc, và một tồn tại tích cực thanh thản mà tinh thần chỉ có thể đạt tới bằng cách xóa bỏ cái bầu không khí tiêu cực đã tách nó ra khỏi cái chân lý thực sự và cuộc sống chân thực.


Đặc tính chủ yếu này không chỉ liên quan tới cái chết xem như một hiện tượng tự nhiên  xảy ra với con người: có một quá trình nào đấy mà tinh thần cần phải thực hiện ở bản thân mình, độc lập đối với sự phủ định bên ngoài để chân thực.


c)       Phương diện thứ ba liên quan tới cái thế giới tuyệt đối này của tinh thần tạo nên con người bởi vì con người trong chừng mực y không biểu hiện trực tiếp cái Tuyệt đối và yếu tố thần linh và thực hiện cái quá trình vươn lên tới Thượng đế, và hòa giải với Người, trái lại vẫn bị giam hãm trong những giới hạn của cái nhân tính của mình. Do đó ở đây nội dung là cái hữu hạn với tính cách hữu hạn, danh từ này áp dụng cho những mục đích tinh thần, cho những hứng thú trần tục, cho những dục vọng, những va chạm, những đau khổ và vui sướng, những hi vọng và thỏa mãn cũng như cho cái lĩnh vực bên ngoài là tự nhiên và các hiện tượng cá biệt của tự nhiên.


Song có hai cách đạt đến nội dung này. Một mặt, tinh thần sau khi tự khẳng định mình, dường như sống yên ổn trong cái lĩnh vực chính đáng của mình và thỏa mãn được nó mọi điều nó có thể đòi hỏi. Nó làm điều đó  bằng cách chỉ chú ý tới tính chất tích cực này mà thôi để rồi sau đó lại biểu hiện ở trong tình trạng thỏa mãn và trong cái nội cảm có tính chất khẳng định. Mặt khác, cũng cái nội dung này có thể bị tinh thần hạ thấp xuống trình độ tính ngẫu nhiên thuần túy, không có thể đòi hỏi có một giá trị độc lập, bởi vì tinh thần không tìm thấy ở đấy sự tồn tại chân thực của mình. Vì vậy tinh thần chỉ thực hiện được sự thống nhất với bản thân khi nó phá vỡ sự tồn tại hữu hạn này của tinh thần và của tự nhiên xem như một yếu tố hạn chế và tiêu cực.


 


3.       Quan hệ của nội dung đối tượng với phương thức thể hiện.


 


Cuối cùng, về mối quan hệ của nội dung này đối với phương thức thể hiện của nó, thì tương ứng với những điều đã nói, trước hết ta phải nhận thấy rằng:


a)       Nội dung của nghệ thuật lãng mạn là rất đẹp nếu nói về yếu tố thần linh. Bởi vì, như chúng tôi đã nêu lên,tự nhiên ở đây đã mất hẳn cái hào quang thần linh. Biển cả, núi non, sông ngòi thung lũng, ngọn suối, thời gian và đêm tối cũng như các quá trình chung của tự nhiên đều đã bỏ mất ý nghĩa của nó với tính cách phương thức biểu hiện của cái Tuyệt đối và nội dung của cái Tuyệt đối. Những sáng tạo của tự nhiên không có được sự mở rộng có tính chất tượng trưng nữa; các hình thức và các biểu hiện của nó không còn được xem là có thể phản ảnh những nét của thần linh. Bởi vì tất cả những vấn đề to lớn về sự ra đời của thế giới, những vấn đề về nguồn gốc của sự ra đời, cứu cánh của thế giới, vấn đề cái tự nhiên được sáng tạo, và nhân loại sẽ đi đến đâu, cũng như tất cả những cố gắng tượng trưng và tạo hình để giải quyết và miêu tả những vấn đề này đều đã biến mất do chỗ thần linh được khải phát ở trong tinh thần.


Còn ở trong lĩnh vực tinh thần thì cái thế giới sinh động muôn ngàn màu sắc với các tính chất, các hành động và các biến cố của nó đã từng được thể hiện một cách cổ điển nay đều tập trung vào một tiêu điểm duy nhất của cái Tuyệt đối với câu chuyện vĩnh viễn của nó là việc chuộc tội. Như vậy, toàn bộ nội dung tập trung vào đời sống bên trong của tâm hồn, vào tình cảm, vào biểu hiện, vào cái tâm hồn, khao khát hợp nhất với chân lý và tìm cách gợi lên và duy trì yếu tố thần linh ở trong chủ thể. Những mục đích và việc làm mà tâm hồn phải thực hiện ở thế giới này không phải là của thế giới này, mà đúng hơn nhiệm vụ duy nhất nó phải làm là ở trong cuộc đấu tranh nội tâm của con người với chính mình để tìm cách hòa giải với Thượng đế. Ở đây chỉ nói đến việc miêu tả cá tính và gìn giữ để nó biểu hiện cá tính cũng như nói đến các phương tiện cần thiết nhằm đạt đến mục đích này dưới hình thức của yếu tố thần linh. Cái tinh thần anh dũng có thể xuất hiện hàng đầu ở đây không phải là tinh thần anh dũng tạo ra những thể chế luật pháp theo sáng kiến của nó, tạo ra và thay đổi các hoàn cảnh mà là tinh thần anh dũng của sự phục tùng. Đối với nó mọi việc đã được qui định đâu đấy xong xuôi rồi và đã được xác lập bởi cái quyền lực tối cao. Vì vậy nó chỉ còn một cách là xếp đặt gọn gàng những điều trần thế và áp dụng cho cái quyền lực tối cao tồn tại tự nó và vì nó này, tự nó có giá trị và cho nó cái thế giới hiện tại và khẳng định ý nghĩa của nó trong những việc làm ở trần thế.


Nhưng do mỗi nội dung tuyệt đối này lại tập trung vào tâm hồn của chủ thể và tất cả các quá trình đều nằm ở trong đời sống nội tâm của con người, cho nên lĩnh vực của nội dung lại được mở rộng vô hạn và lần này mang tính chất vô cùng đa dạng. Mặc dầu lịch sử khách quan nói trên làm thành mặt cốt tử của linh hồn, nhưng chủ thể lại hoàn toàn thâm nhập vào nó, miêu tả từng yếu tố khác nhau của nó hay thêm vào đấy những nét nhân tính ngày càng mới mẻ. Ngoài ra, nó có thể thu hút vào bản thân tất cả tự nhiên của môi trường xung quanh và của địa điểm ở đấy tinh thần có thể biểu hiện và sử dụng nó để phục vụ cái mục đích vĩ đại này. Nhờ vậy, lịch sử của đời sống tâm hồn trở thành vô cùng phong phú và có thể biểu hiện hết sức đa dạng tùy theo những hoàn cảnh và những tình huống không ngừng thay đổi.


Còn nếu như con người bước ra khỏi cái phạm vi tuyệt đối này và bắt đầu chú ý tới những việc làm trần tục thì nội dung các hứng thú và các mục đích cũng như những tình cảm càng trở thành vô tận, nếu tinh thần càng có thâm nhập sâu sắc hơn, tương ứng với tất cả cái nguyên lý này. Do đó, con người bộc lộ mình ở trong cái tình trạng toàn vẹn vô cùng sôi nổi của những người xung đột bên trong và bên ngoài, của những sự chia xé của tâm hồn, của các trình độ phát triển của dục vọng, và của những giai đoạn thỏa mãn vô cùng đa dạng. Nội dung bên trong của nghệ thuật lãng mạn đó là cái Tuyệt đối, cái này ở bản thân nó là cái phổ biến tuyệt đối tự nhận thức được mình ở trong loại người. Như vậy nhân loại và tất cả sự phát triển của nó là tài liệu vô tận của nghệ thuật lãng mạn.


b)       Nhưng nội dung này không phải được sáng tạo ra bởi nghệ thuật lãng mạn với tính cách nghệ thuật, như đều đã xảy ra một phần phần đáng kể ở trong nghệ thuật tượng trưng và nhất là ở trong nghệ thuật cổ điển với các thần linh lý tưởng của nó. Như ta đã thấy ở trên đây, nghệ thuật lãng mạn không phải là một giáo huấn được bộc lộ với tính cách nghệ thuật và được nêu lên một cách trực quan bằng hình thức nghệ thuật. Nội dung đã tồn tại độc lập ở ngoài phạm vi của nghệ thuật trong biểu tượng và trong tình cảm. Ở đây, tôn giáo xem như ý thức phổ biến của chân lý, làm thành cái tiền đề cốt tử của nghệ thuật ở một trình độ khác hẳn. Ngay cả xét về mặt biểu hiện bên ngoài thì tiền đề này tồn tại đối với ý thức hiện thực ở trong cái thực tại cảm quan như là cái tính thời sự nôm na. Bởi vì nội dung của sự khả quát đối với tâm hồn đó là bản chất tuyệt đối và vĩnh viễn của tinh thần (là cái tách rời khỏi tự nhiên với tính cách tự nhiên và làm cho tự nhiên bị hạ thấp), cho nên hiện tượng ở trong tính trực tiếp bên ngoài lại có được cái ý nghĩa như sau: cái bên ngoài này trong chừng mực nó tồn tại và có được một tồn tại bên ngoài chỉ làm thành một thế giới ngẫu nhiên, ở đấy cái Tuyệt đối đã rời khỏi để tập trung vào yếu tố tinh thần và yếu tố bên trong, và chỉ có như vậy cái bên ngoài mới trở thành cái chân lý “tự nó và cho nó”. Do đó, cái bên ngoài chỉ được xem là một yếu tố bàng quan không được tinh thần hoàn toàn tin cậy và tinh thần cũng không dừng lại ở đấy. Tinh thần càng cho hình thức của hiện thực bên ngoài là không xứng đáng với mình thì nó càng ít có thể tìm sự thỏa mãn ở đấy và không thể tìm thấy sự hòa giải với chính mình ở trong sự thống nhất với hiện thực bên ngoài.


c)       Tương ứng với cái nguyên lý này, phương thức biểu hiện hiện thực ở trong nghệ thuật lãng mạn xét về mặt biểu hiện bên ngoài, về thực chất, không vượt ra ngoài hiện thực hàng ngày và không sợ việc tiếp thu sự tồn tại hiện thực ở trong tính hạn chế hữu hạn và tính chính xác của nó. Do đó, ở đây không còn cái đẹp lý tưởng là cái làm cho sự chiêm ngưỡng bên ngoài vượt ra khỏi sự tồn tại trong thời gian và xóa bỏ những dấu vết của tính nhất thời để nêu lên cái đẹp tưng bừng là thay thế sự biểu hiện bình thường và méo mó của hiện thực. Nghệ thuật lãng mạn không còn nhằm mục đích miêu tả tính sinh động tự do của tồn tại trong cái vẻ thanh thản vô ngần và dùng cơ thể để bộc lộ tâm hồn. Nghệ thuật không nhằm mục đích miêu tả cuộc sống này như bản thân nó trong cái bản chất của nó mà quay lưng với cái đỉnh cai vút này của cái đẹp. Nó làm cho nội dung bên trong đan chéo với tính ngâu nhiên của những hình tượng bên ngoài và dành một phạm vi rộng rãi cho cái xấu ở trong những nét tiêu biểu của nó.


Như vậy, trong nghệ thuật lãng mạn, chúng ta đứng trước hai thế giới : một bên là thế giới tinh thần, tự nó là hoàn mỹ, của cái tâm hồn tìm được sự hòa giải ở trong lòng nó. Tâm hồn phá vỡ sự lặp bình thường, thẳng tắp của hiện tượng sinh tử, và tái sinh, những cái này đã dẫn tinh thần tới tình trạng quay trở về mình, tái sinh ở chính mình tới một cuộc sống chân thực của tinh thần chẳng khác gì con phượng hoàng trong thần thoại. Mặt khác, trước mắt ta, là cái ngoại giới với tính cách ngoại giới, được giải phóng khỏi sự thống nhất với tính chất tinh thần, bây giờ cái bên ngoài trở thành một hiện thực hoàn toàn có tính chất kinh nghiệm, hình thức của nó không có gì là thú vị đối với tinh thần. Ở trong nghệ thuật cổ điển, tinh thần thống trị cái hiện tượng có tính chất kinh nghiệm và thấm nhuần toàn bộ hiện tượng ấy bởi vì nó phải tìm thấy cái hiện thực hoàn mỹ của nó ở trong hiện tượng này. Còn giờ đây yếu tố bên trong đã tỏ ra bàng quan đối với phương thức biểu hiện của thế giới bên ngoài bởi vì yếu tố trực tiếp là không xứng đáng với việc gây hạnh phúc nội tâm cho tâm hồn. Cái bên ngoài thôi không còn có thể nói lên cái bên trong, và khi người ta vẫn còn thừa nhận phương thức thể hiện này thì người ta cho nó nhiệm vụ chứng mình rằng cái bên ngoài không phải là một sự tồn tại có thể đem đến sự thỏa mãn: nghệ thuật cần phải nêu lên yếu tố bên trong, nhấn mạnh tới tâm hồn và tình cảm với tính cách yếu tố cốt tử. Nhưng chính vì vậy mà nghệ thuật lãng mạn cho phép thế giới bên ngoài được diễn ra tự do, cho phép bất kỳ tài liệu nào, đến cả màu sắc, cây cối, và những đồ vật bình thường nhất trong gia đình cũng đều được tự do biểu hiện, thậm chí dưới hình thức tồn tại tự nhiên và ngẫu nhiên. Song nội dung này lại gắn liền khăng khít với đặc tính sau đây: với tính cách tài liệu thuần túy bên ngoài, nội dung mang tính thấp hèn, bàng quan thì chỉ có một giá trị thực sự trong trường hợp nó mang dấu ấn của tinh thần; nó phải biểu hiện không những cái nội dung bên trong mà cả những mặt sâu kín nhất của tâm hồn là cái không dung hợp với cái bên ngoài mà tìm sự hòa giải chỉ ở bản thân mình với chính mình. Cái bên trong trong hoàn cảnh này, khi được đẩy đến trình độ cuối cùng sẽ chẳng qua chỉ là một biểu hiện không có yếu tố bên ngoài. Nó dường như trở thành vô hình và mất hẳn tính khách quan; nó là một âm hưởng không có sự vật và hình ảnh, một sự bay lượn trên mặt nước, một âm nhạc vang lên trên cái thế giới với những hiện tượng dị dạng của nó, cho nên thế giới này chỉ có thể tiếp nhận và phản ánh một hồi quang của tâm hồn tồn tại ở trong bản thân mình.


Nếu như chúng ta tóm tắt bằng một chữ quan hệ giữa nội dung và hình thức ở trong nghệ thuật lãng mạn ở chỗ nó thực độc đáo, thì chúng ta có thể nói rằng nghệ thuật này có tính âm nhạc, (bởi vì nguyên lý cơ bản của nó là tính phổ biến được đẩy lên trình độ cao nhất và trình độ sâu sắc tích cực không ngừng của tâm hồn) và có tính trữ tình bởi vì nó tràn ngập một nội dung chính xác của biểu tượng. Tính trữ tình dường như là cái nét cơ bản tự nhiên của nghệ thuật lãng mạn, cái sắc thái tiêu biểu cả đối với sử thi và kịch, sắc thái này như một thứ hương thơm của tâm hồn tràn ngập tất cả nó, ngập tràn các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình bởi vì ở đây tâm hồn và linh hồn trong mỗi tác phẩm nghệ thuật muốn nói với tâm hồn và linh hồn.


 


4.       Sự phân chia.


 


Còn về sự phân chia mà chúng tôi cần phải xác lập để khảo sát chi tiết và kỹ càng hơn trong lĩnh vực to lớn thứ ba này của nghệ thuật, thì khái niệm cơ bản của tính chất lãng mạn ở trong sự phân chia bên trong của nó gồm ba yếu tố sau đây.


Phạm vi thứ nhất đó là yếu tố tôn giáo với tính cách tôn giáo, mà trung tâm là lịch sử chuộc tội, đời sống, cái chết, và sự tái sinh của Giêxu. Về điểm này, đặc trưng chủ yếu là ở chỗ tinh thần có thái độ phủ định đối với tính trực tiếp và tính hữu hạn của mình, và tinh thần khắc phục được tình trạng này và từ đó tự khẳng định mình thành vô hạn và tuyệt đối độc lập ở trong lĩnh vực của mình.


Thứ hai, tính độc lập này nảy sinh từ tính chất thần linh của tinh thần và từ chỗ nâng con người hữu hạn lên phía Thượng đế, nó biểu lộ ở trong thế giới trần tục. Ở đây trước hết, chủ thể với tính cách của mình đã trở thành tích cực đối với chính mình, bản chất của ý thức và ý nghĩa của sự tồn tại của chủ thể là những người đạo đức của cái tính chủ thể này đang lo khẳng định mình: danh dự, tình yêu, lòng trung thành, tinh thần dũng cảm, tức là những mục đích và những nhiệm vụ của tinh thần hiệp sĩ lãng mạn.


Nội dung và hình thức của chương thứ ba, nói chung có thể miêu tả dưới nhan đề tính độc lập có tính hình thức của tính cách. Sau khi tính chủ thể đã đạt tới một tính độc lập tinh thần quan trọng đối với mình, cái nội dung cá biệt mà y kết hợp với, cũng nhận được một tính chất như vậy. Song tính chất độc lập này chỉ có thể mang hình thức bởi vì nó không bắt rễ vào tính chất của đời sống của cơ thể. Cái chân lý tôn giáo cơ bản chỉ bắt nguồn từ bản thân mình, bắt nguồn trong tính bản chất của sự sống. Trái lại, hoàn cảnh và tình huống bên ngoài, sự diễn biến của các biến cố sau khi đã có được tính tự do và độc lập sẽ đi theo những cuộc phiêu lưu võ đoán. Điểm cuối cùng của nghệ thuật lãng mạn đó là tính ngẫu nhiên cả với tính cách yếu tố bên ngoài và sự tan rã của các mặt này. Do đó, bản thân nghệ thuật tự phủ định mình và nêu rõ rằng muốn đạt đến chân lý, ý thức cần phải chuyển sang những hình thức cao hơn là những hình thức mà nghệ thuật có thể đem tới.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
Tính yêu đời trong thi văn ta xưa - Vũ Hạnh 05.11.2018
xem thêm »