tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24958801
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
04.10.2018
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (18)


CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ THẢM SÁT & CHỒNG CỦA NÀNG


Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, xin bệ hạ hiểu cho rằng người đàn bà bị giết hại vốn là vợ tôi. Nàng là con gái của cụ già kia, cụ cũng có họ hàng xa với tôi. Nàng mới lên mười hai cụ đã gả cho tôi, đến nay thấm thoắt đã mười một năm. Tôi đã có với nàng ba đứa con hiện nay đều sống cả. Và tôi phải công bằng mà nói rằng nàng chưa bao giờ làm điều gì khiến cho tôi không hài lòng. Vợ tôi ngoan, có đức hạnh và hết sức chú ý chiều chuộng chồng. Về phần tôi, tôi hết mực thương yêu nàng. Tôi thường săn đón để đáp ứng mọi mong ước của nàng chứ không hề làm trái ý nàng bao giờ.


Cách đây chừng hai tháng, vợ tôi lâm bệnh. Tôi hết sức chăm nom, không hề tiếc điều gì không làm để cho nàng chóng bình phục. Sau một tháng, nàng thấy trong người có khá hơn, và muốn được đi tắm. Trước khi ra khỏi nhà, nàng nói với tôi: "Nhà ơi, em muốn ăn táo. Nhà sẽ làm cho em cực kỳ thích thú nếu được ăn thứ đó. Đã lâu lắm, em thèm ăn thứ đó. Em xin thú thật là nếu không được như ý e sẽ xảy ra điều gì không hay chăng".


- Rất vui lòng - Tôi đáp. - Tôi sẽ làm hết sức để mình được vui lòng.


Tôi đi khắp các chợ búa, các quán hàng lùng mua táo, nếu tìm thấy thì một quả phải trả một đồng vàng tôi cũng không tiếc. Thế nhưng vất vả mà vẫn không tìm ra, tôi trở về nhà rất buồn bã. Về phần vợ tôi, từ nhà tắm về, không thấy có táo, nàng buồn tới mức đêm ấy không sao ngủ được. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm đến các vườn tìm mua, song cũng chẳng có kết quả gì hơn hôm trước. Tôi chỉ gặp được một cụ già làm vườn. Cụ nói rằng tôi vất vả bao nhiêu cũng vô ích thôi, không bói đâu ra táo ngoài vườn ngự uyển của Hoàng đế ở tận thành phố Banxôra.


Vì tôi yêu vợ tha thiết và không muốn để cho nàng trách rằng tôi đã không cố gắng làm hài lòng nàng, tôi vội thay bộ áo quần đi đường. Sau khi nói qua cho vợ rõ, tôi tất bật khởi hành đi Banxôra. Tôi đi khẩn trương tới mức là chỉ mười lăm hôm sau, tôi đã trở về. Tôi mang theo ba quả táo, mỗi quả mua đúng một đồng vàng. Trong vườn ngự chỉ có ba quả, và người làm vườn không muốn nhường cho với giá hạ hơn. Vừa đến nơi, tôi đã đưa táo cho vợ tôi, nhưng cơn thèm ăn của nàng đã qua rồi. Nàng chỉ có cầm lấy và đặt ngay sang một bên. Trong khi đó nàng vẫn ốm, và tôi không còn biết kiếm thuốc gì cho nàng bình phục.


ÍT ngày sau khi tôi đi Banxôra trở về, vào lúc đang ngồi trong cửa hiệu của mình, vào một nơi bán hàng tơ lụa đủ các loại, thì tôi thấy một tên nô lệ da đen to lớn, mặt mũi hung tợn bước vào, tay cầm một quả táo mà tôi nhận ra đúng là một trong ba quả tôi mang từ Banxôra về. Không có gì nghi ngờ, vì không thể có một quả táo nào khác tại thành phố Bátđa cũng như các vùng lân cận. Tôi gọi tên nô lệ:


- Này anh bạn, anh lấy đâu ra quả táo này vậy?


 Hắn mỉm cười trả lời:


- Đây là quà của người tình tôi. Hôm nay tôi tới thăm nàng, thấy nàng cũng hơi khó ở. Thấy ba quả táo bên cạnh, tôi hỏi làm sao có được những thứ này, nàng đáp đấy là anh chàng ngố, đức ông chồng của nàng đã bỏ ra đúng mười lăm ngày đi đường mang về cho nàng dùng. Chúng tôi đã cùng nhau dùng bữa nhẹ. Trước khi chia tay, tôi cầm theo quả này.


Lời tên nô lệ làm cho tôi điên tiết. Tôi đứng phắt dậy, đóng cửa hiệu, chạy vội về nhà và xộc thẳng lên buồng vợ tôi. Trước hết tôi nhìn các quả táo. Trông thấy chỉ có hai quả, tôi hỏi quả thứ ba đâu. Thế là vợ tôi quay đầu nhìn về phía để ba quả táo, thấy chỉ còn có hai, nàng lạnh lùng đáp: "Nhà ạ, tôi cũng chẳng biết nó ở đâu rồi".


Qua câu trả lời ấy, chẳng khó khăn gì, tôi có thể hiểu điều tên nô lệ da đen nói là có thực. Cơn ghen làm tôi phát khùng, tôi rút con dao vẫn cài ở thắt lưng đâm vào cổ họng con đàn bà khốn nạn. Sau đó tôi chặt đầu, xả thây nó ra làm nhiều mảnh, tôi gói lại cho vào một cái sọt có nắp, khâu miệng lại bằng một sợi len đỏ, bỏ vào một cái hòm, rồi tôi vác lên vai chờ cho trời tối ném xuống sông Tigơri.


Hai đứa con bé của tôi lúc ấy đã đi ngủ, cháu lớn đã đi đâu không có nhà. Khi tôi trở về tôi bắt gặp cháu đang ngồi bên cửa khóc như mưa. Tôi hỏi tại sao khóc, cháu đáp: "Bố ơi, sáng nay con lấy một quả táo mà mẹ con không hay. Con giữ quả táo khá lâu, nhưng khi con còn mải chơi với hai em ngoài phố, chợt một tên nô lệ cao lớn đi ngang qua giật khỏi tay con rồi đi mất. Con đã chạy theo xin lại, con nói rõ đấy là quả táo của mẹ con, bố đã phải đi mười lăm ngày ròng rã để mang về cho mẹ, nhưng nó vẫn không chịu trả. Con chạy theo đòi nó còn quay lại đánh con, rồi bỏ chạy qua nhiều lối phố quanh co mất hút, con không sao theo kịp. Từ lúc ấy, con đi lang thang ngoài phố đợi bố về để xin bố chớ có nói gì cho mẹ biết, sợ làm cho mẹ ốm nặng thêm chăng".


Nói đến đấy, cháu càng khóc lớn.


Lời cháu khiến tôi đau buồn không thể nào tả nổi. Tôi nhận ra tội ác của tôi kỳ cục biết bao nhiêu. Nhưng hối hận thì đã quá muộn rồi. Tại sao mình lại tin lời dối trá của một tên nô lệ khốn khiếp, theo lời con tôi kể, thì đúng hắn đã bịa điều tai hại mà tôi tin là có thực. Giữa lúc ấy thì chú họ tôi tức cụ già đây đến để thăm con gái. Nhưng con gái cụ đã không còn. Tôi thuật lại đầu đuôi cho cụ nghe, không giấu giếm điều gì. Và cũng không chờ cho cụ lên án, tôi tự kết tội tôi là tên sát nhân khốn nạn nhất trần đời. Tuy nhiên, cụ đã không nỡ mắng mỏ tôi, lại còn khóc như tôi. Hai chúng tôi cùng nhau khóc suốt ba ngày liền. Cụ khóc đứa con gái yêu quý, còn tôi, tôi khóc người vợ mến thương đã bị tôi giết hại một cách độc ác chỉ vì tin theo những lời dối trá của một tên nô lệ. Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, đấy là tất cả lời thú tội chân thành của tôi. Giờ bệ hạ đã biết rõ mọi chi tiết, tôi khúm núm cúi xin ngài hãy ra lệnh gia hình. Cho dù hình phạt có nghiêm khắc đến đâu tôi vẫn không đám kêu van mà vẫn cho là còn quá nhẹ.


Hoàng đế cực kỳ ngạc nhiên về những điều chàng trai vừa kể. Nhưng đấng minh quân ấy cho rằng gã đáng được tha hơn là đáng tội, liền cất lời bênh gã: "Hành động của chàng trai này đáng được Thượng đế tha thứ và người đời châm chước. Tên nô lệ độc ác kia mới chính là nguyên nhân duy nhất gây nên vụ giết người này, hắn mới đúng là kẻ đáng bị trừng trị. Vì vậy - vua quay lại truyền cho tể tướng - ta hạn cho ngươi ba ngày phải tìm ra nó. Nội nhật ba ngày mà ngươi không tìm ra thủ phạm, ta sẽ bắt ngươi chịu tội thay".


Tể tướng Giafa khốn khổ tưởng đã tai qua nạn khỏi, hết sức buồn rầu trước lệnh mới của hoàng đế. Nhưng quá hiểu rõ tính tình nhà vua, ông gạt nước mắt trở về nhà riêng mà không dám cãi, bụng tin chắc mình chỉ còn sống đúng ba ngày nữa thôi. Tin chắc rằng không thể nào dò ra tung tích tên nô lệ, ông cũng chẳng buồn cho truy nã. Ông nghĩ: "Trong một thành phố đông đúc như Bátđa, với không biết cơ man nào là nô lệ da đen, làm sao có thể nhận diện được tên tội phạm. Trừ phi Thượng đế chỉ ra cho ta thấy như đã từng chỉ ra kẻ giết người, ta không còn cách gì thoát chết".


Ông để hai ngày sống với gia đình. Cả nhà quây quần khóc than oán trách lệnh quá nghiêm của hoàng đế. Ngày thứ ba, tể tướng chuẩn bị chịu chết một cách dũng cảm như một vị thượng thư thanh liêm suốt đời không có gì đáng chê trách. Ông sai gọi các pháp quan và những người làm chứng đến cùng ký tên chứng nhận lúc ông làm di chúc. Sau đó, ông ôm hôn vĩnh biệt vợ và các con. Cả nhà khóc như mưa. Chưa bao giờ có cảnh tượng nào xúc động hơn.


Cuối cùng một viên quan từ triều đình ra báo rằng hoàng đế sốt ruột vì không được tin tức gì về ông cũng như về tên nô lệ mà hoàng đế cho truy nã. Anh ta nói thêm: "Tôi được lệnh dẫn ngài đến trước ngai vàng".


Vị tể tướng âu sầu sẵn sàng đi theo viên quan. Nhưng vừa lúc ông sắp đi ra, người ta mang đến cho ông đứa con gái út lên năm hoặc sáu gì đấy. Những người giúp việc trong nhà đã đưa cháu đến để cho ông được nhìn thấy con gái một lần cuối cùng.


Tể tướng vốn rất yêu quý cô con gái út này. Ông xin viên quan hãy cho ông được dừng chân giây lát. Ông đến gần bế con gái lên hôn mãi. Đang hôn con, chợt nhận thấy dưới áo cháu cộm lên một vật gì đó có mùi thơm ông hỏi: "Con yêu của bố, con có vật gì trong người vậy?


- Thưa cha yêu quý, đấy là một quả táo có ghi dấu hiệu của hoàng đế. Tên nô lệ Rihan đã bán cho con lấy hai đồng vàng.


Nghe đến hai tiếng quả táo và nô lệ, tể tướng Giafa thét lên một tiếng ngạc nhiên và vui mừng lẫn lộn. Ông cho tay vào dưới áo con lấy quả táo ra. Ông cho gọi tên nô lệ ấy cũng đứng gần đấy. Khi nó đến gần, ông hỏi:


- Tên vô lại kia, mày lấy quả táo này ở đâu?


- Thưa ngài, - tên nô lệ đáp - tôi xin thề là tôi không hề trộm của ngài cũng như không dám hái trộm trong vườn ngự uyển. Chả là hôm nọ, đi qua một phố có ba bốn đứa trẻ đang chơi, thấy một đứa cầm quả này ở tay, tôi giật lấy. Thằng bé chạy theo nói rằng quả táo không phải của nó mà là của mẹ nó, rằng bố nó để làm vừa lòng mẹ nó đã phải cất công một chuyến đi xa và mang về ba quả. Đây chỉ là một quả nó lấy mà mẹ nó không hay biết. Nó van tôi trả lại nhưng tôi không nghe, tôi mang về nhà và bán cho tiểu thư đây lấy hai đồng xơcanh. Đấy, tất cả câu chuyện chỉ có thế, thưa ngài.


Tể tướng Giafa vẫn chưa hết bàng hoàng về hành động bất lương của một tên nô lệ đã có thể gây nên cái chết của một người đàn bà vô tội và suýt nữa là cái chết của chính ông và nhiều người trong dòng họ ông. Ông dẫn tên nô lệ cùng đi; đến trước hoàng đế, ông thuật lại cho nhà vua nghe đầy đủ chi tiết tất cả những điều tên nô lệ nói và cả sự ngẫu nhiên, nhờ đó ông tìm ra thủ phạm.


Chưa bao giờ hoàng đế kinh ngạc đến vậy. Không thể nhịn được, vua cất tiếng cười sang sảng. Cuối cùng trở lại vẻ trang nghiêm, ông bảo tể tướng rằng, bởi tên nô lệ đã gây nên biết bao nhiêu điều rối loạn trị an, nó phải chịu tội xứng đáng để làm gương. Tể tướng đáp:


- Tâu bệ hạ, thần không dám trái ý nhưng tội của y không phải là không thể tha thứ. Thần biết một chuyện còn đáng ngạc nhiên hơn vì một vị tể tướng kinh thành Cairô tên là Nuarêtđin Ali cùng Bêrếtđin Hátxan ở thành phố Banxôra. Nếu bệ hạ thích nghe những chuyện tương tự, thần sẵn sàng thuật hầu bệ hạ. Nếu bệ hạ thấy nó kỳ lạ hơn câu chuyện mà thần có dịp thuật lại vừa rồi, thì xin Người hãy tha tội cho tên nô lệ.


- Ta muốn nghe lắm - hoàng đế đáp - nhưng ông sẽ phải làm một việc khó khăn đấy. Ta không tin là ông có thể cứu mạng tên nô lệ, bởi vì chuyện về ba quả táo đã thật là đặc biệt rồi.


Tể tướng Giafa liền cất lời kể như sau:


 


CHUYệN NUARếTĐIN ALI Và BÊRÊTĐIN HATXAN


Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, ngày xưa ở nước Ai Cập có một nhà vua công minh, độ lượng, thương người và tính tình thoải mái. Những đức tính ấy làm cho các nước lân bang rất nể vì. Vua thương yêu những người nghèo khó, bảo vệ những vị tài cao học rộng. Ai có tài đều được cất nhắc lên giữ những trọng trách trong triều.


Vị tể tướng của nhà vua là một người thận trọng, khôn ngoan, sâu sắc, tinh thông tất cả những môn văn chương cũng như khoa học. Tể tướng có hai người con trai đều tuấn tú khôi ngô và đều rất giống cha trên mọi mặt. Người con cả được gọi là Sêmsếtđin Môhamét còn Nuarêtđin Ali là tên người con thứ. Đặc biệt người con thứ là một chàng trai hội đủ mọi đức tính trên đời.


Tể tướng qua đời, nhà vua cho triệu hai chàng trai đến và phong cho hai chàng làm chức thượng thư. Vua nói:


- Ta hết sức buồn vì việc phụ thân các anh từ trần. Lòng ta cũng thương tiếc ông chẳng khác gì các anh thương tiếc thân sinh các anh. Ta muốn chứng tỏ cho các anh thấy tình cảm của ta. Ta biết rằng hai anh hiện đang chung sống với nhau và cùng hết lòng thương yêu đoàn kết lẫn nhau, cho nên ta phong cho hai người cùng một phẩm trật như nhau. Hãy đi làm nhiệm vụ, và hãy cố noi gương phụ thân các anh.


Hai vị tân thượng thư tạ ơn nhà vua rồi lui về nhà và cùng nhau lo tổ chức tang lễ của cha.


Sau một tháng cư tang, họ ra khỏi nhà, cùng nhau vào triều và cùng nhau lần đầu tiên tham dự công việc triều chính. Từ hôm ấy trở đi, ngày nào hai chàng cũng vào triều yết.


Cứ mỗi lần nhà vua đi săn, thì một trong hai chàng được cử tháp tùng và cứ lần lượt thay nhau hưởng vinh dự ấy.


Một hôm, sau bữa ăn tối, hai anh em ngồi nói chuyện với nhau. Hôm ấy là buổi tối mà sáng hôm sau người anh sẽ tháp tùng nhà vua trong một chuyến đi săn. Người anh cả nói với người em trai:


- Chú hai à, cả chú với anh đều chưa lập gia đình, mà hai anh em ta lại rất đoàn kết thương yêu nhau. Anh vừa nảy ra một cái ý thế này: hai anh em ta hãy kết hôn với hai chị em một gia đình nào đó môn đăng hộ đối với nhà ta và sẽ tổ chức cưới cùng một lúc. Chú nghĩ thế nào về ý kiến ấy của anh?


Nuarêtđin Ali đáp:


- Em nghĩ rằng ý nghĩ của anh thật vô cùng đặc sắc. Nó rất phù hợp với tình thân thiết giữa hai anh em ta. Không thể có ý kiến nào hay hơn. Về phần mình, tất cả những việc gì có thể làm vui lòng anh, thì em đều sẵn sàng thực hiện.


- Ồ, như thế chưa phải là hết đâu - Sêmsếtđin Môhamết nói tiếp - trí tưởng tượng của anh còn đi xa hơn nữa. Nói giả dụ hai người vợ của chúng ta cùng thụ thai trong đêm tân hôn, sau đó cùng sinh nở một ngày, chú sinh con trai còn anh sinh con gái, thì chúng ta sẽ cho các cháu kết hôn khi chúng nó đến tuổi trưởng thành.


- Ôi, phải công nhận là dự kiến của anh thật là diệu kỳ. Cuộc hôn phối ấy sẽ càng thắt chặt thêm tình thương yêu giữa hai anh em chúng ta. Bởi vậy em hoàn toàn tán thành - Nuarếtđin Ali thốt lên. - Nhưng, anh cả ơi, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì anh nghĩ con trai em sẽ phải tặng cô dâu một lễ vật như thế nào?


- Có khó khăn gì chuyện ấy. Anh tin rằng ngoài những lễ vật thông thường như mọi đám cưới khác, chắc chú sẽ không ngại ngần nhân danh chú rể mà tặng cho con dâu chú không dưới ba nghìn đồng xơcanh, ba khu đất và ba tên nô lệ.


- Điều ấy thì em hoàn toàn nhất trí. Bởi chẳng phải chúng ta vừa là anh em ruột thịt vừa là bạn đồng liêu cũng một phẩm trật như nhau sao? Tuy nhiên trong câu chuyện vừa rồi, chưa biết anh em ta người nào có lý hơn người nào. Em nghĩ, có phải là đàn ông vốn đáng trọng hơn đàn bà không, và như vậy đáng ra anh phải cho con gái anh một khoản hồi môn lớn mới phải chứ. Cứ như lời anh thì em thấy anh đúng là một người chỉ muốn được lợi trên lưng người khác.


Mặc dù Nuarếtđin Ali vừa nói vừa cười, người anh cả vốn không phải là người thông minh cho lắm, lấy lời nói đó làm phật lòng. Tự dưng, anh nổi đóa lên:


- Khốn nạn cho con trai chú, sao chú dám cả gan cho là nó đáng giá hơn con gái ta. Ta lấy làm ngạc nhiên sao chú lại cho là con trai chú xứng đáng cưới con gái ta nhỉ. Hơn nữa, có lẽ chú đã mất trí phán xét rồi hay sao mà cho rằng chú với ta là đồng liêu. Này con người cả gan kia, sau chuyện xấc láo ấy thì đừng có tơ tưởng rằng ta chịu hạ cố gả con gái ta cho con trai chú cho dù chú có tặng cho nó nhiều của cải hơn là cả gia sản của chú.


Câu chuyện cãi cọ đáng buồn cười giữa hai anh em về đám cưới của những đứa con chưa ra đời, ấy thế mà đâm ra rắc rối. Sêmsếtđin Môhamét tức giận đi đến chỗ nạt nộ:


- Giá mà sáng mai ta không phải theo hầu nhà vua đi săn, thì ta đã cho chú một trận nên thân. Nhưng khi ta trở về, ta sẽ cho chú mày biết, làm sao một đứa em lại dám nói với ông anh cả những lời hỗn xược như chú vừa thốt ra cơ chứ.


Nói đến đấy, Sêmsếtđin Môhamết trở về phòng riêng nghỉ và Nuasếtđin Ali cũng trở về phòng của mình.


Sáng hôm sau, Sêmsếtđin Môhamết dậy thật sớm để vào cung theo hầu nhà vua đi săn. Đoàn săn đi ngược lên mạn trên thành phố Cairô, về vùng các kim tự tháp.


Về phần Nuarếtđin Ali, chàng trằn trọc suốt đêm. Suy nghĩ lại, chàng nhận ra rằng mình không thể nào sống chung lâu hơn nữa đối với một ông anh trai đã đối xử với chàng một cách kiêu ngạo như vậy và đi đến một quyết định. Chàng sai thắng một con la, mang theo một cái túi đựng đầy châu báu cùng một ít thức ăn rồi lên đường. Chàng chỉ bảo cho người nhà biết là chàng có việc đi vài ba hôm, và chỉ muốn đi một mình.


Ra khỏi thành phố Cairô, chàng băng qua sa mạc đi về hướng nước Arabi. Nhưng giữa đường con la gục chết, chàng phải đi bộ tiếp. May mắn sao gặp một người cưỡi ngựa đi về Banxôra, cho chàng ngồi ghé sau lưng. Đến Banxôra, Nuarếtđin Ali cảm tạ con người tốt bụng đã giúp đỡ chàng rồi xuống ngựa.


Chàng đang đi qua các phố, chưa biết nên nghỉ lại ở đâu thì chợt trông thấy một vị quan lớn, theo sau có một số đông tùy tùng, đang đi tới. Nhân dân trong phố ai trông thấy ông cũng đều đứng lại cúi chào rất thấp và chờ cho ông đi khỏi mới tiếp tục công việc của mình. Nuarếtđin Ali bắt chước làm y như họ. Vị quan lớn ấy chính là tể tướng nước Banxôra đang đi thị sát tình hình để giữ an ninh trật tự trong thành phố.


Tình cờ ông đưa mắt nhìn và trông thấy chàng trai. Trông vẻ mặt chàng khả ái, nhân đi ngang qua chỗ chàng đang đứng và thấy chàng đang mặc áo quần đi đường, ông dừng lại hỏi chàng là ai và từ đâu đến.


Nuarếtđin Ali thưa:


- Bẩm ngài, tôi vốn là người Ai Cập, sinh ở Cairô. Vì có chuyện buồn phiền chính đáng do một người bà con của tôi gây nên, tôi quyết định đi chu du khắp thiên hạ, và thà chết chứ chẳng bao giờ trở về quê cũ nữa.


Vị tể tướng là một cụ già đường bệ. Nghe chàng trai nói vậy, ông bảo:


- Này con trai của ta ơi, con chớ nên thực hiện lời con vừa nói đó. Trong thiên hạ này đầy rẫy những khổ đau. Con chưa lường hết những điều rồi con phải chịu đựng. Tốt hơn là con hãy đi theo ta, ta sẽ giúp cho con quên hết nỗi buồn khiến con đã phải ra đi xa xứ.


Nuarếtđin Ali liền đi theo vị tể tướng nước Banxôra về nhà. Chẳng bao lâu ông phát hiện ra những đức tính tốt đẹp của chàng. Bởi vậy nhân một hôm ngồi nói chuyện riêng, ông bảo chàng:


- Con ạ, như con thấy đấy, ta đã già lắm rồi, chắc trời chẳng còn cho ta sống bao lâu nữa. Ta chỉ có một đứa con gái độc nhất. Em cũng xinh gái không kém gì con đẹp trai, và cũng vừa đến tuổi lập gia đình. Rất nhiều nhà có quyền thế trong triều đình xin ta gả em cho con trai họ, nhưng ta vẫn chưa dứt khoát nhận lời ai. Ta quý con, ta thấy con cũng có thể môn đăng hộ đối với gia đình. Con khá hơn những người đã đến xin hỏi em, bởi vậy ta sẵn sàng coi con như là rể của ta. Nếu con vui lòng nhận lời thì ta sẽ trình với nhà vua là ta quyết định cho con gái ta được lấy con.làm chồng. Ta sẽ cầu xin Người cho phép con sẽ kế vị ta trong chức vụ đại tể tướng nước Banxôra. Mặt khác, ta cũng cảm thấy già nua lắm rồi, không những ta giao cho con mọi tài sản của ta, mà còn chuyển cho con trách nhiệm trông nom việc chính sự của nước này nữa.


Vị tể tướng vừa nói xong những lời đầy lòng tốt và độ lượng như trên, Nuarếtđin Ali liền phủ phục xuống dưới chân ông. Với những lời sẽ xuất phát từ lòng cảm kích sâu sắc, chàng thưa rằng chàng sẵn sàng thực hiện bất cứ điều gì ông muốn. Thế là tể tướng gọi tất cả gia nhân trong nhà lại truyền bảo họ trang hoàng dinh thự và sửa soạn một bữa tiệc lớn. Tiếp đó ông cho mời tất cả các vị quyền quý trong triều cũng như trong toàn thành phố đến.


Khi mọi người đã tề tựu đông đủ và chờ cho Nuarếtđin Ali có thời gian tỏ rõ mọi phẩm cách tốt đẹp của chàng trước quan khách, ông lựa lời nói với mọi người để sao cho cả những vị từng ngỏ lời cầu hôn con gái ông mà không được khỏi phải mất lòng, bằng những lời lẽ sau đây:


- Thưa quý ngài, hôm nay tôi rất hài lòng được thưa với quý ngài một điều bí mật cho tới nay tôi chưa hề ngỏ với ai. Tôi có một người anh họ là đại tể tướng vua nước Ai Cập cũng giống như tôi đây được vinh dự là bề tôi của vua Banxôra ta vậy. Ông anh tôi có một cậu con trai, ông không muốn cho con lấy vợ bên nước ấy, mà đưa sang đây xin được kết hôn với con gái tôi, để cho hai chi trong dòng họ nhờ vậy càng thêm gần gũi. Đứa cháu ấy là chàng trai mà hôm nay tôi vinh dự giới thiệu với quý ngài đây. Tôi mong quý ngài dành cho chúng tôi vinh dự là cùng tham dự lễ thành hôn của hai cháu, mà tôi quyết định tổ chức ngay trong hôm nay.


Tất cả nhà quyền quý có mặt hôm ấy ai cũng thấy rằng việc vị đại tể tướng chọn đứa cháu họ chứ không phải đám nào khác để gả con gái là việc làm phải, họ đều đáp rằng ông xử sự như vậy là đúng lắm. Họ sẵn sàng tham dự để làm chứng cho cuộc hôn nhân này, cầu Thượng đế cho hai cháu được sinh nhiều con cái và sống hòa thuận với nhau bách niên giai lão.


Quan khách ngỏ lời chúc tụng xong, mọi người cùng nhau ngồi vào bàn tiệc. Chén chú chén anh kéo dài suốt buổi. Tiệc tan, thức ăn tráng miệng được mang ra; theo phong tục ở đây ai muốn mang thứ gì về nhà thì xin cứ việc. Vừa lúc ấy các pháp quan bước vào, bản hôn ước cầm tay. Mọi người dự tiệc cùng ký vào làm chứng rồi ai nấy về nhà.


Khi khách khứa đã ra về, chỉ còn lại những người trong nhà, tể tướng hỏi những người được giao việc tắm cho chàng rể đã sẵn sàng chưa. Họ dẫn Nuarếtđin Ali vào phòng tắm, ở đấy đã để sẵn áo quần mới và nhiều thứ đồ dùng khác, thứ nào cũng sạch sẽ tinh tươm. Được các gia nhân tắm rửa kỳ cọ xong, chàng muốn dùng lại bộ quần áo của mình nhưng họ ngăn lại và đưa cho chàng những bộ đồ mới toanh. Ăn vận xong xuôi, xức nước hoa tuyệt hảo, chàng trai tìm đến chào bố vợ. Ông rất vui lòng thấy chàng quả thật tuấn tú khôi ngô. Ông cho chàng ngồi xuống bên cạnh và bảo:


- Con ạ, con đã có dịp nói cho cha rõ con là ai và phẩm tước của con bên triều đình Ai Cập. Con cũng đã nói là vì có chuyện cãi cọ với anh trai con cho nên con đã bỏ nước ra đi. Cha mong con hãy tin cậy cha hoàn toàn và kể hết cho cha nghe nội dung câu chuyện cãi cọ ấy. Con phải hoàn toàn tin cậy ở cha và không được giấu cha điều gì.


Nuarếtđin Ali thuật lại với tể tướng câu chuyện đã xảy ra với Sêmsếtđin Môhamết buổi tối hôm ấy. Nghe xong, vị đại tể tướng không nhịn được cười:


- Thật là chuyện kỳ cục ở trên đời - Ông nói. - Có thật là chuyện bất hòa giữa con và anh trai con lại chỉ vì một cái đám cưới vừa mới tưởng tượng nên? Cha thật không hài lòng vì con bất hòa với anh cả chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt không đâu như vậy. Tuy nhiên cha cũng thấy anh con đã sai mà xúc phạm đến con trong khi con chỉ nói đùa cho vui. Dù sao cha cũng tạ ơn trời đất là nhờ có sự bất hòa ấy mà cha có được một người con rể như con. Nhưng thôi - cụ già nói tiếp - đêm đã khuya rồi, đã đến lúc con đi nghỉ. Vợ con đang chờ con đấy. Sáng mai cha sẽ đưa con vào ra mắt nhà vua. Cha hy vọng là cả hai cha con ta đều sẽ hài lòng vì thái độ tiếp đón của vua.


Nuarếtđin Ali tạm biệt cha về phòng riêng của vợ.


Kể đến đây, tể tưng Giafa tâu với hoàng đế Harun An-Rasít:


- Điều kỳ lạ là ngay trong hôm đám cưới ở Banxôra, thì tại Cairô, Sêmsếtđin Môhamết cũng làm lễ thành hôn.


Chi tiết về đám cưới ấy như sau:


Sau khi Nuarếtđin Ali bỏ nhà đi với ý định sẽ không bao giờ trở lại nữa thì Sêmsếtđin Môhamết mải bận tháp tùng nhà vua Ai Cập đi săn. Cuộc săn kéo dài một tháng, vì nhà vua vốn là người say mê săn bắn; ông thường bỏ hoàng cung đi săn cả tháng. Xa giá vừa về đến nhà, Sêmsếtđin Môhamết vội đến phòng riêng của Nuarếtđin Ali. Chàng cực kỳ ngạc nhiên khi nghe nói em chàng viện lý do đi chơi vài ba bữa, đã cưỡi la ra đi ngay trong hôm nhà vua bắt đầu đi săn và tính ra đã tròn một tháng; từ bấy đến nay không ai gặp chàng ở đâu.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (15) - Antoine Galland 29.09.2018
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 28.08.2018
Sự tích cây nhãn (Em bé và Rồng con) - Phạm Hổ 28.08.2017
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 06.07.2017
xem thêm »