tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30947139
Tiểu thuyết
04.10.2018
Nghiêm Đa Văn
Sừng rượu thề


7


Đêm đã về khuya. Dòng sông đêm như rộng hẳn ra vì có biết bao nhiêu vì sao trời vỡ trên đầu những ngọn sóng hình như còn loang vết máu thể. Sương xuống nặng trên vai. Cuộc vui, vui mấy rồi cũng có lúc tàn. Cả khúc sông vừa mới náo nhiệt vang động tiếng trống chiêng, ồn ã tiếng hàng vạn người,bây giờ trở lên vắng lặng. Vì nhẽ ấy cái vắng lặng đầu tiên sau ngày hội bất ngờ lại thêm sâu thẳm. Ở hút chân trời xa chỉ còn thấy thoáng những bóng đuốc chập chờn lấm tấm từ trên sườn những dải núi xa mờ, như lẫn vào với trời cao. Ở đó bây giờ mới thực vào hội đó chính là bản doanh động Giáp ngày xưa,và là doanh trại của đạo quân Kép động hôm nay. Ở đó lúc này chắc hẳn rượu chảy ra tràn ngập như những dòng suối mùa nước lũ. Hình như trong hơi gió ướt đẫm sương đêm lướt nhẹ trên sông, như có mang theo một chút hơi men từ phía núi ấy, và âm vang tiếng nhạc cồng nhạc chiêng đệm theo bước chân nhảy múa vừa hùng tráng vừa tình tứ của vũ điệu khê động...


Theo lời mời của những tù trưởng khê động dưới quyền của phò mã Thân Cảnh Phúc thì hàng ngàn hàng vạn người dưới xuôi lũ lượt kéo nhau lên trên đó dự đám cưới tưng bừng nhất tự cổ chí kim chưa bao giờ có. Đã ba lần chúa động Giáp thống suốt ba mươi sáu khê động trong vùng được kén làm phò mã... Cứ suýt soát hai mươi năm một lần. Lần đầu chúa động Giáp là Giáp Thừa Quý chưa chịu quy phụ triều đình, khi Thái Tổ mới dời đô ra đất Thăng Long, thấy chúa Hoa Lư ra Thăng Long, rời hang hùm ra giữa cánh đồng bằng trống trải, Giáp Thừa Quý ngồi trước vò rượu cần đã bảo với thủ hạ rằng:


- Lâu nay là ta sợ con hổ nằm trong rừng thẳm, chứ đâu có sợ con hổ tham mồi chạy ra giữa nương lúa... Nay chúa động Hoa Lư đã về giữa vùng đất Đại La cũ của tướng Hán Cao Biền... Chẳng hoá ra là con cọp chạy về ăn dưa trong ruộng... Ta phải làm cho chúa động Hoa Lư khiếp sợ một phen...


Các tù trưởng các khê động ha hả cười tán thưởng lời phát lệnh của người thủ lĩnh tù trưởng thiện chiến, người đã đưa những khê động rải rác ở vùng bán sơn địa này từ những bộ lạc yếu đuối rời rã lên địa vị một bộ lạc lớn có thanh thế khét tiếng khắp mọi miền. Lúc đó, lời nói của vị thủ lĩnh Giáp Thừa Quý đâu phải có ý khinh trọng gì, khi gọi vua đầu tiên của triều Lý là chúa động Hoa Lư. Trở lại thời gian của hơn một kỷ trước, lúc bấy giờ,Lý Công Uẩn đã nối nghiệp vua Lê Đại Hành dựng nước tuyên bố độc lập. Trước vua Lê là vua Đinh Tiên Hoàng cũng đã xưng đế hiệu... nhưng trên thực chất thi việc xưng đế hiệu là việc làm có tính chất riêng của bộ lạc phương nam này mà thôi. Một sứ quân mạnh nhẩt trong mưới hai sứ quân cắt cứ khắp các vùng trong dải đất này, nay đánh thắng tất cả, bắt tất cả thần phục. Rồi tự mình xưng đế, tự mình coi mình là vua. Nhưng phạm vi toả lệnh của ông hoàng đế lúc bấy giờ cũng chỉ bò quanh những vùng đất trong tầm tiếng chiêng của động Hoa Lư. Còn các vùng khác vẫn là những bộ lạc độc lập riêng rẽ và thần phục. Mỗi khi có việc binh đao thì gióng trống tập hợp quân quyền rồi kéo nhau đi đánh dẹp. Đánh dẹp xong thì quân động nào lại về động ấy. Tướng động nào lại về làm chúa động mình. Nể chúa động mạnh nhất thì xuân thu nhị kỳ kéo nhau mang trâu bò vàng bạc đến triều cống theo lệ các nước chư hầu thần phục hoàng đế vậy… Ở ta có khác hơn ít nhiều, là kỷ cương chưa định rõ, nên thần phục chỉ vì chúa động Hoa Lư mạnh nhất, và thần phục theo sức mạnh đoàn kết mà thôi. Đoàn kết để đánh lại kẻ thù chung.


Nhưng khi Lý Công Uẩn quyết rời đô ra Thăng Long thì mọi việc khác hẳn. Những bộ tộc ở vùng đồng bằng nhận thấy ngay sức mạnh của nhà Lý nên thần phục nhanh chóng. Còn các bộ lạc miền thượng đạo thì vẫn coi nhà Lý chẳng khác gì chúa động Hoa Lư xưa. Nay chúa động mò xuống đông ở đồng bằng thì còn gì là sức mạnh nữa. Vốn có tinh thần thượng võ lại quen chinh chiến, chúa động Giáp lúc ấy là một chàng trai trẻ dũng mãnh, có tên là Giáp Thừa Quí, đã vì muốn thử sức chúa động Hoa Lư nên cất quân vượt qua mấy dòng sông về thành Thăng Long. Lúc bấy giờ thành Thăng Long chưa kịp xây dựng.


Đền đài miếu mạo mới lợp tạm bằng gianh, mới dựng vội vàng bằng nứa. Nhưng khí thế của một quốc gia đang cần thống nhất đã rõ. Vì vậy mà quân động Giáp hùng mạnh vẫn không thể nào vượt qua được dòng sông Cái. Núng thế chúa động Giáp thúc trống thu quân rút về động. Không ngờ Lý Thái Tổ thân chinh dẫn đại quân đuổi theo đến tận sào huyệt, đánh thẳng vào Giáp động và bắt sống Giáp Thừa Quí. Tất cả dân trong ba sáu khê động đều lo lắng.


Một tuần trăng sau, Lý Công Uẩn lại đưa quân lên động Giáp. Lần này, dân khê động sợ xanh mắt; họ cho rằng phen này chúa động Hoa Lư sẽ làm cỏ cả vùng khê động này,vì thế nhiều tù trưởng đã có ý đinh đưa động mình chạy dạt đến một vùng nào khác. Nhưng Lý Công Uẩn không trả thù, không đưa Giáp Thừa Quí về bằng xe tù đóng cũi mà cùng đi ngựa với nhau như hai thủ lĩnh. Không những thế, sau hai người còn có chiếc kiệu sơn son thiếp vàng. Vừa về động Giáp, thủ lĩnh Giáp Thừa Quí đã truyền cho tất cả các thủ lĩnh tù trưởng và ba mươi sáu khê động về hội, rồi xin cắt máy ăn thề thần phục Lý Công Uẩn… Không phải thần phục như thần phục một tù trưởng hùng mạnh, mà là thần phục một ông vua. Lý Công Uẩn không bắt tội Giáp Thừa Quí mà còn gả con gái cho, lại truyền cho phép đổi họ, từ họ Giáp thành họ Thân, vì từ nay, Thừa Quí là một vị thân vương của triều đình. Cái đám cưới của công chúa đầu tiên của xứ này tiễn dâu bằng gươm giáo, sặc mùi khói lửa.


Hơn hai mươi năm sau đám cưới thứ hai đã mang một sắc thái khác. Con trai Thân Thừa Quí lên nối nghiệp cha làm chủ động Giáp kiêm chức châu mục Lạng Châu, thì nhà vua lại gọi gả công chúa Bình Dương. Đám cưới đó cô dâu công chúa ra đi tuy không phải mạo hiểm như lần theo vua cha phủ dụ buổi mới lập quốc, nhưng chưa đủ các thứ lễ nghi cần thiết cho một đám cưới của con vua. Lễ vu quy vẫn có cái gì xót xa mạo hiểm thân gái dặm trường. Hai lần ra đi cách nhau hai giáp của hai nàng công chúa bậc bà, bậc cô mở đường cho đám lễ vu quy rực rỡ ngày hôm nay… Lễ vu quy hôm nay không những là ngày hội của triều đình mà còn là ngày hội của vùng giáp động mênh mông và suốt cả vùng Lạng Châu trực thuộc. Đám cưới này có máu ăn thề trên dòng sông Như Nguyệt. Đám cưới này có gươm đao diễu vô giương oai như lễ ra quân của khắp vùng biên ải. Đám cưới này có lửa của ngàn vạn ngọn đuốc soi đường, lửa của những đám thui bò, nướng trâu, quay dê lợn…


Ở nơi đây núi chập chờn lập loè muôn ngàn ánh đuốc lửa như sao sa kia đang vào lúc hội vui nhất của ngàn vạn con người. Còn ở nơi cầu quán của đạo lão tu tiên phái nam ngạn sông này trong bóng tối âm thầm chỉ có một mình vị Tiết chế tướng quân, giữ quyền tể chấp vương triều. Lệ tục của bản triều và nỗi lòng riêng ngăn ông tới nơi hội vui. Ông chưa thể về ngay kinh đô vì lên đây, ông còn mang một trách vụ nặng nề của triều đình. Đoàn chiến thuyền đón ông dưới bến sông để đưa ông đi kinh lý việc quân cơ đã cắm sào đỗ sẵn trên bến sông này. Nhưng ông không vội xuống thuyền, dù đấy là con thuyền Dực Long rộng lớn dành riêng cho tướng công Tiết chế. Ông muốn ngồi lại một mình trong ngôi nhà cầu quán của các pháp sư và tín đồ đạo Lão dựng lên cho khác bộ hành trên con đường qua bến sông này. Gió từ dưới sông thổi thốc qua những nhịp vì kèo nổi tiếp của cầu quán trống trải. Sương đêm tràn vào lạnh buốt…


Vị tướng quân Tiết chế ngồi im lặng với nỗi lòng riêng của mình không thể chia sẻ cho bất cứ một ai. Người mà ông có thể chia sẻ nỗi lòng mình đã vĩnh viễn không còn nữa. Vì thế mà ông câm lặng hơn cả cái bóng. Ông biết rằng không phải tất cả trai gái đều kéo nhau lên tận vùng động Giáp lấp lánh đuốc hoa như sao sa kia để vui ngày hội đâu. Cái lệ đất này vào những dịp vui hiếm có này từ lâu ông đã biết được tường tận. Trai gái đất này vốn vẫn giữ phong lệ rất thuần phác từ ngàn xưa. Từ ngày các thứ đạo lý các thứ giáo phái tràn vào trong làng trong chạ có thêm bao nhiêu điều cấm kỵ. Nhưng cấm kỵ chỉ giữ được trong những chuyện thường ngày, nhưng trong dịp hội hè như hôm nay, tất cả những điều cấm kỵ đó trở nên vô nghĩa hết. Con người lại sống thuần phác hồn nhiên như buổi mới sơ khai. Trai gái gặp nhau họ hát giao duyên những câu hát mộc mạc, nếu họ ưa nhay, thì họ rủ nhau về nương dâu, luồn đồng mía, lẩn giữa rừng lim tự tình thoả thích… Trong đêm này, biết bao cặp trai gái đang tự tình trong bóng đêm huyền ảo bao phủ quanh đây… Đối với họ không cần phải vượt bao nhiêu độ đường đến cái nơi có rượu nồng dê béo mới mua nổi niềm vui. Họ chỉ cần có đôi có lứa bên nhau đã là ngày hội của tuổi xuân phơi phới rồi… Vì thế không khí và sương đêm bao quanh vai của vị Tiết chế ướt đẫm hương vị mùa xuân ân ái…


Vị tướng quân thở dài, và cay đắng nhớ lại những ngày mình còn ở tuổi hoa niên phơi phới sức sống say mê… Đã ba mươi năm qua trong bóng đêm sóng sánh ánh sao này, Lý Thường Kiệt như vẫn còn nhìn thấy cái dáng đi dũng mãnh uyển chuyển của chàng trai phường Thái Hoà, họ Ngô tên Tuấn, vừa được phong chức kỵ mã vệ uý súng sính trong bộ áo giáp mới lĩnh trong kho. Lĩnh xong bộ giáp trụ mới tinh lấp lánh ánh thép, anh chàng kỵ mã hiệu uý, diện ngay lên người, và dắt con ngựa mới được phát ra khỏi tàu ngựa của trại quan. Cái chức kỵ mã hiệu uý là cái chức quan võ nhỏ nhất trong đội quân cưỡi ngựa của nhà vua. Một chức võ quan cuối cùng trong sổ ngạch võ, người giữ chức hiệu uý chỉ huy có một hiệu quân. Như thế anh chàng Ngô Tuấn được phong chức hiệu uý chỉ chỉ huy đúng có năm người lĩnh cưỡi ngựa. Nói cho đúng hơn, anh ta chỉ có quyền chỉ huy có bốn tên kỵ binh. Vì hiệu quân tính cả anh mới đủ năm người. Anh là hiệu uý, thì anh chỉ huy bốn người kia. Cái chức quan vô nhỏ nhoi ấy đối với người nào khác có lẽ là một điều tủi thân, nhưng với người con trai côi cút sinh ở phường Thái Hoà lại là điều vinh hạnh nhất. Dù sao anh cũng đã là võ quan, dù là chức võ quan nhỏ bé.


Anh dắt ngựa đi vòng cấm thành, rồi nhảy lên ngựa thả nước kiệu đi qua các phường phố Thăng Long ngày ấy chỉ mới có mấy ngôi chùa và cung điện nhà vua được xây bằng gạch, lợp bằng ngói, còn tất cả nhà cửa phường phố mới dựng tạm bằng tranh tre nứa lá như một vườn làng, chạ lớn, chạ nhỏ tiếp chạ kia… Anh chàng kỵ mã hiệu uý vênh vang thả cương đi nước kiệu nhằm thẳng phường Thái Hoà. Anh nhằm về phái nhà người cậu của mình, người cậu lấy cô ruột mình là trumg phường một phường thợ gốm. Phường thợ gốm của cậu Tạ Đức ở sát ngay phường Thái Hoà. Ở đó khói lò nung gốm bốc lên nghi ngút. Kinh đô đang cần dựng đền đài, xây cung điện, lập chùa chiền, nên thợ gốm được trọng vọng. Anh chàng hiệu uý kỵ mã trẻ tuổi vừa lỏng buông cương ngựa vừa tưởng tượng ra cái cảnh sửng sốt của người cậu của mình khi thấy ngựa quan đi thẳng vào lò nung gốm. Chắc hẳn khi nhận ra chính đứa cháu mà cậu có công nuôi dạy, bù trì,, bây giờ đã trở thành một võ quan của quân cấm vệ chắc hẳn người cậu tốt bùng này nước mắt phải giàn giụa vì bồi hồi xúc động. Nhưng cái tính của cậu thì Ngô Tuấn biết lắm. Cậu sẽ chẳng bao giờ nhận mình đã cảm động phát khóc lên đâu. Nếu có ai nói lên điều đó thế nào cậu cũng vừa lau nước mắt vửa chửi theo kiểu tín đồ đạo phật:


- Bá ngọ nhà mày, tao mà khóc à… Tại khói lò nung mù mịt cay cả mắt… thằng phó nhỏ đâu… thông lò hơi đi… khói thế này ai mà chịu nổi…


Nghĩ đến cảnh tượng ấy, chàng trẻ tuổi cảm thấy lòng mình lâng lâng thanh thản. Chàng đúng là một chàng trai như mọi chàng trai của đất Thăng Long mới dựng nghiệp đế đô. Gốc gác quê chàng ở đâu chính chàng không biết. Chàng chỉ biết cha chàng đã theo Lý Công Uẩn về đây cắm đất dựng đô. Cha chàng là một võ quan giữ chức lang tướng. Họ Ngô, tên An Ngữ. Chức lang tướng trong quân không phải là chức võ tướng đáng kể gì nhưng trong buổi mới dựng nước, mới lập đô, một vị lang tướng cũng có chút ít vinh hoa. Vì thế vị lang tướng họ Ngô sau khi đã theo vua ra Thăng Long thì cưới một co gái người phường Thái Hào. Vào năm Thuận Thiên thứ mười, tức là vào năm thứ mười xây dựng mảnh đất thành Tống Bình và thành Đại La cũ thành kinh đô Thăng Long, thì hai vợ chồng vị lang tướng có đứa con trai đầu lòng. Vì lẽ ấy Ngô Tuấn là một chàng trai Thăng Long gốc. Sinh ở phường Thái Hoà. Phường Thái Hoà thủa ấy là một phường dệt gấm. Cậu bé Tuấn lớn lên bên gối mẹ, dưới cái dàn khung cửi ngày đêm lách tách tiếng thoi. Còn cha cậu thì cắp giáo theo vua đi hết cuộc chinh phạt này đến cuộc chinh phạt khác. Đời người lính thủa ấy mới gây nghiệp vất vả gian truân không thể kể sao cho xiết. Năm Tuấn vừa mới mười ba tuổi thì cha Tuấn cắp giáo đi tuần biên tại miền Thượng Châu. Việc đánh dẹp dân khê động gian truân, việc vỗ yên các tù trưởng ương ngạch vất vả, nước độc sơn lam chướng khí không dứt vì thế mà vị lang tướng cha của Tuấn mắc bệnh thời khó nặng, không thuốc men chạy chữa đã qua đời. Gửi nắm xương tàn nơi biên ải.


Từ thửa nhỏ cậu bé Ngô Tuấn chỉ mơ ước được lớn lên theo vó ngựa của người cha tung hoành khắp giang sơn đất nước. Cậu vô cùng yêu quý cha. Vì thế mà khi nghe tin cha chết cậu khóc tưởng chừng cạn khô nước mắt. Khóc tưởng chừng tròng mắt không còn có đủ nước mắt mà khóc nữa, chỉ có máu ứa ra mà thôi. Thấy đứa cháu trai hiếu thảo, người dượng lấy cô ruột em cha Tuấn từ phường gốm gần sông Tô Lịch lên nhà tìm cách an ủi khuyên nhủ. Ông nói với cậu bé Tuấn rằng:


- Dượng thương cháu, mới tí tuổi đầu đã mồ côi bố, lấy ai dạy dỗ chăm sóc nên người, lấy ai gây dựng cho thành sự nghiệp… Nay cháu về ở với dượng… dượng là trùmg phường. Phường làm gốm vào buổi dựng kinh đô, công việc nhiều, dân tứ chiếng đổ về đây mua đồ ăn thức dùng như trẩy hội, thì khói lò không bao giờ dứt cả. Cháu là đứa trẻ khôi ngô tuấn tú, lanh trí khéo tay, dượng sẽ chọn dạy nghề cho. Sau này giỏi nghề, hoặc chờ thay dượng lên làm trùm phường. Hoặc nối cần lập nghiệp riêng dượng giúp vốn sẻ phường, để cháu tự lập một phường thợ mới. Ở đời này, nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, cháu ạ.


Cậu bé Ngô Tuấn lắng nghe, rồi lắc đầu thưa rằng:


- Xin trăm lần đội ơn cậu… nhưng cái chí của cháu không đặt trong ngọn lửa lò nung đất.


- Nhưng mắt chát tinh cơ mà?


- Mắt cháu tinh không phải để nhìn vào bàn xoay mà là để nhìn ra bốn cội, nhìn khắp càn khôn.


- Tay cháu khéo cơ mà?


- Tay cháu khéo là để luyện thế võ, cầm chuôi bảo kiếm nhấc ngọn trường thương, che cánh khiên rộng.


- Chân cháu khoẻ có thể đạp bàn xoay suốt ngày không mỏi.


- Chân cháu khoẻ là để đi khắp núi sông ra miền biên ải như cha cháu, xông pha chiến trận mở mang bờ cõi. Lập nghiệp phò vua, tạo dựng sự nghiệp…


Ông cậu thở dài, biết là không lay chuyển được ý định sắt đã của đứa cháu mồ côi của mình. Ông lại lựa lời khuyên nhủ thêm.


- Bây giờ cha cháu đã chết. Sẩy cha có chú, sảy mẹ bú dì… Nhưng nếp nhà ta vân theo tục xưa, giữ quyền ông cậu trong nhà và quyền người mẹ đối với con cái… Dượng vẫn giữ quyền bảo trợ của dượng đối với cháu. Cháu nghĩ thế nào?


Cậu bé Ngô Tuấn cúi đầu:


- Dạ thưa cậu, trăm lệ mới, không bằng một tục ngàn xưa.


- Được, cháu đã hiểu như thế, để cậu lo cho cháu. Cháu đã mồ côi, thì mọi việc của cháu do cậu định đoạt. Bây giờ cháu không để cái chí vào học nghề thợ khéo để nối nghiệp cậu, thì cháu muốn học cái gì. Cậu làm ăn phát đạt dư dật có thể giúp cháu, chu cấp cho cháu học đến lúc thành tài. Cháu học chữ nhá. Các nhà nho đã bắt đầu mở trường dạy chữ thánh hiền trong kinh đô. Nghe nói học làu thông kinh sử sau này có thể làm quan văn đứng đầu lục bộ.


Ngô Tuấn cúi đầu:


- Vâng cháu xin cậu cho cháu đi học.


- Thế cháu định học mười năm hay học lâu hơn nữa…


- Không cháu chỉ học một năm thôi.


- Sao, cậu nghe nói bể học của đạo thánh hiền mênh mông không cùng. Học một năm sao cho đến đầu đến đũa?


- Cậu ạ, với cái trí của cháu, về văn chương từ phú thì chỉ cần học để nhận đủ mặt chữ. Viết được quân lệnh. Ký được tên dưới ấn phong hầu. Thế là đủ.


Ông cậu Tạ Đức ngạc nhiên:


- Cháu chỉ học một năm thì sau cháu làm gì… Sau một năm học chữ cháu mới lên mười bốn tuổi, hãy còn bé lắm.


- Sau học chữ cháu sẽ xin đi học võ. Cháu muốn đi xa vạn dặm để lập công, để làm vẻ vang cho gia tộc, cho cha mẹ. Đó là sở nguyện.


Tạ Đức khen đứa cháu mình có chí lớn. Từ đó chu cấp cho Ngô Tuấn ăn học. Học chữ đúng một năm, Tuấn tìm thầy học võ. Đêm đọc sách binh thư, ngày cưỡi ngựa, bắn cung, múa gươm, đánh thương, lăn khiên, lập doanh bày trận… Ngô Tuấn lớn lên nổi tiếng là chàng trai hào kiệt vũ dũng ở phường Thái Hoà. Ông Tạ Đức mến cháu hứa gả cô con gái rượu của mình cho cháu. Con gái Tạ Đức là nàng Thuần Khanh, xinh đẹp nhất trong các cô gái ở phía tây kinh thành ven bờ sông Tô Lịch. Cứ đến ngày phiên chợ sứ gốm, người kẻ chợ dân tứ chiếng kéo nhau lên chợ gốm bên sông Tô mua bán, không ai không kháo nhau vào xem cô con gái có hoa tay, lạ kỳ xinh đẹp. Cô ngồi nghiêm trang trên một cái sập gỗ, quanh cô là những chồng bát, chồng đĩa mộc, những bát hương, những bình hoa, những thạp, những âu mộc mới vặt từ đất phơi khô chứ chưa nung, chưa tráng men. Trước mặt cô là ống bút và những nghiên màu. Cô thoăn thoắt vẽ con cá vào đĩa, con gà vào thành bát, vẽ rồng trên bát hương, vẽ trúc tùng mai cúc trên những thành lạp… bàn tay của cô thon thả cứ như múa bông, và có phép bắt tất cả chim muông cầm thú cây cỏ hiện về trên những đồ sức đồ gốm quý mà cha cô sẽ nung trong lửa đỏ của lò gốm lò sứ.


Trước khi có lời hứa hai trẻ đã bén hơi bén tiếng nhau rồi, nên khi được lời hứa gả Thuần Khanh, anh chàng Ngô Tuấn cảm thấy lòng mình phơi phới. Bây giờ đối với anh chỉ còn lập nghiệp nữa là anh quyết bảo mẹ sang xin cưới thôi. Cả Thuần Khanh cũng hết lòng mong mỏi ngày anh được coi là võ quan, như thế thì coi như cái chí lập thân đã thành tựu. Bây giờ, triều đình đã nhận anh vào quân ngũ, đã phong anh chức kỵ mã hiệu uý. Tuy cái chức quan này quả là quá nhỏ mọn, chỉ chỉ huy có bốn người kỵ mã khác mà thôi, nhưng không sao. Với chức quan này anh đã có thể xin cậu cho cưới Thuần Khanh về làm vợ, để Thuần Khanh phụng dưỡng mẹ già. Như lời hứa của Tạ Đức, không những gả Thuần Khanh, ông còn cho hai vợ chồng viên võ quan trẻ tuổi cả một cái lò gốm, dựng cho ngay tại chân ngọn đồi đất thấp ở cuối phường Thái Hoà, để cô con gái có hoa tay tiếp tục vẽ trên đồ sứ gốm làm giàu cho họ nhà chồng, nuôi chồng nuôi mẹ chồng, để chồng yên tâm trên con đường công danh trong chiến trận hào hùng như đã sở nguyện.


Vì những lẽ ấy, có thể là chưa có một ai khi được phong một chức võ tướng nhỏ mọn mà lại vui như Ngô Tuấn. Ngô Tuấn thả nước kiệu nhằm thẳng phường Thái Hoà. Anh sẽ về qua nhà, khoe với mẹ và để cho cậu em là Ngô Hiển phải lác mắt một phen. Vì chuyện mẹ thấy con thành võ quan chắc mẹ vừa vui lại vừa buồn. Vui vì con đã khôn lớn, đã thành đạt, lại sắp được đến cữ cưới về một nàng dâu giỏi giang nết na, xinh đẹp. Nhưng buồn vì đứa con này lại giống bố từ đây sẽ lại phiêu bạt nơi biên thuỳ gian truân trận mạc, đi giữa hòn tên mũ đạn, rừng gươm bể giáo, cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Không một người mẹ nào, ngay cả người mẹ anh hùng lại muốn con mình vào nơi nguy hiểm, gian lao. Nếu mẹ đừng buồn thì hay biết bao nhiêu không? Mẹ phải hiểu cái chí của kẻ làm trai chứ. Ngô Tuấn nghĩ vậy và đã tính trước rằng, anh chỉ báo tin để mẹ mừng thôi, rồi anh phóng ngay ngựa xuống lò gốm bên sông Tô Lịch của cậu. Anh cứ tưởng như minh đã có mặt trước nàng Thuần Khanh duyên dáng đang ngồi trước núi các chén bát, đĩa hình, âu lư với trăm ngàn thứ chim muông cây cỏ rực rỡ. Anh đứng trước nàng, trên lưng chiến mã, trong bộ giáp trụ võ quan rực rỡ với vũ khí oai phong. Rồi anh giật cương cho con ngựa chiến nhảy qua những đống bát đĩa, bình men, bình gốm, bình sứ chồng đống dễ vỡ. Vó ngựa anh sẽ rất tài tình, nhưng tạo nên những giây khắc nguy hiểm làm cho nàng Thuần Khanh phải sợ xanh mắt và sau cái sợ phải phục tài cưỡi ngựa khét tiếng của anh. Nói giấu mọi người chứ, để làm được cái trò cưỡi ngựa nhảy giữa đống bát đĩa gốm này, anh chàng kỵ mã hiệu uý trẻ tuổi đã phải đút lót cho bác hoả đầu quân người xứ Đông Xá một quan tiền để bác cho mượn bát đĩa bếp, và đút lót cho viên giám năm quan (bằng cả một tuần trăng lương ăn võ quan) để hắn cho mượn ngựa ngoài giờ mà tập suốt. Nhưng chuyện tập tành ấy nào có ai biết đâu, chỉ biết bây giờ biểu diễn cái môn cưỡi ngựa nhãy nước kiệu qua những đống đồ dễ vỡ, anh sẽ làm cho cả cái phường gốm bên sông Tô Lịch phải phục anh sát đất. Mà người phục anh nhất có lẽ lại chính là người tình của anh, nang Thuần Khanh xinh đẹp…


Và sau đó, chắc chắn ông Tạ Đức sẽ cho hai trẻ tự tình với nhau để bàn bạc đến một ngày cưới vui vẻ hạnh phúc.


Ngô Tuấn mơ màng đến những phút tình tự êm đềm… Chiếc khên mây đan có kết bằng đồng thau vẫn đập bên mình ngựa ngay dưới chân anh. Như lời hứa của nàng Thuần Khanh, khi anh được phong chức, dù là cấp gì, thì nàng sẽ tự tay vẽ cho anh những hình ảnh đẹp nhất vào cái khiên trận, để anh tin là anh dù có xông pha nơi hòn đạn mũi tên, rừng gươm bể giáo thì vẫn có bàn tay nàng theo anh che chở và cầu mong anh chiến thắng trở về. Còn gì thơ mộng hơn cảnh những kẻ mê say nhau, chụm đầu nhau trong ngôi nhà lộng gió, nồng hơi đất nung từ các lò phả vàp, và cùng vẽ bức tranh hào hùng trên mặt chiếc khiên trận… Chỉ nghĩ như thế thôi, chàng kỵ mã hiệu uý Ngô Tuấn chỉ muốn con ngựa của mình mọc cánh bay thẳng đến nhà người tình…


Nhưng chàng trai võ tướng vừa đến đầu phường Thái Hoà thì giật bắn mình vì tiếng kêu khóc và tiếng la hét inh ỏi. Người trong phường, người các nơi kéo ra đông như kiến cỏ. Anh lại thấy những xe những kiệu có khảm vẽ hình rồng. Như thế là kiệu xe mang biểu tượng của nhà vua. Là một võ quan có kỷ luật, trọng lệ quân, nên chàng kỵ mã hiệu uý vội nhảy xuống ngựa đứng dạt ra bên đường. Anh nghe tiếng bàn tán xôn xao của đám dân gian, quanh quán nước chè xanh, quanh tửu điếm…


Ai đó nói bằng một giọng lỗ mãng:


- Được kén vào hầu vua sướng bỏ mẹ, ăn trắng mặc trơn, còn tiếc cái nỗi gì mà khóc…


Một người nào đó áng chừng là một nhà nho dằn nậm rượu cười ha hả:


- Chuyện, đến cô dâu về nhà chồng còn khóc nữa là… Vì nhẽ ấy mới có câu rằng: cười như thầy khóa hỏng thi… khóc như thiếu nữ ngày đi lấy chồng…


Dứt lời chàng ta tự cười một mình. Bởi vì lúc đó ở cái đất Thăng Long này chưa ai hiểu thế nào là thi cử, là hỏng thi. Việc học tuy đã vào đất Giao Chỉ này từ lâu, cách đây hơn mấy chục năm người ta đã dựng văn miếu, nhà vua mời thầy dạy hoàng tử trong quốc tử giám nhưng nào đã ai biết đến chuyện thi cử là gì. Còn cái việc nhà vua mở khoa tam giáo đồng nguyên cũng chỉ là việc tập hợp các nhà tu hành, các bậc chân tu, các bậc túc nho lại để khảo kinh khảo sách mà thôi. Còn con gái thời ấy có nơi còn giữ nguyên cả lệ tục nhà gái đi cưới chồng cho con, như thời trước cả ngàn năm Bắc thuộc, có nơi còn giữ nguyên phong tục cướp vợ, lại có nơi giữ tục bắt chồng, theo lệ nối dây… Vì thế con gái về nhà chồng mà khóc thì cũng là chuyện người dân Thăng Long hồi bấy giờ chưa thật quen lắm. Nhưng cái chuyện bắt cung nữ mới xảy ra một vài lần trong mấy chục năm thì dân gian đã từng biết. Và người ta khóc là phải. Từ ngày lập nghiệp nhà Lý đến nay, lần này là lần thứ ba các vua nhà Lý học các bậc hoàng đế Trung Hoa tuyển cung tần mỹ nữ nhập cung. Lần thứ nhất sau khi vua Lý Thái Tổ định đô. Đó là lần đầu tiên ở cái đất Giao Châu này có lệ tuyển cung tần mỹ nữ nhập cung. Trước đây tuy cũng đã có các triều như Bố Cái Đại Vương, Lý Nam Đế, Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành… nhưng các triều này quy mô tổ chức triều đình còn rất đơn giản, chưa khác gì nhiều bộ máy gia đình của người thủ lĩnh những bộ lạc lớn, có nhiều bộ lạc chư hầu. Các chuyện về nội cung chưa đặt ra. Lúc ấy vua có thể lấy nhiều vợ, có vua lập đến bốn năm sáu hoàng hậu một lúc, và có nhiều vị nữ hầu, nhưng chưa nghĩ đến việc lập nội cung. Ngày ấy các chiều vua chưa dựa hẳn vào lý thuyết của đạo nho để lập thành quốc gia có vương triều vững mạnh. Vì lẽ ấy mà ngay cả hoàng hậu cũng có quyền tái giá ngang nhiên, được tất cả mọi người đương thời chấp nhận. Vì thế mà Thái hậu họ Dương, tên là Vân Nga, sau khi vua Đinh băng hà, có thể vì việc quân cơ mà kết duyên ngay với thập đạo tướng quân Lê Hoàn, truyền áo bào và ngôi báu để cùng nhau chống Tống. Thời ấy, cái đám cưới khi chưa hết hạn tang chế này, chẳng có gì là trái đạo lý cả. Không những thế mà còn có tác dụng đoàn kết phe của Thái hậu và phe võ tướng của Lê Hoàn thành một lực lượng thống nhất đủ sức phá quân xâm lược nhà Tống. Rõ ràng là cái đám cưới này không thể yên với các nhà nho. Vì thế về các đời sau, các nhà nho viết sử, đã không tiếc lời chê trách bà Thái hậu Dương Vân Nga thậm chí họ còn vứt tượng bà khỏi đền thờ và lăng miếu họ Đinh nữa. Nhưng chuyện đó là chuyện của đời sau, khi các thứ thuyết lý đạo nho đã ăn sâu vào đời sống tinh thần nước ta. Chứ thời ấy, mọi việc mới bắt đầu… Lý Công Uẩn bắt đầu lấy mẫu của các hoàng đế Trung Hoa để dựng đô lập triều, định quan chức và lập nội cung, kén cung tần mỹ nữ.


Các bậc túc nho thì coi tất cả mọi việc như thế này là điềm hưng thịnh của đất nước. Vua phải có triều đình, có văn võ bá quan, có mở khoa thi kén người tài, có nội cung, có cấm thành mới đúng là vua của một vương quốc sánh ngang cùng các vua Đường, vua Tống. Chứ cứ ru rú sống trong động đá, với mấy bà vợ như mấy bà áp trại phu nhân, với đám tướng tá tuỳ tòng như các tay chân thì dù có mạnh mấy cũng vẫn chỉ là nước man di mọi rợ mà thôi.


Những bậc đại nho chờ thời, ngồi trong tửu quán đàm luận việc này, nhưng anh chàng kỵ mã hiệu uý bỏ ngoài tai. Đối với anh lúc này, là chỉ mong sao cho cái đám rước mang nghị vệ của nhà vua đầy tiếng khóc và tiếng la hét kia mau mau đi hết đi, để anh tế ngựa về với mẹ rồi đến với người yêu. Anh là người lính chiến, việc của anh là cây thương ngọn kiếm, nơi của anh là chiến trường, anh quan tâm làm gì đến cái việc trong nội cung. Cái việc mấy chục năm mới lại diễn ra có một lần… Nhà vua có thể lấy mười vợ, hai mươi vợ, ba mươi vợ đó là quyền của nhà vua… Chẳng dính dáng gì đến anh cả, anh đã có nàng Thuần Khanh của anh rồi. Cậu anh và mẹ anh sẽ lo đám cưới cho hai đứa. Anh vẫn cứ lo việc binh nhung, vợ anh mang của hồi môn về cho anh một cái lò gốm. Với tài vẽ hoa khéo léo của vợ anh, gia đình anh sẽ trở thành một gia đình khá giả ở chốn kinh thành đô hội này. Ước mơ của đời làm trai của anh như thế còn gì đáng phiền trách nữa…


Và những điều mơ ước đó đang sờ nắm thấy tận tay, nhưng anh đang sờ thanh gươm, đang nắm chiếc dây cương con chiến mã vậy. Đứng trước đám người hỗn độn đang xô đẩy nhau, anh tiếp tục mơ ước cái cuộc sống êm đềm nhưng hào hùng của một võ quan nhà nghề. Anh không thấy những chiếc kiệu buông rèm khí ở trong nức nở tiếng khóc gọi tên cha mẹ, gọi tên người tình. Anh cũng không thấy hàng ngàn thân nhân và người trong phường chen chúc nhau cố nhìn mặt những người con gái đẹp nhất nhà mình, cha mình, phường mình, họ mình lần cuối cùng… Vì đã vào chốn lãnh cung thì có mấy ai trở về mà gặp mặt được người thân. Vì thế đám tiễn đưa này có khác chi một đám ma đưa trước cho người sẽ chết mòn mỏi trong cung cấm… Vì mải nghĩ đến giấc mộng hạnh phúc của mình, chàng hiệu uý kỵ mã trẻ kia chẳng để ý gì đện mọi chuyện xung quanh, chẳng để ý đến hàng ngàn hàng trăm người gào khóc… Cuộc đời đang cười với chàng, chàng đâu có thì giờ để chia buồn cùng những giọt nước mắt…


Nhưng chàng giật bắn mình vì có người giằng tay dây cương ngựa của chàng. Chàng lùi lại định bạt kiếm bằng một thế võ nhanh nhất, thần tốc nhất. Nhưng khi mắt chàng trừng lên nhìn kẻ giật cương ngựa của chàng, chàng giật bắn mình, vì không tin ở mắt mình nữa. Sao trước mắt mình lại chính là bà mẹ kính yêu đã từng ở vậy nuôi mình đang khóc vật vã. Việc gì mẹ phải khóc trong lúc này nhỉ? Mẹ goá chỉ có hai người con trai, anh và Hiến. Có đứa con gái nào để bị bắt vào lãnh cung đâu mà khóc. Nhưng nhìn bên cạnh anh thấy cậu Tạ Đức cũng nước mắt lưng tròng thì anh hiểu tất cả. Và chết lặng đi. Giọng cậu buồn da diết đầy nước mắt:


- Tôi đã giục anh làm lễ cưới hỏi từ năm trước mà anh nào có nghe tôi, anh cứ xin được lập nghiệp đã rồi mới xin cưới… Thế là bây giờ thì anh mất vợ, tôi mất con… Con tôi vào lãnh cung sẽ chẳng bao giờ trở lại nữa… Khổ thân tôi… Con ơi là con ơi…


Người thanh niên vũ dũng ấy đã chết lặng và ngất đi trên tay mẹ giữa cái đám ma kỳ lạ đưa tiễn người sống…


Từ đó chàng Ngô Tuấn như kẻ chán đời suốt ngày đắm mình trong rượu để quên sầu. Mấy lần bà mẹ thương con nói chuyện cưới một người vợ khác cho con, nhưng Ngô Tuấn gạt đi. Người cậu Tạ Đức cũng thương xót, đã có ý gả đứa con thứ, tên là Thuần Khiết cho nhưng chàng lắc đầu không thuận. Thuần Khiết em Thuần Khanh tuy không đẹp bằng chị, không duyên bằng chị, nhưng cũng hao hao vóc dáng, lại thuỳ mị nết na. Tạ Đức nghĩ, hay là cứ gán ghép vào thành gia thất, may ra cháu mình có nguôi nguôi được phần nào không. Vì lẽ ấy ông đã nhiều lần đưa nàng Thuần Khiết đến gặp Ngô Tuấn. Nhưng vừa thấy Thuần Khiết là chàng nổi điên lên. Một chứng điên lành thôi. Chỉ ôm mặt mà khóc không dứt. Không nói không rằng. Chỉ khi nào Thuần Khiết đi khỏi thì chàng mới dần dần tỉnh lại mà thôi không khóc nữa. Cả một năm dài chàng thương nhớ Thuần Khanh bao phen muốn cắt tóc đi tu, nhưng còn mẹ già nên đành thôi. Bao phen lại muốn theo những thuật sĩ đạo lão vào thâm sơn cùng cốc luyện thuốc tiên lánh hẳn việc đời, nhưng lại nghĩ đến đứa em chưa gây dựng lại phải gác lại cuộc viễn du. Chàng cứ thế uống rượu như hũ chìm. Trong cơn say chỉ biết gọi tên Thuần Khanh rồi ngất đi. Trong cơn mơ chàng chỉ mơ thấy hình bóng chập chờn của Thuần Khanh giữa rừng cây cỏ chim muông huyền ảo chính do bàn tay nàng vẽ ra… Thăng Long vào thời đang gây dựng ấy đã bắt đầu có phường ca kỹ và có những sòng bạc đánh bài chẵn lẻ gọi theo tiếng Triêu Châu là bài tái sửu. Chán đời chàng bỏ bê công danh vùi đầu vào cờ bạc thâu đêm suốt sáng, đi hát dưới xóm liền vả tuần trăng không về… Cửa nhà vì thế khánh kiệt. Bà mẹ thương con, buồn cho con, sinh bệnh mà chết. Năm ấy anh chàng hiệu uý kỵ mã phóng đãng mới có mười tám tuổi. Cái chết của bà mẹ làm chàng hoàn toàn tỉnh ngộ. Chàng tự tay lo liệu tang ma cho mẹ chu tất. Lo đủ mọi lễ tống táng. Trong lễ tiết tang ma, hễ việc gì anh cũng tự tay làm lấy để tỏ lòng ăn năn hiếu thảo, chuộc lại cái lỗi mình phóng đãng bê tha, làm mẹ đau buồn mà mất.


Mẹ mất đoạn tang đầu chẵn một trăm ngày như tục cũ của đất này, chàng Ngô Tuấn tìm mọi cách xin cho em mình là Ngô Hiến, được hưởng tập ấm của cha nguyên là Sùng bang lang trung đã tử trận. Ngô Thường Hiến được bổ chức hiệu uý kinh binh. Sau đó, Ngô Tuấn lại sang nói với cậu Tạ Đức xin gả Thuần Khiết cho Thường Hiến. Cậu Tạ Đức vì thương cháu mà bằng lòng. Tuy đứng ra dựng vợ gả chồng cho em nhưng hôm cưới, Ngô Tuấn lánh mặt.


Lo xong việc hiếu cho mẹ, thu xếp chuyện sự nghiệp gia thất cho em xong, Ngô Tuấn gọi Thường Hiến đến bên mà nói rằng:


- Từ nay em phải thay anh giữ hương khói, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường… Nghiệp của cả dòng họ ta anh đành trao lại cậy em lo giúp… Bây giờ em là ngạch trưởng trong họ… Em để anh lạy em ba lạy…


Nói rồi Ngô Tuấn quỳ xuống lạy em là Thường Hiến ba lạy. Thường Hiến hoảng hốt tưởng là phen này vì quá thương nhớ người tình mà Ngô Tuấn, anh mình sẽ quyên sinh. Nhưng điều lo lắng của Ngô Thường Hiến hoàn toàn không có căn cứ. Vì sau khi lo xong tang mẹ lo xong sự nghiệp cho em, lo xong chuyện hỉ gây dựng gia đình cho em xong, Ngô Tuấn trở lên nghiêm nghị đứng đắn vô cùng. Anh không hề nhấp môi uống rượu. Không hề lai vãng xuống các làng ca kỹ, cũng không hề động đến con bài lá bạc. Anh trở nên trầm lặng. Thường Hiến tưởng phen này anh thay đổi tính tình chắc anh sẽ lên chùa đi tu. Thường Hiến hỏi:


- Anh đi tu chùa nào, hả anh… Anh phải cho em biết để khi có cháu, vợ chồng em còn phải bế cháu đến thăm anh.


Ngô Tuấn lơ đãng hỏi ngược lại:


- Ở chùa nào có phật thần thông nhất giúp anh gặp lại được người đã khuất…


Thường Hiến tưởng anh nói thật bèn trả lời rằng:


- Chùa thờ phật chỉ giúp mình lên cõi niết bàn mà thôi. Còn muốn gặp người đã khuất thì phải theo các thầy đạo lão có tài đánh đồng thiếp… Em nghe nói, người ta có tài dẫn hồn mình đi gặp người từ kiếp trước… Chẳng lẽ anh không nghe người ta đồn việc ấy ư?


Ngô Tuấn vẫn trầm lắng, từ tốn thở dài:


- Anh cũng đã nghe đồn… đã tìm đến những thầy đồng thiếp giỏi nhất kinh đô… Nhưng không ai giúp nổi anh… đưa hồn anh đi gặp một người đã khuất… đã khuất nhưng hãy còn sống giữa dương gian… sống cách ta chỉ một vài bức tường cao… mà ta không thể nào gặp mặt… không có cách nào gặp mặt, không có phép tiên nào giúp được ta gặp mặt… mà anh… anh chỉ còn có một lẽ sống duy nhất của anh, là làm sao được nhìn mặt nàng một lần, dù chỉ một lần mà thôi, nhìn một lần rồi đổi bằng cái chết anh cũng cam lòng… Người ta nói rằng cố gắng đợi, kiếp này đã lỡ thì kiếp khác sẽ gặp được nhau, nhưng anh làm sao mà chờ đợi được cho đến cái kiếp sau xa xôi ấy hả em… Anh quyết rồi…


Thường Hiến khắc khoải hỏi anh:


- Anh quyết thế nào… định liều chết phá cấm cung ư?


Chàng trai Ngô Tuấn cười cay đắng:


- Nếu phá được cấm cung mà được nhìn thấy mặt nàng, anh cũng phá… phá rồi chết để một lần được nhìn mặt nhau anh cũng xin cam lòng… Nhưng cấm thành nghiêm ngặt lắm, có chết cũng không thể nào phá nổi… Vì thế em đừng lo, anh không phá cấm thành để liên luỵ đến gia đình ta đâu… Anh đã quyết liều làm một việc đại bất hiếu, còn khủng khiếp hơn cả sự liều mình vào chỗ chết… Bây giờ em thay quyền anh giữ ngạch trưởng trong gia tộc, em phải tha tội cho anh…


Thường Hiến không hiểu anh mình làm gì. Về sau nghe anh sung vào ngạch quân cấm vệ thì Thường Hiến mới vỡ lẽ rằng, để mong một lần gặp người thương phải giam trong chốn lãnh cung, người anh mình đã can đảm tự yểm, để sung vào ngạch thị vệ hoạn quan, là thứ quan hầu cận trong nội đình, trong cấm cung…


Một lần chàng trai Ngô Tuấn ra đi mất hút trong vòng cung cấm kinh thành uy nghiêm vắng lặng, không liên lạc với họ hàng thân thích. Bước vào trong hậu cung, chàng trai Ngô Tuấn mới biết rằng đây không chỉ là một nơi giam giữ các cung tần mỹ nữ đơn giản mà nội cung chính là một thứ triều đình bí mật đầy quyền lực có sức áp chế cả triều đình bên ngoài, cai trị vương quốc, và không phải cứ vào được nội cung là có điều kiện gặp mặt người mình muốn gặp. Cái triều đình bí mật này cũng có ngạch bậc quan lại và có những cung viện hết sức phức tạp chặt chẽ. Có khi còn chặt chẽ hơn cả triều đình thật nữa. Vì thế tuy sung chức hoạn quan mà chàng trai Ngô Tuấn vẫn chưa được vào hầu chốn hậu cung của các cung nữ và các bà phi. Ở nơi mà Ngô Tuấn hy vọng được gặp nàng Thuần Khanh người tình xưa của mình. Vào ngạch hoạn quan, lại là kẻ vốn là ngạch võ quan xuất thân, có tài thao lược có võ nghệ cao hơn những hoạn quan yếu đuối trong nội cung nên chàng trai Ngô Tuấn nhanh chóng được phong chức Hoàng môn chí hậu. Một chức hoạn quan vào ngạch võ canh cửa cho nhà vua. Được vua gần gũi để mắt, lại là kẻ thông minh, có cái người đời không thể nào đoán được. Đó là cái trí làm quan thật to trong ngành hoạn quan để có thể có quyền vào được chốn lãnh cung sâu nhất, để một lần gặp mặt nàng Thuần Khanh. Điều này suốt mười hai năm không một ai có thể cậy răng bắt chàng hoạn quan vừa trẻ tuổi vừa có khuôn mặt đẹp như hoa lại vừa vũ dũng hơn đời, nói lấy một nửa lời. Chàng chỉ làm việc cần mẫn và tỏ hết lòng trung thành, vì lẽ ấy được nhà vua tin cậy và cất nhắc. Chỉ trong vòng đúng mười hai năm mà chàng đã nổi tiếng nội đình, từ một chức hoạn quan canh cửa, đã lên đến chức võ quan cao cấp vào bậc nhất trong cấm đình, chức Đô trí vệ cấm binh.


Nhưng dù sao đối với vua Lý Thái Tông là nhà vua đã ra lệnh bắt nàng Thuần Khanh cùng hàng trăm cô gái đẹp khác trong dân dù giam vào cấm đình, anh chàng cấm vệ quân đô uý vẫn có một cảm giác thù hận xa cách. Vì thế mà anh không thật gần gũi nhà vua. Kíp khi vua Thái Tông băng hà, các cung nhân của tiên đế được giải phóng. Người đi coi thái miếu, lăng tẩm, giữ phần hương khói, người cắt tóc đi tu, người trở lại dân dã sống lại kiếp làm người khi tuổi xuân đã phai tàn. Mãi đến lúc chàng cấm vệ đô trí Ngô Tuấn mới nhận công vụ lọt được vào tận lãnh cung của nàng trinh nữ nguyên vẹn Thuần Khanh. Mười mấy năm trời bị giam trong cung nàng chưa một lần được nhà vua vời tới. Nàng mòn mỏi trong chốn cấm cung nhớ thương cuộc sống dân dã bình lặng, nhớ thương người tình đầu tiên và giấc mộng lứa đôi cái thủa xuân xanh… Và khi thấy chàng trai năm xưa đẩy cánh cửa cung cấm bước vào nàng đã suýt ngã ngất lịm đi, mặc dù nàng vẫn không quên đang có đại tang trong triều và dù sao mình cũng là vợ của vị vua quá cố. Nàng hốt hoảng hỏi Ngô Tuấn:


- Trời ơi, thiếp đang tỉnh hay đang mơ đây… Đã bao nhiêu năm trường đằng đẵng thiếp mơ thấy chàng… chàng đến trong giấc mơ của thiếp… cười trong giấc mơ của thiếp… nắm tay trong giấc mơ của thiếp… rồi bỡn đùa mà biến mất khỏi giấc mơ của thiếp để thiếp hàng ngàn lần ngồi đối mặt với ngọn đèn mà tiếc ngẩn tiếc ngơ, chẳng làm sao ngủ được… Lần này chàng lại hiện lên để bỡn cợt hành hạ thiếp nữa ư…


Chàng Ngô Tuấn lắc đầu mà khóc rằng:


- Ta đã tìm nàng suốt hơn mười năm nay, mười năm chịu nhẫn nhục để một lần nhìn thấy mặt nàng… và giờ đây ta đã thấy nàng… đã thấy nàng.


Và một điều may mắn, cũng là một câu chuyện trớ trêu, viên hoạn quan đô tri cấm vệ được phái đi đưa các cung nữ được tuyển chọn làm người gác lăng vua trọn kiếp. Trong số đó có cả nàng cung nữ Thuần Khanh. Hai người có điều kiện gặp nhau trọn vẹn, vì lúc đó chàng là chức quan cao nhất trong đoàn tống tiễn, còn nàng cũng đã được thả lỏng ít nhiều… Nhưng cái vui gặp gỡ ngắn ngủi qua mau. Khi chưa được mắt nhìn tận mắt, tay nắm tận tay, người ta cứ ao ước rằng chỉ cần được gặp nhau như thế là đủ lắm rồi, chẳng cần gì hơn nữa. Ngô Tuấn còn sẵn sàng đổi cái chết để có một lần mặt nhìn mặt tay cầm tay như thế mà thôi. Nàng Thuần Khanh hơn ba ngàn đêm trong nửa mơ nửa thức ao ước cũng chỉ thiết tha có vậy mà thôi, dù vì thế mà dao kề cổ nàng cũng cam chịu, thậm chí còn có thể mỉm cười nhìn đao phủ nữa, và nàng cho rằng mình đã được tại nguyện rồi… Nhưng bây giờ tay đã cầm trong tay, mặt đã nhìn tận mặt. Trong bóng đêm bí ẩn của lăng tẩm âm u nơi phần mộ của bậc đế vương, hai người tình cũ đã má kề má môi kề môi, tóc tơ sợi vấn sợi dài, giọt nước mắt rơi theo giọt nến hồng lạp như giọt máu thời gian phôi pha… Bây giờ họ đã có nhau, nhưng họ đã mất tất cả… mất cả những gì bình thường trong khát vọng cháy bỏng đôi lứa. Họ đạt được điều họ ao ước suốt mười năm, nhưng họ không thể nào bằng lòng với những điều mơ ước đó… Nhưng họ chẳng thể làm gì hơn… chẳng còn gì nữa… Ngọn lửa dục tình trong lòng giá lạnh của người cung nữ, và khát vọng đã mất của chàng võ sĩ năm xưa nay lại bùng lên thành bão… Chàng đô tri cấm quân hộ tống đoàn cung nữ đến coi lăng tự nhiên phát điên, một cơn điên khủng khiếp chưa từng thấy, chỉ những hoạn quan lão luyện mới lờ mờ đoán ra đôi chút căn nguyên…


Cũng như việc thành lập cung cấm mới hình thành từ thời Lý với một quy mô như các triều đình phong kiến của Đường của Tống ở bên Trung Hoa, thì cũng từ đó ngạch hoạn quan cũng bắt đầu có vị trí ghê ghớm ở trong việc triều chính việc quốc sự… Và cái nghiệp hoạn quan mới nhập vào nước ta nên các chứng bệnh đặc biệt của các hoạn quan, người ta chưa có kinh nghiệm nhận biết căn nguyên. Nếu như vào những đời sau, khi hoạn quan thành một thứ nghề có một căn cứ lâu đời như ở các nước Trung Nguyên chắc chứng bệnh khủng khiếp của viên đô tri cấm quân kia chắc chẵn phải chữa bằng lưỡi gươm khắc nghiệt nhất và lệnh tru di tam tộc. Vì đó là một nguyên cớ phạm tội bất kính với tiền đế.


Ở chốn lãnh cung lâu năm, cung nữ Thuần Khanh hiểu được cái lẽ chết của chốn cấm đình, nên tìm mọi cách cứu chữa căn bệnh điên kịch phát của chàng đô tri ở chốn lăng miếu âm u cô quạnh này. Nàng biết rằng câu chuyện bại lộ thì chắc chắn là không chỉ hai người đổi cái chết của riêng mình đã đủ, họ dám chết như thế lắm, nhưng luật lệ triều đình có thể dẫn đến tru di ba họ của cả hai nhà…Không thể làm cách nào khác nữa, nàng Thuần Khanh xin được hoả thiêu theo nhà vua… Đó là lệ hoả táng sống theo vua, mà thời ấy hãy còn giữ như một luật lệ tuy không bắt buộc tất cả mọi người. Trước khi lên dàn hoả thiêu, đêm trước cung nữ Thuần Khanh lẻn đến gặp viên đô tri cấm vệ quân vừa khóc vừa nói rằng:


- Đôi ta đã có vương duyên, vương nợ với nhau, đã luỵ tình cùng nhau… cái tình đáng trọng… Thanh khí tương cầu… Những tưởng chỉ cần nhìn thấy mặt nhau là đủ thoả lòng mong nguyện từ mấy ngàn ngày khắc khoải ngóng trông… Nhưng chuyện đôi lứa đâu phải chỉ có ngồi mà nhìn nhau… Thiếp cảm thấy lòng chàng dám đạp qua cái điều khủng khiếp hơn cái chết để được gặp thiếp… Nhưng gặp nhau như thế này thì thà rằng đừng bao giờ gặp nhau thì còn hơn. Thà rằng cứ mộng tưởng chập chờn trong giấc mộng còn hơn… Thôi đành chàng đã mang cái lớn hơn cả cái chết, tự giết tất cả lạc thú ở đời để được nhìn mặt thiếp. Thiếp cảm cái tình lớn của chàng, thiếp cũng xin mang cái chết để tỏ lòng đền đáp. Chứ cứ sống trong cảnh này thì cả thiếp lẫn chàng đều phát điên lên rồi gây hoạ cho cả gia đình hai bên, cái hoạ tru di tam tộc mất… Trước khi chết, thiếp chỉ khuyên chàng một điều… một điều này thôi… chàng đừng nghĩ rằng chàng không còn gì, đành rằng chàng không còn lạc thú ở đời, đành rằng chàng không còn là một người con có hiếu, đành rằng chàng chẳng bao giờ có thể nối dõi tông đường, đành rằng chàng đã coi như tuyệt tự… Nhưng đời của kẻ làm trai không phải tất cả chỉ có chừng ấy… Mong chàng nghĩ lại đừng có liều mình cùng thiếp mà uổng chí lớn tài cao…


Rồi ngọn lửa oan nghiệt thiêu cháy người con gái tài hoa trên dàn hoả thiêu dựng nơi lăng tẩm nhà Lý dành cho vua Thái Tông. Ngọn lửa khủng khiếp có cả mùi trầm hương lẫn mùi da thiệt của nàng trinh nữ về già cháy khét đã làm cho chàng võ quan nơi cấm đình Ngô Tuấn tỉnh ngộ. Chàng trở về kinh đô… Vua Thánh Tông nhận ra ngay con người có chí lớn trong chàng võ quan nơi cung cấm. Nhà vua phong cho chàng chức hành quân hiệu uý chuyên cho theo đi đánh giặc. Trong chiến trận khác với trong việc hầu hạ trong cung cấm, tài năng và cái khí nghiêng trời nghiêng đất của chàng càng nổi bật, được vua hết sức tin yêu. Năm thứ ba, thuộc niên hiệu thứ hai của vua, Thánh Tông tin cậy và ban cho viên hoạn quan này một đặc ân, một đặc ân hiếm có cho những hoạn quan, là giao cho hoạn quna trong nội cung ra làm chức Kinh phòng sứ khí vùng ngũ huyện Giang Ái Châu có loạn và dân các sách động Man Lào phản. Ngô Tuấn được tuỳ nghi hành sự. Chàng đã khéo phủ dụ, lại là người liêm khiết, ngoài khát vọng lập công chẳng còn một khát vọng nào khác, nên chuyên cần mưu trí gia ân gia uy, vì thế mà dân năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn sách động đều quy phục cả. Dân được yên, lại mang nhiều châu báu tôn cúng của dân về triều, nên chàng hoạn quan võ tướng nhà vua được đặc ân ban quốc tính, cải làm họ Lý. Từ ấy chàng Ngô Tuấn đầy bi kịch trong đời đã trở thành vị tướng quân Lý Thường Kiệt. Nhưng đến lúc ấy chàng vẫn chỉ là viên tướng được vua tin dùng và nổi tiếng trong nội cung mà thôi. Phải đợi đến trận chiến binh phục thành Đỗ Bàn bắt vua Chiêm, lấy cống ba châu Ma Linh, Địa Lý, Bố Chánh để mở rộng biên thuỳ về phía Nam chàng mới thành vị tướng thực sự của triều đình… Mệt mỏi và căng thẳng sau cuộc chính biến cung đình do chính mình bầy mưu sắp đặt, lại bước vào một kế hoạch thúc ước kết gắn các vùng sách động biên thuỳ, vị Tiết Chế tể chấp cảm thấy toàn thân rã rời bải hoải… Đâu đây trong gió đêm những cặp trai gái vùng thôn ổ hồn nhiên chơi hội kéo nhau tự tình trong ruộng dưa, bãi mía vườn dâu không biết sự có mặt của vị quan trong nhà cầu quán, cứ rúc rích cười hoài… Tiếng cười như làm rung rinh buốt lạnh thêm làn sương đêm vây bọc quanh đôi vai của con người ngày hôm nay phải gánh cả gánh nặng quốc gia, mà trong lòng mất hết mọi niềm say mê khao khát bình thường của con người trần tục…


Vị Tiết Chế tướng quân tể chấp thở dài cay đắng… Hình bóng anh chàng kỵ mã hiệu uý cứ chập chờn trước mặt trong bóng đêm dày đặc bao phủ giữa trời đầy sao và cả hàng vạn đốm lửa ngày hội khác nào sao sa. Trời, cái anh võ quan cấp thấp nhất, trẻ tuổi và ngây thơ kia sao mà đẹp vậy… Vị tể tướng đầu triều kiêm giữ tất cả binh lực, của nhà nước lúc này ủ rũ ngồi trong bóng đêm này, sẵn sàng đánh đổi tất cả, để được trẻ lại, để được trở lại làm cái anh võ quan nhỏ bé kia… Đổi cả chức đứng đầu triều đình, đổi cả chức đứng đầu toàn bộ cấm binh, quân đồng bằng, quân khê động… Nhưng thời gian đã trôi đi… Cái gì đã mất đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa… cái anh chàng hiệu uý kia đã vĩnh viễn mất đi… cả cô gái vẽ chim muông hoa thú trên nền men gốm cũng đã chết mòn chết mỏi trong lãnh cung rồi cháy bừng lên trên dàn hoả thiêu trước lăng Thái Tông cạnh rừng Báng… Tất cả đã mòn mỏi… bây giờ đối với con người đang còng lưng trước màn sương lạnh của đêm chỉ còn gánh nặng của cả sự mất còn của non sông đè trên đôi vai mệt mỏi.


Vị Tiết Chế tể chấp Lý Thường Kiệt khẽ rùng mình buông một tiếng thở dài… Lúc đó, anh chàng lái buôn miệng nồng hơi rượu giọng khê đặc của một kẻ say, lảo đảo bước tới gần vị Tể tướng đầu triều đang ngồi âm thầm trong căn nhà cầu quán đạo Lão trống trải. Giọng Lý Chăm vẫn giữ cách nói thân mật cợt nhả của lái buôn:


- Bẩm Tể tướng, Tể tướng đã biết tin gì chưa? Một lái buôn thân tín của tôi từ bạc dịch trường Vĩnh Bình về đây cho hay rằng chính viên Tể tướng Vương An Thạch phải rút khỏi chính sự… Quyền Tể tướng đã rơi vào tay kẻ khác… Các bạc dịch trường được viên kinh lược sứ mới tên là Lưu Di cho nới mở bớt các lệnh cấm đoán khe khắt… Việc động binh về phía Nam thuỷ tạm hoãn…


Tiết Chế tể chấp Lý Thường Kiệt gật đầu như tự nói với chính bản thân:


- Việc này ta cũng đoán là tất sẽ đến… đến là may cho ta… cho ta thêm thời giờ mà phòng bị… Rồi Vương An Thạch sẽ trở lại tham chính… và ngọn lửa chiến tranh chẳng thể nào tránh khỏi… Ta biết chắc rằng, chẳng có cách nào tránh khỏi…


8


Biên thuỳ Hoa Hạ một lần nữa lại xáo động vì tin sứ thần Giao Chỉ sang báo tin buồn về việc vua Lý Thánh Tông băng hà và xin cầu phong kết hiếu của vua Nhân Tông, có mang theo làm cống vật những hai con kỳ lân trắng. Kỳ lân đã là con vật huyền thoại thần thánh chỉ thấy có ghi trong kinh truyện cổ từ đời Tam hoàng ngũ đế, Xuân thu chiến quốc. Mà đó là loại kỳ lân thường mà thôi. Nói thế chứ những kẻ hậu học sau này, học sách thánh hiền thấy có nói là kỳ lần da dày như áo giáp, só sừng giữa trán, đứng oai nghiêm, chân to như cột cung điện, cứng như đúc bằng thép nguyên khối…. Đó là sách nói, chứ thật ra chẳng ai được tận mắt nhìn thấy hình thù con kỳ lân như thế nào cả. Mà ngay cả người chép sách cũng chưa chắc được tận mắt nhìn thấy con kỳ lân để mà tả đâu. Họ chỉ mới nghe lời đồn đại của những bậc lão thành, những kẻ viễn thương, và đọc trên các chữ ghi ở mai rùa xương thú, hay trên những chữ khắc tre khắc trúc gọi là thanh sử, thanh kinh.


Kỳ Lân quý như thế, hiếm đến thế lạ lùng kỳ ảo đến thế, thì hỏi tại sao khi nghe tin đoàn sứ giả Giao Châu có mang cống kỳ lân cho triều đình mà dân dã và các nhà nho khứp nơi không kéo nhau lũ lượt về trảy kinh để rình đón xem cho bằng được. Các nhà trạm trên dọc con đường thiên lý từ châu Vĩnh Bình hướng về Biện Kinh, không nhà trạm nào không tụ tập có đến hàng ngàn người đón đường đoàn sứ giả Giao Chỉ…


Chánh sứ lần nàylà quan thị lang Lý Hoài Tố… Tòng chánh sứ là một vị hoà thượng có pháp hiệu là Cần Giác thiền tông. Đoàn sứ giả đông đến hơn một trăm người ngựa. Đoàn sứ giả kỳ này là đoàn sứ giả đông nhất, hùng hậu nhất kể từ khi vua Lý Công Uẩn lập nước và đặt mối quan hệ bang giao đối với nhà Tống. Trước đoàn sứ giả này tính tất cả các nhà vua Lý đã cắt cử đến hai mươi ba đoàn sứ giả khi thì kết hiếu, xin cầu phong khi thì báo thắng trận, khi thì báo tin buồn, khi lại tạ ơn… Chừng ấy đoàn sứ giả đoàn nào nhà Lý cũng soạn đồ cống chu đáo, nào ngọc vải vàng lụa, nào châu báu kim cương, khi thì ngựa quý, khi lại voi trắng… Đã mấy lần vua Lý định cống kỳ lân, nhưng khi đưa tín thư ra qua biên ải để xin vào nội địa, thì nhà vua Tống nghe lời các quần thần tâu bày đều hạ chỉ không cho mang kỳ lân vào nội địa Trung Nguyên.


Mặc dù vua Tống các đời cứ nghe thấy kỳ lân trong danh mục các vật cống là lại thèm khát tò mò, muốn tận mắt xem hình thù cái con vật mà sách vở thánh hiền coi như vật thiêng cứ sáu trăm năm may ra mới xuất hiện một lần. Quái sao, cái xứ Giao Châu nhỏ bé làm vật thiêng đến thế. Nghe nói ta dùng con rồng làm biểu tượng thiên tử thì bên kia cứ mỗi lúc có việc gì là lại tin báo sang triều Tống rằng nhà vua Lý gặp rồng vàng xuất hiện. Rời đô, gặp rồng vàng, cày ruộng tịch điền cũng gặp rồng vàng, đi tuần, đi đánh giặc cũng gặp rồng vàng… Rồng ở bên ấy có nhẽ nhiều như cá chép, cá anh vũ hay sao mà gặp dễ đến như thế… Hay là bọn tôi con nhà Lý có chân mạng thiên tử cũng nên, có như thế thì trời mới báo điềm lành liên tiếp như thế chứ… Nghĩ vậy, cả vua đến quan nhà Tống đều bán tín bán nghi, nửa lo nửa tức… Hết rồng vàng lại kỳ lân… Trong sáu mươi năm qua, ít nhất cũng đã ba lần đoàn sứ bộ Giao Chỉ xin cống kỳ lân. Nhưng không lần nào vua Tống nhận cả. Lần này, bàn về các vật cần mang sang cống, Tiết chế tể chấp Lý Thường Kiệt cho gọi lái buôn Lý Chăm vào phủ đệ và dạy rằng:


- Ngươi là dân buôn, lắm mưu nhiều mẹo, ngươi thử nghĩ xem có kế gì đưa được cặp kỳ lân trắng vào đất Trung Nguyên như một vật cống hay không?


- Dạ thưa, kỳ lân trắng nào ạ?


- Đôi kỳ lân trắng mà dân đình ba châu Ma, Bố, Đại mới nhập vào biên thùy nước ta cống hiến triều đình ấy mà…


- Theo tôi biết, thì kỳ lân là loại tê ngưu, dân trong vùng miệt nam thuỳ nước ta còn gọi là con tê giác, hay con tây ngưu. Gọi là tê giác, vì nó có sừng ở giữa trán. Còn gọi là tây ngưu vì người ta cho nó là trâu rừng phía tây. Mà gọi là tê ngưu vì là ý gọi theo lối gọi tượng hình, chỉ một con có hình dáng hơi giống con trâu, nhưng ở trên mình lại có vẩy như vẩy tê tê… Nếu đúng là loại này, thì đó là loại thú cô độc, không bao giờ đi kiếm ăn đôi hay kiếm ăn đàn. Vì lẽ đó không thể bắt được một đôi tê ngưu… Vậy khi cống hiến ta cũng không nên cống hiến thành cặp, không gọi là một đôi mà phải gọi là hai con tê ngưu, hiện ra ở hai nơi khác nhau như thế mới đúng.


Lý Thường Kiệt gật gù thầm khen sự hiểu biết quảng bác của gã lái buôn phiêu lãng này, ông chậm rãi trả lời:


- Ừ thì ta sẽ dặn dò các quan lo việc tu cống tham bác ý của nhà ngươi… Nhưng đó không phải là điều ta cần hỏi nhà ngươi, Điều ta muốn nhà ngươi trả lời ta là làm thế nào để đưa cống vật vào đất Trung Nguyên được. Có thế thôi…


Lái buôn Lý Chăm tươi ngay nét mặt:


- Thế là kẻ hèn này hiểu rồi… Chắc hẳn triều Lý ta đã ít nhiều lần gửi kỳ lân sang cống, nhưng không được nhận.


- Đã ba lần… ba lần triều ta xin cống kỳ lân…


- Vâng kẻ hèn này cũng đoán ra rằng, ba lần triều cống kỳ lân cũng với ý ngầm bảo cho nhà Tống biết rằng phương Nam sinh ra thánh nhân nên mới có kỳ lân xuất hiện có phải không ạ…


Lý Thường Kiệt im lặng nhìn sâu vào đáy mắt ranh mãnh của gã lái buôn rồi lắc đầu:


- Đoán già đoán non là việc của nhà ngươi… đâu phải việc đại sự của triều đình.


Lý Chăm lắc đầu cười tinh quái:


- Tướng quân không muốn trả lời là có hay là không, đó là quyền của bậc làm tướng… Còn kẻ hèn này đâu dám nài được phép biết… Nhưng việc này chắc … tướng quân không dè xẻn lời để cho kẻ này biết rằng có lần nào nhà Tống nhận kỳ lân hay không ạ?


- Không một lần nào…


- Bên triều Tống không nhận có nói ra nguyên cớ hay không…


- Cũng có nại ra 1 nguyên cớ… như là…


- Xin tướng quân cho kẻ hèn này được đoán chăng… (rồi không chờ được cho phép, Lý Chăm nói luôn) : Chắc hẳn lần nào sứ nhà Tống cũng trả lời là chưa chắc đã phải kỳ lân thật hiện lên, nên bản triều không nhận… Có đúng thế không, thưa tướng quân.


- Nhà ngươi đoán đúng… đoán đúng… Họ không cho là kỳ lân có thật hiện ở phương nam, vì nếu họ cho là có thật thì các bậc thâm nho đã từng tin ở sách thánh hiền sẽ tin là ở phương Nam đang có điềm lành sinh thánh…


Lúc này Lý Chăm mới chậm rãi khẳng định theo ý riêng của mình ngay trước mặt vị quan đứng đầu triều, không chút kiêng nể:


- Như thế là lần này, ý tướng công muốn bằng cách nào mang con kỳ lân trắng của ta, đặt vào giữa Trung Nguyên để chứng tỏ cho người Trung Nguyên và các văn thần triều Tống biết rằng ở phương Nam ta đây đang có điềm hưng thịnh… Nếu đúng là kỳ lân hiện báo điềm sinh thánh thì đừng có chê Càn Đức tám tuổi làm vua… Biết đâu vua Càn Đức ra đời là do điềm báo của kỳ lân trắng hiện… Có phải thâm ý của tướng công muốn làm cho tâm trí đám hủ nho bên triều Tống vốn quen điều ngụy tín phải bối rối trước con tê giác trắng xuất hiện ở phương Nam mà nhụt một phần nào cái mộng bành trướng.


- Nhà ngươi nói đúng… như vậy nhà ngươi có cách nào mang con kỳ lân vượt qua quan ải đi vào nội địa Trung Nguyên hay không?


Lý Chăm trầm ngâm:


- Kỳ lân là một con vật quá to, không thể giấu như giấu một thanh gươm… kể cũng khó thật… khó thật. Nhưng nếu con kỳ lân của chúng ta mà vào được đất Trung Nguyên làm xôn xao trong dân chúng thì vui biết mấy… vui biết mấy… khoái biết mấy…


Lý Thường Kiệt trầm giọng:


- Nhà ngươi đừng nên vui vội… vì nhà ngươi sắp phải gánh một gánh nặng trách vụ mà bao người chưa hề một lần làm nổi… Đó là nhà ngươi phải bằng cách nào mặc nhà ngươi phải đưa bằng được con kỳ lân vào đất Trung Nguyên, làm náo động Trung Hoa vì tin có kỳ lân trắng xuất hiện ở phương Nam, đó là việc của nhà ngươi… Để làm việc này, ta có thể thăng cho nhà ngươi chức phó sứ, tòng chánh sứ… Đó là điều duy nhất ta có thể giúp nhà ngươi trong cái phận sự vô cùng khó khăn này…


Và bây giờ, thì đúng như điều mong muốn của Tể chấp tiết chế Lý Thường Kiệt, cả miền Hoa Hạ đất Trung Nguyên bị rung động vì cái tin ở phương Nam xuất hiện kỳ lân trắng. Và con lỳ lân trắng xuất hiện cả đôi đang được sứ thần Giao Chỉ dẫn sang cống vua nhà Tống… Người ta lũ lượt đi đón đường đoàn sứ giả Giao Chỉ để được tận mắt xem hình thù con kỳ lân huyền thoại ra sao. Nó có giống thật cái con kỳ lân mà các sử sách thi thư mô tả hay không? Tin này truyền về triều đình làm cả bá quan văn võ vô cùng bối rối. Phe cựu học rất mê tín, nghe thấy đúng là sứ giả Giao Chỉ mang cống kỳ lân cộng thêm với sự xuất hiện của ngôi sao chổi lớn: Xuất hiện ở chòm sao Chẩn, đuôi sao lại trỏ về chòm sao Thái Bạch; Tất cả những triệu chứng này các nhà nho tin ở điều dị đoan đều đoán là phương Nam có điềm sinh thánh và sẽ gây ra những biến động dữ dội và sẽ thắng…


Vua Tống Thần Tông hốt hoảng sai bắt tên quan coi việc sứ quán hạch tội, bắt phải trình mọi việc. Viên này thưa rằng:


- Việc sứ đoàn của Giao Chỉ đến, kẻ hạ thần này vẫn giữ đúng lệ của bệ hạ truyền, nghĩa là bắt đợi ở ngoài quan ải, rồi bắt đệ trình danh tính sứ giả và tùy tòng cùng danh mục các thứ vật cống để xét duyệt…


- Thế ngươi xét duyệt thế nào để cho chúng nó mang lọt con tê giác kỳ lân vào đất Trung Nguyên gây nên bao điều dị đoan rối loạn.


- Bẩm muôn tâu bệ hạ, kẻ hạ thần có thấy tên tê giác kỳ lân trong danh mục các vật cống đâu ạ… Trong danh mục chỉ có để là cống hai con tây ngưu… là một loài trâu lạ, da dày, có sừng, lông trắng… Sống trong rừng phía tây của xứ Đại Việt… mới xuất hiện, nay bắt được dâng lên thiên tử để tỏ lòng hiếu thuận… Chính chúng con đã để vào sớ tâu lên, và bệ hạ phê chuẩn cho mang vào nội địa cùng sứ đoàn.


Vua Tống Thần Tông sững người… Thế ra chính mình đã y chuẩn để cho bọn sứ giả Man Giao kia mang con vật lạ vào trong nước. Tư Mã Quang thì cứ lẩm bẩm:


- Nó tả hình dạng thì có vẻ tả một con trâu rừng… da dày, có sừng… Nhưng da dày như thế nào chứ… Sao chúng mày không hỏi… Da dày mọc thành vảy như vẩy tê tê như áo giáp sắt, có sừng nhưng sừng mọc ở giữa trán và cứng mạnh thì đúng là kỳ lân đứt đuôi rồi còn gì nữa… Việc này thật thậm tai thậm hại… Bọn man dân lừa ta rồi…


Tống Thần Tông lo lắng:


- Thế bây giờ phải làm ra sao đây để dẹp cơn xôn xao như sóng biển tràn… vì cái sự việc kỳ lân xuất hiện ở phương Nam… Rối loạn nhân tâm tín… rối loạn nhân tâm lắm.


Tư Mã Quang vã mồ hôi than thở rằng:


- Việc này thật sự nguy hiểm… nguy hiểm… Chí có Vương tể tướng mới có thể khu sử một cách êm thấm kín nhẹm mà thôi, chứ đám chúng tôi, sở kiến hẹp hòi làm sao mà xử đối với việc lớn thế này. Từ lâu chúng ta tin vào kinh sách nói rằng kỳ lân hiện thì có điềm lành, tất điềm sinh thánh nhân… Kỳ lân ở xứ ta ít khi hiện lên lắm. Bảy trăm hai mươi năm mới may ra có một lần hiện kỳ lân… một lần hiện rồng vàng… Lần trước đây hơn ngàn năm một lần ký lân đã xuất hiện trên cánh đồng cỏ chi nước Lỗ… Nhưng đó là một con kỳ lân què… Ứng với điềm này Khổng phu tử 2 ra đời… sinh thánh… Đấy mới chỉ là kỳ lân què thôi… Đằng này kỳ lân chúng mang sang ta, có đủ cả bốn chân… Không những không què mà lại là kỳ lân trắng… Không những một con mà lại là hai con… Cứ đà này, chúng dám bắt cả rồng vàng nhốt vào cũi mang sang đây cống ta để cho dân Tống phải hoảng hồn khiếp sợ mất… Kẻ hạ thần mong bệ hạ xuống chỉ đòi Vương An Thạch về triều phục chức đó đặc trách khu xử việc này cho êm… Dù họ Vương đã giũ tay khỏi việc triều chính…


Thế là anh chàng nhà buôn Lý Chăm cạo trọc đầu giả trang làm nhà sư Cần Giác thiền tông đã thắng một mẹo nhỏ chỉ có những lái buôn chuyên lo việc khai man lậu thuế, trốn thuế mới láu lỉnh nghĩ ra mà thôi. Trước đây khi xin cống kỳ lân, triều đình nhà Tống biết nên ngăn cấm bằng cách không nhận và không cho là thật. Lần này, dựa trên cơ sở những người dân Trung Hoa chưa một lần trông thấy con kỳ lân thật ra sao, chỉ nghe phong thanh trong huyền thoại và trong sách vở thánh hiền. Vì thế muốn đưa kỳ lân thật vào đất Trung Nguyên, Lý Chăm nghĩ ra kế đổi tên của con kỳ lân đi. Không gọi là kỳ lân nữa, mà gọi là con tây ngưu. Những tên mọt sách nho thần và những viên lại thuộc yên trí là Giao Chỉ bắt được một loại trâu rừng lạ ở rừng tây mà thôi. Đến các quan đầu triều và cả Thần Tông cũng bị anh chàng lái buôn người kẻ Cời lừa. Khi con trâu rừng tây vào đến trạm Uất Giang cạnh thành Ung Châu thì nhà sư Cần Giác thiền tông mới mở cỗ chay mời các nhà sư và các vị hòa thượng trong vùng thết đãi sang trọng… Trong tiệc rượu, nhà sư Cần Giác thiền tông mới hé lộ ra là trong các cống vật của mình có một con thú lạ. Dân miền sơn cước quen gọi là con tây ngưu, tức trâu rừng tây. Nhưng càng ngắm nó càng đọc sách của đạo nho càng thấy nó có hình dáng đúng in như con kỳ lân hiện ờ cánh đồng nước Lỗ báo điềm sinh thánh Khổng Tử… Các nhà sư không uống rượu mấy, nay dự cỗ chay theo phái tiểu thừa, cũng nhấp một vài giọt cho nên quá say sưa. Và vì thế mà khi kéo nhau ra xem con tê giác thì tròn mắt dẹt hoảng hốt. Nhà sư vốn là gã lái buôn ranh mãnh cải trang, lại bày trò đốt trầm quanh cũi, xát gỗ mục lên vảy da phản chiếu ánh lân tinh huyền ảo… Thế là một đồn mười, mười đốn trăm cứ loang ra mãi… cái tin người Giao Châu thấy kỳ lân hiện ở phương Nam bắt về nộp cống triều nhà Tống mà không biết đó là kỳ lân thật… Các nhà sư nước Đại Tống cứ tranh nhau vỗ ngực đôm đốp mà cãi rằng, nếu mà không có mỗ đây am hiểu, mách bảo cho mà biết thì đám sứ giả Man Giao làm sao biết được chính chúng đã bắt được kỳ lân…


Kỳ lân hiện cùng bao nhiêu huyền thoại về thánh sinh ở phương Nam cũng được tung ra làm náo động đám dân Hoa Hạ tràn lên khắp Trung Nguyên làm nao núng lòng người…


Phải triệu nguyên Tể tướng Vương An Thạch ra mới dẹp được cơn sóng nguy hiểm về chuyện kỳ lân xuất hiện ở phương Nam, phương Nam hưng thịnh, phương Nam sinh thánh… Vương An Thạch đã xin vua Tống coi như không phải cái con vật mà dân gian gọi là kỳ lân đúng là kỳ lân thật. Đó chỉ là một thứ thú lạ, một thứ dị thú… không được phép đưa đến kinh đô… Sai quan kinh lược Hồ Nam phải nhận con thú lạ ấy nhốt lại để tránh hậu họa cho dân Trung Nguyên…


Tin này được truyền đến Thăng Long. Tiết chế Lý Thường Kiệt xoa cái đầu trọc của nhà sư giả họ Lý tên Chăm mà cười ha hả:


- Thế là con thú một sừng đã mở cuộc tấn công đầu tiên vào triều đình nhà Tống…


Lý Chăm cau có:


- Xin tướng công chớ cười… khi tôi phải khóc… tôi khóc vì biết bao giờ tóc tôi mới mọc dài như cũ để tiếp tục bôn ba hồ hải buôn bán đây đó… Bây giờ như anh chàng nhà sư phá giới buôn bán với cái bộ dạng này thì ai tin cơ chứ… Mà buôn bán có luật lệ riêng của nó, bao giờ cũng lấy chữ tín làm trọng…


Lý Thường Kiệt vẫn cười ha hả:


- Ta cũng cần chữ tín của nhà ngươi… và cần cả cái đầu trọc của nhà ngươi nữa… Vì nhà ngươi còn phải sang Tống lần này dưới lớp áo cà sa… Ta cần nhà ngươi… cần nhà ngươi… Nếu nhà ngươi nuôi tóc dài thì đầu nhà ngươi sẽ mất chứ không phải chỉ có mấy sợi tóc mà thôi đâu, bởi là người Tống sẽ nhận ngay ra nhà ngươi là gã lái buôn Lý Chăm đã bị truy nã từ mấy năm nay…


__


1. Nại ra: tiếng cổ, có nghĩa như đưa ra.


2. Khổng Tử: nhà tư tưởng cổ Trung Quốc.


9


Có một bức mật thư, bọc trong sáp ong, thời đó gọi là lạp thư, được một thủ hạ của phò mã Thân Cảnh Phúc là Nùng Tông Đản cưỡi ngựa suốt đêm ngày từ biên thùy đất động Thất về kinh đô Thăng Long. Thư gửi thẳng cho nhà vua triều Lý. Nhưng vua cho đòi Lý Thường Kiệt và nhiếp chính Ỷ Lan vào thương nghị. Lá được bóc khỏi vỏ sáp vàng. Thư được viết trên một vuông lụa bạch. Trong thư viết rằng: “Tiên đế của đại vương là người Man Bách Việt. Tôi nghe nói các công hầu khanh tướng người Giao chỉ nhiều người cũng có gốc tích từ đất Bách Việt. Bá Tường này tài lược không kém người, nhưng không được vua Tống trọng dụng. Vậy xin quay đầu giúp đại vương. Bá Tường nay ở trong lòng đất Tống, nghe biết vua quan nhà Tống đang ráo riết tụ quân tích lương thảo để phát binh đánh diệt Giao Chỉ. Chẳng lẽ Giao Chỉ nằm yên như con mồi chờ thợ săn đến đánh bắt giết chết ư?”


Lúc ấy, vua Nhân Tông đã xấp xỉ mười tuổi và đã tỏ ra là một cậu bé có khí chất thiên tử. Nghe đọc thư, cậu vỗ tay reo lên:


- Thế thì ta xuất quân đánh ngay thôi… còn chờ gì nữa nào.


Ỷ Lan phu nhân đưa mắt nhìn Lý Thường Kiệt, như để dò hỏi xem điều con mình nói có thể thực hiện được hay không. Tiết chế lắc đầu tâu rằng:


- Muôn tâu hoàng thượng, tâu lệnh bà nhiếp chính, lá mật thư này nói đến cái điều mà ta biết từ trước rồi. Vì từ lâu người Tống vẫn có ý định tràn quân sang cướp nước ta… biến cả vùng Hoa Hạ thành kho lương thảo rộng lớn, đủ sức chu cấp cho đạo quân vài chục vạn người vài vạn ngựa… Chúng còn tìm cách chia rẽ các thủ lĩnh sách động ở vùng núi rừng biên thùy hai nước… Ta đã phá được một phần nào mũi dao thứ hai chém ngang lưng ta. Vùng sách động nào từ lâu có quan hệ mật thiết với ta đã trở thành phên giậu của triều đình ta… Còn quân giặc tụ lương trong vùng Hoa Hạ ta biết nhưng chưa đến lúc tính… Lá thư nói đến một điều các thám tử của ta đã cho ta biết khá đầy đủ, thật không có giá trị gì… Còn chuyện mà y xui giục thì… ta cũng đã đôi lần nghĩ đến, nhưng còn phải cân đi nhắc lại xem có nên hay không… Lại nữa, việc ý tự xưng mình có tài trí hơn người và hứa hẹn nội ứng thì càng phải xét kỹ xem sao đã… Xin bệ hạ cứ giao việc này cho khu mật viện trù tính tùy cơ mà định liệu…


Nhà vua còn ít tuổi, tuy có chí, nhưng thấy vị tể tướng trình bày rắc rối vòng vo thì cũng đành ừ theo. Lý Thường Kiệt bèn sai cơ mật viện cử thám tử dò xét thêm về tình hình Hoa Hạ và bản thân cái con người có tên là Từ Bá Tường…


Thế là kể từ ngày tiến quân lên Siêu Loại chủ trương việc giành quyền phụ chính vương triều đến nay đã hơn hai năm. Hai năm Lý Thường Kiệt canh cánh nỗi lo hàn gắn tấm áo giáp ngoại biên tái phương bắc và sức hung hăng của Vương An Thạch cùng Tống Thần Tông trong giấc mộng nam chinh. Tay chân viên tể tướng bị buộc phải từ chức còn đầy trong triều và tỏa khắp nơi nhất là vùng biên thùy Hoa Hạ. Ở đây ngày ngày chúng đưa những tin kích động về triều để nuôi cho Tống Thần Tông không thể nguôi được khát vọng xuất binh về phương nam. Vào tháng ba năm Giáp Dần (1074), sau cái vụ con kỳ lân một sừng đi cặp đôi tấn công vào triều đình nhà Tống, thì tay chân của Vương An Thạch đưa tin về triều báo rằng: Theo tin của thám tử và khách thương người Trung Hoa ra vào nơi Thăng Long thì năm nay, Giao Chỉ tụ binh muốn phạm đất ta…


Tống Thần Tông lo lắng bảo các thượng thư lục bộ rằng:


- Trẫm sợ các biên thần không biết lượng sức mình, không liệt định được sức giặc mà đưa quân ra xa thành trại, ham đánh bắt có khi mang vạ… Vậy các người phải cấp báo cho viên quan coi thành Ung Châu là Tô Giàm biết rõ. Và phải dặn rằng nếu quân man dám phạm đến ngoại vi thành Ung, thì phải kiềm quân mà cố thủ. Chớ có tham lập công mà khinh địch.


Tay chân Vương An Thạch là Lưu Di, tuy chủ của mình buộc phải rời ngôi tể tướng, nhưng ra biên ải vẫn trung thành với các chính sách của chủ. Y xin nhà vua mở kho lúa gạo, không những thế, vào năm Giáp Dần vùng biên thùy hạn hán lớn, Lưu Di đã xin với triều đình hoãn thuế cho khắp các miền khê động thuộc Hoa Hạ. Vua đã y theo. Được cái thế với dân, Lưu Di lấy tiền mộ quân và dân lưu tán mở nhiều đồn điền. Tung tước lộc và lúa gạo để phủ dụ, vỗ an lòng dân man động, tìm cách chia rẽ các khê động nằm trong phạm vi ảnh hưởng của triều Lý…


Tình hình biên thùy phương nam biến động, vua Tống Thần Tông bối rối vì tể tướng Vương An Thạch đã vắng mặt gần mười tháng trời. Phe cựu thần không có phương cách gì gỡ đám rối do tể tướng họ Vương đã tung ra, và các tay chân còn lưu lại trong triều ngoài ải càng ráo riết làm cho rối thêm. Đó là áp lực giúp Tống Thần Tống có điều kiện triệu Vương An Thạch ra giữ chức cũ, vào tháng hai năm Ất Mão. Vừa nắm lại chính quyền, Vương An Thạch đã quyết đoán việc phương Nam. Họ Vương chủ trương nhường đất cho Liêu Hạ, để tránh phải dồn quân giao tranh phía bắc, rồi tập trung sức lực đánh lấy vùng đất rộng lớn phía nam. Đánh nước yếu để dọa nước mạnh vẫn là phương sách cố hữu của Vương An Thạch. Tống Thần Tông có một chút chần chừ, thì Vương An Thạch tâu ngay:


- Muốn lấy thì trước phải nhường cho… Muốn bắt cá phải mất mồi câu… Câu cá to thì mồi phải là con cá nhỏ… Lưỡi câu có sắc mấy, nhưng không thể bắt được cá nếu không mắc mồi vào lưới câu.


Cái mồi mà Tống Thần Tông phải chấp nhận theo ý của Vương An Thạch là bảy trăm dặm đất Hà Đông phải cắt ra để biếu nước Liêu. Thật là cực chẳng đã. Nhưng đổi lại là biên thùy phía bắc tạm yên. Rảnh tay bắc thùy, Vương An Thạch lệnh cho Lưu Di tụ binh tụ lương gấp rút. Vương An Thạch thác mệnh vua viết chiếu bắt miền Hoa Hạ thay thế quân thường thủ già yếu bằng thổ binh bảo giáp. Cứ ba đinh bắt một. Nhưng Lưu Di ở miền biên tái sợ rằng quân chưa đông nên không những bắt thêm quân lại còn giữ lại đám quân thường thủ không cho về như lệnh của tể tướng vì y nại cớ rằng: “Bản chức tiếp tin mật từ xứ Man cấp báo, vì sợ có nguy cơ chúng tràn lên cướp phá”. Tình hình biên thùy trở nên cháy bỏng vì những hành động ráo riết của Lưu Di. Tô Giàm từ thành Ung Châu thấy thế nguy của một cuộc động binh nên đã vội viết thư khuyên can Lưu Di rằng: “Ta tụ quân ở bên này, ắt người Giao Chỉ tụ quân ở bên kia. Nạn binh đao khó tránh. Nay, xin đại nhân xem xét lợi hại, và phải bỏ ngay ba việc đang làm là rèn tập binh sĩ, đóng chiến thuyền thủy trấn, cấm chợ quan ải đóng cửa bạc dịch trường, để cho người Giao Châu nếu có muốn cất quân cũng không tìm được danh nghĩa nữa”.


Ỷ thế nâng đỡ của Tể tướng Vương An Thạch, Lưu Di viết lệnh hặc Tô Giàm, trách viên coi thành Ung Châu này can tội bàn ngang nói nhảm. Và đe rằng nếu Tô Giàm còn bàn việc biên sự nữa thì sẽ bắt về đến tận triều đình để tể tướng tâu vua trị tội. Tống đang dụ binh tuyển ngựa, và chia ngựa cho các thổ đinh và động đinh nhận bảo giáp nuôi. Lý Thường Kiệt nghĩ ra một phương kế hữu hiệu nhất là sai lái buôn Lý Chăm xuất quỹ tung tiền mua ngựa. Công khố sẵn sàng mở rộng, nhưng Lý Chăm lắc đầu:


- Bẩm tướng công tiền của ta không sánh được với tiền của vua quan nhà Tống tung xuống miền Hoa Hạ này… và tướng quan hẳn chưa quên rằng miền biên tái hai nước có nhiều mỏ kim sản, nhiều bạc vàng và đồng để đúc tiền hay sao… Ta mở công khố làm sao mua xuể ngựa để phá được chính sách bảo mã của tể tướng họ Vương.


Lý Thường Kiệt quắc mắt:


- Thế ta đành bó tay hay sao?


- Bẩm tướng công… Lý Chăm này đã cất hàng thì phải lãi chứ đời nào chịu bó tay ạ…


- Thế nhà ngươi có phương kế gì?


- Dạ, tôi chợt nghĩ đến chuyện mang muối đổi ngựa…


- Mang muối… sao ta lại cấp muối cho chúng nó… Ngươi nên nhớ rằng muối ở miền sơn cước còn quý hơn cả máu…


Lý Chăm cười lớn:


- Chăm này nhớ lắm chứ… nhớ lắm chứ… nhưng xin tướng quân cứ bình tâm để Chăm này phân giải tường tận… Trước đây mười phần muối dùng cho khắp miền Hoa Hạ thì bảy tám phần là muối do lái buôn Giao Chỉ mang lên chu cấp trao đổi… Nhưng nay vì chính Lưu Di nghe lệnh Vương An Thạch cấm chợ nên ải đóng bạc dịch trường, thì cái bảy tám phần muối ấy mất đi… Hơn nữa việc tụ lương tích cốc của các quan tướng của Tống ở Hoa Hạ cũng tích cả muối làm sự khan hiếm muối lại càng tăng… Đã thế, Lưu Di theo cách của Thẩm Khởi bắt thuyền chở muối thuyền buôn tập thủy trận, vì lẽ ấy việc chở muối ngược lên các sách động lại càng cản trở… Nghe nói muối bên kia đã nặng bằng sức nặng của đồng khối, nghĩa là một cân muối nặng bằng một cân đồng… sắp sửa nặng bằng bạc khối… Dân ở các sách động đang đói muối… nay ta chở muối lên đổi, dân các sách động phía bắc thùy bên kia sẽ đều hướng vào ta và với muối ta có thể làm tán loạn đàn ngựa bảo giáp của chúng… Xin tướng quân cứ cho Lý Chăm này lo liệu việc lớn này…


- Được, ta sẽ mở quốc khố cấp vốn cho nhà ngươi, cho nhà ngươi tùy nghi sử dụng…


Thế là hàng trăm thuyền đinh chở muối được chở ngược từ miệt đồng chiếng ngược lên miền giáp ranh biên ải, trữ sẵn ở Thất. Phò mã Thân Cảnh Phúc thân đem quân từ động Kép lên đóng ở đó để bảo vệ, và cho các dũng sĩ dũng cảm thân tín đi xuyên vào châu Quảng Nguyên để tìm tù trưởng Lưu Kỷ. Tù trưởng Lưu Kỷ vốn là một chúa động ở vùng Quảng Nguyên và trước đây đã từng là một thủ túc của Nùng Trí Cao. Khi Trí Cao bại, Lưu Kỷ nổi lên thúc ước một số sách động tiếp tục chí của người chủ tướng cũ, nhưng việc làm có ý biệt lập này làm cho cả hai bên nam bắc thùy không ưa. Vì thế mà Lưu Kỷ lúc ngả bên này lúc ngã bên kia, có khi chạy sang hẳn phía Tống nhưng bên Tống cũng không thu nạp… Lúc này mà không thu nạp thì nhất định bị đói muối to… Biết lẽ ấy, và lại biết Lưu Kỷ vốn người động Thất lưu tán đi, mà dân động Thất là dân nuôi ngựa và buôn ngựa nổi tiếng khắp mọi vùng, nên Lý Chăm bàn với Thân Cảnh Phúc lôi kéo Lưu Kỷ đến kho muối lớn. Táo gan đến như Lý Chăm cũng không dám ở lại kho muối với đám lính tráng và mã phu của mình, ông ta phải yêu cầu phò mã Thân Cảnh Phúc cử đại binh canh giữ. Vì cái bọn đói muối bên kia có thể liều chết mà đánh cướp rất táo tợn.


Khi Lưu Kỷ được biếu muối và mời sang, cũng là lúc Kỷ đang ở cái thế tuyệt vọng nhất. Vì thế, Kỷ sang ngay. Lý Chăm mang muối gạ đổi ngựa. Kỷ đổi ngay. Lý Chăm dẫn Kỷ đi xem kho muối lớn và gạ Kỷ mang muối đổi ngựa hộ cho mình… Muối là vàng mà ngựa cũng là món hàng một vốn bốn lời, rất sở trường của Lưu Kỷ và những tay chân thuộc hạ của mình, vì thế Lưu Kỷ nhận lời ngay… Thế là những thủ hạ thân tín của Lưu Kỷ chia nhỏ từng mươi mười lăm người thồ muối đi xuyên vào nội địa các động giáp Hoa Hạ đổi muối lấy ngựa. Đàn ngựa bảo giáp suy suyển, rung động… Đám tay chân thủ hạ vốn là những tù trưởng cũ như Hoàng Trọng Khanh, Lư Báo táo tợn hơn, tiến sâu hẳn vào các động giáp thành Ung, thành Khâm để phá đàn ngựa bảo mã dựng trong quân. Vì ở đó tình cảnh đói muối vô cùng khủng khiếp… Việc này làm Lưu Di bối rối. Để kiềm chế Lưu Kỷ và đám bộ hạ, Lưu Di chưa dám động binh mà chỉ sai mấy tên tù trưởng khê động giữ chức đô bảo giáp ngăn cản việc buôn bán phá đàn ngựa bảo mã theo tân pháp của Vương An Thạch. Con đường buôn muối đổi ngựa của Lưu Kỷ phải tất yếu xuyên qua động Quí Hóa. Nùng Trí Hội vốn là con Trí Cao, nhưng đã đầu hàng quân Tống và chịu qui phục. Được lệnh Trí Hội cản con đường Lưu Kỷ buôn ngựa. Từ phía sau động Thất, phò mã Thân Cảnh Phúc giúp Lưu Kỷ vũ khí lương thực và giáp mã kén đủ ba ngàn quân tiến lên đánh vào động Quí. Trí Hội cùng con là Tiền An cũng được Lưu Di cử quân các động giáp khác nằm trong số quân đội bảo giáp hỗ trợ cự lại…


Từ kinh đô, Lý Thường Kiệt lên tận sông Như Nguyệt để điều hành mọi việc. Thấy việc tiến quân chưa lợi, Lý Thường Kiệt bảo công chúa Thiên thành viết thư thả theo cánh chim nhắn phò mã Thân Cảnh Phúc hối thúc việc lui binh của Lưu Kỷ. Ngầm ý của Lý Thường Kiệt không muốn việc này động đến tận cung đình nhà Tống. Vì lẽ đó ông cố giữ quy mô của việc xô xát gươm đao như một vụ xô xát gươm đao bình thường giữa các giáp động biên thùy.


Nhưng Lưu Di đã tâu ngay việc này với triều, coi như một triệu chứng bắt đầu có biến động giữa hai phía Tống Lý ở biên thùy. Riêng về việc Nùng Trí Hội thì Lưu Di lại tâu thêm rằng: Thật ra Trí Hội chưa theo hẳn ta, nên để hai bên cứ đánh nhau như thế, thua được đều có lợi cho triều đình.


Lúc này tại Biện kinh, Tống Thần Tông nôn nóng phát binh nam tiến lắm rồi, nên nhà vua không thể chịu được cách cư xử có vẻ dửng dưng đối với những tướng tiên phong như cách cư xử của quan kinh lược Hoa hạ Lưu Di. Nhà vua hạ chiếu khiển trách rằng: “Sao nhà ngươi lại nói thế. Nếu ta không dung kẻ theo ta, thì kẻ không theo ta được đắc chí. Bày phương kế như thế là bậy”.


Tể tướng Vương An Thạch phụ họa theo:


- Quả thực hoàng thượng chí phải. Chí phải. Nếu quả thật Nùng Trí Hội chưa thật bụng theo ta như lời Lưu Di nói, thì cũng nên nhân cơ hội này mà mua chuộc dỗ dành nó… Vả nay Càn Đức còn nhỏ. Nếu Lưu Kỷ đánh được Trí Hội, rồi thừa thắng quay lại đánh lấy Giao Chỉ, thì đó lại là cái họa cho ta. Nay ta nên giúp Trí Hội để khắc chế Lưu Kỷ…


Thế là Lưu Di được lệnh mở kho Hoa Hạ cấp lương bổng và tiền bạc cho Trí Hội rất hậu, và chuyển cho con trai Trí Hội là Tiến An giữ chức Tây đầu cung phụng tướng quân. Đồng thời chiếu chỉ của vua Tống Thần Tông được truyền đi khắp các khê động biên thùy phải gấp rút mộ đinh tráng, sẵn sàng gươm giáo cung tên để làm thanh viện cho Nùng Trí Hội. Vua lại hẹn rằng sẽ trọng thưởng cho các tù trưởng khê động nào có công giúp Trí Hội đánh giặc. Mặt khác vua Tống Thần Tông sai Lưu Di sửa sang đường sá trên các trục đường từ Trung Nguyên nhằm xuống Giao Chỉ gấp rút, kiểm điểm các kho lương thảo vũ khí dọc đường… Cả biên thùy phía bắc rung động vì những cuộc diễu võ giương oai ráo riết của các động giáp thuộc sự khống chế của triều Tống. Các động đinh, thổ đinh trong các khê động bị điểm thành lính tráng tràn sang cướp phá biên thùy. Trong khi ấy thì các kho đụn dọc các tuyến đường tấn công từ trung châu xuống biên thùy phía nam đầy ắp quân lương. Thành Ung, thành Khâm, thành Liêm trở thành những cứ điểm quân sự đông đặc lính tráng.


Lúc đó trong cung điện Thăng Long, Thái phi nhiếp chính ngày đêm vắt của trong quốc khố và dân gian để dựng đủ bẩy mươi hai ngôi chùa lớn nhỏ và một ngôi chùa vô cùng nguy nga để thờ những người bị chết trong cung Thượng Dương. Tiền bạc đổ vào như nước lũ làm hao tán ngân sách triều chính không ít. Nhưng không ai có thể can được việc này, kể cả vua và Tiết chế Lý Thường Kiệt. Thấy bà Thái phi nhiếp chính chìm đắm trong việc cầu nguyện, Lý Thường Kiệt hết sức lo ngại. Ông càng tìm hết cách để tập trung quyền hành cho mình. Vua bằng lòng và phong thêm cho ông là Đôn quốc thái úy, đại tướng quân, đại Tư đồ thâu tóm cả việc triều chính việc quân sự, kiêm việc văn việc võ. Người đời sau nói rằng, ông trong thì nắm đại chính, ngoài thì coi sư lữ, dốc một lòng lấy sự yên xã tắc làm vui… Nhưng lúc ấy xã tắc như đang nấu nung trên ngọn lửa của chiến tranh. Phía nam thì Chiêm Thành đang quật khởi nhăm nhe đánh vào biên thùy, phía bắc thì quân Tống đang tụ khắp cả miền Hoa Hạ chuẩn bị tràn xuống…


Lý Thường Kiệt xin vua trao chức Thái phó bình chương quân quốc trọng sự cho viên tể tướng bị biếm chức trong châu Hoan là bậc đại nho Lý Đạo Thành. Việc này làm bà Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan giật mình kinh hãi. Bà Thái phi vội can ngăn:


- Khanh không nhớ Lý Đạo Thành là kẻ thù của ta, kẻ thù của con ta ư?


Lý Thường Kiệt lắc đầu:


- Tâu lệnh bà, tôi rất nhớ… nhưng càng nhớ càng phải cố mà quên, tìm mọi cách để không những mình quên mà mọi người đều quên. Quên cái mối thù riêng để lo đến thù chung của nước.


- Nhưng liệu Lý Đạo Thành có chịu quên không?


Lý Thường Kiệt trừng mắt:


- Không quên cũng không được… không được…


Bà Thái phi lo lắng:


- Nhưng ngộ nhỡ người ta cố tình không chịu quên… Trong khi khanh bận việc chinh chiến ở ngoài cõi, người ta có manh tâm làm phản thì làm sao bây giờ…


Lý Thường Kiệt nghiến răng:


- Đã đến nước ấy, thì việc không thể dùng lưỡi mà nói điều phải trái với nhau, thì cũng đành phải dùng đến lưỡi gươm… Lệnh bà cứ yên tâm, vì sự an nguy của xã tắc, vì ngai vàng của chúa, tôi không bao giờ dám rời tay kiếm… Nhưng lệnh bà cũng chớ nên quá lo xa… Tôi vẫn tin ở đức ông Lý Đạo Thành. Đức ông là một bão thần, đã trọn đời giúp giập ba đời vua triều Lý ta. Tấm lòng trung quân ái quốc của người vằng vặc sáng như vầng nhật nguyệt… Tuy đức ông vì câu nệ chuyện danh nghĩa mà chống lại ta, nhưng cũng là vì giường mối xã tắc mà phải làm như thế chứ đâu phải vì một chuyện yêu ghét riêng tư… Việc đức ông bị biếm ở châu Hoan cho đến nay vẫn âm ỉ gây mầm chia rẽ trong triều ngoài nội. Các bậc nho giả vốn trọng đạo thánh hiền vẫn ngoảnh đầu về phương ấy chưa thực bụng theo ta. Lúc này xã tắc ở thế ngàn cân treo sợi tóc… ta phải tìm mọi cách mà kết thành một mối. Tự tôi, tôi sẽ thân hành mang đại quân vào kinh lý nam thùy rồi đón rước bậc đại nho được tất cả sĩ phu ngưỡng vọng về triều để ngưỡng vọng của trăm họ đều hướng cả về ta…


Trước khi cử đại binh để gây thanh thế vỗ yên biên thùy ở phía Nam, Lý Thường Kiệt xin nhà vua Nhân Tông hạ chiếu cầu hiền, tuyển những người tài giỏi còn ở trong dân gian ra giúp nước và đặt định lệ mở khoa thi đầu tiên về nho học trong nước ta. Lý Thường Kiệt mang kiệu cánh phượng vào tận đất châu Hoan để rước vị đại nho nguyên tể tướng ra đứng tên chủ khảo cho kỳ thi quan trọng này.


Sau hơn hai năm ẩn thân suy ngẫm về lẽ hưng vong của triều vua và đất nước, vị đại nho đã ngoài tám mươi tuổi nhìn viên quan hoạn đắc thời hiện nắm trọn quyền triều chính lại chịu bỏ thân đến trước mình với con mắt khác… Tuy cái oán, cái thù riêng vẫn khó có thể xóa mờ được, nhưng ngọn lửa chiến tranh ngùn ngụt trên bắc thùy đã làm cho bậc đại nho giàu lòng yêu nước kia nén lại nỗi niềm riêng.


Vị đại lão thần bị biếm run run hỏi:


- Quan đại tư đồ nghĩ gì mà giữa lúc nạn binh lửa đang lan tràn phương bắc lại đứng ra lo việc thi cử ở giữa kinh đô?


Lý Thường Kiệt cúi đầu thưa rằng:


- Nước càng trong nguy cơ đại loạn, nhân tài càng phải liên kết, tất cả những người tài trí trong nước phải được mời ra để giúp vua cùng ghé vai gánh vác gánh nặng giang sơn…


Vị đại nho gật gù:


- Quan tư đồ nghĩ thế cũng chí phải… nhưng liệu binh lửa ngút trời có còn thời gian mà làm được việc hệ trọng đến là nhường ấy hay không…


- Chỉ cần lão trượng vén tay bước lên kiệu về kinh thành Thăng Long… mọi việc cứ để kẻ hậu sinh này lo toan chu tất.


Khoa thi đầu tiên của đất nước Đại Việt được tổ chức giữa những ngày nước sôi lửa bỏng ấy. Nhà vua mới vừa mười tuổi. Hàng vạn thạch lương thảo của nhà Tống đang tụ tập lại ở thành Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu chuẩn bị cho hàng chục vạn quân tràn xuống cướp phá Thăng Long, và biên thùy phương bắc đang ngút lửa của các cuộc dấy loạn giao tranh vùng giáp ranh hai nước… Vốn đức thận trọng, vị đại nho Lý Đạo thành vẫn bình tĩnh chấm từng quyển văn bài của các thí sinh, lấy đỗ bọn nhà nho trẻ tuổi là Lê Văn Thịnh… Và chọn Thịnh vào cung dạy vua học hành… Các người đỗ khoa ấy là những người được tuyển chọn đều được cử gấp rút đi trị nhậm các cung viện và các phủ huyện châu động trong nước…


Khi Thăng Long tưng bừng mở khoa thi dưới quyền chủ tọa của vị Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Lý Đạo Thành thì viên Tể chấp đại tư đồ Lý Thường Kiệt dẫn quân lên sông Như Nguyệt…


(còn tiếp)


Nguồn: Sừng rượu thề. Truyện lịch sử của Nghiêm Đa Văn. NXB Kim Đồng, 2012.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 15.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 10.01.2020
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.01.2020
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.01.2020
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 07.01.2020
Bắc cung Hoàng hậu - Nguyễn Vũ Tiềm 05.01.2020
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 05.01.2020
Trả giá - Triệu Xuân 02.01.2020
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 02.01.2020
xem thêm »