tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748361
Lý luận phê bình văn học
07.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (41)


2.       Phạm vi những vị thần cá biệt.


Với tính cách một cá tính có thể tri giác được, được biểu hiện trong tồn tại trực tiếp và do đó chính xác và đặc thù, thần linh bắt buộc phải mang nhiều diện mạo. Chủ nghĩa đa thần là cố hữu đối với nghệ thuật cổ điển. Muốn  dùng hình thức cái đẹp tạo hình để miêu tả vị Thượng đế duy nhất của cái trác tuyệt hay của chủ nghĩa phiếm thần hay của cái tôn giáo tuyệt đối (tôn giáo quan niệm Thượng đế là một cá tính tinh thần hoàn toàn nội tâm) sẽ là một việc hoàn toàn vô lí. Nếu cho rằng người Do Thái, người Hồi giáo và người Thiên Chúa giáo có thể dùng hình thức cổ điển do trực giác trực tiếp gây nên chẳng khác gì người Hy Lạp để thể hiện nội dung những tín ngưỡng tôn giáo cũng sẽ là một điều vô lý như vậy.


a.       Tình trạng có nhiều vị thần cá biệt.


Ở trong tình trạng có nhiều vị thần, vũ trụ thần linh ở giai đoạn này được chia nhỏ ra thành những vị thần cá biệt trong đó mỗi vị là một cá nhân độc lập và đối lập với các vị khác. Song các cá tính này không phải là một loại cho phép ta có thể cho họ chỉ là những biểu tượng đơn thuần mang tính phúng dụ của những đặc tính chung, tức là chẳng hạn cho rằng Apôlông là vị thần của hiểu biết, Dơt là vị thần của quyền lực v.v… Trái lại Dơt cũng là vị thần của hiểu biết hoàn toàn chẳng khác gì Apôlông và Apôlông trong Các Omênit bênh vực cho người con là Orextơ, không những thế chính thần đã thúc giục người con của một vị vua phải trả thù cha. Thế giới các vị thần HY Lạp là gồm nhiều cá nhân, tuy mỗi vị thần có được một tính chất chính xác của một cá nhân cá biệt, song vẫn biểu hiện một tổng thể có cả những đặc tính của một vị thần khác nữa, bởi vì mỗi hình tượng cá biệt với tính cách thần linh lại còn là một tổng thể. Chỉ có như thế các vị thần cá biệt mới có được nhiều nét. Mặc dầu hạnh phúc của họ là xuất phát từ cái vẻ bình thản có tính tinh thần chung cho tất cả và mặc dầu họ thoát khỏi cái tính chất muôn hình muôn vẻ của những sự vật trực tiếp hữu hạn, họ vẫn dùng cái năng lực thực hiện hoạt động của họ theo những hướng đa dạng nhất. Họ không phải là cái đặc thù trừu tượng, cũng không phải là cái phổ biến trừu tượng mà là một cái phổ biến nhưng đồng thời lại là nguồn gốc của cái cá biệt.


b.       Tình trạng thiếu một sự phân loại có hệ thống.


Do chỗ cá tính của vị thần Hy Lạp là như thế chủ nghĩa đa thần của người Hy Lạp không thể nào xây dựng được một toàn thể được phân chia có hệ thống. Kể ra, mới thoạt nhìn muốn cho vô số các vị thần tập hợp ở Olempơ biểu hiện được tính toàn vẹn của ý niệm ở trong bản thân nó (với điều kiện tính cá biệt của họ phải là cổ điển) thì họ phải được hệ thống hóa nghĩ là biểu lộ tinh tất yếu của mình. Nhưng lập tức ta phải hạn chế đòi hỏi này bởi vì: các sức mạnh của tinh thần cũng như của cái nội cảm tinh thần tuyệt đối nói chung (những sức mạnh chỉ trở thành tích cực và có hiệu lực trong những tôn giáo cao hơn của các thời kì sau) đều đã bị loại trừ ra khỏi lĩnh vực của tôn giáo cổ điển. Kết quả là, cái nội dung,mà các bộ phận riêng biệt của nó có thể được chấp nhận và được thể hiện bởi thần thoại Hy Lạp lại có một dung lượng thu hẹp hơn. Ngoài ra, một mặt cái cá tính đa dạng ở trong bản thân nó tất yếu kéo theo một tính chất chính xác thay đổi tùy theo trường hợp và vượt ra khỏi một sự phân loại gắt gao những sự khác nhau có tính khái niệm bởi vì nó không cho phép các thần tự bó hẹp mình vào một đặc trưng trừu tượng duy nhất. Mặt khác, tính phổ biến ở đấy các vị thần sống cuộc sống hạnh phúc của họ là không phù hợp với tính đặc thù. Kết quả là, cái sức mạnh vĩnh viễn vẫn giữ tính chất thản nhiên của họ và thống trị cái vẻ nghiêm túc lạnh lùng của cái hữu hạn lại cần đến tình trạng không nhất quán này bởi vì không như thế thì các hình tượng thần linh sẽ bị lẫn lộn do tính hạn chế của họ.


c.        Tính chất cơ bản của các vị thần.


Vì vậy mặc dầu ở trong thần thoại Hy lạp các sức mạnh chính của thế giới làm thành toàn bộ tự nhiên và tinh thần được biểu hiện, về tính chất chung của các vị thần này cũng như về tính chất riêng của họ nhưng cái tổng thể này không thể đóng vai một toàn thể có hệ thống. Sở dĩ thế là trong trường hợp trái lại, các vị thần sẽ không còn là những cá tính cá biệt mà sẽ biến thành những tồn tại phúng dụ; họ sẽ không còn là những cá nhân có tính thần linh mà sẽ biến thành những những tính cách trừu tượng, hạn chế, hữu hạn.


Nếu như ta khảo sát các vị thần Hy Lạp kĩ hơn, tức là khảo sát nhóm các vị thần vẫn được gọi là nhóm thần chính ở tính cách chủ yếu đơn giản của họ như  họ đã được điêu khắc ghi lại dưới hình thức vừa khái quát nhất lại vừa là biểu tượng cảm quan cụ thể, thì ta sẽ thấy những điểm sau đây. Mặc dầu chúng ta thấy có những sự khác nhau chủ yếu được xác lập ở trong tính toàn vẹn của họ, nhưng trong các trường hợp riêng các sự khác nhau ấy lại bị xóa nhòa và tính chặt chẽ của sự thực hiện nhường chỗ cho tính không nhất quán của cái đẹp và của cá tính. Chẳng hạn, Dơt bao giờ cũng nắm quyền lực đối với các thần và người trần. Song quyền lực này vẫn không làm thiệt hại tới tính độc lập tự do của các vị thần khác. Dơt là vị thần cao nhất, song quyền lực này vẫn không làm thiệt hại tới tính độc lập tự do của các vị thần khác. Dơt là vị thần cao nhất, song quyền lực của ông vẫn không nuốt mất quyền lực của những người khác. Kể ra, ông gắn liền với bầu trời, với sự sống và cái chết, với tự nhiên là cái sản sinh ra sự sống. Song ông còn biểu hiện ở một chừng mực cao hơn và phù hợp với sự tồn tại của ông hơn, sức mạnh của nhà nước, trật tự hợp pháp của sự vật, sức mạnh bắt buộc của các giao kèo, các lời thề, lòng hiếu khách và nói chung mối liên hệ mà trong những công việc thực tiễn, đạo đức của con người đại diện tính bản chất của họ cũng như sức mạnh của hiểu biết và của tinh thần.


Những người anh của ông thi hành quyền lực đối với biển cả hay đối với thế giới dưới đất. Apôlông đóng vai vị thần của hiểu biết, là biểu hiện và hiện thân đẹp đẽ hứng thú của tinh thần, là người thầy của các nữ thần văn nghệ: “Người hãy tự biết mình” đó là lời nhắc ở trên điện thờ của thần Apôlông ở Đenphơ. Đây là một mệnh lệnh không phải liên quan tới những điều yếu đuối và thiếu sót mà là bản chất của tinh thần, của nghệ thuật và của mọi hiểu biết chân chính. Một trong những lĩnh vực chính của Hecmet là tính ranh mãnh và hùng biện, sạ can thiệp nói chung, như nó xuất hiện trong những lĩnh vực thứ yếu vẫn còn thuộc phạm vi của cái tinh thần chưa hoàn mĩ, mặc dầu có cả những yếu tố không đạo đức xen vào đấy nữa. Hecmet cũng đưa các bóng ma của những người chết xuống dưới âm ty. Sức mạnh quân sự là một trong những nét chính của Aret. Hêphaixtôt là vị thần của những sự khéo léo về kĩ thuật. Sức mạnh tự nhiên của rượu, của trò chơi, những cách diễn kịch v.v… là dành cho Điônixôt.


Một phạm vi tương tự của nội dung bao gồm cả các nữ thần. Một trong những đặc trưng chủ yếu của Giunô là những liên hệ đạo đức của hôn nhân. Xêret dạy cho người đời biết nông nghiệp và góp phần vào việc phổ biến nông nghiệp. Do đó, nữ thần xác lập hai quan hệ gắn liền với nông nghiệp. Sự chăm sóc tới việc thu hoạch các sản phẩm tự nhiên, nhằm mục đích thỏa mãn đòi hỏi trực tiếp nhất, và sau đó yếu tố tinh thần của tài sản, hôn nhân, pháp luật những mầm mống của văn minh và của một trật tự  dựa trên đạo đức. Cũng vậy, Athêna biểu hiện sự ôn hòa, sự suy nghĩ, tính hợp pháp rất mạnh của sự khôn ngoan, giá trị của sự khéo léo về kĩ thuật ở trong thủ công nghiệp và tinh thần dũng cảm. Nữ thần kết hợp ở trong diện mạo trinh bạch và oai vũ của mình tinh thần tự do chủ yếu của thành Aten, cũng như tinh thần cụ thể của dân tộc vanhững là hiện thân khách quan của thành bang này với tính cách một sức mạnh thống trị đáng được hưởng những vinh dự dành cho các thần linh. Trái lại, Đian hoàn toàn khác. Đian ở Ephedơ, có nét tiêu biểu nhất là tính độc lập bướng bỉnh của một cô gái trinh bạch. Nàng thích săn bắn, nói chung không phải là một cô gái suy nghĩ im lặng mà là một cô gái nghiêm khắc hướng về cái bên ngoài. Aphrôđit với Amua xinh xắn, là vị thần từ chàng Titan, Erôt biến thành một cậu bé nêu lên cho chúng ta cái tình cảm về sự lôi cuốn của tình yêu, của tính dục v.v… Đó là nội dung tinh thần mà các vị thần cá biệt thể hiện. Còn về sự thể hiện bên ngoài của họ thì một lần nữa chúng ta lại phải dẫn tới điêu khắc vì điêu khắc là nghệ thuật có khả năng thể hiện những điều cá biệt ở trong cái đặc trưng tiêu biểu của nó. Điêu khắc đã vượt ra khỏi phạm vi tính cao cả nghiêm khắc nguyên sơ của nó, mặc dầu nó vẫn còn hợp nhất được tính đa dạng và sự phong phú của tính cá biệt và một đặc trưng duy nhất, vào cái mà chúng ta gọi là tính cách. Nó cố định hóa tính cách này trong tính rõ ràng đơn giản của nó cho tri giác cảm quan, tức là cho cái đặc trưng bên ngoài. Cuối cùng, bởi vì về mặt tồn tại bên ngoài và thực tế, biểu tượng bao giờ cũng mơ hồ, ngay cả nếu như cũng như thơ, nội dung bị hoán cải dưới hình thức mọi thứ chuyện kể và lịch sử nhằm kể lại những cuộc phiên lưu và tất cả những biến cố trong đời sống của các thần. Do đó, một mặt, điêu khắc có tính lí tưởng hơn, và mặt khác, nó cá tính hóa tính cách của các thần đến trình độ hoàn mỹ. Với tính cách một biểu hiện như vậy của lí tưởng ở một yếu tố bên ngoài hoàn toàn ăn khớp với nội dung chủ yếu bên trong, các hình tượng của điêu khắc Hy Lạp là những lí tưởng ở nó và vì nó, cái trung tâm cốt tử, những hình ảnh vĩnh viễn, trung tâm của cái đẹp và tạo hình và cổ điển, mà điển hình của nó vẫn là cơ sở, ngay cả khi các hình ảnh này bắt đầu làm những hành động nhất định hay bị lôi cuốn vào những biến cố cá biệt.


3.  Cá tính đơn nhất của các vị thần


Nhưng cá tính và sự thể hiện của nó lúc này không phải là tự hài lòng về một tính độc đáo của tính cách hãy còn có tính chất trừu tượng. Ngôi sao trên trời vâng theo một qui luật rất đơn giản, được thể hiện hoàn toàn ở trong những biểu hiện của nó. Giới khoáng vật hãy còn có rất ít nét cá biệt biểu lộ ở hình thức bên ngoài, nhưng trong giới thực vật ta đã thấy vô số những hình thức quá độ, những sự pha trộn và những điều kì quặc, và các thể hữu cơ của các động vật lại còn biểu lộ những sự khác nhau to lớn hơn cũng như những ảnh hưởng qua lại với ngoại giới mà chúng gắn liền.


Nếu chúng ta vươn lên tới lĩnh vực của thế giới tinh thần và các biểu hiện của nó thì ta sẽ tìm thấy một trình độ đa dạng vô cùng rộng lớn của các biểu hiện bên ngoài và bên trong. Bởi vì lí tưởng cổ điển không dừng lại ở sự thể hiện cá tính bằng cách chỉ dựa vào mình mà nó phải cho cá tính vận động và gắn liền với những cái khác và nêu bật đặc trưng của cá tính, cho nên tính cách của các vị thần của không dừng lại ở cái đặc trưng cốt tử ở bản thân mà chuyển sang những đặc điểm chi tiết hơn.


Sự vận động diễn ra trước mắt ta với cái hiện thực  bên ngoài và tính chất biến đổi gắn liền với vận động ấy, cho ta những nét chi tiết hơn nói lên tính đơn nhất của mỗi vị thần, nhưng nét này thích hợp như thế nào và cần thiết như thế nào với một cá tính sinh động. Nhưng một sự cá tính hóa như vậy lại kết hợp cả với tính chất ngẫu nhiên của những nét đặc thù là những nét vẫn chưa qui về cái yếu tố phổ biến làm thành ý nghĩa cốt tử. Nhờ đó, cái mặt riêng biệt nhất định của mỗi vị thần biến thành một cái gì tích cực, cái này hình như không còn làm thành một thuộc tính bổ sung ở bên ngoài và một dấu vết của quá khứ bao quanh các vị thần.


a.       Chất liệu của sự cá tính hóa.


Ở đây, lập tức xuất hiện câu hỏi: cái chất liệu tạo nên phương thức biểu hiện đơn nhất này của thần linh do đâu mà có, họ phát triển như thế nào trong quá trình cá biệt hóa. Trong trường hợp một cá nhân con người thực tế thì tính cách làm thành nguồn gốc những hành động của anh ta, những biến cố trong đó anh ta xen vào, cái số phận anh ta phải chịu, đều bị qui định bởi những hoàn cảnh bên ngoài, bởi ngày sinh, bởi những năng khiếu bẩm sinh, bởi ảnh hưởng của cha mẹ, bởi giáo dục, bởi môi trường, bởi tinh thần của thời đại, tóm lại bởi cả một tập hợp rộng lớn những hoàn cảnh liên quan tới các điều kiện bên ngoài và bên trong. Toàn bộ cái chất liệu này là nằm trong thế giới khách quan và các tiểu sử cá nhân xét theo quan điểm này bao giờ cũng sẽ tiêu biểu ở chỗ có những sự khác nhau cá biệt sâu xa nhất.


Về các hình tượng tự do của những vị thần không tồn tại ở trong cái hiện thực cụ thể mà nảy sinh do hư cấu, câu chuyện lại khác hẳn. Dường như ta có thể cho rằng các nhà thơ và các nghệ sĩ sáng tạo lý tưởng bằng cách lấy tài liệu từ những điều chi tiết ngẫu nhiên chỉ xuất phát từ trí tưởng tượng chủ quan của họ. Nhưng, nói chung, biểu tượng này là sai lầm, bởi vì như chúng ta đã nói, nghệ thuật cổ điển chỉ tiến tới tình trạng của cái lý tưởng chân thực bằng cách chống lại những tiền đề tất yếu thuộc về lĩnh vực của nó. Chính xuất phát từ những tiền đề này mà nảy sinh những đặc điểm đặc thù đã cấp cho các thần một tính sinh động có cá tính hơn. Chúng tôi đã nêu lên những yếu tố chủ yếu của các tiền đề này và ở đây chúng tôi chỉ phải nhắc lại tóm tắt những điều đã nói:


(a)      Nguồn gốc thứ nhất phong phútài liệu là các tôn giáo tượng trưng của tự nhiên, vốn làm thành cái cơ sở mà thần thoại Hy Lạp đã sử dụng sau khi đã hoán cải nó. Bởi vì các nét bay mượn như vậy ở đây được cấp cho những vị thần là những cá nhân về mặt tinh thần nên về thực chất cần phải bỏ mất tính chất tượng trưng của nó, bởi vì bây giờ chúng không còn có thể giữ một ý nghĩa khác với điều cá nhân tồn tại và xuất hiện. Vì vậy, cái nội dung tượng trưng trước đây trở thành nội dung của một chủ thể thần linh, và bởi vì nội dung ấy không hề đụng chạm tới mặt bản chất của thần mà chỉ đề cập tới những nét thứ yếu mà thôi, cho nên chất liệu này rơi xuống hàng một câu chuyện bên ngoài, một hành động hay một biến cố được gán cho ý chí của các vị thần và bộc lộ trong những hoàn cảnh nhất định.


Như vậy, ở đây lại xuất hiện tất cả những truyền thuyết tượng trưng của các trường ca thần thánh ngày xưa. Một khi đã bị hoán cải thành những hành vi của một cá tính có tính chủ thể, chúng mang hình thức những biến cố và những lịch sử của con người là những điều dường như đã xảy ra với các thần và không nên xem đó là được sáng tạo bởi tính võ đoán của trí tưởng tượng nên thơ. Khi Hômerơ kể lại rằng các vị thần đã đến những người Ethiôpi trung thực và đã ăn tiệc ở đấy suốt mười hai ngày thì đây sẽ là một bịa đặt thảm hại nếu như nó chỉ là do hư cấu của nhà thơ. Điều này cũng đúng cả về câu chuyện Dớt ra đời. Theo câu chuyện này thì Krônôt đã nuốt tất cả các con ông ta sinh ra, thành ra khi Rêa, vợ của ông ta có mang một lần nữa, bà đến đảo Kret ở đấy bà sinh hạ Dớt và bà dùng những hòn đá quấn trong một tấm da để đánh tráo trao cho Krônôt nuốt và làm cho Krônôt tưởng rằng đó chính là con mình. Sau này Krônôt đã trả lại những đứa con ông ra đã nuốt cả những cô gái và Pôxâyđôn. Nếu xét như một sáng tạo chủ quan thì câu chuyện này sẽ là vớ vẩn, những qua đó bộc lộ dấu vết của những ý nghĩa tượng trưng của nó, đóng vai những yếu tố hoàn toàn bên ngoài. Về chuyện kể về Xêret và Prôdecpin câu chuyện cũng tương tự. Ở đây nói về ý nghĩa tượng trưng cổ xưa về chuyện các hạt lúa mì biến mất và mọc mầm; thần thoại trình bày nó như sau. Prôdecpin đùa chơi, hai hoa ở trong thung lũng, nàng hái một bông hoa thủy tiên thơm phức, ở đấy chỉ một cái rễ đã cho một trăm bông hoa. Đột nhiên mặt đất chuyển động. Plutôn từ lòng đất xuất hiện mang Prôdecpin khóc than trên cỗ xe vàng và đưa nàng về cái thế giới dưới đất. Xêret, người mẹ mất con đau khổ trong một thời gian dài đi thang thang trên mặt đất tìm con nhưng không tìm được. Nhưng cuối cùng Prôdecopin lại trở về trần thế; song Dơt đưa ra một điều kiện mà nàng phải thực hiện để được lên trần. Prôdecpin không được ăn những thức ăn của thần linh. Không may có một lần ở vườn Elidê nàng đã ăn một quả lựu, cho nên nàng chỉ được phép xuất hiện trên trần vào mùa xuân và mùa hạ mà thôi. Ở đây, ý nghĩa phổ biến vẫn còn giữ cái hình thức tượng trưng của nó, song nó đã bị biến đổi thành một biến cố của con người và ý nghĩa phổ biến chỉ bộc lộ từ xa qua những nét bên ngoài.


Các hiện tượng thường xuyên dành cho thần linh cũng thường nêu lên một cơ sở tượng trưng như vậy. Song các tính ngữ này đã vứt bỏ hình thức tượng trưng và chỉ dùng để cấp cho cá tính thần linh một tính chất chính xác đầy đủ hơn.


(b)      Cội nguồn thứ hai của những nét tích cực của từng thần linh đó là những điều kiện có tính chất địa phương. Những điều kiện này liên quan tới cội nguồn về mặt nguồn gốc các biểu tượng về thần linh cũng như tới hoàn cảnh thờ phụng các thần được đưa vào hay xuất hiện, cũng như tới những địa điểm ở đó một vị thần nào đó là một đối tượng được tôn thờ đặc biệt.


(aa) Mặc dầu sự thể hiện lí tưởng và cái đẹp khái quát của nó vượt ra khỏi những giới hạn của một địa phương nhất định và những điểm đặc thù có tính chất địa phương đã được hợp nhất lại trong tính phổ biến của hư cấu nghệ thuật và những nét cá biệt bên ngoài thuộc nguồn gốc khác nhau đã hợp nhất lại (nhờ những xu hướng khái quát hóa của trí tưởng tượng nghệ thuật) thành một tổng thể tương ứg với các ý nghĩa bản chất. Nhưng các nét cá biệt và các màu sắc địa phương của họ vẫn xuất hiện để cấp cho cá tính một trình độ bên ngoài cao hơn, khi điêu khắc muốn thể hiện  một thần linh trong những quan hệ của thần với các điều kiện và các hoàn cảnh cá biệt.


Chẳng hạn Pauxaniat kể lại nhiều biểu tượng, nhiều hình ảnh, nhiều bức tranh và truyền thuyết có tính địa phương mà ông ta đã thấy trong các điện thờ, ở những nơi công cộng, trong các kho tàng của các điện thờ, ở những nơi đã xảy ra những biến cố ít nhiều quan trọng, hay những điều ông ta nghe theo người khác nói.


Người ta cũng thấy trong các thần thoại Hy Lạp được khảo sát về mặt này, các truyền thống cổ xưa vay mượn từ nước ngoài và những nét địa phương xen lẫn với những truyền thuyết Hy Lạp. Mỗi truyết như vậy, và mỗi nước này đều gắn liền với lịch sử, với sự ra đời, sự xây dựng những nhà nước, nhất là sự thành lập những thuộc địa. Nhưng bởi vì mọi chủ đề loại biệt này khi được hợp nhất ở trong tính phổ biến của các thần linh đều đã bỏ mất cái ý nghĩa nguyên sơ của chúng, cho nên những câu chuyện liên quan về các thần đối với chúng ta có lẽ là những câu chuyện bịa đặt, sặc sỡ không có ý nghĩa gì. Chẳng hạn Etsilơ trong “Prômêtê” kể lại cho chúng ta những cuộc phiêu lưu của nàng Iô với mọi chi tiết theo nhièu bức tranh và truyền thuyết có tính địa phương mà ông ta đã thấy trong các điện thờ, ở những nơi công cộng, trong các kho tàng của các điện thờ, ở những nơi đã xảy ra những biến cố ít nhiều quan trọng, hay những điều ông ta nghe người khác nói.


Người ta thấy trong các thần thoại Hy Lạp được khảo sát về mặt này, các truyền thống cổ xưa vay mượn từ nước ngoài và những nét địa phương xen lẫn với những truyền thuyết Hy Lạp. Mỗi truyền thuyết như vậy, và mỗi nước này đều gắn liền với lịch sử, với sự ra đời, sự xây dựng những nhà nước, nhất là sự thành lập những thuộc địa. Nhưng bởi vì mọi chủ đề loạ biệt này khi được hợp nhất ở trong tính phổ biến của các thần linh đều đã bỏ mất cái ý nghĩa nguyên sơ của chúng, cho nên những câu chuyện liên quan về các thần đối với chúng ta có lẽ là những câu chuyện bịa đặt, sặc sỡ không có ý nghĩa gì. Chẳng hạn Etsilơ trong “Prômêtê” kể lại cho chúng ta những cuộc phiêu lưu của nàng Iô với mọi chi tiết thô bạo bên ngoài như một phù điêu trên đá, mà không nói bóng gió gì đến một lời giải thích có tính đạo đức, lịch sử hay tự nhiên. Điều này cũng xảy ra với Pecxê, Điônôxôt và những người khác, nhất là với Dơt, với những thần thoại và các bà nhũ mẫu của thần, về những hành động phụ bạc của thần đối với Hêra (thần trói chân Hêra vàom cái đe và đẻ cho Hêra lơ lửng giữa bầu trời và mặt đất). Trong các thần thoại về Hêraklet cũng kết hợp một tài liệu đa dạng và hết sức sặc sỡ, và như bao giờ cũng thế, trong những câu chuyện này tài liệu sau đó mang tính chất hoàn toàn con người dưới hình thức những biến cố ngẫu nhiên, những việc làm, những dục vọng, những trường hợp bất hạnh và các điều khác tương tự.


(bb) Những sức mạnh vĩnh viễn của nghệ thuật cổ điển biểu hiện bản chất phổ biến dưới hình thức hiện thực của đời sống và của những hoạt động của con người Hy Lạp. Như ta thấy họ ở bước đầu lịch sử dân tộc, do đó bắt nguồn từ những thời kỳ anh hùng và những truyền thuyết khác, ở đấy nhiều tàn dư của quá khứ vẫn còn kết hợp với các thần Hy Lạp. Nhiều nét trong những chuyện kể đẹp đẽ về các thần dĩ nhiên nói lên những nhân vật lịch sử, những anh hùng, những bộ lạc cổ của nhân dân Hy Lạp, những biến cố trong tự nhiên và trong những trường hợp liên quan tới những cuộc chiến tranh đã xảy ra, tới cuộc đấu tranh và tới những cái khác. Và bởi vì nhà nước là xuất phát từ gia đình, và sự phân chia bộ lạc, cho nên người Hy Lạp cũng có cả những vị thần gia đình, những thần bếp (Pénates) những thần của bộ lạc và những thần che chở từng thành phố và từng nhà nước. Do cái cố gắng vươn tới sự nhân thức như vậy, đã nảy sinh khẳng định rằng nói chung chúng ta nên giải thích sự xuất hiện các thần Hy Lạp bằng những biến cố lịch sử tương tự, bằng những anh hùng, những vị vua ngày xưa v.v… Đó là một quan điểm có thể có lý nhưngười tẻ nhạt, và gần đây đã được Hainơ chú ý tới. Về phía mình, tác giả Pháp Nicôla Frêrê([1]) đã nêu lên thành một nguyên tắc chung sự giải thích những thần thoại và về cuộc chiến tranh giữa các thần bằng sự tranh cãi giữa các phường hội tăng lữ khác nhau. Cố nhiên chúng ta phải thừa nhận rằng yếu tố lịch sử này đóng một vai trò nhất định, rằng những bộ lạc nhất định đã nêu lên thế giới quan của họ về thần linh, rằng những nơi khác nhau đã cung cấop những nét cá biệt nhất định của các thần. Song nguồn gốc thực sự của các thần không thể giải thích bằng cái lịch sử bên ngoài này, mà bằng những sức mạnh tinh thần của đời sống bởi vì các thần đã được quan niệm như vậy, thành ra các yếu tố tích cực, lịch sử, địa phương mà các thần bao hàm chỉ nhằm mục đích cấp cho cá tính mỗi vị thần tính chất chính xác lớn nhất.


(cc) Không những thế, bởi vì thần linh đã trở thành đối tượng biểu hiện của điêu khắc là cái miêu tả thần dưới hình dáng thể xác, hiện thực mà con người tôn thờ bằng những nghi lễ thờ cúng, cho nên mặt tích cực và mặt ngẫu nhiên nhờ vậy mà phong phú thêm những tài liệu mới. Loại động vật và loại trái cây dâng lên làm vật hiến tế cho mỗi vị thần, các áo quần mà các tăng lữ và nhân dân mang trong cuộc hành lễ, trật tự hiện thực việc thờ cúng, tất cả những cái đó làm nảy sinh những chi tiết cả biệt đa dạng nhất. Bởi vì mỗi hành động như vậy có một số lượng vô hạn những mặt và những yếu tố bên ngoài mà xét ở bản thân nó có thể là thế này hay thế khác tùy theo trường hợp. Nhưng một khi đã nhập vào một nghi lễ thiêng liêng, thì các yếu tố bên ngoài này không phải là võ đoán nữa, mà đều được qui định chặt chẽ và cần phải chuyển sang lĩnh vực của tượng trưng. Điều này áp dụng cho màu của áo quần, màu của rượu nho khi thờ thần Baccut, cũng như tấm da dê mà người ta khoác vào mình những người được giáo dục để biết những điều thần bí. Áo quần và các thuộc tính của các thần, cái cung của thần Apôlông, cái roi, cái gậy và vô số chi tiết khác bên ngoài cũng đều có tính chất như vậy.


Song những vật này dần dần thành thói quen không còn ai nghĩ đến cái lý do đầu tiên khi thực hiện việc thờ phụng. Những điều mà bằng con đường khảo sát bác học, chúng ta có thể phát hiện làm thành ý nghĩa chỉ là một hành động thuần túy bên ngoài. Nhưng đối với con người đương thời thì đó là những hành vi mà họ làm bởi vì họ thấy một hứng thú trực tiếp, để chơi, giải trí, hưởng giây phút hiện tại, vì lòng mộ đạo, vì thói quen và phong tục và vì những người khác cũng làm như vậy. Chẳng hạn, khi ở ta thanh niên nam nữ vào mùa hạ, đêm thánh Giăng đốt lửa hay nhảy, v.v… thì họ làm theo những phong tục thuần túy bên ngoài, còn ý nghĩa thực sự của những hành động này đã bị đẩy lùi ra phía sau. Cũng vậy, thanh niên nam nữ Hy Lạp không hiểu ý nghĩa của những điệu vũ rắc rối trong những ngày lễ trong đó mỗi vòng đi bắt chước sự vận động của tinh tú, và những cách đan chéo của chúng giống như lối đi quanh co trong các mê cung. Họ nhảy không phải để nghĩ tới điều đó, toàn bộ hứng thú của họ đều tập trung vào việc vũ, vào cái vận động đẹp đẽ và cái  vẻ duyên dáng trangì nghiêm đầy tế nhị của nó. Tất cả ý nghĩa trước đây vốn làm thành cơ sở nguyên thủy mà sự thể hiện cảm quan là có tính tượng trưng đã trở thành một biểu hiện chỉ nói với trí tưởng tượng. Các chi tiết của nó được chúng ta xem như một chuyện cổ tích, hay những điều xảy ra trong những chuyện kể lịch sử, do hứng thú mà chúng ta cảm thấy với tính cách những biến cố chính xác bên ngoài diễn ra trong không gian và thời gian. Tất cả điều chúng ta có thể nói về đó là: cái đó như thế đấy hay là “người ta kể lại” v.v… Cái hứng thú có thể lôi cuốn nghệ thuật chỉ là ở chỗ rút ra từ những tài liệu đã trở thành tích cực như vậy, những gì có khả năng khiến cho chúng ta tri giác thực tế các thần xem như những cá nhân cụ thể và si nh động và đem đến cho chúng ta một hồi tưởng mơ hồ về cái ý nghĩa sâu sắc hơn của những tài liệu này.


Chính nội dung tích cực được trí tưởng tượng xây dựng lại đã cấp cho các vị thần Hy Lạp sức quyến rũ của cái nhân tính sinh động. Nhờ đó, yếu tố bản chất và mạnh mẽ làm thành cái tồn tại có tính chất cá nhân, chứa đựng cả cái chân thực “ở bản thân nó và vì nó” cũng như cái ở bên ngoài và ngẫu nhiên. Mặt mơ hồ vẫn còn ở trong biểu tượng về thần linh được quy định chính xác hơn và ngập tàn một nội dung phong phú hơn.


Nhưng chúng ta không nên cấp một giá trị lớn cho lịch sử chuyên môn này và cho những nét riêng biệt. Bởi vì những cái mà theo nguồn gốc nguyên sơ của chúng trước đây là ý nghĩa tượng trưng thì bây giờ chỉ có mục đích duy nhất là hoàn thành cá tính tinh thần của các thần bằng cách nhân tính hóa họ hơn nữa, và cấp cho họ một trình độ chính xác cảm quan hết sức cao. Và để đạt được kết quả này, người ta chỉ cần thêm vào đấy những yếu tố về nội dung và về mặt thể hiện, không phải của thần linh tức là cái mặt võ đoán và ngẫu nhiên, cái mặt liên quan tới một cá nhân cụ thể. Vì có nhiệm vụ làm cho các lí tưởng thuần túy của các thần trở thành đối tượng ngắm nghía, cho nên điêu khắc bắt buộc phải biểu hiện các tính cách và các biểu hiện như là của những cơ thể sống, nhưng điêu khắc không dẫn tới việc cá tính hóa ra ngoài tới trình độ cực đoan. Chẳng hạn nó sẽ biểu hiện mỗi vị thần không những với một đầu óc khác nhau cho phép ta phân biệt Apôlông với Dơt, Vênut với Đian, Palat mang trên mũ trụ con Goocgôn; những sự khác nhau này còn xuất hiện cả trong võ khí, thắt lưng, băng trên mũ, các nhẫn và các trang sức khác ở bên ngoài.


(c)      Cuối cùng, nguồn gôc thứ ba của đặc trưng chi tiết của thần là do quan hệ của họ với cái thế giới cụ thể, các hiện tượng đa dạng của tự nhiên, các hành động và các yếu tố của con người. Bởi vì cá tính tinh thần một phần là do bản chất chung của nó, một phần là do tính cá biệt đặc thù của nó là xuất phát từ cái cơ sở tự nhiên và hoạt động của con người là những cái đã được giải thích một cách tượng trưng cho nên cá tính ấy xem như một cá nhân có tính tinh thần lại còn tiếp xúc với tự nhiên và với đời sống con người trong một quan hệ sinh động. Như chúng tôi đã nói, ở đây là nguồn gốc của trí tưởng tượng nhà thơ, là cái cội nguồn bất tận của những chuyện kể cá biệt, của những nét về tính cách và về các hành động người ta nói về các thần.


Giá trị nghệ thuật của giai đoạn này tóm lại là nghệ thuật biểu hiện một cách sinh động các vị thần cá biệt với những hành động của con người và đưa những chi tiết của các biến cố vào tính phổ biến có tính thần linh. Chúng ta vẫn nói, mặc dầu theo một nghĩa khác, rằng số phận là do thần linh. Ngay trong hiện thực hàng ngày – trong những điều rắc rối của cuộc đời, trong những đòi hỏi, những lo sợ, những hy vọng – người Hy Lạp đã tìm chỗ ẩn ở thần linh. Ở đây, trước hết những điều ngẫu nhiên bên ngoài mà các tăng lữ cho là những điềm may rủi và giải thích cho là có quan hệ với những mục đích và những tình huống của con người đã đóng vai trò quan trọng.  Nếu như một điều bất hạnh và một tai họa xảy ra thì người tăng lữ cần phải giải thích cơ sở của nó, nhận thấy nguyên nhân là do các thần căm giận, là do ý muốn của các thần và tìm những cách tránh các tai họa này.


Các nhà thơ còn đi xa hơn nữa trong các giải thích của họ bằng cách gán cho các thần và cho hành động của các thần mọi cái gì liên quan tới khát vọng phổ biến và cốt tử, tới động lực ở trong các quyết định và các hành động của con người. Họ nói chính các vị thần sử dụng con người để thực hiện các ý muốn, các quyết định, các ý định của mình. Tài liệu của những sự giải thích nên thơ này là vay mượn ở các hoàn cảnh của đời sống hàng ngày. Nhà thơ chỉ lo giải thích vị thần nào biểu lộ ý muốn của mình và nêu bật hoạt động của mình về những biến cố ấy. Bằng cách ấy, thơ đã làm tăng lên số những câu chuyện đặc biệt về các thần và các kỳ công của họ.


Có thể nhắc tới một vài thí dụ gắn liền mặt khác với những lời giải thích chúng tôi đã đưa ra khi khảo sát các quan hệ giữa các sức mạnh phổ biếnvà các nhân những người hoạt động (“Mĩ học”tập I). Hômerơ miêu tả Asin với tính cách con người anh dũng nhất trong số những người ở trước thành Troa. Ông giải thích tinh thần anh dũng vô song này của Asin bằng cách nói rằng toàn thân Asin không thể bị thương trừ gót chân bởi vì bà mẹ của chàng đã nắm lấy gót chân chàng để nhúng xuống sông Xtic. Câu chuyện này là một sản phẩm của trí tưởng tượng nhà thơ, người giải thích một sự kiện bên ngoài. Nhưng nếu như ta quan niệm này theo ý nghĩa một biến cố thực tế xảy ra, và tưởng rằng người Hy Lạp tin vào cái tri giác cảm quan như chúng ta thì đó sẽ là một biểu tượng hết sức thô bạo. Như thế, hóa ra rằng Hômerơ, và nói chung tất cả những người Hy Lạp đều là những người thiển cận, trong số này có cả Alêchxan là người say mê Asin về chỗ chàng có được diễm phúc đã được Hômerơ ca ngợi. Chẳng hạn Ađelung đã làm như vậy khi nói rằng Asin dũng cảm thì cũng chẳng khó khăn gì bởi vì chàng biết trước rằng mình không thể bị thương. Tinh thần dũng cảm thực sự của Asin không phải vì thế mà bị giảm bớt vì mặc dầu chàng biết rằng chàng chết trẻ, chàng cũng không bao giờ trốn tránh điều nguy hiểm. “Các bài ca Nibơlung” miêu tả một trường hợp tương tự một cách hơn hẳn. Dichfrit, với lớp da bằng sừng cũng không thể bị thương, đã thế chàng lại đội một cái mũ trụ làm cho chàng thành vô hình. Khi ở trong tình trạng vô hình như vậy, chàng giúp đỡ vua Guntơ trong trận chiến đấu với Brunơhin, chàng được hưởng một điều lợi nhờ một pháp thuật thô bạo và dã man, thì điều đó không thể cấp cho ta một quan niệm cao về tinh thần anh dũng của Dichfrit cũng như của vua Guntơ. Kể ra, ở Hômerơ các vị thần cũng thường hành động để giúp đỡ một vị anh hùng nào đó. Song các vị thần ở Hômerơ chỉ là cái mặt phổ biến của con người với tính cách một cá nhân hoạt động và của những hành động mà cá nhân ấy thực hiện, song con người phải dốc hết nghị lực của tinh thần anh dũng của mình. Nếu thế thì các thần linh rất có thể giúp đỡ người Hy Lạp, giết chết tất cả những người Troa trong các trận chiến đấu. Trái lại, Hômerơ khi miêu tả trận chiến đấu chính, kể lại chi tiết cuộc chiến đấu đã bao quát tất cả, khi hai đạo quân chiến đấu bừng bừng sát khí biểu lộ tinh thần anh dũng của họ thì lúc đó đích thân Aret mới xuất hiện trên chiến trường và các vị thần mới bắt đầu đánh bại các vị thần. Và điều này là đẹp đẽ và hùng dũng không những do chỗ nêu lên cố gắng căng thẳng mà còn có một ý nghĩa sâu sắc: Mômerơ nhận ra từng vị anh hùng ở từng biến cố và từng cuộc chiến đấu. Ông cấp những hành động phổ biến và chung cho sự can thiệp của những sức mạnh phổ biến.


Trong một liên hệ khác, Hômerơ cũng bắt Apôlông can thiệp khi phải giết Patrôklơ là người mang những vũ khí của Asin vô địch. (“Iliat” XVI, câu 783 -849). Đã ba lần, chẳng khác gì Aret, Patrôklơ lao vào những đám người Troa và đã giết mỗi lần chín người. Khi chàng định tấn công lần thứ tư, thì vị thần quấn mình trong bóng tối đen ngòm, tiến về phía chàng qua đám đông, đánh vào lưng, vào cai, làm cho chàng lăn ngã xuống đất, ở đấy chàng ngã sầm xuống dưới vó ngựa, trong khi tóc của chàng vẫn đẫm máu và bụi, một điều trước đây không bao giờ nghe nói đến. Vị thần cũng bẽ gẫy cái giáo bằng sắt mà chàng cầm trong tay, làm cho cái khiên của chàng rơi xuống và cởi cả áo giáp.


Kể ra, người ta có thể nhìn thấy sự can thiệp này của Apôlông là một cách giải thích nên thơ tình trạng mệt mỏi xâm chiếm lấy Patrôklơ. Patrôklơ cố gắng một lần nữa để tránh, nhưng Hecto đã lao tới và lấy giáo đâm thủng bụng. Hecto, đắc chí chế nhạo con người đã ngã gục nhưng Patrôklơ trả lời chàng giọng yếu ớt, gần như không thể nghe được: Dơt và Apôlông đã thắng ta, các thần đã thắng ta một cách dễ dàng, bởi vì họ đã giật mất võ khí ra khỏi vai, ta có thể dùng mũi giáo của ta đánh gục hai mươi tên như nhà ngươi, nhưng cái số phận bi thảm và Apôlông đã giết ta, còn ngươi Ophocbơ sẽ là vật hy sinh thứ hai, và ngươi Hecto, sẽ là người thứ ba”. Ở đây nữa, sự xuất hiện của thần linh cũng dành để giải thích sự kiện Patrôklơ mặc dầu được võ khí của Asin che chở cũng vẫn bị mệt nhoài  đờ đẫn và bị giết. Đây không phải chỉ là một điều mê tín hay một trò chơi vô vị của trí tưởng tượng. Nếu cho rằng sự can thiệp Apôlông là ở chỗ Apôlông muốn hạ thấp vinh quang của Hecto, và kết luận rằng trong tất cả công việc này Apôlông đã đóng một vai không xứng đáng với danh dự của mình, thì đó sẽ là một sáng tạo vô ích của một đầu óc nôm na và mê tín. Bởi vì trong tất cả những trường hợp, Hômerơ giải thích những biến cố đặc biệt bằng sự xuất hiện của thần linh như vậy thì thần linh chỉ là một yếu tố của bản chất bên trong của con người, là sức mạnh của những dục vọng và của những quyết đinh của y, hay của hoàn cảnh trong đó ý tồn tại, là sức mạnh và cơ sở của điều xảy ra với con người do tình trạng này. Nếu như đôi khi những nét thuần túy ngẫu nhiên, hoàn toàn bên ngoài cũng biểu lộ trong sự xuất hiện của các thần linh thì những điều này lại biến thành trò bông đùa: chẳng hạn khi Hephaixtôt khập khiễng đi rót rượu trong bữa tiệc của các vị thần. Nói chung, Hômerơ ít quan tâm tới chỗ tìm hiểu xem các sự kiện có thực hay không. Đôi khi các thần linh hoạt động, đôi khi họ không biểu lộ hoạt động nào hết. Người Hy Lạp biết rất rõ rằng chính các nhà thơ gây nên sự xuất hiện của các thần linh và nếu nhu họ tin vào thần linh thì lòng tin của người Hy Lạp biết rất rõ rằng chính các nhà thơ gây nên sự xuất hiện của các thần linh và nếu như họ tin vào thần linh thì lòng tin của người Hy Lạp là liên quan tới nội dung tinh thần, là cái yếu tố tinh thần ở trong con người và làm thành cái phổ biến ở trong những biến cố cụ thể và khách quan thực sự tác động làm các biến cố vận động. Chúng ta hoàn toàn không cần phải là những người mê tín để thưởng thức sự miêu tả nên thơ của các nhà thơ.


b.       Sự duy trì cơ sở đạo đức.


Tính chất chung của lý tưởng cổ điển là như vậy và chúng ta sẽ khảo sát chi tiết hơn sự phát triển sau này của nó khi chúng ta phân tích từng ngành nghệ thuật. Ở đây, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một nhận xét: thần linh và người trần dù cho phát triển về hướng cá biệt và cái bên ngoài, vẫn phải giữ một cơ sở đạo đức tích cực. Tính chủ thể vẫn còn thống nhất với cái nội dung cốt tử của quyền lực của họ. Cũng như yếu tố tự nhiên ở trong nghệ thuật Hy Lạp vẫn giữ sự hài hòa với yếu tố tinh thần và phục tùng yếu tố bên trong với tính cách một hình thức tồn tại phù hợp; cũng vậy bản chất cụ thể, bên trong của con người bao giờ cũng được miêu tả ở trong thể đồng nhất vững chắc với tính khách thể thực sự của tinh thần, tức là đồng nhất với nội dung cốt tử của đạo đức và của cái chân thực.


Về mặt này, lý tưởng cổ điển không biết đến sự chia tách giữa nội cảm với hình thức bên ngoài cũng không biết tình trạng đạn tuyệt này khi ở một phía là yếu tố chủ thể và, do đó, yếu tố võ đoán trừu tượng ở trong các mục đích và các dục vọng và ở bên kia là yếu tố phổ biến, do đó đã trở thành trừu tượng. Cơ sở của tính cách này bao giờ cũng là cái yếu tố cốt tử, còn cái ác, tội lỗi, cái hèn hạ và cái xấu xa, những nét của tính chất chủ thể bó hẹp vào bản thân nó đều bị loại trừ ra khỏi nghệ thuật cổ điển. Trước hết, ở đây nghệ thuật hoàn toàn không biết sự tàn nhẫn, cái hèn hạ và cái xâu xa là những cái có một địa vị quan trọng ở trong nghệ thuật lãng mạn. Kể ra, chúng ta thấy rằng nghệ thuật Hy Lạp cũng nói nhiều tới tội lỗi, chẳng hạn hành động giết mẹ, giết cha, cũng như những tội lỗi khác chống lại tình yêu gia đình và lòng mộ đạo. Song nó không miêu tả cái tội lỗi này như là những hành động khủng khiếp, hay giải thích (gần đây chúng ta đã có một cái mốt như vậy, cho là do cái định mệnh mù quáng và phi lý gây nên, với cái vẻ bên ngoài giả dối của sự tất yếu). Nếu như con người phạm những tội ác này thì những hành động này bao giờ cũng được miêu tả dưới gốc độ mang sự biện hộ ở ngay trong bản thân hành động.


c.        Sự diễn biến chuyển sang duyên dáng và hấp dẫn.


Mặc dầu cái cơ sở cốt tử này, chúng ta vẫn thấy sự hình thành nghệ thuật chung của các vị thần cổ điển ngày càng tách xa tình trạng im lìm và trong lặng của lý tưởng để xuất hiện trong những cá nhân đa dạng và những hiện tượng bên ngoài; họ được chi tiết hóa với tính cách những biến cố, những điều xảy ra và những hành động trong khi ngày càng mang tính chất con người. Do đó, nghệ thuật cổ điển cuối cùng chuyển sang việc cô lập hóa sự cá tính hóa ngẫu nhiên về mặt nội dung và về mặt hình thức, nó chuyển sang một hình thức dễ thương, hấp dẫn. Cái cảm giác thú vị ở chỗ người ta cảm thấy đứng trước một hiện tượng cô lập, cá biệt của thế giới bên ngoài, được trau chuốt trong tất cả các chi tiết của nó, làm cho tác phẩm không chỉ nói với cái nội dung bên trong có tính chất chủ yếu mà còn liên quan đa dạng với tính chủ thể của các mặt hữu hạn của nó. Bởi vì ở trong tính hữu hạn này của sự tồn tại nghệ thuật, có một mối liên hệ chặt chẽ hơn với chủ thể, bản thân chủ thể cũng hữu hạn và bây giờ ở trong tác phẩm nghệ thuật lại quan hệ chặt chẽ với tác phẩm, và thấy mình trực tiếp tồn tại ở đấy và hài lòng về trường hợp này. Vẻ nghiêm trang của các thần đã trở thành vẻ duyên dáng và dịu dàng, những đặc điểm này không làm cho con người sửng sốt và nâng con người lên khỏi sự tồn tại riêng rẽ của y nhưng cho phép con người vẫn cứ là mình một cách thản nhiên và chỉ có một tham vọng là làm cho chúng ta thích thú. Cũng như nói chung khi trí tưởng tượng chiếm hữu những biểu tượng tôn giáo và xây dựng chúng một cách tự do, nhằm mục đích đạt đến cái đẹp, thì nó sẽ loại trừ tính nghiêm trang của sự mộ đạo nghĩa là làm hư hỏng tôn giáo, cũng vậy ở giai đoạn này sự xuyên tạc này được thực hiện phần lớn  bằng cách thú vị và là yếu tố đem đến hứng thú. Vì vậy, sức quyến rũ của sự tồn tại được miêu tả càng làm chủ ở trong cái đẹp thì tính hấp dẫn càng đưa cái yếu tố suy sụp vào và làm cho nghệ thuật càng sa sút nhanh. Chính vì vậy khi vẻ duyên dáng của các đồ vật được miêu tả trở thành yếu tố chủ đạo của cái đẹp thì cái hố ngăn cách ự thú vị ra khỏi cái phổ biến lại càng sâu, và người ta càng tách xa cái nội dung sâu sắc là cội nguồn duy nhất của những hứng thú trong sáng và chân thực.


Bước chuyển sang một lĩnh vực hình thức nghệ thuật khác là gắn liền với tính bên ngoài này và sự chính xác chi tiết của các hình tượng thần linh. Bởi vì tính bên ngoài của các hình tượng này giả thiết tính đa dạng ở trong sự tồn tại hữu hạn: sự tồn tại này khi có được một sự phát triển thì đối lập với ý niệm bên trong, với tính cách phổ biến và tính chân thực của nó và bắt đầu thức tỉnh tình cảm không hài lòng của một tư tưởng không còn phù hợp với thực tế của nó.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Nicolas Fréret




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Nga Nghĩ và Viết lịch sử Văn học - Lã Nguyên 18.11.2018
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
xem thêm »