tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748141
Lý luận phê bình văn học
07.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (42): Sự tan rã của hình thức nghệ thuật cổ điển


Chương thứ ba


SỰ TAN RÃ CỦA HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỔ ĐIỂN


Các vị thần cổ điển mang ở bản thân họ những mầm mống của sự tiêu diệt. Vì vậy, khi sự phát triển của nghệ thuật đã làm cho ý thức nhận tháy điều đó cũng như thấy tính thiếu sót của các thần thì điều đó dẫn tới sự tan rã của lý tưởng cổ điển. Chúng ta đã thấy rằng nguyên lý của lý tưởng này được tạo nên bởi cái cá tính có tính tinh thần được thể hiện ít nhiều thích hợp trong cái hiện thực cảm quan, dưới hình thức của một tồn tại bên ngoài và có tính cơ thể trực tiếp. Song cá tính này lại tan rã thành những vị thần cá biệt, mà sự qui định không phải là tất yếu ở bản thân nó. Nói khác đi, các vị thần có những nét và những tính cách thuần túy ngẫu nhiên; các tính chất này lại vâng theo những điều ngẫu nhiên. Kết quả là cả đối với ý thức cũng như đối với sự thể hiện nghệ thuật của các vị thần thống trị mang dấu vết của sự tan rã.


 


1.       Định mệnh.


 


Kể ra, điêu khắc ở thời kỳ phát triển hoàn toàn, quan niệm các thần là những sức mạnh bản chất và cấp cho họ một hình ảnh ở đấy lần dầu tiên họ dựa vào bản thân, bởi vì trong cái đẹp không biểu lộ không biểu lộ những nét ngẫu nhiên bên ngoài. Song tính đa thần và tính đa dạng của các vị thần là tính ngẫu nhiên của họ, và tư duy kéo họ về đặc trngư của một yếu tố thần linh duy nhất và các vị thần đấu tranh với nhau và tranh giành nhau là do tính tất yếu của vị thần duy nhất này. Bởi vì dù cho quyền lực của mỗi vị thần cá biệt là do to lớn đến đâu đi nữa, bao giờ nó cũng hạn chế bởi vì nó là quyền lực của mỗi cá tính cá biệt. Ngoài ra, các vị thần không ở trong tình trạng nghỉ ngơi vĩnh viễn. Trong khi theo đuổi những mục đích riêng, họ bị lôi vào sự vận động, bị thu hút về nhiều phía khác nhau bởi những hoàn cảnh và những xung đột đã có từ trước của cái thực tế cụ thể, khi thì để giúp đỡ, khi thì để cản trở. Những quan hệ cá biệt này trong đó các vị thần đóng vai những cá nhân hoạt động, mang một tính chất ngẫu nhiên nào đấy, đã che mờ tính bản chất của vị thần, tuy bản chất này vẫn là cái cơ bản chủ yếu, để kéo họ vào những sự đối lập và những cuộc đấu tranh tiêu biểu cho cái hiện thực hữu hạn và hạn chế. Do tình trạng hữu hạn cố hữu đối với các thần, họ rơi vào tình trạng đối lập với vẻ oai nghiêm, vĩ đại đẹp đẽ của họ và trở thành nạn nhân của tình trạng võ đoán và ngẫu nhiên.


Sự biểu hiện đầy đủ mâu thuẫn này sở dĩ không biểu lộ trong lý tưởng theo nghĩa đen chỉ vì (như điều ta thấy ở trong điêu khắc thực sự và trong các hình tượng cá biệt của những điện thờ) các cá nhân có tính chất thần linh được miêu tả là những người cô độc, chìm đắm trong trạng thái hạnh phúc hồn nhiên, xa lạ với cuộc đời, không biết cảm xúc và giữ những nét bình thản của nỗi buồn mà chúng tôi vừa nhắc đến. Nỗi buồn này đã làm ta đoán được, cảm thấy trước định mênh của họ bởi vì nó chứng tỏ rằng có một cái gì cao hơn, vượt lên khỏi họ, thống trị họ làm cho sự chuyển biến từ trạng thái cá biệt sang trạng thái thống nhất chung của họ. Nhưng khi ta khảo sát cẩn thận hình thức và tính chất và tính thống nhất của tính thống nhất cao đẳng này, chúng ta sẽ nhận thấy rằng đối lập lại tính cá biệt và tính chính xác tương đối của các thần, nó biểu hiện một điều trừu tượng không có hình thức. Sự tất yếu, định mệnh ở trong tình trạng trừu tượng như vậy chỉ là yếu tố cao nhất nói chung của các thần và loài người phải phục tùng nó, nhưng bản thân nó là không thể hiểu được và không thể qui về một khái niệm nào cả.


Định mệnh vẫn chưa phải là cái mục đích tuyệt đối “tồn tại cho nó” tương đương với một quyết định chủ quan và cá nhân của thần linh, mà chỉ là cái quyền lực phổ biến và duy nhất vượt ra ngoài những điều cá biệt của các vị thần và vì vậy không thể miêu tả định mệnh thành một cá nhân bởi vì lúc đó sẽ đóng vai một cá tính trong số những cá tính khác và, do đó, không thể đứng cao hơn  họ. Vì vậy, định mệnh không có hình thức cũng không có cá tính mà chỉ là một tính tất yếu trừu tượng: khi người đời và thần linh bị chia tách nhau bởi những điều đặc thù của họ, đấu tranh với nhau, mỗi người tìm cách chiến thắng theo sức mạnh của cá nhân mình và vượt qua cái giới hạn dành cho các tài năng và sở nguyện của họ, thì họ chỉ có việc vâng theo định mệnh, nếu không thế họ sẽ ngã gục bởi vì không có cái gì thoát khỏi định mệnh cả.


 


2.       Tính nhân hình, nguyên nhân của tình trạng các thần bị tan rã.


 


Bởi vì tính tất yếu ở bản thân nó không phải thân nó không phải là một thuộc tính của những thần linh cá biệt ,không làm thành nội dung của hiện tương các thần tự qui định mình, mà vượt khỏi họ như một điều trừu tượng mà không có nội dung gì hết, cho nên mặt các biệt và mặt đơn nhất được giải phóng. Về mặt này cái này tất yếu là mang hững nét bên ngoài của con người, những nét hữu hạn của chủ nghĩa nhân hình là những cái làm cho các vị thần đối lập lại điều làm thành khái niệm tính bản chất và tính thần linh. Cái chết của những vị thần đẹp đẽ này của nghệ thuật là bị qui định tất yếu bởi bản chất của họ, bởi vì ý thức không thể nào tìm thấy ở họ cái tình cảm nghỉ nhơi mà các vị thần đem đến cho nó: ý thức rời bỏ các vị thần để đi vào bản thân. Nhưng hơn tất cả những cái khác, tính chất nhân hình Hy Lạp đã dẫn tới tình trạng các thần linh tan rã đối với tôn giáo cũng như đối với niềm tin tưởng nên thơ.


 


a.       Tình trạng thiếu tính chủ thể bên trong.


 


Nếu như cá tính tinh thần mang hình tượng con người với tính cách lý tưởng, thì điều đó là một hành động trực tiếp: tức là có tính cơ thể, chứ không phải là tính chất con người ở bản thân nó, cái này mặc dầu trong giới nội tâm chủ quan nhận thức rằng nó là tách rời khỏi Thượng đế nhưng đồng thời cũng gạt bỏ sự khác nhau này và làm thành một tính chủ thể tuyệt đối vô hạn thống nhất với Thượng đế.


(a)      Lý tưởng tạo hình thiếu cái nội cảm tự biết rằng nó là vô hạn. Các hình tượng tạo hình đẹp đẹp đẽ đó không chỉ là đá và đồng, mà trong nội dung và trong sự biểu hiện của họ, còn thiếu cái tính chủ thể vô hạn. Người ta có thể tha hồ say sưa về cái đẹp và về nghệ thuật nhưng sự say mê này vần thuần túy thuộc chủ thể bởi vì nó không nằm trong cái đối tượng được chiêm ngưỡng tức là trong các thần. Song một tổng thể thực sự đòi hỏi phải có tính thống nhất và tính vô hạn của cái chủ thể tự nhận thức được mình bởi vì chỉ có nó mới tạo nên một vị thần, và một con người thực sự sinh động và có hiểu biết. Nếu như tính thống nhất và tính vô hạn không được biểu hiện với tính cách liên quan với nội dung và với bản chất của đấng Tuyệt đối thì đấng Tuyệt đối không đóng vai một chủ thể có tính tinh thần mà xuất hiện trước sự chiêm ngưỡng chỉ dưới phương diện khách quuan không mang cái tinh thần tự nhận thức được mình. Cố nhiên cá tính của các thần cũng có cả nội dung chủ thể nữa, nhưng với tính ngẫu nhiên ở trong một sự vận động tự thân, không có tính yên tĩnh cốt tử và không có cái vẻ hạnh phúc của các thần linh.


(b)      Mặt khác, tính chủ thể là đối lập lại các thần có tính chất tạo hình không phải là một tính chủ thể vô hạn và chân thực ở trong bản thân nó. Điều sau này như chúng ta sẽ thấy khi khảo sát về nghệ thuật lãng mạn, có trước mặt nó tính khách thể tương ứng với nó với tính cách Thượng đế vô hạn ở trong bản thân mình. Bởi vì ở trong hình ảnh một vẻ đẹp hoàn mĩ của Thượng đế, chủ thể không nhận thức được và không trực giác được sự có mặt cụ thể và khách quan của Thượng đế, cho nên chủ thể vẫn còn tách rời và bị chia tách khỏi đối tượng của mình và do đó làm thành một tính chủ thể thuần túy ngẫu nhiên và hữu hạn.


(c)      Người ta dường như có thể giải thích rằng hư cấu ở trong nghệ thuật có thể chuyển sang một lĩnh vực cao hơn dưới hình thức một cuộc đấu tranh của các thần, tức là giống nhu là trường hợp khi chuyển từ chủ nghĩa tượng trưng của những vị thần tự nhiên sang những lý tưởng tinh thần của nghệ thuật cổ điển. Song vấn đề không phải thế. Việc chuyển này diễn ra trên một lĩnh vực khác hẳn. Đây là một cuộc đấu tranh có ý thức giữa bản thân hiện thực và hiện tại. Nhờ đó, nghệ thuật chiếm một địa vị khác hẳn với nội dung cao hơn mà nó có nhiệm vụ thể hiện dưới hình thức mới mẻ.


Nội dung này không đóng vai một sự phát hiện ở trong nghệ thuật mà là một sự tự bộc lộ ở tự bản thân, độc lập đối với nghệ thuật nó thâm nhập vào ý thức chủ thể sau khi đã trải qua giai đoạn nôn na với những lời bác bỏ bằng những luận cứ và sau đó thâm nhập vào tâm hồn, vào tình cảm tôn giáo của nó bằng những phép màu, những hành động tử vì đạo v.v… Nó xuất hiện với ý thức về sự đối lập tồn tại giữa tất cả những tồn tại hữu hạn và cái tuyệt đối, một sự đối lập biểu hiện trong lịch sử thực tế dưới hình thức những biến cố kế tiếp nhau và một hiện tại không những được nêu lên mà còn tồn tại trong thực tế. Yếu tố thần linh, bản thân Thượng đế đã mang hình thức thể xác, đã ra đời, đã sống, đã đau khổ, đã chết và đã tái sinh. Đó là một nội dung không phải do nghệ thuật sáng tạo ra, trái lại ở ngoài nghệ thuật. Nghệ thuật không phải lấy nội dung ấy từ bản thân mình mà nội dung này đã có sẵn đối với nghệ thuật với tính cách một chất liệu để nghệ thuật thể hiện.


Bước chuyển thứ nhất và cuộc đấu tranh của các thần bắt nguồn từ trực giác nghệ thuật và từ hư cấu là cái lấy những lời giáo huấn và những hình tượng từ thế giới bên trong và cấp những vị thần mới của nó cho con người. Các vị thần cổ điển chỉ có thể tồn tại ở trong biểu tượng, hoặc nảy sinh ở trong đá, trong kim loại hay trong trực giác chứ không thể tồn tại bằng xương bằng thịt hay ở trong tinh thần thực sự. Do đó, chủ nghĩa nhân hình của các vị thần Hy Lạp còn thiếu một sự tồn tại nhân tính hiện thực cả về mặt xác thịt, cả về mặt tinh thần. Chính đạo Thiên Chúa đã đem đến cho thế giới sự tồn tại này bằng thể xác và bằng tinh thần được thể hiện bởi đời sống và những hành vi ngay của Chúa. Chính vì vậy mà thể xác, được thừa nhận là đáng tôn trọng và chủ nghĩa nhân hình được thánh hóa, mặc dầu người ta biết rất rõ yếu tố thuần túy tự nhiên và cảm quan là một cái gì tiêu cực. Cũng như con người ở thời nguyên sơ đã là một hình ảnh giống như Thượng đế, cũng như vậy bây giờ Thượng đế là một hình ảnh giống như con người, kẻ nào thấy đức Chúa Con thì kẻ ấy cũng thấy được Chúa Cha: kẻ nào yêu đức Chúa Con thì kẻ ấy cũng yêu đức Chúa Cha: sự có mặt có mặt của Thượng đế cần được nhận thức ở trong sự tồn tại hiện thực.


Cái nội dung mới này được nhận thức không những nhờ có nghệ thuật mà là do một cái gì bên ngoài, với tính cách một biến cố thực tế, với tính cách cội nguồn của Chúa bằng xương bằng thịt. Nghệ thuật không làm thành  xuất phát điểm của bước chuyển này, bởi vì nếu thế thì sự đối lập giữa cái cũ và cái mới sẽ quá gay gắt. Vị Thượng đế của cái tôn giáo được khái quát, về nội dung cũng như về hình thức là một Thượng đế thực sự hiện thực và các đối thủ của Người chỉ là những thực thể tồn tại ở trong biểu tượng mà ta không thể đối lập trên cùng một cơ sở với nó. Trái lại các vị thần của nghệ thuật cổ điển, các vị thần cũ cũng như các vị thần mới đều thuộc về lĩnh vực của biểu tượng; họ chỉ có thể tồn tại do chỗ cái tinh thần hữu hạn quan niệm và hình dung họ là những sức mạnh của tự nhiên và của tinh thần và sự đối lập cùng sự cạnh tranh của họ được xem là rất quan trọng. Nếu như bước chuyển từ các thần Hy Lạp tới Thượng đế của đạo Thiên Chúa là bắt nguồn từ nghệ thuật, thì sự biểu hiện một cuộc đấu tranh giữa các thần sẽ hoàn toàn mất mọi tính chất nghiêm túc.


 


b.       Bước chuyển sang Thiên Chúa giáo với tính cách đối tượng của nền nghệ thuật mới.


 


Cuộc đấu tranh này và bước chuyển này chỉ cấp cho thời cận đại một đề tài ngẫu nhiên, cô lập, không thể có ảnh hưởng to lớn và còn xa mới có thể làm thành những biến cố nổi bật trong sự phát triển của toàn bộ nghệ thuật. Về điểm này, tôi chỉ nhắc qua một vài biểu hiện người ta biết rõ nhất. Ngày nay, ta thường nghe những lời than phiền về cái chết của nghệ thuật cổ điển. Các nhà thơ đã nhiều lần bày tỏ nổi buồn của họ về sự biến mất của những vị thần và những anh hùng Hy Lạp. Những lời than phiền và những lời nuối tiếc này được nêu lên chủ yếu để đối lập lại đạo Thiên Chúa. Mặc dầu người ta cũng thừa nhận rằng đạo Thiên Chúa chứa đựng ở nó cái chân lý cao nhất, song người ta vẫn rào đón rằng xét về mặt nghệ thuật sự diệt vong của thời cổ điển thực là đáng tiếc. Đó là nội dung tác phẩm “Những vị thần Hy Lạp” của Sinle và ta cũng nên xem trường ca này không những như một bản trường ca, nghĩa là theo quan điểm hình thức đẹp đẽ, nhịp điệu âm vang, những bức tranh đầy sự sống hay nỗi buồn bã đẹp đẽ của tâm hồn bộc lộ ở đấy mà còn cả về mặt nội dung nữa bởi vì khát vọng của Sinle bao giờ cũng thấm nhuần ý nghĩa chân thực và sâu sắc.


Cố nhiên, đạo Thiên Chúa cũng chứa đựng ở mình yếu tố nghệ thuật; song trong quá trình phát triển, lí trí gạt bỏ cái yếu tố mà nghệ thuật thế nào cũng cần đến: một hình thức thực sự có tính chất người và biểu hiện của thần. Bởi vì hình tượng con người cũng như cái mà nó thể hiện, dưới hình thức những biến cố, những hành động và những tình cảm nhân tính, đó là cái mà nghệ thuật cần phải lý giải và biểu hiện nội dung của tinh thần. Nhưng kể từ lúc lý tính đã biến Thượng đế chỉ thành một bản chất do tư duy tạo nên, kể từ lúc người ta đã thôi không tin vào sự biểu hiện của tinh thần ở trong hiện thực cụ thể, tóm lại, kể từ lúc một cái hố được đào sâu giữa Thượng đế của tư duy và hiện thực – thì nghệ thuật của cái tôn giáo được soi sáng này chỉ có thể dẫn tới những biểu hiện và những đòi hỏi không phù hợp với nghệ thuật. Nhưng khi lý tính rời khỏi những điều trừu tượng này để vươn lên tới ý trí, thì cái nhu cầu đòi hỏi tính cụ thể, nhất là cái tính cụ thể mà nghệ thuật biểu hiện lại xuất hiện.


Cố nhiên, nghệ thuật không phải bị bỏ quên hàon toàn ngay trong thời kỳ Ánh sáng, nhưng đó là một nghệ thuật nôm na như ta có thể nhìn thấy được dựa trên thí dụ của chính Sinle. Điểm xuất phát của nhà thơ là thời kỳ này nhưng sau đó nhà thơ cảm thấy cần phải rời bỏ chính bởi vì lý tính thôi không làm những tình cảm và những dục vọng thỏa mãn và nhà thơ thể hiện nỗi của hoài nhớ tiếc cái nghệ thuật sinh động, nhất là nghệ thuật Hy Lạp, những vị thần và cái thế giới quan của những người Hy Lạp. Do nỗi mong muốn thiết tha này, một mong muốn nảy sinh do chỗ phản ánh lại cái lối suy nghĩ trừu tượng của thời đại, bản trường ca mà chúng ta vừa nói đã ra đời. Nếu xét theo cái bản cuối cùng thì thái độ của Sinle đối với đạo Thiên Chúa là hoàn toàn có tính chất bút chiến; nhưng sau đó ông đã giảm bớt thái độ nghiêm khắc của thơ và chống lại thái độ lí tính của thời ký Ánh sáng khi thời kỳ này đã bắt đầu mất uy tín và ảnh hưởng của mình. Sinle trước hết ca ngợi cái nhãn giới Hy Lạp, đối với nhãn giới này toàn thể tự nhiên là sinh động đầy những thần. Sau đó ông chuyển sang hiện tại, sang cái quan niệm nôm na của ông về các qui luật tự nhiên và về thái độ của con Người đối với Thượng đế. Ông nói: “Vẻ im lặng buồn bã này chẳng phải là báo cho ta biết đấng sáng tạo của ta đó sao. Vẻ bề ngoài của người cũng u ám như Người vậy bởi vì ta chỉ  có thể ca ngợi Người bằng cách từ bỏ mình mà thôi”.


Cố nhiên việc từ bỏ sẽ làm thành một yếu tố chủ yếu của đạo Thiên Chúa. Song chỉ có các tu sĩ mới hình dung ràng đạo Thiên Chúa yêu cầu con người phải bóp nghẹt, đẩy lùi các ham muốn và các bản năng gọi là tự nhiên, đứng tách ra ngoài cái thể giới hợp lý và hiện thực, không chịu dấng thân vào gia đình và nhà nước. Về những mặt này, quan điểm này là gần với quan điểm của thời ánh sáng với chủ nghĩa duy thần của nó do chỗ khẳng định rằng Thượng đế là không thể biết được cho nên yêu cầu con người phải từ bỏ điều quan trọng nhất, từ bỏ việc nhận thức, quan niệm Thượng đê, trong lúc đó, theo một quan niệm thực sự Thiên Chúa giáo, thì sự từ bỏ chỉ là một yếu tố của sự môi giới, một giai đoạn quá độ trong đó yếu tố thuần túy tự nhiên, cảm quan và hữu hạn vứt bỏ tính chất không thích hợp của nó để bắt tinh thần vươn tới cái tự do cao nhất và thỏa hiệp bởi chính mình, tới một tự do và một hạnh phúc mà người Hy Lạp không thể biết được. Ở trong đạo Thiên Chúa không thể nói đến việc ca ngợi một Thượng đế cô độc, không thể nói đến tình trạng Thượng đế thoát li khỏi thế giới và từ bỏ thế giới không có yếu tố thần linh bởi vì Thượng đế là cố hữu ở trong tự do tinh thần và trong sự hòa giải của tinh thần. Vì vậy những câu nổi tiếng của Sinle: “Khi các thần linh giống con người hơn, thì lúc đó con người cũng gần thần linh hơn” là sai. Trái lại, chúng ta nhận thấy phần cuối của bản cuối cùng trong đó ông nói về các vị thần Hy Lạp là quan trọng:


“Thoát khỏi cái dòng thời gian, họ bay lượn, hạnh phúc trên những đỉnh núi Pinđa: cái gì phải sống bất tử ở trong ca khúc thì phải chết ở trong cuộc đời”.


Câu này chỉ khẳng định điều chúng tôi đã nói ở trên, đó là họ không có chỗ đứng ở trong đời sống hiện thực cũng không thể nào làm thành nguồn thỏa mãn cao nhất đối với tinh thần.


Pacni, người được gọi là Tibulơ của Pháp, nhờ những oán thi đã thành công của ông, đấu tranh chống lại đạo Thiên Chúa một cách khác. trong bản trường ca lớn gồm mười ca khúc, một thứ sử thi mang tên “Cuộc chiến trânh của các thần” một cách khá phóng đãng nhưng không phải không hóm hỉnh và rất suồng sã, ông đã công kích đạo Thiên Chúa. Nhưng tất cả những lời bông đùa mà người ta có thể nêu lên về vấn đề này để chỉ là những điều thảm hại vụng về và không có thể biến tình trạng bừa bãi thành một điều thiêng liêng và thành ưu điểm to lớn nhất như ở thời của Phridrich phôn Slêghen trong “Lusinđơ”. Trong bản trường ca của Pacni, Maria kể ra không phải hoàn toàn không đáng ngờ, các tu sĩ, những người dòng Đaminh, dòng Phơrăngxoa bị rượu và các thần rượu quyến rũ còn các nữ tu sĩ thì bị các tửu thần lôi cuốn. Tóm lại xảy ra những điều rất tệ nhưng cuối cùng các vị thần của thế giới cổ đại bị thua và rút lui về núi Olempơ, trên đỉnh Pacnat.


Cuối cùng, Gơt trong “Người vợ chưa cưới thành Corinhthơ” đã cấp cho ta một bức tranh sinh động hơn, sâu sắc hơn, miêu tả việc xua đuổi tình yêu không những đã không phù hợp với nguyên lý xuất phát của đạo Thiên Chúa mà còn vì lý giải sai nguyên tắc này đã đi đến chỗ hy sinh mình. Ông đem đến cái tình cảm tự nhiên của con người đối lập lại cái chủ nghĩa khổ hạnh này là cái không thừa nhận sứ mạng của người đàn bà là phải trở thành người vợ và thấy trong việc từ bỏ hôn nhân là một cái gì thiêng liêng hơn hôn nhân, hơn những tình cảm tự nhiên của con người. Cũng như ta thấy Sinle đem trí tưởng tượng Hy Lạp ra đối lập lại những điều trừu tượng có tính chất trí tuệ mới mẻ nhất của thời kì ánh sáng, cũng vậy ta thấy Gơt đem lý do bào chữa về mặt luân lý và tình cảm cho hôn nhân của những người Hy Lạp ra đối lập lại những tư tưởng và những xu hướng xuất phát từ một quan niệm sai lầm và chật hẹp của đạo Thiên Chúa. Với một nghệ thuật rất cao Gơt đã cấp cho bản trường ca của mình cái không khí dễ sợ chủ yếu bằng cách không cho chúng ta biết rằng đây là nói đến một cô gái sống thực sự hay là nói đến một người chết, nói đến một người sống hay nói đến một bóng ma; ở đây với một tài nghệ đặc biệt, ông đã chọn một loại bộ thơ cho phép ông xen lẫn khéo léo hình thức bông đùa với hình thức trang nghiêm và điều đólại càng làm tăng thêm cái tình trạng lo âu toát ra từ tác phẩm.


 


c.        Sự tan rã của nghệ thuật cổ điển trong lĩnh vực riêng của nó.


 


Trước khi tìm cách nhận thức trong tất cả trình độ sâu sắc của nó, cái hình thức nghệ thuật mới, mà sự đối lập với hình thức cũ không nhập vào sự diễn biến của nghệ thuật (về những giai đoạn chủ yếu của sự diễn biến này chúng ta còn phải bà tới), trước hết chúng ta phải giải thích cái hình thức gần nhất của bước chuyển hãy còn thuộc về nghệ thuật cũ. Nguyên tắc của bước chuyển này tóm lại ở chỗ từ trước đến nay tinh thần, các cá tính mà vẫn được nhìn trong tính nhất trí với các bản chất thực sự của tự nhiên của sự tồn tại của con người, và thấy mình ở trong cuộc đời của mình và ở trong tính chất nhất trí này, nhận thức được ý chí và hành động của mình. Cái tinh thần ấy bây giờ bắt đầu trở về tính vô hạn của đời sống nội tâm. Song nó không tìm được cái vô hạn chân thực mà chỉ có thể quay trở về bản thân một cách thuần túy hình thức và hữu hạn.


Nếu như chúng ta nhìn kỹ hơn vào những tình huống cụ thể tương ứng với các nguyên lý đã được nêu lên, thì chúng ta sẽ thấy, như điều nói ở trên, bằng các vị thần Hy lạp lấy đời sống hiện thực và hành động của con người làm nội dung của họ. Bên cạnh việc chiêm ngưỡng các thần, vẫn có một nhiệm vụ cao hơn, cái hứng thú phổ biến và những mục đích của đời sống. Bởi vì một trong những nét chủ yếu của Hy Lạp là nêu lên cái hình thức tinh thần xem như gắn liền vào hiện thực bên ngoài, cho nên đặc trưng tinh thần tuyệt đối của con người cuối cùng đã đóng vai tồn tại khách quan; cá nhân đòi hỏi sự nhất trí với bản chất và tính phổ biến của đặc trưng này. Mục đích tối cao này ở Hy Lạp là ở sự nhất trí với những quyền lợi của nhà nước, với những nhiệm vụ của người công dân và với tinh thần yêu nước đầy sức sống. Ở ngoài hứng thú này, không còn hứng thú nào cao hơn và chân thực hơn. nhưng nói chung cuộc sống nhà nước với tính cách một biểu hiện trần thế và bên ngoài, cũng như với tính cách một hiện thực trần gian nói chung đã thuộc về quá khứ. Một nhà nước ở đấy một quyền tự do như vậy thống trị, một nhà nước đồng nhất trực tiếp với mọi công dân là những người tích cực trong mọi công việc xã hội chỉ có thể là một quốc gia nhỏ bé và yếu đuối và thế nào nó cũng phải biến mất, mộphần phần do những nguyên nhân bên trong, một phần do những nguyên nhân bên ngoài, trong quá trình diễn biến của lịch sử thế giới.


Bởi vì trong tình trạng cá nhân đan chéo trực tiếp như vậy với tính chất chung của đời sống nhà nước, một mặt, tính chất độc đáo có tính chủ thể, tính đặc thù cá biệt của cá nhân vẫn chưa có được cách tự khẳng định mình, vẫn chưa tìm được chỗ phát triển mà không làm thiệt hại tới những quyền lợi của quốc gia. Tính đặc thù này một khi tách rời khỏi cái cốt tử, không hoàn toàn bị cái cốt tử tước mất, thì sẽ bó hẹp vào tính ích kỷ tự nhiên, cái này sẽ đi theo con đường riêng của nó, sẽ chạy theo những quyền lợi không liên quan gì tới những quyền lợi của toàn thể và, do đó nó trở thành một nguyên nhân làm cho nhà nước tan rã, sau khi đã giành được cái sức mạnh có tính chất chủ thể để đối lập lại nhà nước. Mặt khác, trong phạm vi cái tự do này của nhà nước, chủ thể cảm thấy cần một tự do cao hơn ở ngay mình. Nó cảm thấy cần được tự do không những ở trong nhà nước xem như một toàn thể bản chất, không những trong khuôn khổ những đạo đức hiện hành mà cả trong đời sống nội tâm của mình, chủ thể ra sức rút cái đẹp và cái chính đáng từ chính mình và làm cho chúng được thừa nhận do sức mạnh của mình. Chủ thể muốn nhận thức rằng bản thân anh ta là một chủ thể cốt tử, và vì vậy ở trong tính tự do này nảy sinh một sự chia rẽ mới giữa mục đích của cái cá nhân tự do ở bản thân mình. Sự đối lập này về nguồn gốc bắt nguồn từ thời Xôkrat. Lòng ham danh lợi, tính ích kỷ và sự quá đáng của chế độ dân chủ và của chế độ mị dân đã làm cho nhà nước lay chuyển đến nỗi những con người như Platông và Xênôphôn tỏ ra chán ghét tình trạng xảy ra ở trong thành bang quê hương của họ, là nơi chăm lo những công việc chung bị trao vào tay những kẻ ích kỷ và không biết lo xa.


Tinh thần của bước chuyển là căn cứ trên tình trạng đoạn tuyệt giữa cái tinh thần độc lập ở bản thân nó với sự tồn tại bên ngoài. Yếu tố tinh thần trong tình trạng đoạn tuyệt giữa cái tinh thần độc lập ở bản thân nó với sự tồn tại bên ngoài. Yếu tố tinh thần trong tình trạng thoát ly khỏi tính thực tại của nó, ở đấy nó không nhận thấy mình nữa, đã trở thành một tinh thần trừu tượng, nhưng cái này vẫn không phải là một Thượng đế phương Đông, chẳng hạn. Trái lại, nó là một chủ thể hiện thực tự nhận thức mình, phát hiện ở trong nội cảm có tính chủ thể của mình tất cả tính phổ biến của tư tưởng, cái đẹp, cái chân, cái thiện. Anh ta phải nhìn thấy ở đấy những tư tưởng và những tin tưởng của mình chứ không phải là một hiểu biết về hiện thực khách quan.


Quan hệ này trong chừng mực nó dừng lại ở tình thế đối kháng mà chúng tôi vừa nêu lên, và nếu như các mặt đối lập phải ở trong tình trạng không thể hòa giải thì có thể mang tính chất thuần túy nôm na. Song ở giai đoạn này, tình hình vẫn chưa đến chỗ đó. Mặt khác, người ta cảm thấy một nhận thức vững chắc muốn cải thiện và hình dung rằng việc thực hiên mong muốn này, tính hiện thực của khái niệm này là lệ thuộc vào con người làm việc thiện, vào tâm hồn anh ta và sự tôn thờ những vị thần, những đạo đức và những pháp luật xưa. Đồng thời, họ lại bất mãn với sự tồn tại bên ngoài đương thời với họ, với đời sống chính trị thực tế của thời đại họ. Họ bực mình về cách suy nghĩ ngày xưa, về chủ nghĩa yêu nước trước đây và sự không ngoan về chính trị và quá khứ và điều đó tạo nên một thế đối lập giữa cái nội cảm chủ quan với hiện thực bên ngoài. Ở trong nội tâm của họ, họ không cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn chỉ với những quan niệm đạo đức mà truyền thống để lại và vì vậy để chống lại cái thế giới bên ngoài, họ có thái độ phủ định, thù địch với nó, muốn thay đổi nó.


Như vậy, người ta đã nói, một mặt, có một nhu cầu bên trong, trong khi bộc lộ một cách vững chắc và xác định, bắt gặp trước nó một thế giới đối lập với nó, và nó có nhiệm vụ miêu tả cái hiện thực này trong trạng thái hư hỏng đối lập lại cái thiện và cái chân. Mặt khác, sự đối lập này còn được phản ánh ở trong bản thân nghệ thuật. Nảy sinh một hình thức nghệ thuật mới trong đó cuộc đấu tranh chống lại tình trạng đối kháng diễn ra không phải bằng tư tưởng vẫn nguyên vẹn. Trái lại bản thân hiện thực được nêu lên trong tất cả tính vô nghĩa lý, trong tất cả tính hủ bại của nó, thành một cái gì tự hủy hoại mình. Người ta cố gắng nêu bật ở trong tình tạng tự hủy hoại này, cái chân thực như là một sức mạnh vững chắc và thường xuyên nhằm hạt bỏ cái sức mạnh đối lập trực tiếp với những gì có nội dung chân thực khỏi tính ngu xuẩn và vô nghĩa lý. Đó là nhiệm vụ của loại hài kịch mà Aritxtôphan đã sáng tạo, bằng cách chọn làm những mặt quan trọng nhất của hiện thực thời đại mình, đối tượng của mình, nhưng lại sử dụng nó không phải với thái độ giận dữ mà với thái độ vui tươi rạng rỡ.


 


3.       Châm biếm.


 


Song chúng ta thấy rằng quyết định này về nghệ thuật cũng mất giá trị bởi vì sự đối lập lại ở hình thức đối kháng, và thay thế vào sự hòa giải nên thơ, nó dẫn tới một quan hệ nôm na của cả hai mặt. Do đó, hình thức nghệ thuật cổ điển của nghệ thuật bị gạt bỏ bởi vì cái quan hệ nôm na này dẫn tới sự tiêu diệt các thần có tính tạo hình cũng như cái thế giới đẹp đẽ của con người. Ở đây, chúng ta cần phải tìm kiếm ngay một hình thức nghệ thuật mà ở giai đoạn quá độ này vẫn còn có thể dành chỗ cho cái phương thức xây dựng hình tượng cao nhất và thực hiện phương thức ấy. Khi khảo sát nghệ thuật tượng trưng, chúng ta đã nêu lên rằng điểm cuối cùng của nghệ thuật tượng trưng là tình trạng hình tượng bị tách ra khỏi ý nghĩa của nó thành những hình thức khác nhau, trong ngụ ngôn, tỉ dụ, câu đố v.v… Nếu như ở đây một sự phân chia tương tự làm thành cơ sở của trạng thái lý tưởng bị tan rã thì lại bị nảy sinh câu hỏi: bước chuyển này khác bước chuyển trước đây ở chỗ nào. Sự khác nhau là ở những điểm sau đây:


 


a.       Sự khác nhau giữa nghệ thuật cổ điển và sự tan rã ở trong nghệ thuật tượng trưng.


 


Ở trong hình thức nghệ thuật tượng trưng và so sánh, ngay từ đầu, giữa ý nghĩa và hình thức đã có sự chia cách. Mặc dầu hai cái này là họ hàng với nhau, hai cái vẫn ở trong một quan hệ không phải là tiêu cực đối với nhau mà là thân mật, bởi vì tính gần gũi của chúng, sự giống nhau giữa các nét và các phẩm chất của chúng làm thành cơ sở cho sự kết hợp và so sánh của chúng. Sự tồn tại của tình trạng chia rẽ ở trong sự kết hợp này không phải là một biểu hiện của tình trạng thù địch đối với nhau cũng không phải là do sự tan rã tàn nhẫn của một thể thống nhất tự thân nó là thâm trầm. Trái lại, lý tưởng của nghệ thuật cổ điển là xuất phát từ sự thâm nhập vào nhau hoàn toàn của ý nghĩa và hình tượng, của cá tính tinh thần bên trong và tính chất cơ thể của nó. Vì vậy khi hai mặt khác nhau được tập hợp lại ở trong một thể thống nhất hoàn mỹ, tách rời với nhau thì điều đó chỉ xảy ra bởi vì hai mặt không còn có thể cùng nhau sống và bắt buộc phải chuyển sang tình trạng thù địch không thể thỏa hiệp.


 


b.       Châm biếm.


 


Cùng với cái hình thức này củ mối quan hệ khác với nghệ thuật tượng trưng, nội dung của những mặt từ trước đến này đối lập với nhau đã thay đổi. Trong hình thức tượng trưng, thực vậy những điều trừu tượng, những ý niệm phổ biến hay những qui tắc và những điều lệ làm thành những điều khái quát trừu tượng tạo nên nội dung của các biểu tượng cảm quan. Dưới hình thức xuất hiện ở trong giai đoạn từ nghệ thuật cổ điển sang giai đoạn lãng mạn, nội dung vẫn còn được tạo nên bởi những tư tưởng phổ biến, những quan niệm và những lập luận có tính chất lý tính, nhưng nội dung của vế đối lập không phải là do bản thân các điều trừu tượng này tạo thành mà là do sự tồn tại của chúng ở trong nhận thức của chủ thể và dựa vào việc tự nhận thức mình. Yêu cầu đầu tiên của giai đoạn trung gian này tóm lại là yếu tố tinh thần mà lý tưởng đã đạt được, xuất hiện một cách độc lập vì bản thân nó.


Ngay trong nghệ thuật cổ điển, cá tính tinh thần đã đóng vai trò chính, mặc dầu nó vẫn không tách khỏi sự tồn tại trực tiếp của mình. Bây giờ chúng ta nói đến chuyện thể hiện một tính chủ thể vươn tới sự thống trị cái hiện thực bên ngoài và cái diện mạo không còn thích hợp với nó nữa. Do đó, thế giới tinh thần trở thành tự do đối với bản thân mình, thoát khỏi yếu tố cảm quan và đóng vai một chủ thể tự ý thức được mình chỉ tìm thấy sự thỏa mãn ở trong nội cảm của mình bằng cách quay trở về bản thân mình. Nhưng về mặt tinh thần, một chủ thể gạt bỏ yếu tố bên ngoài vẫn chưa phải là một tổng thể thực sự: tuy nội dung của nó là cái tuyết đối dưới hình thức một tính tinh thần có ý thức, nhưng mới chỉ là một tính chủ thể trừu tượng, hữu hạn nên không làm người ta thỏa mãn ở trong sự đối lập của nó với hiện thực. Nó đối lập lại một hiện thực hữu hạn là cái về phía mình cũng trở thành tự do. Song bởi vì yếu tố tinh thần thực sự đã rời khỏi hiện thực hữu hạn để đi vào cuộc sống nội tâm mà chẳng bao giờ quay trở lại cuộc sống hữu hạn nữa cho nên hiện thực trở thành không có yếu tố thần linh, thành một tồn tại bị hư hỏng.


Như vậy ở giai đoạn này, nghệ thuật tạo nên một quan hệ thù địch giữa một tinh thần chủ thể biết tư duy dựa vào bản thân mình với tính cách chủ thể với sự khôn ngoan, sự hiểu biết và ý muốn trừu tượng làm cái thiện và đạo đức đối lập lại cuộc sống đương thời bị sa đọa. Tính chất không thể giải quyết được của sự đối lập này trong đó mặt bên trong và mặt bên ngoài vẫn ở trong tình trạng mất hài hòa, đã làm cho cái quan hệ giữa hai mặt này mang tính chất nôm na. Một đầu óc cao thượng, một tâm hồn đạo đức, không được phép thực hiện những mong muốn có ý thức của mình trong một thế giới đầy những tội lỗi và những điều ngu ngốc nên tỏ ra phẫn nộ. Với thái độ giận dữ lạnh lùng, với những lời châm biếm  hóm hỉnh, hay với những điều chế nhạo gat gắt, nó chống lại cuộc sống đang diễn ra trước mắt để mạt sát hay chế nhạo cái thế giới đối lập trực tiếp với cái ý niệm trừu tượng của nó về đạo đức và chân lý.


Hình thức nghệ thuật mang hình thức một sự đôi lập rõ rệt giữa tính chủ thể hữu hạn với cái thế giới bên ngoài bị sa đọa đó là hình thức châm biếm. Những lý thuyết thông thường không biểu hiện bản chất thực sự của châm biếm và không biết nên xếp nó vào loại nào. Bởi vì trong loại văn châm biếm chẳng có gì là sử thi, nó cũng không thuộc thơ trữ tình. Ở đây thể hiện không phải tình cảm của tâm hồn mà một biểu tượng chung về cái thiện và sự tất yếu bên trong. Mặc dầu tính đặc thù của chủ thể vẫn xen lẫn vào và đóng vai đặc biệt một chủ thể nào đó có đạo đức, song chủ thể không sống trong bầu không khí của cái đẹp thoải mái làm thành một cội nguồn thưởng thức mĩ học. Trái lại châm biếm duy trì tình trạng chia rẽ giữa tính chủ thể thực sự với những khẳng định trừu tượng của nó với cái hiện thực bên ngoài, và vì vậy nó không phải là một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Vì vậy nếu như ta muốn hiểu quan điểm của châm biếm, thì chúng ta đừng xem nó như một thể loại thơ mà nên xếp nó vào cái vị trí duy nhất thích hợp với nó xem như một hình thức quá độ của lý tưởng cổ điển.


 


c.        Thế giới La Mã, địa hạt của loại văn châm biếm.


 


Bởi vì ở trong văn châm biếm xuất hiện tính chất nôm na về nội dung bên trong của nó, sự tan rã của lý tưởng, cho nên chúng ta không nên tìm địa hạt thực sự của văn châm biếm ở Hy Lạp, xứ sở của cái đẹp. Văn châm biếm như chúng tôi vừa miêu tả, chủ yếu là một thể loại phù hợp với người La Mã. Điều tiêu biểu cho tinh thần của thế giới La Mã đó là vai trò thống trị của những khái niệm trừu tượng, của luật pháp chết cứng, sự vi phạm cái đẹp và những thói quen vui vẻ, thái độ ít tôn trọng đối với gia đình xem như đạo đức tự nhiên trực tiếp. Nói chung nó yêu cầu hi sinh cá nhân, cá nhân phải hoàn toàn hi sinh mình cho quốc gia và tìm thấy một sự thỏa mãn có tính chất trí tuệ trong việc phục tùng cái pháp luật trừu tượng. Nguyên lý của đạo đức chính trị này, của tính chất tàn nhẫn lạnh lùng mà mọi cá tính của mọi dân tộc đều phải phục tùng bên ngoài trong lúc đó thì ở trong quốc gia cái pháp luật có tính chất hình thức phát triển nhất quán đến mức hoàn toàn triệt để chính là một nguyên lý đối lập lại nghệ thuật chân chính.


Thực vậy, ở La Mã chúng ta không tìm thấy một nghệ thuật vĩ đại, đẹp đẽ, tự do. Người La Mã đều học điêu khắc, hội họa, thơ sử thi, thơ trữ tình và kịch ở người Hy Lạp. Một điều tiêu biểu là chỉ những vở hề hài hước, của Fescennines và các Stellanes là những sáng tạo thực sự La Mã; trái lại những hài kịch phức tạp hơn, những hài kịch của Plautut và của Têrenxơ đều là sản phẩm bắt chước hơn là những sản phẩm thực sự La Mã. Enniut đã lấy từ của cội nguồn Hy Lạp và làm cho thần thoại trở thành nôm na. Hình thức nghệ thuật độc đáo đối với những người La Mã là những bản chất nôm na: chẳng hạn thơ giáo huấn, nhất là khi loại thơ này thấm nhuần nội dung đạo đức; những suy nghĩ ở đây chỉ là tô điểm bên ngoài bằng các bộ thơ, các hình tượng, các so sánh và một từ chương đẹp đẽ.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Nga Nghĩ và Viết lịch sử Văn học - Lã Nguyên 18.11.2018
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
xem thêm »