tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24294559
Tiểu thuyết
13.10.2018
Triệu Xuân
Trả giá


Tình hình cung ứng xi măng, sắt thép, gạch bông, đá, cát, nhất là xi măng trắng để tô đá mài rất chậm và không khi nào đủ so với chỉ tiêu. Tiến độ thi công, vì thế kéo nhề ra. Trong khi phương thức trả lương khoán theo từng hạng mục công trình của đội xây dựng số Một thu được kết quả tốt. Nhờ việc trả lương khoán, năng suất lao động rất cao, đặc biệt là vật tư không bị thất thoát và chất lượng công trình đảm bảo. Ở Liên hiệp Dịch vụ Biển, hình thành sự tương phản, đối chứng giữa các đội xây dựng, và tất nhiên, giám đốc Hòa quan tâm nhiều nhất đến vấn đề chất lượng. Những công trình do đội Lê Ngọc Trầm thi công, không có điều gì phải phàn nàn. Nhưng ở nhiều công trình khác, chất lượng không đạt yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật. Tại khách sạn Biển Đông, một công trình vào loại lớn nhất của Liên hiệp, mới qua một trận mưa đầu mùa, nước đã thấm loang lổ khắp nơi. Điều này lặp lại y hệt như khách sạn Hy Vọng, đưa vào sử dụng được một năm đã phải chi ra ba triệu đồng cho việc chống dột. Xi măng bị ăn cắp nhiều quá, làm sao mưa không thấm? Trong mọi hoạt động khác của Liên hiệp Dịch vụ Biển như tổ buồng, tổ bàn, bảo vệ, tài vụ, y tế v.v... các hiện tượng tiêu cực diễn ra tới mức báo động. Giám đốc Hòa quyết định triệu tập cuộc họp các cán bộ phụ trách toàn Liên hiệp.


Trong cuộc họp, khi kiểm điểm về vấn đề chất lượng công trình, người ta nêu ra quá nhiều lý do. Mỗi người đều có lý của mình. Ai cũng muốn ý mình là chân lý. Nhưng chân lý ở sự thật khách quan chứ đâu phải do con người nặn ra. Lê Ngọc Trầm, trong ý kiến của mình, đã thẳng thắn đề cập nguồn gốc xã hội của vấn đề. Ấy là chuyện con người, không thể cứ hô hào làm chủ tập thể theo kiểu của Ngôn. Nói đạo lý thì ai cũng nói được. Nhưng cốt lõi của vấn đề không phải ở chỗ có nói được chuyện đạo lý hay không, mà là cái cách để làm được theo đạo lý. Trong khi Trầm nói, Ngôn mấy lần ngắt lời anh, nhưng ông Hòa yêu cầu Ngôn để cho Trầm nói hết ý của mình.


- Tôi biết đồng chí Ngôn thường nói đến đạo lý, đến vấn đề làm chủ tập thể. Thật ra, đó chỉ là những khái niệm. Đã là khái niệm thì rất mơ hồ. Thế nào là làm chủ tập thể? Anh em công nhân họ thắc mắc như vậy đó! Xưa nay, người ta chỉ biết đến một người chủ của một gia đình, một xưởng máy, một con tàu, một khẩu đáy, một vuông tôm. Trong đầu mỗi người hình thành nếp tư duy: Đã là chủ, thì người chủ ấy có mọi quyền hành và được tôn trọng, kính nể. Còn làm chủ tập thể? Thật mơ hồ! Có thể nào vui sướng vì được mang danh người chủ mà không có một chút quyền hành lợi lộc nào cả? Đồng chí Ngôn có khi nào nghĩ tới chuyện ấy không? Ngay cả đồng chí giám đốc của đơn vị ta đây, có phải đồng chí được toàn quyền đâu. Nhất nhất cái gì cũng phải xin ý kiến cấp trên. Những đề xuất nào trái với nề nếp hiện hành thì bị “ngâm cứu” cả năm trời, không bao giờ được phản hồi. Cấp trên không biết lắng nghe ý kiến cấp dưới. Cấp dưới không cần nghe nguyện vọng của dân. Mỗi khi nói đến nhân dân chung chung thì dùng đến những từ hay ho nhất, như: quần chúng là vĩ đại, làm nên lịch sử v.v... Nhưng khi đối xử với một con người cụ thể thì... thật đau lòng. Ở đơn vị tôi, vẫn còn tình trạng chết không được chôn tại đây vì không có hộ khẩu. Như thế, cái mà chúng ta đang vi phạm là nền dân chủ. Cái mà chúng ta đang cần là tái lập nền dân chủ chứ không phải những điều cao xa mà vô bổ. Nói tóm lại, tôi muốn nhấn mạnh tới nguồn gốc xã hội của vấn đề, ấy là người dân - tức là anh em công nhân - không được tôn trọng về quyền và lợi. Lương tháng không đủ sống mười ngày, mà thường phát chậm. Trong hoàn cảnh xã hội như thế, khó mà nói chuyện đạo lý suông được. Chúng ta không nên rơi vào chủ nghĩa ý chí, đó là duy tâm. Chuyện này cũng đúng luôn cả cho các khâu hoạt động khác của dịch vụ du lịch. Vì sao nhân viên tổ bàn nhét thìa, dĩa kiểu vào túi riêng? Vì sao nhân viên tổ bếp bớt xén thức ăn? Vì sao nhân viên căng tin tìm cách cân thiếu? Vì sao đến cả phòng y tế của Liên hiệp cũng tráo thuốc xịn, đưa thuốc dỏm vào? Đó cũng là nguồn gốc của chuyện nhân viên tổ buồng tìm cách moi tiền của khách du lịch. Tất cả những người khi làm việc ấy, đều biết là xấu, là hèn hạ, bất lương. Vậy mà người ta vẫn làm. Cho nên, chống tiêu cực xã hội không thể chỉ là cho thôi việc kẻ ăn cắp, mà trước hết, phải cắt bỏ nguồn gốc xã hội gây nên tiêu cực. - Trầm nhớ đến bé Tư. Anh toan kể ra trường hợp đau lòng ấy. Một cô gái phải bán trinh để cứu mẹ. Nhưng rồi anh dừng lại. Nói chuyện đó ở đây làm gì...


Trầm nhận được - qua ánh mắt và những cái gật đầu - sự đồng tình của đa số những người dự họp. Anh sôi nổi nói tiếp:


- Tôi đề nghị đồng chí giám đốc cần có một quyết định thật sự táo bạo nhằm thay đổi tận gốc rễ cơ chế quản lý và mọi hoạt động ở đơn vị ta. Mục tiêu cao nhất của công cuộc thay đổi này là vấn đề chất lượng. Phải làm sao để chất lượng phục vụ du lịch phải nhảy vọt so với hiện nay. Không thể hình dung được ở một khách sạn vào loại lớn nhất nước như khách sạn Biển Đông, Thanh Bình... người ta trải chiếc khăn bàn đầy vết hoen ố để dọn ăn cho khách! Phòng ngủ ở khách sạn Biển Đông thì có nấm mọc trên tường vì mưa dột; trời nóng như thiêu, giường ngủ không mùng mà cúp điện, máy lạnh không chạy, ai ngủ nổi. Sau một đêm mất ngủ và bị muỗi làm thịt, còn ai dám nghỉ lại khách sạn của ta? Không thể chấp nhận một nữ nhân viên phục vụ ở phòng ăn mà tóc bù xù, áo màu cháo lòng bèo nhèo vì không giặt ủi, bưng dĩa đồ xào ra mà ngón tay cái còn in dấu vết dơ bẩn trên mép dĩa. Cho dù món xào ấy có là sơn hào hải vị, người ta cũng hết thấy ngon rồi. Còn nạn cúp nước, cúp điện nữa. Chúng ta không thể giải thích với khách nước ngoài theo thói quen vô trách nhiệm mà ta vẫn nói với khách trong nước. Phải sòng phẳng với khách. Nếu cúp điện, cúp nước, phải đến tận nơi xin lỗi khách và trừ bớt tiền thuê phòng cho khách. Đối với khách du lịch thì không thể nói nhiệt tình cách mạng, làm chủ tập thể với họ được! Phải hết lòng chiều khách và phải sòng phẳng. Mấu chốt của vấn đề ở đây là con người làm du lịch. Phải chấm dứt ngay tình trạng đặc quyền đặc lợi, con ông lớn thì muốn cho đi nước ngoài, muốn gửi vào đâu làm cũng phải nhận. Ai không có đủ trình độ nghiệp vụ làm du lịch thì phải cho nghỉ để làm việc khác. Đừng tưởng bê một ly cà phê cho khách là lao động đơn giản. Một thiếu nữ bê một ly cà phê cho khách là thể hiện cả nền văn minh, văn hóa của dân tộc mình, đất nước mình đối với khách. Những người có đủ trình độ nghiệp vụ thì phải được sử dụng theo nguyên tắc: Làm nhiều hưởng nhiều, chất xám phải được nâng niu tôn trọng, nuôi dưỡng. Đề nghị đồng chí giám đốc phải táo bạo trong chuyện tạo thu nhập đảm bảo đủ sống cho công nhân viên. Khi làm được điều ấy, giám đốc mới có quyền đòi hỏi nhân viên. Và khi nhân viên làm trọn phận sự của mình, mới có quyền đòi hỏi giám đốc.


- Xin lỗi! Anh Trầm muốn xây dựng đơn vị ta thành ốc đảo giữa đất liền chăng? - Ngôn mỉa mai.


- Có thể là một ốc đảo thật sự! Bởi vì hiện tại, hoàn cảnh xã hội đang áp đặt lên tất cả một không khí trì trệ, chán nản, lừa dối lẫn nhau. Cho nên, cần phải có một sự quyết đoán. Tất nhiên, muốn có hiệu quả, phải có sự đồng tâm nhất trí của tất cả chúng ta. Tôi nghĩ, sẽ không ai phản đối việc chăm lo cho mỗi người, cho mọi người. Tôi hiểu rằng, với cơ chế sử dụng và quản lý lao động theo kiểu biên chế hiện nay, đồng chí giám đốc khó lòng mà sa thải được một người nào cho dù người đó không hề có nghiệp vụ chuyên môn. Có một cách gỡ cho chuyện này - cách gỡ rất nhân bản. Đó là sáp nhập các phòng ban, xưởng, xí nghiệp, đội lại cho bớt manh mún, thu hết lại vài đầu mối để dễ quản lý. Tiến hành thi tay nghề và quyết định ai xứng đáng tiếp tục làm việc. Số lao động không đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ tập trung vào một xí nghiệp sản xuất thực phẩm: nuôi gà, bò, dê, heo, cá, trồng dừa trên diện tích đất mà đơn vị ta bỏ hoang mấy năm nay. Ai không chấp nhận công việc này thì xin mời chuyển đi đơn vị khác. Việc sản xuất thực phẩm sẽ giải quyết được vấn đề đời sống của cán bộ công nhân viên đơn vị ta. Tôi đã trao đổi ý kiến với đồng chí phó phòng tổ chức, và theo ước tính, số lao động thừa ra lên đến ba trăm người. Ba trăm người sản xuất thực phẩm, có đầu tư chu đáo, chắc chắn đủ nuôi cả đơn vị ta. Đây rõ ràng là sự phân công lại lao động cho hợp lý. Chúng ta không sa thải ai, không đẩy ai ra lề đường!


Sau khi Trầm dừng lời, phòng họp lặng lẽ. Có nhiều người đồng tình nhưng chỉ ngấm ngầm. Phần đông, người ta lo ngại. Nếu chủ trương này được thực hiện thì bao nhiêu người nhà, em, cháu, vợ, con, biết đâu chính bản thân họ cũng phải đi chăn bò. Bởi thế, mọi người nghe Trầm nói, rồi im lặng.


Một sự im lặng đáng sợ.


Sự im lặng ấy kéo dài hơn hai phút. Mãi hai năm sau, “chủ trương chăn bò” - theo cách gọi mỉa mai của những kẻ chống đối - mới được thực hiện. Nhưng đó là chuyện sau này. Còn sau cuộc họp này, Ngôn đã không ngớt lên án cái “chủ trương chăn bò” của Trầm. Ngôn cho rằng, đây chính là âm mưu đảo chính của thế lực 30 tháng Tư trong Liên hiệp. Theo hùa với Ngôn có không ít người. Những người này hiểu ra rằng tư duy của Trầm có hại cho họ. Họ sẵn sàng tìm mọi cách để triệt tiêu lối tư duy ấy. Trong lòng Ngôn càng khắc sâu mối thù kẻ đã giành được tình yêu của Thiền Lan. Ngôn thề rằng sẽ không bao giờ cho kẻ đó ngóc đầu lên được.


*


Mùa đông đến với từng đợt không khí lạnh dữ dội chưa từng thấy ở miền Nam. Tù nhân không có áo ấm, chăn đệm, nên rét quá không ngủ được. Nhiều kẻ chửi rủa công khai: Mẹ kiếp, tụi nó từ Bắc tràn vô đây kéo theo nghèo đói, còn kéo theo cả cái lạnh, cái lụt bão vô nữa! Khốn nạn!


Đước không ngạc nhiên về những câu chửi rủa ấy. Ở với bọn tù hình sự gần hai năm nay, hầu như suốt ngày anh phải nghe chúng chửi rủa. Kẻ vừa tuôn ra câu chửi ấy phát âm từ “khốn nạn” thành “khốn lạn”, Đước suýt phì cười. Cả dãy nhà giam sáng choang vì giám thị cho phép đốt lửa trong nhà để sưởi ấm. Những cây rừng to bằng bắp vế, dài tới năm, sáu mét, cứ để nguyên vậy mà chụm lửa. Lửa đượm. Trong phòng ấm lên rất nhiều so với ở ngoài rừng. Vậy mà ít ai ngủ được. Nhiệt kế phòng trại trưởng chỉ tám độ C. Quả là ở miền Nam, chưa khi nào lạnh như năm nay. Cũng như chưa khi nào lụt lớn ở đồng bằng miền Tây như năm bảy tám.


Khi kể lại cho trại trưởng nghe cái đoạn mình bị bắt, Đước không thể nào biết được một chi tiết dẫn đến việc anh bị còng tay lúc nửa đêm. Chỉ mãi đến sau này, khi được trả tự do, anh mới hiểu rõ ngọn ngành.


… Ba tháng liền, trạm thu mua do Đước phụ trách không giao nộp đủ tôm theo kế hoạch. Trách nhiệm chụp lên đầu trạm trưởng. Bất kể sự thực như thế nào, người ta đổ lỗi cho anh dung túng ngư dân bán tôm cho tư thương, đồng lõa với ngư dân kêu ca chống đối chính sách giá cả của Nhà nước.


Đước nghe được tất cả những chuyện ấy. Anh quyết định gặp trưởng phòng thủy sản Trọng Phái. Một cán bộ của phòng trả lời: “Ông Phái đi vắng từ trước bữa ăn trưa. Trưa nay, ổng không ăn cơm nhà”. Đó là cô gái mà thời kỳ Đước còn làm giám đốc Công ty Thu mua, cô ta là nhân viên hành chính Công ty. Thấy cô gái xinh đẹp, Phái đã chuyển cô qua làm hành chính quản trị của phòng thủy sản. Thấy Đước băn khoăn chưa về ngay, có ý chờ gặp Phái, cô ta nói:


- Anh Hai thử qua quán Thanh Tú coi. Giờ này sáu giờ chiều rồi, có lẽ ổng tiếp khách bên đó. - Rồi cô gái nói thêm, vừa đủ cho Đước nghe - Nếu anh Hai không thấy ổng ở bàn nhậu thì cứ giả bộ đi tiểu, rồi đi thẳng vào nhà trong ấy. Thế nào cũng gặp.


Lâu nay, Đước có nghe một vài người xì xào về chuyện quan hệ giữa Phái với mẹ con Bảy Tụ, nhưng anh chỉ để ngoài tai. Ở cuộc họp tại Ủy ban huyện, chính Phái đã công khai nói chuyện đó. Anh ta nói, phòng tiếp khách thường xuyên, đưa khách qua quán Thanh Tú là tiện nhất. Nếu tiếp khách tại cơ quan, chỉ tiếp một ông khách, còn phải lo cho năm, sáu miệng ăn theo.


Phái công khai, thẳng thắn là thế, còn ai dám nghi ngờ. Hơn nữa, về tư cách, từ ngày Phái về Mỏ Tôm, chưa khi nào thấy anh say sưa, nói năng lè nhè bao giờ. Đặc biệt, ở các cuộc họp, hầu hết cán bộ chủ chốt ở Mỏ Tôm dè nể Phái vì tài ăn nói khúc chiết, lối lập luận sắc sảo. Ngay cả những biểu hiện bề ngoài, Phái là người cực kỳ nghiêm khắc với thanh niên về chuyện uống rượu, đánh lộn, chửi thề và... để tóc dài. Phái phân tích, như một nhà tâm lý học - sinh lý học, tác hại của nạn ghiền rượu đế, đó là tệ nạn mà hầu hết thanh niên Nam Bộ đang gánh chịu. Khi nghe được chuyện này, mụ Bảy Tụ tát yêu vào miệng Phái: “Thôi đi cưng, vừa vừa thôi để em còn bán rượu chớ. Tụi nó không uống rượu đế thì tiền đâu em mua rượu Tây với bia cho cưng uống như hũ chìm”. Phái nói huỵch toẹt: “Thì với công luận, phải tỏ ra như thế người ta mới nể sợ”. Còn chuyện nam thanh niên để tóc dài, trước khi về Mỏ Tôm, Phái tìm hiểu nhân tình thế thái, biết được bí thư và chủ tịch chúa ghét để tóc dài. Thế là ngay lập tức, Phái hớt cao cái đầu của mình rồi mới xách va ly đi nhận công tác. Về huyện, với cái đầu hớt cao ấy, Phái chiếm được cảm tình của tất cả giới lãnh đạo ngay từ cái bắt tay đầu tiên. Rồi sau đó, Phái đề xuất tại cuộc họp giao ban ở Ủy ban một phong trào chống để tóc dài. Phái tự xung phong làm chủ tịch phong trào.


Ở một thời kỳ mà người ta đánh giá con người không bằng cái tóc, đánh giá phẩm chất không căn cứ vào năng lực mà chỉ cần gọi dạ, bảo vâng, răm rắp nói theo, làm theo ý thủ trưởng, tìm mọi cách tâng bốc, cung phụng thủ trưởng; Ở một thời kỳ mà bất cứ ai nếu nghĩ khác, làm khác cái đã thành thể chế thì lập tức bị qui là tàn dư của bọn phản động chống phá cách mạng... Ở thời kỳ đó, típ người như Phái là hợp thời trang, là “đầy triển vọng”.


Đước bước vào quán Thanh Tú đầy nghẹt khách nhậu. Không thấy trưởng phòng đâu cả. Mẹ con Bảy Tụ độ rày không bán nữa mà giao mọi dịch vụ cho người làm. Ở cái ghế cao phía cửa đi vào nhà trong là cô chủ tươi trẻ, nõn nà đang ngồi vắt vẻo... chuyên làm cái việc nhìn ngắm thực khách, tự nhìn ngắm mình và đếm tiền. Nhớ lời cô gái giúp việc trưởng phòng, Đước lẳng lặng đi vô nhà trong. Một lối đi tuốt ra phía sau, nơi có “toa lét” theo kiểu cầu tõm xuống sông. Một ngách rẽ tay mặt vô phòng ăn và phòng ngủ của chủ tiệm. Đước bước vào phòng ăn, hy vọng gặp Phái đang ăn ở đây. Nhưng mặt bàn chỉ còn trơ lại những chiếc tô, dĩa đã ăn dở dang và những chai bia đã cạn. Hai chiếc ly pha lê trắng đặt cạnh nhau còn sót lại chút bia không còn màu vàng do đá tan hết. Hai cái chén và hai đôi đũa. Chén, dĩa, đũa, ly... toàn đồ kiểu của Nhật. Cửa vào phòng ngủ đóng im ỉm. Đước nghe thấy từ trong đó tiếng nhạc dìu dặt thoát ra. Trí tò mò khiến anh ghé qua khe cửa, nhưng không thấy gì. Anh nhìn vào bức vách ngăn giữa phòng ăn và phòng ngủ, và chợt phát hiện ra một lỗ nhỏ khá kín đáo.


Trên giường nệm, chẳng phải ai mà chính là trưởng phòng thủy sản và bà chủ quán Bảy Tụ đang cuồng loạn...


Đước hiểu ra vấn đề. Anh giơ tay xô cửa phòng nhưng cánh tay anh lại hạ xuống. Về sau này, anh mới ân hận về thái độ quá bao dung của mình hôm nay. Khi bước ra, vì vội quá, anh xô phải cái ghế và té xoài vào bàn ăn. Chiếc ly pha lê lăn xuống vỡ tan tành. Phái mở cửa vội đi ra ngoài, anh ta nhận ra dáng người vừa làm bể chiếc ly pha lê...


Đêm ấy, sau khi ngủ đẫy một giấc đã lại sức, Phái lặng lẽ rời Bảy Tụ để qua... phòng của Thanh Tú. Và trong khi mụ Bảy Tụ vẫn ngủ mê mệt, Phái thỏa sức ân ái với cô con gái đang khao khát... Sự cuồng nhiệt của Phái đã chiến thắng. Đến lượt Thanh Tú lịm đi trong giấc ngủ. Phái về tới nhà mình, nằm vật ra giường nhưng không tài nào nhắm mắt nổi. Lo lắng vì bí mật đã bị Đước khám phá khiến cái đầu của Phái suy nghĩ căng thẳng. Đồng hồ đánh bốn tiếng chuông. Phái vùng dậy! Trời! Một phát hiện! Một sáng kiến vĩ đại!


Hai ngày sau đó, ở cơ quan công an và viện kiểm sát, người ta nhận được một lá thư không rõ của ai viết, nét chữ phụ nữ, tố cáo Lê Văn Đước:


“... Lê Văn Đước là đảng viên Cộng sản, là đồng chí của các ông, nên có thể các ông bênh vực mà không tin lời tôi viết trong thư này. Tôi vẫn cứ viết vì thật lòng khinh bỉ hắn. Từ khi hắn được ra khỏi quân đội, về Mỏ Tôm công tác, hắn là kẻ tổ chức đường dây vượt biên ở vùng biển này. Tất cả các vụ mua tàu để vượt biển đều do một tay hắn. Nhiều chuyến, đích thân hắn lái tàu giả đò đi săn cá mập để bảo vệ tàu vượt biên. Cụ thể nhất, tôi nêu ba trường hợp: Một - Chiếc tàu đánh cá lớn nhất của quốc doanh đánh cá Rạng Đông, tức là một trong những tàu của ông Hai Mắm bị quốc hữu hóa, bị cướp cách đây sáu tháng, chính là do Đước chủ mưu. Theo hợp đồng, sau khi chồng đủ vàng, Đước đã mượn cớ đi săn cá mập trên chiếc tàu của ông Bà Tràm ở Xẻo Đước để hộ tống. Trên chiếc tàu này có thằng em trai của tôi. Hai - Chiếc tàu vượt biên bị sóng biển nhận chìm giết chết một trăm hai chục người cách nay bốn tháng, chính là do Đước tổ chức. Hắn đã nhẫn tâm mua tàu nát để kiếm lời. Ra khơi, tàu hư, máy hư, nên đã gây ra thảm kịch. Trên chiếc này có cha tôi và vợ con tôi. Tôi bị kẹt không lên tàu kịp nên mới còn sống để viết thư này. Ba - Vụ gần đây nhất, hắn hẹn bãi đón ở Vũng Tàu để đánh lạc hướng theo dõi của công an. Ở Vũng Tàu, hắn có đứa em làm việc ở Liên hiệp Dịch vụ Biển, cũng là một mắt xích của đường dây này. Hắn đi Vũng Tàu cùng với cô Út Thơm - con gái ông Ba Tràm - làm việc ấy. Tàu này chưa ra đến hải phận quốc tế đã bị chìm. Cũng vì hắn ham lời, không chịu mua tàu mới.


Tôi tố cáo hắn vì biết đích xác cha hắn là Lê Văn Hải, một tên tư sản cực kỳ phản động, đã vượt biên trốn cải tạo. Hắn thù chế độ này là vì thế. Cơ ngơi của cha hắn bạc tỷ chứ ít gì. Nếu không trừ khử hắn, tôi e rằng, hắn sẽ còn tiếp tục gây nhiều tội ác mới. Mỗi chuyến vượt biên, hắn đã thu lời hàng chục lượng vàng, vậy mà hắn nỡ nhẫn tâm giết hại người ta nữa...”.


Giám đốc công an bí mật gặp trưởng phòng thủy sản để điều tra về người bị tố cáo. Trọng Phái dẫn giám đốc công an qua phòng ăn riêng của mẹ con Bảy Tụ để dùng cơm trưa. Bữa cơm ấy, cả hai mẹ con Bảy Tụ cũng tiếp khách. Bảy Tụ ngồi bên Phái. Thanh Tú ngồi bên giám đốc công an. Mười hai giờ đêm hôm ấy, Đước bị còng tay tống lên xe bít bùng.


*


Lá thư đầu tiên Đước viết gửi Trầm, nghĩa là được liên lạc với thế giới bên ngoài, do đích thân trại trưởng bí mật chuyển đi. Trại trưởng đi công tác Sài Gòn. Anh đã khéo léo gọi điện thoại cho Trầm lên Sài Gòn và hai người gặp nhau. Tổ chức một phi vụ như thế đối với một người đã tốt nghiệp Đại học Công an mười lăm năm là chuyện không khó khăn gì.


Trại trưởng không giấu nổi ngạc nhiên, dù đã nghe Đước kể, khi thấy Trầm giống Đước ghê quá. Thấy Trầm nôn nóng muốn gặp Đước ngay, trại trưởng lạnh lùng gạt đi:


- Không được! Tuyệt đối cấm. Nếu anh muốn cho Đước được tự do thì không được nôn nóng. Phải làm ngay những việc sau đây: Một là, phải nghe lời tôi trong mọi trường hợp. Hai là, phải có được sự can thiệp của một đồng chí trong ban lãnh đạo Bộ Thủy sản. Ba là,...


Trại trưởng nói với Trầm khá lâu. Trầm nghe như nuốt từng lời. Họ chia tay nhau. Thời gian của cả hai người đều rất hiếm hoi. Trầm không được viết thư cho Đước. Anh chỉ được phép nói nội dung lá thư ấy cho trại trưởng nghe. Trại trưởng nhận ra Trầm cố nén những giọt nước mắt không để trào ra. Đọc xong lá thư, Trầm nắm tay trại trưởng:


- Tôi đội ơn anh!


- Không. Không nên nói chuyện ơn huệ. Cái giá tôi phải trả, chúng ta phải trả... lớn lắm. Nhưng hãy yên lòng. Chúng ta là những kẻ tự nguyện kia mà.


Những ngày sau đó, Trầm lao vào cuộc chiến đấu giành lại anh ruột. Năm tháng đã cho anh sự khôn ngoan hơn, bình tĩnh hơn, vững vàng hơn trước mọi thử thách của cuộc đời. Bất giác, anh nhớ lại một ai đó đã viết: “Người với người là chó sói”. Không! Điều đó không hoàn toàn đúng. Vả chăng, ngay chó sói còn biết yêu thương đồng loại kia mà.


*


Trong căn nhà vốn là nhà kho cũ đã được cải tạo, vợ chồng Tư Phương được chia hai phòng, cộng cả diện tích nhà vệ sinh mới được bốn chục mét vuông. Lúc Trầm đến thì Phương đang ở trần lúi húi đóng chiếc tủ sách bằng những mảnh ván gỡ ra từ balét. Vợ Phương pha trà mời khách. Phương dừng tay để mặc quần áo tiếp khách, nhưng Trầm ngăn lại:


- Anh cứ làm, để em phụ một tay.


Miệng nói, tay gỡ nút áo, Trầm mặc độc chiếc quần soóc. Anh tỏ ra quá thành thạo trong việc sử dụng cưa, bào, đục. Phương không thể nào hình dung được cái anh chàng có hai bằng đại học mà khéo tay đến thế. Bộ sườn tủ sách được ráp nối nhanh chóng, mộng mẹo liền tịt, y như sản phẩm của một thợ mộc giỏi! Hai người lựa những tấm ván ép đóng vào mặt sau của tủ. Chiếc tủ sách, theo dự định của Tư Phương, xếp được bảy hàng sách. Trầm nêu ý kiến hạ thấp hàng cuối cùng xuống để chỉ cách mặt đất mười phân, đồng thời dồn các hàng xích lại vừa đủ chiều dài một cuốn sách. Nhờ thế, tủ sách thành tám ngăn, mà ngăn cuối cùng lại có chiều cao gấp đôi bảy ngăn trên, để chuyên dùng cho các loại tạp chí, từ điển khổ lớn và báo. Họ hoàn tất công việc, xếp sách vào tủ. Những cuốn sách được Phương chăm sóc kỹ càng. Những cuốn sách quí, những cuốn tiểu thuyết có giá trị đều được đóng lại bìa cứng.


Sách vở bây giờ thật lạ. Ruột sách in bằng giấy đen nhẻm, toét cả mắt chưa đọc hết một trang. Còn bìa mỏng dính và đôi khi rất thô thiển. Hầu hết các bìa sách đều kẻ chữ. Tư Phương thở dài, nói với Trầm:


- Sách văn học Việt Nam hiện nay giống như một người ở trần. Không có lời giới thiệu, không có tóm tắt nội dung, chỉ có tên tác giả chứ không biết tác giả là ai, làm gì, đời tư ra sao. Còn bìa sách, có cũng như không. Giấy in bìa mỏng như giấy in ruột, rất ít cuốn vẽ tranh bìa. Đọc chưa hết nửa cuốn thì bìa rách nát. Bìa sách của người ta in tranh đẹp, trên giấy cútsê, lại còn bọc ni lông nữa. Bìa một, hai, ba, bốn không để trống; lượng thông tin về tác giả, về quá trình lao động của tác giả làm tác phẩm được trân trọng gửi đến người đọc. Các nhà xuất bản của ta chưa chú ý đến khoản này. Có một vài nhà xuất bản đã tung ra thị trường hàng triệu bản sách cho thiếu nhi vẽ vời nhảm nhí.


- Đúng là người làm tuyên huấn! Anh có những nhận xét chính xác quá, anh Tư à. - Trầm nhìn vào mắt Phương, chân tình.


Có tiếng chuông cửa. Người mà cả hai đang đợi đã đến. Tư Phương ra mở cửa, niềm nở:


- Anh Hồng! Anh em tôi đang đợi anh.


Nguyễn Hồng nhìn đồng hồ, giọng sang sảng mà ấm áp:


- Tớ đến đúng giờ mà.


- Dạ, có bao giờ anh sai hẹn đâu, Tại vì chúng tôi mong tin anh. Nhất là Trầm, hẳn là chú ấy sốt ruột lắm!


Trầm đứng dậy bắt tay Hồng. Hai đứa con Tư Phương, đứa đầu gái, đứa sau trai vừa đi chơi cầu lông về, vòng tay chào khách. Nguyễn Hồng âu yếm hỏi han hai cháu bé, rồi quay lại Trầm nói luôn một mạch:


- Mừng vô cùng, may mắn vô cùng. Tớ gửi công văn cho Bộ Nội vụ đúng vào lúc Hội đồng Nhà nước cử đồng chí phó chủ tịch đi thanh tra các trại giam; cũng đúng vào dịp tòa xét xử vụ giám đốc Công an Đồng Nai và tuyên án tử hình thằng cha Giộc. Mọi việc đã được tiến hành chu đáo, kể cả những biện pháp bảo vệ an toàn tính mạng cho Đước. Mọi chuyện bất ngờ đều có thể xảy ra trong tù với Đước. Rồi đây, cậu ấy sẽ được chuyển về trại giam gần đây, và người thân sẽ được vào thăm...


Trầm không nén nổi vui sướng. Anh đứng vụt dậy nắm lấy hai vai của Nguyễn Hồng, nhìn thẳng vào mắt ông và... lặng lẽ khóc. Cảm được nỗi lòng của anh bạn trẻ, Hồng ngồi yên, âu yếm nhìn lại Trầm. Vợ Tư Phương mang ra bình trà mới. Chị rót nước ra những tách trà vừa được tráng nước sôi cho nóng lên.


- Em chịu ơn các anh suốt đời... - Trầm nhìn Hồng, nhìn Phương, lấy khăn lau mắt và châm thuốc hút. Rõ ràng, Trầm đang cố gắng để bình tâm lại.


- Nhiều người ngay thẳng đã bị bọn cơ hội vu cáo, hãm hại; họ đang ở trong tù, có người chết trong tù. Trong khi đó, chính bọn vu cáo lại được tin dùng, đang có chức có quyền. Đó là điều trước kia, nghĩa là cái thời bọn mình bằng tuổi Trầm, chưa hề có. Mình đau xót khi phải nói rằng, thời ấy, cái thời mình với Tư Phương còn trai tráng ấy mà, không có đất đứng cho bọn cơ hội, bọn lừa thầy phản bạn. Còn hiện tại, một lá thư nặc danh cũng đủ tiêu diệt một con người, và cùng với con người ấy là sự nghiệp của một đơn vị, một ngành. Nguy hiểm quá.


Nguyễn Hồng uống một hơi cạn tách trà, tay phải với chiếc quạt bằng lá buông quạt liên hồi. Mồ hôi ông vã ra hai bên mang tai và sau gáy. Phòng thì chật mà lại cúp điện, nóng nực quá. Ông nói tiếp:


- Mình đã tìm thấy bản kiến nghị của Lê Văn Đước. Theo con dấu bưu điện thì nó tới Bộ cách đây đúng hai năm. Vậy mà nó ở đâu, các cậu biết không? Nó ở trên nóc tủ đầy bụi bặm và mạng nhện, cùng với cả chục ký lô giấy lộn khác ở phòng ông thứ trưởng vừa bị kỷ luật. Khi người ta dọn dẹp căn phòng để cho người mới vào làm việc, tự nhiên mình nảy ra ý định: Phải tìm bản đề án đó ở đây. Và thế là mấy anh chị em ở văn phòng cùng với mình tìm hết một ngày, vẫn không thấy. Cuối cùng, chính ông cụ chuyên đổ rác của Bộ, ông cụ đã tìm ra. Trong đống giấy tờ lưu cữ bao nhiêu năm, có nhiều bao thư để nguyên không được bóc. Ông cụ đã tìm ra bản đề án của Lê Văn Đước. - Ông Hồng đỏ mặt lên, mồ hôi chảy ròng ròng - Thật đáng xấu hổ! Nhục thay, khổ thay! Một đất nước có những kẻ quan liêu đến thế là cùng, vô trách nhiệm đến thế là cùng! Phường giá áo túi cơm!


Tay phải quạt chiếc quạt bằng lá buông phành phạch, ông Hồng nói tiếp, giọng sang sảng:


- Mình đã đọc rất kỹ những kiến nghị của Lê Văn Đước. Thú vị thật. Quả là mình không ngờ. Một sĩ quan quân đội, chưa được đào tạo qua đại học mà đề xuất được chiến lược phát triển cho cả ngành hải sản. Tất nhiên, bản đề án của Đước còn sơ lược, cần phải hoàn thiện thêm; nhưng căn bản nội dung của nó đã khiến cho các nhà quản lý, các nhà khoa học đang cố vấn cho mình phải thán phục. Chính các vị ấy cũng còn lúng túng, do dự khi đã hoạch định được đường hướng chiến lược cho ngành hải sản. Trong khi đó, Lê Văn Đước lại hết sức vững tin khi khẳng định: “Phải lấy xuất nhập khẩu để bẩy cả ngành thủy sản lên. Và trong vòng mươi năm tới, sản xuất tôm xuất khẩu phải là nhiệm vụ hàng đầu”.


Lại quạt phành phạch, làm tắt cả cây đèn mà vợ Tư Phương vừa thắp lên, ông Hồng nói:


- Thế mới biết, ai bắt rễ từ cuộc sống thực tế, gắn bó với dân, đồng cam cộng khổ với dân, thì người đó sẽ nói được chân lý. Bao giờ những nhà lãnh đạo, nhà quản lý của đất nước này làm được như thế thì các chính sách đề ra mới đúng, mới hợp qui luật, hợp lòng người.


Ông Hồng vừa dừng lời thì đèn néon một thước hai vụt sáng lên. Hai đứa con Tư Phương ở trong reo lên: “A! Có điện rồi! A! Có điện rồi”. Đêm ấy, tivi chiếu tiếp tập bốn của bộ phim tình báo nước ngoài nhiều tập. Nghe tiếng reo vui sướng của trẻ, Nguyễn Hồng tiếp:


- Tư Phương à! Chúng ta, ngành thủy sản chúng ta cần những đề xuất của Đước như bọn trẻ cần điện để coi tivi ấy!


Rồi ông ngả người vào lưng ghế, ngửa mặt nhìn chiếc quạt trần đang chạy vù vù. Năm nay, ông năm mươi ba tuổi, năm hạn, vậy mà thân thể tráng kiện, cơ bắp cuồn cuộn như dân đi biển, tóc đen nhánh, răng chắc, đi nhanh, “ăn to nói lớn”. Ông có thể kiên nhẫn ngồi nghe người khác nói liền một hai giờ khi cần; và khi cần, ông cũng nói liên tục hai ba giờ đồng hồ. Giọng ông sang sảng, đúng là giọng của dân đi biển. Vậy mà ông lại sinh ra ở đất nhãn lồng Hưng Yên. Cuộc sống tạo ra những quan hệ bạn bè nhiều khi rất ngộ. Ông Hồng, Tư Phương và Hai Trung không làm lễ kết nghĩa vườn đào như Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi; nhưng xem ra tình bạn của bộ ba này có phần gắn bó khắng khít hơn. Họ không cùng quê quán, không học cùng trường, gia cảnh khác nhau, trình độ khác nhau, sở thích khác nhau, cá tính khác nhau... Nhưng từ ngày gặp nhau ở Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản, họ đã đến với nhau như những người bạn chí cốt.


Nguyễn Hồng quê Hưng Yên, ven dòng sông Hồng. Tư Phương quê Bình Định. Còn Hai Trung thì ở Bến Tre, nơi một trong chín cửa sông Cửu Long đổ ra biển. Về gốc gác tổ tiên từ đời ông Bành Tổ, có lẽ họ cùng có gốc từ miền trung châu Bắc Việt. Về nghề nghiệp, Hai Trung là gắn liền với biển. Riêng Nguyễn Hồng, sinh ra ở đất nhãn lồng, nhưng khôn lớn, tham gia Việt Minh lại ở đất biển Kiến An - Hải Phòng. Hai mươi lăm tuổi, ông Hồng đã làm phó bí thư Tỉnh ủy Kiến An. Sau đó, ông tham gia thành lập Trung đoàn 65 Quân khu Tả Ngạn, và được chỉ định làm chính ủy. Vợ ông cùng chiến đấu một mặt trận với ông. Năm 1948, vợ chồng ông có đứa con trai đầu lòng giống ông như tạc. Ông cùng đơn vị đánh Pháp năm mươi trận, trận nào cũng thắng. Vợ chồng ông ăn ở với nhau hai người như một, chung thủy; đến tận bây giờ, vợ ông vẫn sát cánh với ông ở đơn vị kinh tế. Khi ông chuyển từ quân đội sang làm kinh tế, ông đã nổi tiếng là ngang. Ông không chịu được thói nô lệ, chỉ biết vâng vâng dạ dạ. Thời kỳ cải cách ruộng đất và sau đó là cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, ông suýt bị khép vào tội chống Đảng, vì ông phản đối những biện pháp thô bạo, phi đạo lý, vi phạm nền dân chủ mới thành hình. Trong các cuộc họp, ông dũng cảm nói ngược lại cấp trên, chỉ ngược cấp trên nhưng đúng với cuộc sống hiện thực. Vì thế, con đường hoạn lộ của ông thật gập ghềnh. Ông đã phải trả giá cho sự trung thực của mình. Bù lại, ông được sự thanh thản trong lòng và ông được nhiều người nhớ ông, trọng ông. Ở đời, được những người dân bình thường nhớ và trọng, ấy là niềm sung sướng nhất rồi, ông vẫn nói thế. Thà được như thế thì có đi chân đất, ở nhà tranh còn sướng bằng vạn làm bộ trưởng mà bị người đời khinh bỉ, nguyền rủa.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info  


 







Cách gọi những người tham gia cách mạng từ ngày 30-4-1975.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »