tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30947322
Tiểu thuyết
02.10.2018
Nghiêm Đa Văn
Sừng rượu thề


3


Trong thời gian đoàn ngựa thồ hàng của khách thương Lý Chăm lang thang dọc theo những cửa ải, những man động miền Hoa Nam, chàng lái buôn không hay biết đang có chính biến lớn lao trong cung đình nhà Lý tại Thăng Long. Nguyên là vào tháng giêng năm Nhâm Tý, nghĩa là chỉ bốn năm sau đại thắng Chiêm Thành, vua Lý Thánh Tông đột ngột băng hà, hưởng thọ năm mươi tuổi. Vì băng hà đột ngột nên nhà vua không kịp để lại di chiếu. Nhà vua chỉ có một hoàng tử duy nhất lúc bấy giờ mới lên bảy tuổi. Tất nhiên hoàng tử được các đại thần tôn lên làm vua.


Việc thái tử Càn Đức lên ngôi là việc hợp lẽ trời. Nhưng vì nhà vua lên khi còn quá nhỏ tuổi cần phải có người đứng ra giúp việc triều chính, giữ ngôi nhiếp chính, nắm mọi quyền bính trong tay. Vua chết bất ngờ nên quyền ấy mặc nhiên rơi vào tay viên quan đầu triều là tể tướng Lý Đạo Thành. Và điều lo ngại của vua Lý Thánh Tông những ngày hoang mang ở giữa kinh đô Phật Thệ hoang tàn đã trở thành sự thật. Lý Đạo Thành đã truất quyền phụ chính của mẹ đẻ ra Càn Đức, tức nguyên phi Ỷ Lan. Chỉ theo lệ thường phong cho Ỷ Lan là hoàng thái phi. Còn quyền bính trong triều giao vào tay nguyên hoàng hậu họ Dương, lúc này đã là Thượng Dương hoàng thái hậu. Mặc dù trước đây khi thay vua chấp chính việc nước để vua trẩy quân nam phạt Chiêm Thành, Ỷ Lan hoàng thái phi đã nổi tiếng là người đàn bà có tài trị nước. Trong triều ngoài dân dã ai ai cũng rằng nếu nhà vua có mệnh hệ nào thì người đứng ra trị nước phải là bà phi sắc sảo này. Ỷ Lan cũng tự tin như vậy. Hơn nữa Ỷ Lan lại được một viên quan tiết độ sứ kiêu dũng vốn là người thân quen từ trong nội cung là Lý Thường Kiệt trợ giúp.


Nhưng cái chết của vua Thánh Tông quá đột ngột, mà vị lão thần Lý Đạo Thành lại là người cầm quyền nước rất thận trọng, nên mọi không diễn ra theo ý nghĩ của dân gian cũng như của bà phi sinh ra đứa thái tử nối ngôi. Ngay từ khi vua chớm mệt, Lý Đạo Thành đã thác mệnh vua hạ chiếu ra lệnh cho các quan hữu ty rằng, hễ có ai vào làm nhà dành riêng cho các quan ở chức đô tả hữu, không kể kẻ sang người hèn đều phải phạt tám mươi trượng. Lệnh này tưởng chừng bình thường nhưng thực ra là một thứ thiết quân luật vô cùng nghiêm ngặt, ngăn không cho các tướng sĩ quan triều gặp nhau tạo nhà riêng hay phủ đệ để bàn việc tranh cướp quyền bính, đảo chính trong cung đình.


Lúc này uy đức của tể tướng Lý Đạo Thành trong triều rất lớn. Ông là một bậc lão thành đã có công phò tá mấy triều vua nhà Lý. Khi vua Thái Tông mới lên ngôi đã chọn ông làm thái sư. Ở ngôi tể tướng hai mươi năm, thanh thế trong triều của ông không ai bì kịp, quan lại các ty, quan đầu các phủ đệ đều do một tay ông cắt đặt. Là một bậc đại túc nho lại có lòng ưu ái đạo phật, ông chủ trương chính trị khoan hòa trái với cách cương cường của võ tướng Lý Thường Kiệt. Từ những năm bình Chiêm, ông đã không ưa việc gạt bỏ hoàng hậu Thượng Dương mà giao quyền bính cho bà nguyên phi của Lý Thánh Tông. Vì thế quyền bính đến tay ông là ông tôn bà hoàng thái hậu Thượng Dương lên trị nước, gạt viên võ tướng Lý Thường Kiệt sang một bên.


Hai phe trong triều nhà Lý đã phân ra chiến tuyến. Một bên là tể tướng Lý Đạo Thành và và nhiếp chính Thái hậu Thượng Dương. Một bên là bà nguyên phi Ỷ Lan và quan thái úy Lý Thường Kiệt. Phe tể tướng và hoàng hậu đang vận động giành lấy toàn bộ binh quyền, đẩy Lý Thường Kiệt ra ngoài biên ải, ép Thái phi Ỷ Lan về lại Siêu Loại quê cũ và phải cắt tóc đi tu.


Tin tức về việc tranh quyền giữa các phe trong triều Lý đã bị bọn thám tử là lái buôn người Hán lúc nhúc ra vào kinh thành Thăng Long biết được và mật tâu về kinh đô nhà Tống xin Vương An Thạch phát quân nam chinh, giành cái thế đục nước béo cò.


Là một vị dũng tướng mưu lược có thừa, Lý Thường Kiệt thừa trí lực để đoán biết mối nguy cơ đang từng giờ từng phút đe dọa triều đình nhà Lý, ảnh hưởng đến sự an nguy mất còn của con dân nước Đại Việt. Bây giờ mà quân nhà Tống phát binh thì mối nguy hiểm như vực thẳm mở ra trước mặt. Trong triều quan chia làm hai phe, đang rình để tranh cướp quyền bính của nhau, quân mười sáu đạo cấm binh bị xé lẻ vì tể tướng Lý Đạo Thành sợ quân cấm vệ tập trung là mầm gây loạn. Khắp nơi các võ quan và quan trấn thủ ngơ ngác chưa biết theo ai. Giặc sang trong tình thế ấy thì làm sao có cách gì để huy động một đạo quân lớn cự địch. Nguy cơ mất nước đã hiện ra ngay sau một cuộc đại thắng rung động cả vòm trời nam này


Trước mối nguy cơ to lớn ấy, Lý Thường Kiệt đã nghĩ đến chuyện dẹp bỏ mối thù trong để lo giặc nước. Ông hạ mình xin yết kiến tể tướng Lý Đạo Thành và xin vào hầu Thái hậu Thượng Dương. Nhưng cả hai cửa phủ đều đóng im ỉm trước mặt vị tướng đầy lòng yêu nước này. Phe của Thái hậu không chấp nhận một cuộc thương nghị nào vì sợ uy thế đang lên của vị thái úy vừa mang chiến thắng oanh liệt về cho đất nước, sợ lợi thế mẹ đẻ vua của Ỷ Lan nguyên phi. Phe của Thái hậu tiếp tục vận động những đạo cấm quân thuộc quyền mình nhằm ép Lý Thường Kiệt về hai châu Bố Chánh, Ma Linh xa xôi mới nhập vào bản đồ nước Việt xa cách hẳn việc triều chính, và đã đày nguyên phi Ỷ Lan về Siêu Loại, chỉ chờ ngày xuống lệnh bắt cắt tóc giam vào một ngôi chùa nào đó quanh vùng, một thứ ngục thất trá hình.


Biết thương lượng không cứu vãn được nguy cơ, Tiết chế Lý Thường Kiệt hành động quyết đoán bằng một cuộc chính biến võ lực. Ông thu thập các vệ cấm quân trung thành với mình từ ngày mình còn là võ quan trong nội cung, kéo ngược lên bắc, đến Siêu Loại giải vây cho nguyên phi Ỷ Lan, rồi rước nguyên phi Thăng Long tiến thẳng đến kinh đô Thăng Long bằng một cuộc hành quân bất ngờ thần tốc. Tại đất Kinh Bắc, nguyên phi Ỷ Lan hạ chiếu chiêu tập các vệ sương quân. Chỉ trong một đêm cả kinh thành Thăng Long tràn ngập hai vạn quân từ miệt Kinh Bắc kéo về. Quân rải kín dòng sông, tràn vào tận thành nội. Đạo thủy binh từ miệt Hải Đông cũng ầm ầm giong buồn kéo lên.


Là một văn chức đại nho, Tể tướng Lý Đạo Thành chỉ giỏi mưu mô trong màn trướng, trước bệ rồng chứ không lường trước cái thế thần tốc của kẻ từng nắm trọng binh lực toàn quốc trong tay như Tiết chế Lý Thường Kiệt. Vì lẽ ấy mà Thái sư đã bị vây hãm ngay trong phủ đệ của mình. Theo lệnh của Lý Thường Kiệt tất cả phủ đệ của các quan đều bị canh giữ nghiêm ngặt, nội bất xuất ngoại bất nhập. Lý Thường Kiệt lại dùng thân quân và quân thị vệ thân tín của mình tiến thẳng vào nội cung vây bắt thái hậu Thượng Dương.


Xong đâu đấy, Lý Thường Kiệt mới đưa kiệu Thái phi Ỷ Lan vào trước sân rồng. Trông thấy vua Nhân Tông, Thái phi Ỷ Lan ôm mặt khóc thảm thiết:


- Mẹ già đã mang nặng đẻ đau, rứt ruột rứt gan sinh ra con, lại khó nhọc nuôn con, bú mớm cho con nên người, mới có ngày nay. Bây giờ con lên ngôi cao, được hưởng phúc của tiên hoàng thì người khác giành mất chỗ của mẹ, con có biết mẹ bị người ta đầy ải thế nào không con?


Nhân Tông lúc đó mới lên tám tuổi, vốn rất thương mẹ, nghe mẹ khóc lóc thảm thiết thì bất giác cũng khóc theo. Nhà vua bây giờ trở lại nguyên vẹn là cậu bé Càn Đức hiếu thảo. Cậu bối rối không biết làm cách nào để mẹ mình khỏi khóc thảm thiết. Biết vậy Thái úy Lý Thường Kiệt tâu rằng:


- Bệ hạ cứ trao ấn cho mẹ đẻ là mẹ đẻ sẽ không còn phải khóc nữa…


Nghe lời khuyên, hoàng tử Càn Đức vội lấy quả ấn vàng nặng năm cân mà cậu cứ phải vất vả đeo bên mình giao vào tay mẹ. Cầm quả ấn trong tay, lập tức như lời quan Thái úy, quả thật nguyên phi Ỷ Lan không khóc nữa. Bà bèn gạt nước mắt mà lấy giấy long ám trải ngay trên sân rồng, viết ngay chiếu chỉ của vua phong chức Tể chấp cho Lý Thường Kiệt. Viết chiếu phong chức Nhiếp chính Thái phi cho mình, rồi áp ấn trước và bảo con cầm bút ký vào. Muốn làm vui lòng mẹ, Nhân Tông ký ngay.


Nhận chiếu chỉ sắc phong xong, Lý Thường Kiệt xin vua Nhân Tông hạ chiếu chỉ giáng chức nguyên tể tướng phụ chính Lý Đạo Thành xuống chức thị lang. Chiếu chỉ thảo chưa ráo mực đã có một đạo quan túc vệ trực sẵn để thi hành. Nhưng lúc đó, chính tể tướng Lý Thường Kiệt cũng không biết định địa phận lưu đày ở châu nào? Thấy Lý Thường Kiệt bối, Ỷ Lan nhắc một cach nghiêm khắc:


- Oai thế của Đạo Thành ở đây lớn lắm, không thể để ông ta ở gần được…


Lý Thường Kiệt do dự:


- Nhưng không thể đày ông ta lên vùng khê động, vùng đó lúc này đang có biến. Bất cứ lúc nào người Tống cũng có thể động mã binh lấy cớ giúp vị lão thần mà tấn công ta.


- Sao không đưa ông ta vào đúng cái chỗ mà ông ta đang có ý đày người tới


- Đưa ông ta đến vùng đất mới từ Bố Chánh, Ma Linh đến châu Địa Lý ư… Như thế không được… Chúa Chiêm Thành biết ta có biến tất kéo quân ra cấu kết với Lý Đạo Thành… Thôi chỉ còn đất Hoan Diễn mênh mông là nơi giữ chân vị thị lang này, vừa là nơi Đạo Thành chưa tỏa được uy lực đến, vừa nằm sâu trong nội địa, kẻ ngoài biên không dễ dàng vào can thiệp được


Và lời bàn đó thành chính lệnh. Một giờ sau đạo quân túc vệ đã đưa Lý Đạo Thành xuống thuyền giương buồm nhằm thẳng ra cửa bể rồi từ cửa bể lại đổ vào cửa Lạch. Cũng ngay lúc đó, cung Thượng Dương vốn là cung riêng của Thái hậu biến thành một thức ngục thất vàng son. Trong nhà ngục này giam thái hậu cùng bảy mươi hai người gồm các bà phi cùng cung tần thị nữ.


Cuộc chính biến được khép lại chỉ trong vòng một ngày một đêm, nội trong vòng thành kín đáo của cung đình. Lý Thường Kiệt bằng lòng vì mọi việc xảy ra êm ả. Không một làn phải để tay rút gươm ra khỏi bao. Không có cảnh đầu rơi máu chảy. Ỷ Lan nhiếp chính hoàn thái phi cũng trút một hơi thở dài mãn nguyện, nắm trọn quyền bính nội cung trong tay.


Nhưng mọi chuyện đã không êm ả thuận chiều như mong muốn của nguyên phi nhiếp chính mới. Tuy tể tướng bị đi đày, Thái hậu Thượng Dươn bị giam trong điện Thượng Dương, nhưng các quan chức vào tướng tá thuộc phe của hai người còn ở trong ngoài đo, trong thành ngoài các trấn. Khắp nơi nghe tiếng gươm khua giáo động. Hàng ngày thám bào của phủ Tiết chế đưa về những tin tức chẳng lành. Chỗ này anh em Thái hậu họ Dương đang lo chiêu tập binh mã dựng cờ dấy loạn, nơi kia những thuộc cấp cũ của tể tướng, những học trò cũ của vị đại nhô một lần đã làm tể tướng tại triều suốt mười tám năm, đang gấp rút liên lạc với nhai hợp quân kéo vào Hoan Diễn để cứu Lý Đạo Thành đưa về Thăng Long giành lại quyền nhiếp chính.


Cả một vùng châu thổ sông Nhị Hà rung động như sắp nổi cơn động đất.


Mây đen kéo kín kinh thành Thăng Long.


Nguy cơ của một cuộc tranh chấp nội chiến nồi da nấu thịt tàn khốc tưởng chừng không thể nào tránh khỏi. Ngoài biên thùy phía bắc, các tù trưởng khê động liên tiếp bị các sứ giả của triều Tống đến thăm hỏi vừa đe dọa, vừa mua chuộc, vừa kiềm chế. Đã có một tù trưởng châu Đặc Ma trở giáo xin thuần phục nhà Tống. Nếu ở trong triều và vùng bản địa núng động thì các phên giậu biên thùy sẽ lung lay tan rã. Tấm áo phòng thủ sẽ rách nát. Là một võ tướng cầm quân, Lý Thường Kiệt biết rằng trong cái mớ bòng bong của chính sự này thì lòng người sẽ ly tán và các đạo quân vì thế tan rã, nếu tướng khâm sai kiểm hiệu của vùng Điền Quế chỉ cần nhanh trí mà liều mạng cất vài mươi ngàn quân điều động ngay trong hạt mình thôi thì cũng có thể dễ dàng tiến đến Thăng Long không gặp quá nhiều trở ngại. Và triều đình nhà Lý có nguy cơ bị tiêu diệt. Đất nước lại chìm vào bóng đêm của ngàn năm Bắc thuộc vừa mới qua khỏi. Nước ta lại biến thành quận huyện như người Tống mong muốn.


Nguy cơ khủng khiếp đè nặng lên lòng người mẹ. Nguyên phi Ỷ Lan không còn nhớ mình là Thái hậu nhiếp chính nữa, chỉ còn nhớ mình là người mẹ như muôn vàn người mẹ khác. Và trước mặt bà, Càn Đức đâu phải là vua Nhân Tông, vị vua của triều Lý đương vị mà chỉ còn la một đứa con trai bé bỏng yếu đuối. Vì thế Ỷ Lan, con người vốn sắc nước quyền biến như thế mà lúc này cũng chỉ còn biết ôm con mà than khóc. Cậu bé Càn Đức không còn nhớ mình đã lên ngôi vua, nằm khoanh trong lòng mẹ sợ sệt cũng khóc theo.


Lý Thường Kiệt từ dinh tiết chế chạy vào mang tin dữ khủng khiếp: Lý Đạo Thành trong châu Hoan đã lập đàn tế dựng bài vị của vua tiên đế Lý Thánh Tông. Đàn tràng sẽ kéo dài đủ bốn mươi chín ngày. Nghe tin này, một truyền mười, mười truyền trăm, nhân dân và hào kiệt khắp nơi lũ lượt rủ nhau vào Hoan Diễn để tế vị vua cũ. Ngay tại Thăng Long cũng đã có người rủ nhau mua thuyền để đến với đàn tế của Lý Đạo Thành. Và cũng ở Thăng Long đang truyền đi một bài hịch nghe đâu của chính Thượng Dương thái hậu. Bài hịch kể tội nguyên phi Ỷ Lan lung lạc ấu chúa, hạch tội hoạn quan Lý Thường Kiệt từ nội cung lo việc hầu hạ các bà phi tiến ra giữa triều đình khuynh đoạt xã tắc. Bài hich kêu gọi thần dân sĩ phu tráng đinh hướng về điện thờ vua Thánh Tông tiền đế do quan phụ chính Lý Đạo Thành lập nên…


Nghe tin ấy, Ỷ Lan phu nhân càng rụng rời chân tay. Bà ôm chặt đứa con mới tám tuổi của mình mà khóc:


- Trời ơi, tại sao bố con lại là một bậc vương quân… sao bố con không là một người nông phu nghèo hàn nơi quê mùa không ai biết đến… để mẹ con mình đỡ phải khổ như thế này… Sao mà tôi không cứ yên phận ở quê nhà, ngày ngày hái dâu nuôi tằm, đêm đêm kéo tơ dệt lụa, có phải con tôi chỉ cần lo bữa no bữa đói chứ đâu phải tranh chấp quyền bính sợ người ta chém giết mình như thế này?


Lý Thường Kiệt nhắc Thái phi nhiếp chính:


- Xin Thái phi đừng than tiếc cho những gì chính Thái phi đã từ bỏ đế bước vào cung điện này… Bây giờ đã quá muộn, có than tiếc cũng vô ích… Đã cưỡi lên lưng cọp dữ không thể nào xuống được nữa. Hối hận do dự chỉ chuốc lấy cái chết thảm khốc mà thôi.


- Tình thế đến nỗi này thì làm sao tránh khỏi cái chết


- Đúng là tình thế khốn cùng bi thảm nhất đã đến. Nhưng bây giờ khóc có ích gì… Nước mắt chỉ làm mở đi, dập tắt đi những đốm lửa hi vọng cuối cùng mà ta có thể nhìn thấy được. Xin Thái phi đừng có khóc than cho thân phận mình…


- Ta chờ người ta đến giết cả hai mẹ con ta, làm sao ta không rơi lệ được… Con ơi, mẹ làm khổ con… Quan Tể chấp ơi liệu ta chịu chết thì họ có giết con trai ta không? Họ có tha chết cho con trai ta không?


- Khi họ giam lệnh bà tại chùa Siêu Loại thì Thái hậu và Lý Đạo Thành quyết giữ nhà vua ở ngai đế, vì thế mà tôn ngài lên ngôi. Nhưng bây giờ khác rồi… Trong hoàng tộc còn có các hoàng thân con ngành thứ. Họ sẽ chọn một người khác lập ngôi vua và quyết tiêu diệt ta… Không để một ai sống sót, nếu như họ nắm lại được quyền bính… Chắc hẳn bây giờ kẻ ngồi trong nhà ngục vàng song, và kẻ đang ở Hoan Diễn lập đàn tế lễ đều hối hận rằng khi nắm thanh gươm báu trong tay không hạ xuống lấy ngay đầu kẻ kình địch với mình, gây hậu họa là cuộc chính biến từ Siêu Loại lan đến cung đình.


- Như thế ta đành ngồi mà đợi chết hay sao?


- Nếu lệnh bà cứ ngồi ôm hoàng đế mà khóc như thế nào thì đúng là lệnh bà đang đợi chết… Và lệnh bà không những muốn chết mà còn muốn giết cả hoàng đế nữa… muốn giết cả nhà Lý nữa… giết cả nước Đại Việt nữa…


- Sao lại thế… ngôi báu không nằm trong tay con ta thì rơi vào tay một hoàng thân nhà Lý nào khác, sao lại mất được?


Lý Thường Kiệt cười cay đắng:


- Nói như lệnh bà mới nghĩ đến sự an nguy của mẹ con lệnh bà chứng chưa nghĩ đến xã tắc… Bởi vì sự an nguy của lệnh bà lúc này gắn liền với sự mất còn của triều đình, của non sông nên tôi buộc phải đưa vai gánh vác… Đời tôi chẳng còn gì nữa… Theo đạo thánh hiền những kẻ như tôi đã phạm vào tội đại bất hiếu, không thể có con nối dõi tông đường, nối dài mạch hương lửa thờ phụng tổ tiên thì có sống cũng bằng thừa… Sống tôi cũng chẳng còn cái vui thú của con người là hưởng hạnh phúc lứa đôi, vui với gia đình có con đàn cháu đống… Tôi là kẻ bây giờ thân phận chẳng còn gì, tước lộc vinh hoa cũng chẳng làm gì, một bước lên đoạn đầu đài hay một bước lui chân qui ẩn trong bóng từ bi cũng chẳng lấy gì làm trọng… Vì thế điều tôi lo chẳng phải là lo cho tôi, cho mạng sống của tôi mà là lo chung cho xã tắc… Nếu để phe Thái hậu Thượng Dương dấy binh thì nội chiến không thể tránh khỏi… mà trên biên thùy phía bắc Tể tướng Tống triều Vương An Thạch đã sẵn sàng giáp binh, mưu đồ bành trướng phương nam đã nung nấu từ biết bao năm nay, đây là một dịp tốt xua quân tràn xuống. Ta còn mải đánh nhau tranh giành ngôi vị thì một sớm một triều quân nhà Tống sẽ làm cỏ lăng miếu nơi Kinh Bắc rồi biến cả nước ta thành quận huyện như thời nhà Đường, nhà Nam Hán. Lúc ấy hỏi rằng triều Lý có còn không, hỏi rằng nước Đại Việt có còn không?...


Nghe đến đây Thái phi Ỷ Lan rùng mình hốt hoảng:


- Vậy theo ý ngươi bây giờ phải làm gì?


Lý Thường Kiệt im lặng không giám nói thành lời, nhưng ngoảnh mặt về cung Thượng Dương, xòe bàn tay làm như một thanh bảo kiếm và chém mạnh trong không khí.


Thái phi Ỷ Lan òa lên khóc:


- Phải làm như thế ư… Ta sợ lắm… Ta sợ quỷ thần trừng phạt…


Lý Thường Kiệt thở dài:


- Tôi cũng sợ quỷ thần… Nhưng không phải vì kinh sợ quỷ thần mà quỷ thần cứu được ta khỏi chết, cứu được triều đình nhà Lý khỏi mất, cứu được nước Đại Việt khỏi tan…


Ỷ Lan nguyên phi im lặng hồi lâu rồi vừa ôm chặt vua Càn Đức vào lòng như ôm một đứa trẻ nhỏ, khác nào một người mẹ bình thường ôm chặt lấy con, bảo vệ còn chống lại mọi kẻ thù có thể ám hại con mình, vừa rụt rè hỏi:


- Phải chém tất cả ư…


Lý Thường Kiệt lắc đầu:


- Không thể chém… Chém tất sinh biến…


- Phải thiêu cháy ư.


- Không thể thiêu cháy… Thiêu cháy vẫn rõ bàn tay ta, tất sinh loạn nước…


- Phải đầu độc cho chết tất cả ư…


Lý Thường Kiệt quắc mắt hỏi:


- Ai sẽ là chủ mưu đầu độc…Lệnh bà ư?


Ỷ Lan phu nhân giật thót mình lắc đầu hoảng hốt…


Lúc bấy giờ Lý Thường Kiệt mới chậm rãi nói:


- Cả thiên hạ bây giờ đều nhìn về phía hai người là Thái hậu Thượng Dương và Tể tướng Cựu tể tướng thì ở xa, vị tất đã gây nổi họa cho ta. Mà bản chất của vị đại nho này vốn ưa nhu ghét cương, sẽ khó tự mình gây biến. Chỉ có thái hậu Thượng Dương là người quyền biến mà ở ngay kinh thành, trong vòng vây hãm của ta, hiện là đầu mối quy tụ của phe chống lại ta, mưu tính cướp lại quyền bính… Ta phải làm mất cái đầu mối ấy càng sớm giờ khắc nào càng bớt họa giờ khắc ấy… Nhưng không được để lộ ra cho mọi người biết rằng ta ra tay hành động. Chém đầu, thiêu cháy, hay đầu độc đều lộ cả… phải tìm một cách khác…


- Người đã tìm ra cách nào thần diệu rồi chăng?


Lý Thường Kiệt thở dài lắc đầu;


- Thế thì làm thế nào bây giờ…


- Làm thế nào ư… việc đến lúc phải làm không thể không xắn tay áo lên… không tìm ra muôn ngàn kế… Chỉ cần Lệnh bà gạt cho khô nước mắt nhi nữ thường tình và lo tính ngay bây giờ… Tôi tin là Lệnh bà vốn sắc sảo quyền biến, nhất định Lệnh bà sẽ tìm ra mưu chước lạ…


Nghe lời khuyên của Lý Thường Kiệt, Thái hậu nhiếp chính Ỷ Lan đặt ông vua tí hon lên ngai vàng rồi lau khô nước mắt.


Thế là ngay ngày hôm sau, có chiếu của vua Nhân Tông sức cho tất cả chùa chiền trong nước mở lễ cầu siêu thịnh độ cho bậc tiên đế vừa băng hà. Mười sáu đội quân cấm vệ phải mặc áo đại tang dàn khắp mọi phố phường quan ải cửa thành để đón rước dân khắp nơi về các chùa thỉnh kinh niệm phật… Một đàn chay lớn được thiết lập tại chùa Diên Hựu. Tin về việc nà vua đứng ra lập đàn chay cầu siêu cho tiên đế làm nức lòng dân trong nước. Lập tức người ta quên đi cái đàn chay và bài vị trái lẽ thường của một vị quan đặt ở mãi châu Hoan Diễn xa xôi. Hàng ngàn sư sãi khắp mọi nơi lũ lượt áo cà sa vàng trẩy kinh dự lễ. Các sư sãi lúc bấy giờ có uy tín tuyệt đối với thần dân một nước mới khai quốc và coi đạo Phật là quốc giáo. Đạo nho đã vào nước ta nhưng mới ảnh hưởng đến một lớp nho sĩ nhỏ bé. Vì thế mà bài vị tế thờ theo cách của đạo nho của vị đại nho cựu Tể tướng Lý Đạo Thành không có sức thu hút đối với thần dân nữa.


Tiếng chuông ngân nga từ tháp chuông chùa trong kinh thành Thăng Long lan xa tận các miền trong nước. Đám lễ cầu siêu kết thúc bằng một đám rước huyền bí… Hàng trăm tấm lụa bạch rộng khổ được nối với nhau tạo thành một cái cầu dài vô tận căng trên đầu những người dự lễ. Đi trước đám rước là hàng trăm hòa thượng tay lần tràng hạt đọc kinh siêu độ. Hàng trăm hòa thượng nối theo sau tay chày tay mõ miệng niệm nam mô Phật như giữ nhịp trầm bổng huyền hoặc của lời kinh siêu độ ngân nga. Và theo sau đám rước của nhà sư là bài vị của của vị tiên đế đặt trên kiệu cửu long rực rỡ. Nối liền với kiệu là chiếc cầu tượng trưng bằng lụa bạch kéo dài vô tận… Có hàng ngàn thần dân tình nguyện đội cầu đưa hồn tiên đế về nơi cực lạc…


Đám rước tôn giáo uy nghiêm và linh thiêng chưa từng có này bắt đầu từ chùa Diên Hựu. Ngôi chùa mà vua Lý Thánh Tông cho xây dựng theo hình tượng một tòa sen vươn lên trên mặt nước để ghi lại điềm sinh thái tử trong giấc mộng cầu tự trên đất Siêu Loại. Ngôi chùa này vừa là hình tượng của vua mới, vừa gắn liền với sự tôn nghiêm của nguyên phi Ỷ Lan. Từ đấy đám rước đi vòng thành Thăng Long ra bến Đông Bộ Đầu, rồi vòng lại đền Bạch Mã, vươn qua miếu Đồng Cổ rồi đi vòng đến tận cung Thượng Dương thái hậu. Đến trước cung Thượng Dương, Ỷ Lan nguyên phi ra lệnh lấy gỗ trầm hương dựn một dàn hỏa thiêu rất lớn. Những vòng cầu lụa bạch lập tức vòng quanh mấy lầm cả chu vi cung Thượng Dương lẫn dàn hỏa thiêu kỳ lạ kia. Hàng trăm vị hòa thượng lập tức quỳ trước dàn hỏa thiêu cầu nguyện tụng kinh siêu độ. Nhà vua cũng được người ta dẫn đến đây và bảo phải quỳ xuống trước dàn lửa. Lúc ấy Thái phi Ỷ Lan mặc đồ tang chế uy nghiêm bước trên dàn hỏa và quay về phía thần dân mà nói rằng:


- Ta đã ăn chay nằm mộng tại chùa Diên Hựu mấy bữa nay. Đêm qua, đức tiên hàng hiện về báo mộng. Nét mặt ngài buồn rầu, ủ dột. Ta khóc lóc van nài người nhưng người chỉ lắc đầu không nói. Ta gạn hỏi mãi, người mới chỉ vào Càn Đức con trai của ta mà rằng: “Hoàng đế mới lên ngôi còn nhỏ dại, mà thù trong thì đầy, giặc ngoài lại lắm, trẫm lo lắng vô cùng… Nay trẫm đã lên cõi tiên, an phận an bề trẫm, chuyện trần gian giữ nghiệp đế cho dòng họ Lý, giữ gìn quốc thống cho nước Đại Việt ái phi phải thay trẫm cùng quan tể chấp gắng lo chu toàn. Đừng để cho kẻ thù ngoại bang lấn lướt, đừng để mất từng ngọn cỏ, từng thước đất của non sông gấm vóc mà tổ tiên để lại… Có như thế trẫm mới được mỉm cười nơi chín suối…” Ta đã rập đầu hứa với đức tiên hoàng là thịt nát xương ta cũng không dám sai lời cố mệnh. Ta lại hoi ở noi chốn non bồn nước nhược người thiếu thốn gì khồn… Người thở dài mà rằng: “Khi ta còn làm vua hạ giới, trong triều ngoài nội kiệu tía võng vàng, ngựa xe dìu dặt… Nay ta về đường mây khuất nẻo cõi tịch diệt vắng không… Nhìn bên hữu không thấy bóng Thái hậu của ta đâu, nhìn bên tả không thấy bóng thái phi của ta đâu. Các tiệp dư các cung tần mỹ nữ ta yêu dấu đều vắng bóng… làm ta thương nhớ không thể nào nguôi được… Nay thái phi bận lo cho Càn Đức con ta ngồi vững trên ngai vàng trị nước, ta đành hẹn đến một ngày nào hội ngộ, chứ còn Hoàng hậu và các cung tần mỹ nữ của ta đi đâu hết cả”… Nghĩ mà thương nỗi cô quạnh của tiên đế, ta không thể cầm được nước mắt… Ta xin được theo hầu ngài… Bởi chưng lòng dạ người ta như đáy bể sâu không ai dò nổi nên ta không thể thay cho người khác mà trả lời thay bệ hạ được… Ta chỉ trả lời cho ta thôi… Ta xin được quyên sinh theo hầu bệ hạ dưới suối vàng… Nhưng tiền đế nhìn ta lưu luyến mà tay chỉ vào Càn Đức có ý gửi gắm rồi tự nhiên nước mặt trào ra. Không nói nên lời… Rồi tiếng chuông chùa đánh hồi siêu độ đổ dồn làm tan giấc mộng… Ta bành hoàng trước một nỗi phân vân một đằng thì con thơ nhỏ dại phải gánh vác xã tắc non sông, một đằng thì tiên quân cô quả bơ vơ dưới suối vàng không người hầu hạ vui vầy… Việc hạ giới ta nghĩ là thiếu bàn tay ta thì đã có các quan đại thần, có thần dân tăm họ ra tay giúp giập con ta đứng vững ở ngôi cao giữ lời cố mệnh của tiền đế… Còn ở dưới suối vàng hỗn mang co quạnh, đức tiền đế ta thiếu ta thì trước sau còn có ai nữa. Vì thế chí ta đã quyết… Ta lập dàn hỏa này để xin được đi theo theo tiên đế… Con ơi, con hãy cầm ngọn đuốc kia châm vào những cây trầm hương khô nỏ của dàn hỏa này, để mẹ không phụ lời của cha con… Vì cha con bảo mẹ phải sống để lo cho con. Nhưng con đã đủ trí tự cường làm một bậc quan văn võ, thần dân trăm họ giúp giập… Con hãy để mẹ già đi theo tiền đế hầu hạ tiền đế để người khỏi cô quạnh nơi suối vàng… Chao ơi làm đấng quân vương, khi sống thì cung này lầu nọ, điện thấp tòa cao, ai cũng muốn làm hoàng hậu, ai cũng tranh được gần kề bên gối… Giờ chết đi những kẻ tranh giành kia đâu cả. Để người bơ vơ cô quả thương tâm vô cùng trong thế giới u minh… Càn Đức con ơi, con phải tự tay châm dàn hỏa thiêu này, để mẹ được về hầu hạ tiên đế cha con mà không bị cha con quở trách vì dám không nghe lời cố mệnh cố sống mà nâng đỡ con… Con ơi, con hãy châm ngọn đuốc kia vào dàn hỏa thiêu này.. Bớ văn võ bá quan, bớ thần dân thiên hạ, ta đã gửi xã tắc của tiền đế vào tay con ta, ta gửi con ta vào tay các người… Ta tin ở lòng trung của các người… Các người đừng phụ lòng ta để ta được sánh bên đức tiền đế mỉm cười nơi chín suối… Kìa Càn Đức con ơi, hãy đốt dàn hỏa thiêu thiêu thân xác vô hồn của mẹ để mẹ sớm được hầu đức đế quân…


Càng về cuối giọng của Thái phi Ỷ Lan càng run lên… Tấm áo đại tang càng bay trong hương khói mờ mịt… Tiếng khóc huyền bí trước bóng tối âm thầm của cung Thượng Dương… Đến lúc ấy trong bộ võ phục tang chế đặc biệt quan Tể chấp Lý Thường Kiệt, oai nghiêm nâng cao ngọn đuốc bùng bùng lửa cháy tiến lại dân cho Càn Đức và tâu rằng:


- Theo ý nguyện của Thái phi, bệ hạ hãy cầm ngọn đuốc này khai hỏa cho dàn hỏa thiêu… Để người được về hầu đức tiên đế…


Tay cậu bé run run đỡ lấy ngọn đuốc… Từ trên dàn hỏa cao Ỷ Lan Nguyên phi nhiếp chính mắt đăm đăm nhìn ngọn đuốc trong tay đứa con mình. Nếu ai tinh mắt sẽ thấy bà run rẩy trong tấm áo đại tang bay lồng lộng trong gió. Lúc này vị hoàng đế mới tám tuổi run rẩy với bó đuốc trong tay… Thấy cậu bé bị kích động đến tận cùng thì Lý Thường Kiệt ghé tai nhà vua nhỏ tuổi và giục rằng:


- Bệ hạ châm lửa đốt chết mẹ bệ hạ đi…kìa…


Câu nhắc nhở có vẻ lạnh lùng bề ngoài ấy có tác dụng biến vị vua thành một đứa trẻ nhỏ thương yêu mẹ hơn tất cả mọi thứ trên đời, hơn cả ngai vàng, hơn cả những truyện thần tiên ma quái về cõi u minh, hơn cả người cha đã khuất… Cậu bé bỗng khóc thét lên một tiếng, vứt ngọn đuốc xuống dưới chân và cắm đầu lao về phía dàn hỏa, cứ thế leo lên các bậc thang của dàn hỏa. Các bậc lên dàn hỏa hình như làm sẵn để cho lúc này nên từng bậc một đều rất ngắn rất thấp, hết sức vừa tầm chân của vị vua mới lên tám tuổi. Nên chỉ trong thoáng chốc là nhà vua nhỏ tuổi đã chạy lên tới đỉnh cao nhất của dàn hỏa thiêu và ôm chầm lấy Ỷ Lan Thái phi và thét lên một tiếng mà tất cả các đứa trẻ con biết yêu thương mẹ vào tuổi đó đều thét lên khi người mẹ kính yêu nhất đời của mình gặp nạn. Tiếng thét: “Mẹ ơi, mẹ ở lại với con…” vang lên tha thiết trong không khí trang nghiêm huyền bí… Đó là tiếng nói của một vị vua nên tiếng nói đó là chính lệnh…


Đến lúc ấy vị Tể chấp dũng tướng Lý Thường Kiệt mới toát mồ hôi suốt dọc xương sống trong lớp áo chiến báo tang chế. Như một kẻ phải leo ngược một ngọn dốc cao khắc nghiệt, khi leo đến tận đỉnh cao, tự nhiên thấy chân tay bủn rủn rời rã… Lý Thường Kiệt ngã khụy xuống, và trút một hơi thở thật dài như trút được một gánh nặng khủng khiếp… Nhưng hàng ngàn hàng vạn người có mặt trước dàn hỏa thiêu này đều bận ngẩng đầu nhìn hình ảnh rực rỡ nhất của tình mẹ con, của bậc quân vương của họ trên đỉnh cao dàn hỏa thiêu… Đội quân nhạc cung đình đã sắp sẵn để chờ đợi dịp này dội tiếng trống đồng oai nghiêm…


Chỉ có một người hiểu tất cả mọi điều. Người đó đang ngồi lặng đi trong bóng tối của cung Thượng Dương. Người đó là Hoàng thái hậu họ Dương. Thái hậu nghiến răng tuyệt vọng:


- Thế là giờ chết của ta đã điểm, giờ chết của bảy mươi hai cung tần mỹ nữ, nguyên phi, tiệp dư bị giam cùng ta trong cung lầu Thượng Dương này đã điểm…


Một bà tiệp dư hoảng hốt thốt lên rằng:


- Chẳng lẽ lại như thế… Chẳng lẽ sau lễ trọng như thế này họ lại giết chúng ta ư, thưa Hoàng thái hậu…


- Họ không cần phải ra tay giết chúng ta… không cần phải phóng hỏa, không cần phải động tay đao kiếm… không cần phải gửi vuông lụa để bắt chúng ta thắt cổ, không cần phải gửi bảy mươi hai bát thuốc độc cho các ngươi và một bát thuốc độc cho ta…


- Thế thì làm sao chúng ta chịu chết được?


Thái hậu Thượng Dương cười lạnh:


- Tự ta phải chết…


- Trời ơi sao lại thảm khốc đến như vậy…


- Ừ thì đúng là thảm khốc… Nhưng thảm khốc thì biết mà làm sao biết được cách để tránh cái chết thảm khốc này… Tại ta… tại ta cả thôi mà các ngươi bị vạ lây… Cái chết mà ta định dành cho Ỷ Lan Nguyên phi trong chùa Siêu Loại mà ta chưa kịp mang ra thi hành thì Ỷ Lan mang đến cho ta ngay trong cung Thượng Dương này. Ỷ Lan đã dám bước qua cái chết của dàn hỏa thiêu để tìm cái sống, tìm đến với quyền hành… Còn ta thì tìm đến với cái sống, tìm đến với quyền hành thì cuối cùng ta lại gặp một cái chết ở chính nơi đây… Mọi chuyện đã muộn quá trồi không còn phương cứu vãn.


- Nhưng chẳng lẽ ta cứ bó tay chịu chết hay sao?


Thái hậu Thượng Dương nghiến răng:


- Bây giờ ta ở vào cái thế không chết không thể được nữa rồi… Tự tìm lấy cái chết thì giữ lại được chút thanh danh. Không tự tìm lấy cái chết thì bị người đời nguyền rủa… Vì kể như cái án tử đã được thi hành cùng dàn hỏa thiêu không bao giờ cháy lên thành ngọn lửa kia… Ta không ngờ ta đã thua chí một con đàn bà hái dâu xuất thân từ đám thôn dã và một tên hoạn quan lập nghiệp từ việc giữ mấy cái váy của các thị nữ cung phi. Than ôi mệnh ta đến đây là hết… Trời đã hại ta rồi…


Ngày hôm sau viên đô tri cấm vệ quân Long Dực lo việc canh giữ cung Thượng Dương đến khấu đầu trước dinh quan Tể chấp báo cáo việc chẳng lành:


- Kính bẩm tướng quân, ngay sáng hôm nay khi thần dẫn quân vào cung Thượng Dương, thần thấy sặc mùi tử khí… Thần hoảng hốt chạy thẳng vào chính điện thì trời ơi… trước bài vị của đức tiên đế, thái hậu Thượng Dương và tất cả bảy mươi hai cung tần mỹ đều mặc áo đại tang và đã chết cứng từ lúc nào…


Lý Thường Kiệt vẻ vặt trầm ngâm, phất tay:


- Khỏi cần nói dài dòng… điều này ta đã biết… Bớ ba quân thừa lệnh của Lệnh bà nhiếp chính, cử khinh kị truyền tin cho tất cả các đình chùa làm lễ cầu siêu cho đức Thái hậu và các bà phi đã quyên sinh thác theo đức tiên đế như ý nguyện của ngài…


Viên tướng đô tri cấm vệ quân Long Dực ngạc nhiên hơn khi viết là những điều chuẩn bị cho lễ cầu siêu này đã sẵn sàng… Lễ cầu kinh siêu độ cho bà Hoàng thái hậu và bảy mươi hai bà phi được cử hành trọng thể trong các đền chùa khắp trong cõi. Lệnh bà nhiếp chính Ỷ Lan Thái phi thân đứng ra cùng nhà vua Nhân Tông trẻ tuổi lập đàn tế lễ và rước linh cữu các bà phi và Thái hậu về vùng đất Kinh Bắc nơi có lăng tẩm thái miếu của triều đình nhà Lý…


Khi tiếng chuông lễ cầu siêu ngân nga vang đến đất Hoan Châu thì cựu tể tướng Lý Đạo Thành nay bị giáng xuống cấp thị lang, giữ chức Tả gián nghị đại phu đang xây viện Địa Tạng để tô tượng phật và thờ vị tiên đế Lý Thánh Tông. Tiếng chuông làm bủn rủn lòng vị đại phu còn mang trong lòng ngọn lửa hưng phục. Từ khi nghe thấy tiếng chuông cầu siêu ấy, vị lão thần gần hai mươi năm giữ ngôi tể tướng cảm thấy như đó là tiếng chuông siêu độ dành cho mình. Ông ta bèn đuổi hết thợ thổ mộc đang xây viện Địa Tạng về, và ngồi nhập thiền giữa đám gạch đá ngổn ngang đang xây dở…


Tiếng chuông ngân nga siêu độ vượt hết chùa này đến chùa khác vang tới tận dải biên thùy phía bắc xa xôi. Nơi đó những đạo quân Tống đang rục rịch sắm sửa vũ khí, lương thảo, sửa sang giáp mã để bất ngờ tràn sang, bỗng dưng được lệnh bãi binh chờ thời… Người ta bảo rằng tiếng chuông ấy đã đến tận Biện Kinh nhà Tống… Và nghe được tiếng chuông ấy tể tướng Vương An Thạch ngao ngán thở dài xuống lệnh bãi chức của viên tướng coi việc phương nam là Thẩm Khởi… Chẳng biết lời đồn đó thực hư thế nào, nhưng việc tiến binh xuống phía nam có bị đình lại thật… Đình lại chứ không phải là bãi bỏ. Cái chí của viên tể tướng trẻ họ Vương vẫn là bành trướng đất đai để lấy cái động bên ngoài giữ cái tĩnh nơi đế đô đầy sóng gió. Lệnh đóng của biên thùy cài then cửa ải được vội vã truyền đi khắp miền Hoa Hạ… Việc lớn của cả quốc gia Đại Tống ảnh hưởng đến ngay một đoàn ngựa thồ nhỏ bé. Hình tích của gã lái buôn kẻ Cời người Giao Chỉ dần dần bị lộ… Lệnh truy nã đuổi theo làn bụi lốc theo vó sắt của đoàn ngựa thồ và đã bay tới viên quan coi việc của động Cổ Vạn… Đến vào lúc đoàn ngựa thồ vừa đi khuất nẻo đèo xa và đám đọng đinh, thổ đinh đã được lệnh giải tán. Chính lúc viên đô bảo giáp đang cắn thử xem những nén vàng của tên lái buôn Lý Chăm là vàng thật hay vàng giả…


Viên đô bảo giáp động Cổ Vạn nhìn đám thuộc tướng của mình mà ngao ngán. Cứ như trước đây, chưa có cái lệnh thực hiện tân pháp của tể tướng Vương An Thạch thì khi có động sự như thế này, y chỉ cần vỗ gươm, thét lên một tiếng là có ngy cả một đạo quân rầm rập lên ngựa. Vì trước đây, triều đình phải cấp lương thảo để các quan cai trị động Cổ Vạn và các động khác nuôi một đội quân khá đông đảo. Đông đến mức các quan tướng có thể điều đi chăn ngựa, chăn dê, cày cấy cho mình vẫn hãy còn thừa. Bây giờ, thực hành tân pháp lính ở trong dân, nên nơi cửa quan này chỉ còn vài mươi tên tuần phiên cắt lượt… Với đám lính còm nhom này làm sao áp đảo được đoàn ngựa thồ đông tới gần một trăm con và đoàn người hành tung bí mật năm sáu mươi người trong đó còn có những tráng sĩ động Giáp khét tiếng dũng mãnh… Bây giờ muốn có quân lại phải phóng lửa lên đài phong hỏa…


Viên đô bảo lại phóng mắt nhìn theo con đường mà đoàn ngựa thồ của thương nhân Lý Chăm vừa đi qua, vừa tự nhủ rằng:


- Mày đã nằm trong đất Trung Nguyên này là mày đã nằm trong một tấm lưới lớn, đó là thiên la địa võng trùng điệp của vùng Hoa Hạ… Ta để mày chui vào cái rọ là bạc dịch trường Giang Đông… Quân đâu, sai quân khinh kị đi thu thập các nhà, các hộ thổ đinh nhận nuôi ngựa bảo mã, trung tập ngay cho ta một cơ kị binh. Một khắc nữa ta sẽ lên đương bao vây khu vực bạc dịch trường Giang Đông… Còn mi…


Viên đô bảo giáp Cổ Vạn quay về phía tên lính thám mã và truyền lệnh rằng:


- Mi hãy đi đường tắt xuyên rừng, ngay đêm nay phải đến thành Khâm Châu báo cho quan trấn thủ trong thành biết để rải đạo thủy quân khóa kín cửa sông…


Tên lính thám mã chắp tay dạ một tiếng rồi chạy như bay ra tàu ngựa của quán đường; chọn một con ngựa khỏe nhất và nhảy lên phóng. Con ngựa phóng nhanh như một mũi tên bắn xuyên vào con đường tắt che lấp giữ rừng núi hiểm trở của vùng đất Hoa Hạ… Xong xuôi đâu đấy viên đô bảo giáp động Cổ Vạn lại thét gia nhân dưới trướng:


- Bay đâu, ngay bêy giờ các ngươi phải đóng cho ta một cái cũi lớn. Chính tay ta sẽ bắt nhốt tên khách thương Giao Chỉ vào đó và điệu lên thành Quế để lĩnh thưởng.


Khu vực động Cổ Vạn lại một lần nữa rung động, những tên kỵ binh bảo mã từ khắp các bản xa gần đã lục tục giáp trụ sẵn sàng phóng như bay đến trước cửa quán xá… Cái bẫy nguy hiểm đã bắt đầu giương kên, nhưng người khách thương gốc gác từ đất Kẻ Cời vẫn chưa hay biết một chút gì về sự nguy hiểm đang rình rập mình từng bước. Anh cahngf vẫn ngồi ngất ngưởng theo cái lối xếp chân bằng tròn cố hữu trên lưng con ngựa Chàm cao lớn, và ôm cái bong bóng trâu óc ách những rượu… Cái cần rượu chẳng một lúc nào rời khỏi miệng anh ta… Trước mặt anh ta và đoàn ngựa thồ là bạc dịch trường Giang Đông của thành Khâm Châu, một chốn giao thương lớn nhất Hoa hạ của các lái buôn đủ các vương quốc quanh vùng…


4


Không phải đợi đến thời Bạch Cư Dị bị biếm làm Tư Mã đất Giang Châu viết nên khúc tì bà hành, người khách thương của đất Trung Nguyên mới bước chân vào văn học. Mà trước đó, vào thời Tư Mã Thiên viết bộ sử ký, thì bóng dáng lái buôn họ Lã tên Bất Vi đã xuất hiện với một vụ buôn lớn hiếm có. Món hàng buôn bán là cả một ông vua và cả một đế quốc phong kiến mênh mông… Đã từ lâu, trước khi bước vào văn chương và sử sách, những lái buôn người Hán của đất Trung Nguyên đã giong buồm phiêu bạt khắp dọc sông hồ, hết tam Ngô bách Việt lại giong buồm đi đến những đất nước xa xôi… Họ vượt biển đến đảo Phù Tang, vượt biển đến vương quốc Quả Oa, vượt biển để thầy Đường Tăng sang Tây Tạng lấy kinh, họ bám đuôi lạc đà thồ hàng đi xuyên “nóc nhà thế giới” sang tận đất Ba Tư mua thảm nổi tiếng của thành Bát Đa, rồi lại lần ngược dấu ngựa Hung Nô để đi qua sa mạc Gô Bi buôn lông cừu và da ngựa… Những khách thương người Hán vẫn tự cho mình là kẻ dám buôn tận gốc bán tận ngọn… Họ đã đi, nhưng họ không ngờ đã có những lái buôn nước ngoài đã đến tận nước Trung Hoa, mở mang việc giao thương buôn bán… Đó là những lái buôn của các vương quốc mới giành được độc lập, mới lập quốc của phương nam, những lái buôn Giao Chỉ rồi Đại Việt, lái buôn Chiêm Thành, lái buôn Lão Qua, lái buôn Lục Chân Lạp, Thủy Chân Lạp, lái buôn Quả Oa… Triều đình của các vua nhà Hán bao giờ cũng có thói quen lấn lướt mọi người láng giềng, vì họ chia thế giới ra làm hai phần. Phần đất của họ, họ coi là Hoa, là Trung Nguyên. Ngoài phần đất của họ, họ coi là di, là man, là mọi rợ. Cái triết lí Hoa, Di đã trở nên cái triết lý dân tộc của người Hán… Họ không coi bất cứ cái gì không phải là Hoa mà lại có giá trị và đáng tôn trọng cả. Đếnn ước láng giềng buôn bán thì họ lần mò tới tận kinh đô lên tận miền biên thùy xa nhất, miễn là ở đó họ cất được những món hàng có lãi. Nhưng họ lại không bằng lòng để cho bất cứ nhà buôn nước ngoài nào đến buôn bán tận kinh đô nước mình. Vì lẽ ấy họ lập ra những bạc dịch trường ở vùng gần biên thùy. Bạc dịch trường là những thứ chợ giao thương có tính chất cổ sơ. Tại đó, những thương nhân nước ngoài được phép mang hàng đến để buôn bán với các thương nhân Trung Hoa từ các vùng trong đất Trung Nguyên mênh mông kéo về.


Khâm Châu là một châu biên ải nên cũng được mở một cái chợ giao thương buôn bán với các lái buôn của các vương quốc lân bang. Chợ không được đặt trong thành mà phải đặt ở một trạm trường đình ven ngoại bên bờ sông Tây Giang, nhà trạm ấy được gọi là trạm Giang Đông nên bạc dịch trường Châu Khâm cũng được gọi là bạc dịch trường Giang Đông. Nơi đây các lái buôn Ngô Việt, Ba Thục, Tứ Xuyên, Tô Châu thường mang các hàng hóa sản vật của vùng quê mình đến và đóng trại để chờ khách thương nước ngoài đến buôn bán. Họ xây những thương điếm trên bờ chứ không tạm bợ trên các con thuyền hay cắm tạm những lán trại. Nhiều lái buôn muốn đón những món hàng quý, còn lập các cơ sở làm ăn trường kỳ tại bạc dịch trường , sai gia nhân buôn bán lặt bặt để tự túc cái ăn cái ở suốt thời gian đóng lại thươn điếm. Bạc dịch trường Giang Đông Khâm Châu chủ yếu mở ra để đón lái buôn người Đại Việt mà các nhà buôn Tống triều quen gọi là lái Giao Chỉ. Các lái buôn Giao Chỉ thường đi thuyền vượt biển sang đây buôn bán. Không kể dân bản địa hai bên biên giới, mang các sản vật địa phương sang đổi chác bình thường còn phàm những chuyến hàng buôn lớn đều phải có xin tín bào hai bên quan trấn ải. Khách thương của ta muốn qua bên ấy phải xin viên quan coi châu Vĩnh An là tướng trấn biên thùy Đại Việt cấp tín bài và gửi thư sang cho quan trấn ải Khâm Châu. Được thư cho phép, khách thương phải được quan tuần cửa biển Khâm Châu kiểm chứng vào tín bài và bản khai hàng hóa rồi mới được vào sâu trong sông Tây Giang để đến bạc dịch trường Giang Đông. Đến buôn bán ở bạc dịch trường này còn có lái buôn các nước khác, các vương quốc lân bang. Cũng có khi không chỉ có khách thương mà triều đình nhà Lý cũng cử cả sứ sang đây lo việc buôn bán đổi chác lấu đồ quốc dụng cho nhà nước.


Các lái buôn người Đại Việt đến đây thường chở theo vàng bạc, đồ đồng, trầm hương, thục hương, trân châu, ngọc trai, ngà voi, sừng tê và các sản phẩm nhiệt đới… Còn các đại thương người Tống ở đất Thục mang gấm Tứ Xuyên, kẻ ở Tô Châu mang lụa rực rỡ các màu, kẻ ở Giang Tây mang đồ sứ, kẻ ở Hồ Nam chở đồ da thuộc, kẻ ở Thiểm Tây mang áo trìu, kẻ ở Hồ Bắc mang các loại thuốc quý, lái buôn mạn Hắc Long Giang thì mang sâm Cao Ly…


Vốn của các lái buôn từ ngoài đến đây, nhất là các lái buôn Đại Việt rất lớn, mỗi chuyến hàng trị giá có đến hàng ngàn quan tiền. Nhưng hồi đấy việc buôn bán giữa các quốc gia khác nhau không hề có trao đổi qua tiền tệ. Vàng hay bạc cũng không được coi là một thứ vật ngang giá để có thể mua tất cả mọi thứ. Các lái buôn thường mang hàng của mình ra, gặp các lái buôn có hàng khác mà cả hai bên cùng cần trao đổi. Họ để hàng của mình ở bên tả và bên hữu án thư của quan bạc dịch trường rồi thương lượng trao đổi. Ngay cả lái buôn buôn vàng bạc, tiền tệ cũng phải làm như vậy, ở bạc dịch trường này thì vàng bạc thậm chí cả tiền tệ của các vương triều khác nhau cũng chỉ được coi như một thứ hàng mà thôi. Cả hai bên nhìn vào hàng, không tính giá trị hàng ở tại chợ, mà lượng tính giá trị hàng ở nơi mình mua và nơi mình sẽ mang về bán, tức là ở tận gốc và tận ngọn để mặc cả cùng nhau. Cứ thế cò kè bớt một thên hai, anh đổi hai tấm lụa Thục lấy một cái sừng hươu, còn tôi thì có một trăm đồ gốm Giang Tây vẽ màu nung kỹ, cần có hai chục cân trầm hương loại hảo hạng… Không có một giá cả nhất định nào cả. Nhưng lời hứa lại trọng hơn cả hàng hóa và tính mạng. Vì nếu mặc cả xong rồi, hai bên đã bằng lòng trao đổi theo một cái lệ nào đó mà hai bên thống nhất với nhau, thì không ai được thương nghị với người khác nữa. Đó là một thông lệ của bạc dịch trường mà ai ai cũng phải theo. Giá của người đầu tiên đã mặc cả, gọi là đã ngã giá thì trời đất quỷ thần cũng không bằng nữa. Người thứ hai đến sau khi ngã giá cao gấp chục lần, trăm lần cũng không được bán. Chữ tín của nhà buôn nặng hơn lòng trung nghĩa của các bậc đại nho, và nặng hơn cả trinh tiết của đàn bà. Cái lệ buôn bán tại bạc dịch nó là như thế.


Nhưng lòng trung nghĩa của các bậc đại nho và trinh tiết của các cô gái phải có cương thường bảo vệ mới giữ được, thì cái lệ ở bạc dịch trường cũng có sự bảo vệ cái giá đã định bằng miệng với nhau. Khi hai lái buôn đã ngã được giá đổi chác, họ phải mang đến một viên thị lang chuyên coi việc đo lường cân lạng. Và hàng đổi chác phải để lại ngay ở phủ đương của quan. Lái buôn nào có manh tâm chạy làng đều có nguy cơ bị mất trắng tay. Quan bạc dịch trường sẽ tịch thâu chia làm ba phần. Một phần trả cho người đã đặt giá mua được để bù lại sự thiệt hại trong buôn bán. Một phần giữ lại vào kho của bạc dịch trường, còn một phần nộp lên triều đình cùng các thứ thuế rất nặng. Quan thuế ấn định theo giá cả của người Tống không liên quan gì đến vật đổi chác, và do các quan định. Các quan có thể định giá một cân trầm hương giá là một trăm quan, thì cứ một quan các quan ra lệnh thu ba mươi đồng tiền.


Khi đoàn ngựa thồ của Lý Chăm dừng lại ở của của bạc dịch trường để trình tín bài thì các ông chủ của phạn điếm, tửu điếm cao lâu đã ùa ra quây lấy vị khác phương nam giàu có này. Nhiều người còn nhớ mặt Lý Chăm từ các lần viễn thương đến đây những năm trước. Họ tranh nhau gọi Lý Chăm là đại gia, và mới mọc ân cần ráo riết:


- Kính chào đại gia, mời đại gia về nghỉ ở nhà của tôi. Tửu quan của chúng tôi không những có rượu ngon thịt béo mà lại còn có một dãy nhà trọ hết sức lộng lẫy…


- Phạn điếm của chúng tôi giá cả rất phải chăng, lại có vòng tường cao bao bọc, tránh được mất mát suy suyển hàng hóa… Xin đại gia chớ bỏ qua…


- Chắc đại gia chưa biết chúng tôi mới xây nhà lầu mở cao lâu, kén những con hát sắc nước hương trời từ mạn Giang Bắc về, đại gia không để tai thưởng thức ắt hẳn ra về đất Nam bang sẽ ân hận đời đời…


Lý Chăm dửng dưng trước những lời mời mọc, dửng dưng trước sự tôn xưng cao quý của đám người đang vây quanh mình. Chàng cũng thừa biêt rằng họ đang thưa gửi những món hàng chất trên lưng đoàn ngựa thồ của mình chứ đâu họ có cần thưa gửi gì mình. Chàng mỉm cười, hất hàm gọi một người quen cũ:


- Này Trương Tam, thương điếm của anh vẫn chưa có khách đến thuê đấy chứ?


Người được gọi mừng quýnh lên:


- Dạ … chưa có khách ạ… chúng tôi vẫn đóng cửa chờ đại nhân chiếu cố…


Lý Chăm lại mỉm cười chàng biết thừa câu sau không phải là một lời nói thật. Số là thương điếm của Trương Tam không phải là thương điếm sang trọng, tuy được xây dựng với mục đích cho các lái buôn phương xa đến thuê mở cửa hàng buôn bán, nhưng đất của Trương Tam ở khuất phía sau bạc dịch trường, không tiện việc thương lượng buôn bán lắm. Chỉ được cái ở đấy kín đáo, dễ dàng bảo vệ hàng hóa của mình, lại có một tàu ngựa lớn, có sức chứa cả trăm con ngựa. Vì thế những lần trọ trước dù đi thuyền theo vùng vịnh Bái Tử Long ngược lên đây, lái buôn Lý Chăm đã để ý nhằm trước cái thương điểm của gã này rồi. Với con mắt nhìn xa, chàng đã tính trước rằng thể nào rồi cũng có lúc mình đến cái bạc dịch trường này bằng đường bộ và phải đi với một đoàn ngựa thồ rất là đông. Phải thuê cái thương điếm làm sẵn của gã Trương Tam thì mới giữ được bí mật cần thiết của nghề buôn bán.


Lập tức trên nóc nhà thương điếm của Trương Tam phấp phới lá cờ ngũ hành khổ lớn có đề chữ “Lý đại gia thương nhân Đại Việt”. Gần một trăm con ngựa đã được tháo yên cương, dỡ hàng nặng buộc trong tàu ngựa lớn. Chiếc đèn lông phất lụa đỏ có đề chữ bằng mực nho lớn có ghi rõ “Lý đại gia thương nhân Đại Việt” cũng được treo ở cửa thương điếm. Một đội dũng thủ của bảo tiêu cục Mân Châu đã được Lý Chăm thuê ngay tại chỗ để canh gác vòng ngoài. Các dũng sĩ động Giáp canh gác vòng trong. Người của tiêu cục Mân Châu được cử đi mang danh thiếp báo tin hàng đã đến tất cả các thương gia Trung Nguyên và ngoài quan ngoại, cùng các thương gia các vương quốc đã có mặt trước tại bạc dịch trường này. Trong đó có cả danh thiếp xin yết kiến với quan bạc dịch trường để bàn việc thử lại thước, đóng lại cân thống nhất đo lường giữa hai nước của những vị quan người Việt đi theo đoàn ngựa thồ của Lý Chăm. Chỉ trong một phút chốc cả bạc dịch trường Giang Đông nhộn nhạo lên cả vì sự có mặt của các khách thương Đại Việt cùng đoàn ngựa thồ to lớn.


Danh thiếp vừa gửi đi lập tức có danh thiếp của các lái buôn Tô Châu, Ba Thục, Biện Kinh, Giang Tây, Hồ Nam, Thiểm Bắc, Cao Ly, Quả Oa, Lộ Lạc… gửi đến hẹn ngày giờ mời đến dự tiêc… Cái lệ ở bạc dịch trường này là thế. Mọi việc giao thương là mang ra giữa chợ mà bán. Mà thường ngã giá hẹn những tiếng bạc lớn trong những bữa rượu, ngay trên chiếu rượu…


Lái buôn Ba Thục được chính tay Lý Chăm ghi vào danh thiếp mời đến dự tiệc đầu tiên. Lý Chăm bảo Trương Tam rằng:


- Người đất Tứ Xuyên Ba Thụ thích rượu nồng và dê béo… Các ngươi làm thịt dê cho ta nghe.


Trương Tam cúi đầu vâng lệnh.


Khi đại thương gia Ba Thục đến thì gia nhân của Trương Tam đã đi chợ mua dê về ngay trước của nhà khách. Cái lệ ăn cỗ dê là phải uống rượu bằng tiết dê còn nóng mới chảy ra từ mạch máu của con dê đang bị cắt tiết. Cái lệ ấy không có gì thay đổi được. Vì thế chủ khách vừa chia ngôi thứ xong thì tiếng dê kêu thét và tiếng gia nhân quất roi vào thân dê huỳnh huỵch. Dê là loài vật có một tuyến mồ hôi rất lạ. Xưa nay muốn làm thịt dê người ta phải đánh cho con dê toát mồ hôi ra rồi mới cắt tiết lột da. Đánh hàng khắc đồng hồ, người đánh cũng phải toát mồ hôi chứ chưa nó đến con dê. Vì thế làm thịt dê còn ầm ĩ hơn cả làm thịt một con hổ hay một con voi. Thấy tiếng ồn ã như thế, Lý Chăm bực bội lắm. Chàng xin lỗi khách rồi chạy ra sân, gạt đám đồ tể đánh dê ra và cao giọng truyền lệnh:


- Các người bắt cho ta một con châu chấu ma… nhanh lên…


Đám đồ tể người Hán nghe nói đến chuyện châu chấu, mà lại là châu chấu ma thì sững người hoảng hốt, chẳng hiểu ra sao cả. Lý Chăm quát lớn thúc bách hơn:


- Kìa, ta đã bảo mà... bắt cho ta một con châu chấu ma nhanh lên… nhanh lên…


Thấy sự lạ, những kẻ lái buôn rỗi việc tại bạc dịch trường này xúm lại xem. Bạc dịch trường là nơi buôn bán lớn vì thế việc buôn bán không thể ào ạt xô bồ. Mọi việc cứ kéo dài từ ngày này sang tháng khác, có khi kéo dài hàng tháng. Có khi các lái buôn có hàng muốn trao đổi giá cả cùng nhau cứ mời nhau uống hết vò rượu này đến vò rượu khác mà cũng chưa thể nào ngã giá nổi. Vừa nhấp rượu vừa cò kè nâng giá giảm giá. Người Tống cậy là đất của mình nên thường hay găng giá. Họ sai người nhà của họ, sai cả những phu áp tải, những trạo nhi làm nhà buôn bán lặt vặt, kiếm củi đánh cá để tự cấp tự túc trong suốt thời gian chờ đợi cho đến khi ngã giá… Thời gian dài dằng dặc ở bạc dịch trường người ta chẳng có việc gì làm cả, nên hễ có chuyện lạ là người ta xúm đông xúm đỏ lại xem.


Đám đồ tể đã mang về con châu chấu ma như lệnh truyền của thương gia Đại Việt Lý Chăm. Đám dân ăn không ngồi rồi sấn lại xem khi chàng thương gia nắm con châu chấu ma trong tay. Họ không bỏ sót một động tác nhỏ nào của người thương gia này và họ chờ đợi anh ta làm phù làm phép gì theo cách man di của nước anh ta. Nhưng anh ta chẳng biến hóa thần thông gì cả. Không biến con châu chấu ma thành con dao để cắt tiết dê, cũng không biến châu chấu ma thành con dê hay con lợn… mà anh ta cẩn thận nhét con châu chấu ma vào một bên tai dê, rồi nhặt một hòn sỏi bỏ vào tai bên kia của con dê. Xong đâu đấy, anh chàng gập hai cái tai dê lại đậy kín cả hai lỗ tai của nó, rồi rút cái khăn đen dài, bó chặt cả đầu dê tai dê lại. Con dê nhảy lung tung vùng vằng cố giật khỏi tay của người thương nhân, nhưng tay anh ta rất khỏe, anh ghì lại và buộc thật chặt. Khi buộc xong chàng lái buôn thả con dê ra.


Con dê cứ thế nhảy lung tung, khi nghiêng cái đầu về phía này khi nghiêng cái đầu về phía khác; nhưng nó nhảy không lâu. Chỉ vài bước thôi là đã đứng lại. Bây giờ thì con dê chỉ có lắc đầu. Lắc đầu như điên. Kêu cũng như điên trong cái khăn buộc kín… Nó lắc đầu và kêu đến toát mồ hôi đầm đìa như mưa. Chỉ trong giây lát mồ hôi đã xuất hiện ướt đầm bộ lông dê rất dày của giống dê rừng đất Bắc. Đến lúc đó Lý Chăm mới giảng giải:


- Việc gì phải đánh đập con dê cho nhọc sức mình. Cứ như thế này có phải nhẹ nhàng không nào.


Người khách thương Ba Thục từ nãy đã bỏ chiếu rượu ra xem, bèn hỏi rằng:


- Ngài làm thế nào mà con dê cứ đứng lắc đầu đến toát mồ hôi ra như thế. Có phải con châu chấu ma là một vị thuốc độc linh diệu hay không?


Lý Chăm cười sảng khoái:


- Làm gì có thuốc với men… Nguyên là tôi dùng con châu chấu ma còn cả đôi càng nhét vào tai con dê. Vào trong tai, vừa chật lại vừa nóng, con châu chấu sẽ đạp cẳng vỗ cánh lung tung trong lỗ tai của con dê. Con dê lắc đầu để tìm cách đẩy con châu chấu ra, lắc đầu thì ba hòn sỏi trong lỗ tai kia lại rung lên đập vào màng nhĩ… Cứ thế con dê sẽ lắc đầu cho đến toát mồ hôi, lắc đầu cho đến chết… Việc gì ta phải đánh cho nhọc sức?


Rồi Lý Chăm quay lại viên đồ tể dặn rằng:


- Nhà ngươi thắp một nén hương đem làm cữ… Khi nào hương cháy hết một nửa thì lấy nước lã dội lên con dê và cắt tiết vào bầu rượu cho ta, để ta mời đại thương đây uống thử trước…nghe…


Tất cả những chuyện náo động đó trong bạc dịch trường Giang Đông không lọt khỏi con mắt xoi mói của tên lính thám mã. Hắn yên chí phóng ngựa ngược lại con đường về nhà quán xá Cổ Vạn phi báo rằng, tên lái buôn bị truy nã không hay biết gì và đã nằm yên trong cái bẫy. Quan trấn thủ Khâm Châu cũng đã được phi báo tin và lệnh truy nã rồi. Binh mã cũng đã sắp sẵn cả… Đêm nay sẽ khởi sự một lượt. Quân từ Khâm Châu, quân từ Cổ Vạn sẽ kéo về bắt gọn cả đoàn ngựa thồ và tên lái buôn nguy hiểm. Đó là lệnh của quan trấn thủ Khâm Châu… Lúc ấy chắc bữa tiệc với đại thương Ba Thục cũng vẫn chưa xong đâu…


Quả thật bữa tiệc kéo dài đến quá nửa đêm… Chủ khách uống hết bình rượu tiết dê chuyển sang nhắm rượu với các món dê tái, dê bóp thính… Bữa cỗ thịt dê có rượu quý làm ngả nghiêng những người ngồi trên chiếu rượu…


Đến giờ tí nửa đêm, có một gia nhân trong đoàn ngựa thồ ghé tai nói nhỏ với Lý Chăm:


- Dạ thưa đại nhân, mọi việc đại nhân dặn đã khu xử xong đâu đấy rồi ạ…


- Tiền bán ngựa đã thu được đủ chưa…


- Dạ theo ý đại nhân đã thu bằng vàng…


- Còn anh em gia nhân và áp tải…


- Tất cả đã sẵn sàng chỉ còn chờ đại nhân nữa thôi ạ…


- Còn hàng hóa…


- Hàng hóa đã bốc xuống thuyền từ nửa đêm… nhưng tất cả các kiện đều nhét đầy rơm để lại… không ai nghi ngờ gì cả…


Lý Chăm vẫy tay:


- Cho người lui… bảo đợi ta…


Đến giờ ấy, đại thương nhân Lý Chăm mới đòi Trương Tam sai người đi mời những ca kỹ nổi tiếng của Giang Châu đến hát múa góp vui… Bữa tiệc sang trọng lại thêm bề nào nhiệt… Đàn tì bà và giọng hát ngân nga của các ca kỹ vang đến tận ngoài nhà trạm, nơi đám kỵ mã của viên đô bảo giáp động Cổ Vạn đang điểm lại quân đội và binh khí… Đến lúc náo nhiệt nhất, lúc mà những thực khách say rượu chuếch choáng ngả nghiêng vì tiếng đàn nhịp phách, ngây dại vì sắc đẹp của các kỹ nữ Giang Châu, thì Lý Chăm mới đứng lên thưa rằng:


- Đây tuy là thương điếm của đất Trung Nguyên, nhưng tôi lại là lái buôn Đại Việt… Vì thế tôi xin được xử sự như phong tục Đại Việt tại nhà của mình, dù nhà tạm ở nơi thương điếm này… Tục lệ của xứ tôi cứ vào lúc tiệc rượu đến phút tàn canh náo nhiệt nhất, bao giờ chủ cũng xin phép được tắt hết đèn nến trong một phần tư khắc, độ cháy tàn hết một nén nhang đen… Trong bóng tối ấy mọi tội lỗi sẽ được bỏ qua, mọi việc ai muốn làm cứ việc tùy thích… Chẳng hay tại đây tôi có được xử sự theo đúng lệ túc ấy được chăng?


Lái buôn Ba Thục liếc cô gái đang gảy đàn tì bà mặt hoa da phấn mà cười với giọng khê nồng hơi rượu:


- Cái tục lệ Đại Việt thế mà hay… tắt đèn đi… tắt đèn đi…


Tiếng hô tắt đèn nhao nhao… Và lúc đó Lý Chăm mới cúi đầu ra ý nghe lệnh rồi nhẹ phất tay một cái. Tất cả đèn nến trong sảnh đường tắt phụt. Tiếng đàn hát cũng tắt luôn. Tiếp đó là tiếng giằng xé quần áo, tiếng cười khúc khích, tiếng thở hổn hển… Đèn tắt không ai nghĩ đến chuyện thắp lại nữa… Không ai để ý đến nén nhang làm cữ báo giờ giờ thắp lại đèn nữa…


Mãi đến lúc tiếng vó ngựa vang động, hàng trăm ngọn đuốc vây quanh thương điếm thì đám người mê mệt trong sảnh đường mới choàng tỉnh giấc mộng xuân… Viên đô bảo giáp động Cổ Vạn và quan trấn thủ Khâm Châu hét lính thắp lại đèn đuốc và gọi Lý Chăm ra hầu thì than ôi không còn một bóng người Đại Việt nào còn ở trong thương điếm này. Hỏi đến tàu ngựa, thì trừ con ngựa Chàm đã bị dắt đi từ lúc nào còn toàn bộ tàu ngựa gần một trăm con đã được bán đứt cho một lái buôn ngựa Hoa Nam. Hiện tên lái buôn ngựa cũng đang say ngất ngư trong sảnh đường. Giá mua ngựa hời, mà cô gái hắn ôm khư khư bên mình thì trẻ đẹp. Hỏi đến văn tự bán ngựa thì văn tự cũng đã có đầy đủ và được áp triện từ lúc nào rồi. Hỏi đến hàng hóa chất trong kho thì kiện nào kiện ấy còn chất đầy, nguyên vẹn, nhưng lục lại khám xét thì đó lại toàn là những kiện hàng giả, chỉ có vỏ bọc là sang trọng, còn bên trong nhét toàn rơm…


Cả một rừng đuốc theo tiếng vó ngựa tràn ra bến sông thì quan tuần Giang cho biết có một đoàn khách thương người Lôi Châu có đầy đủ tín bài đã kéo neo bốn chiếc thuyền đinh lớn, theo nước thủy triều xuống ra khơi. Đoàn thuyền Lôi Châu Vạn Hoa đã cắm neo ở bến này buôn bán từ hơn hai tháng nay… Việc họ nhổ neo theo con nước rã, họ đã xin với quan tuần sông và hà khẩu từ cả một tuần trăn nay rồi… Đêm nay họ đi… Hình như họ có mua được một con ngựa Chàm cao lớn và đưa xuống thuyền…


Lái buôn Vạn Hoa Lôi Châu có nghĩa là lái buôn Đại Việt, vì tuy Lôi Châu trong bản đồ của nhà Tống nhưng gần với quần đảo Vạn Hoa là quần đảo biên ngoại của Đại Việt, phía trong nội giới, tính từ bạc dịch trường Vân Đồn của vương quốc này. Như thế là người Đại Việt đã cho thuyền và cho một lực lượng hộ tống rất lớn nằm sẵn ở đây để đợi thương nhân Lý Chăm… Họ đã nằm ngay trong cái bẫy giương sẵn để phá bẫy…


Giờ khắc này con thuyền của Lý Chăm, và đoàn thuyền đó đã giương buồm vượt ra ngoài cửa khẩu. Họ đã biến thành những con thuyền chiến hùng mạnh, bất kể thuyền cướp biển hay thuyền quan quân cũng khó lòng mà trấn áp được họ…


Đoàn thuyền đó nhằm phía cửa sông Bạch Đằng vào nơi hội lưu của sông Lục Đầu….


Một tuần trăng sau đoàn thuyền đã ngược sông Như Nguyệt đỗ lại ở bến Chờ. Tại đây, những thủ lĩnh của động Giáp đã hạ trại ở bờ bắc để đón hàng về. Tù trưởng trẻ tuổi Thân Cảnh Phúc đã chờ ở trại quân bên bến Chờ suốt một tuần trăng này. Các đồ sính lễ quý báu của dân động núi đã sẵn sàng, cả những vật thu được trong chiến công đánh thăm dò sang đất Tống cũng đã đóng thành kiện: những áo giáp, những cờ lệnh của quân Tống mà Cảnh Phúc lấy được; chỉ còn chờ thêm những gấm Ba Thục, những lụa Tô Châu, những đồ sứ Giang Tây, và biết bao sản vật khác mua từ đất Tống để cho đồ sính lễ thêm phần huy hoàng long trọng. Chứng tỏ rằng tù trưởng động Giáp đi làm phò mã triều đình nhà Lý cũng không kém gì những bậc vương giả tận bên Tống triều cưới vợ.


Thuyền vừa thả neo trên bến, lập tức có người đến tìm thương nhân Lý Chăm lên gặp tân phò mã…


Trại của châu mục của tù trưởng động Giáp là trại dựng bằng các tấm da hổ ken lại thành những tấm lớn, bọc khung lầu bằng bạc. Điều đó chứng tỏ sự hùng mạnh của động Giáp. Sự thực động Giáp là một động lớn nhất trong các khê động vùng biên thuỳ phía bắc. Không những lớn mà lại là một trọng trấn ngoại biên. Vì động này vừa gần kinh đôn Thăng Long, vừa nằm trên con đường tiến quân thuận lợi nhất từ biên cương nhà Tống vào thẳng kinh thành. Động Giáp phía bắc tới ải Chi Lăng, phía nam bao bọc cả một vùng Lạng Châu, Thượng Châu. Ăn thông đến bờ bắc của sông Như Nguyệt. Cầm đầu động này là một dòng họ nhiều đời cha truyền con nối giữ quyền trượng và bảo kiếm của người tù trưởng. Người đó vốn họ Giáp. Dòng họ Giáp vốn là một dòng họ sản sinh những võ tướng rất giỏi đánh rừng núi. Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, thì tù trưởng động Giáp là Giáp Thừa Quí. Lúc bấy giờ Giáp động còn nằm trong các khê động còn chưa thuần phục hẳn vào nước ta. Lý Công Uẩn dời đô đến Thăng Long, nhiều người đã có ý can ngăn vì tù trưởng động Giáp Thừa Quí rất mạnh. Lại có sự xúi giục của các biên thần nhà Tống đang nhăm nhe bành trướng xuống phía nam. Từ động Giáp khởi binh thì chỉ trong vòng một ngày ruổi vó ngựa là tràn đến trước sông Cái, ngay chân thành Thăng Long. Chỉ cần một mình quân của động Giáp thôi, kinh thành Thăng Long cũng đã lâm vào thế lao đao nguy hiểm. Nhưng mặc cho nhiều người lo sợ khuyên can, Lý Công Uẩn vẫn quyết dời đô về Thăng Long mở rộng địa bàn cho đất nước. Định đô xong, việc đầu tien Lý Công Uẩn mang đại binh lên động Giáp. Giáp Thừa Quí thấy binh lực của nhà Lý hùng cường, tấm lòng của Lý Công Uẩn lại nhân hòa, không có ý đe dọa thôn tính mình, nên đã bằng lòng quy phục. Lý Công Uẩn bèn gả con gái mình cho Giáp Thừa Quí, và ban cho Thừa Quí họ mới, là họ thân vương. Từ ấy giòng họ Thân ra đời, cha truyền con nối làm châu mục giữ chức thân vương. Con trai của Thân Thừa Quí là Thiệu Thái nối nghiệp cha là thân vương châu mục động Giáp lại được vua Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho. Không những thế Lý Thái Tông còn mở rộng đất đai Lạng Châu cho phò mã Thân Thiệu Thái. Con phò mã Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc, hiệu là Đạo Nguyên lại được kén gả cho công chúa Thiên Thành là con gái đầu lòng của vua Thánh Tông… Nhưng vua Lý Thánh Tông băng hà đột ngột, nên đám rước vu qui tạm hoãn ít ngày. Theo lệ của các triều đình có khi phải lùi lại ba năm cho mãn hết tang cha.


Khi vua Nhân Tông lên ngôi, bà Thái phi Ỷ Lan lên nhiếp chính, Tiết chế Lý Thường Kiệt là Tể Chấp; việc cưới hỏi lại được tiến hành gấp ngay. Quan Tể Chấp Lý Thường Kiệt cho rằng:


- Việc cưới hỏi của các bậc vương giả không phải là việc tầm thường mà phải lụy vào đạo nho. Đây là việc quốc gia đại sự. Vì việc giữ giường mối của biên cương đất nước nên ta không nên nệ vào chuyện tang chế mà đình hoãn…


Ỷ Lan phu nhân bằng lòng với quan Tể Chấp và đã cho gọi Thân Cảnh Phúc về triều, định ngày làm lễ vu quy cho công chúa Thiên Thành. Nhân gặp Thân Cảnh Phúc, Thái phi dạy rằng:


- Dòng họ Thân nguyên xưa là họ Giáp, đã được giữ đạo thân vương nên Thái Tổ triều ta ban cho họ Thân. Nhưng tại sao động của con lại cứ gọi là động Giáp.


Thân Cảnh Phúc thưa:


- Tên gọi ấy đã có từ lâu đời… Có lẽ vì động của con ở nơi giáp nam giáp bắc. Nam giáp Lý Triều, bắc giáp nước Vạn Xuân Đại Lý cũ. Bộ tộc con ngày xưa không có họ. Là người động Giáp thì gọi là họ Giáp, tức là họ của người đứng chủ tên động mà thôi.


Ỷ Lan phu nhân ngẫm nghĩ rồi truyền rằng:


- Trước thì gọi là động Giáp cũng có lý… Nhưng nay dòng họ của người là dòng họ thân vương, hơn nữa, tất cả đất đai đều nằm trong cõi bờ Đại Việt, nên gọi là Giáp không đúng. Nay ta ban đổi một tên mới, hợp hơn, chẳng hay con thấy thế nào.


- Bẩm xin lệnh bà cứ nói, con xin cúi đầu chịu ơn.


- Được, từ nay, ta thấy nên gọi vùng con đóng giữ nối đời đời truyền cho cháu dòng họ thân vương là động Kép. Kép là ghép đôi tỏ rằng đời đời người động Kép ghép đôi với triều đình.


Thân Cảnh Phúc đã dâng lên bà Thái phi nhiếp chính Ỷ Lan một đôi chim công trắng để tỏ lòng biết ơn triều đình ban tên mới cho động của mình. Từ ấy vùng đất cũ của dân động Giáp được gọi là vùng Kép.


Điều này khi lên hầu tân phò mã Thân Cảnh Phúc, lái buôn Lý Chăm mới được biết. Vừa bước vào lều trại của phò mã Thân Cảnh Phúc, lái buôn Lý Chăm đã nghe thấy tiếng hỏi nôn nóng:


- Thế nào, tất cả thứ sản vật ta dặn, ngươi có mua về đủ không?


Người nói câu đó chính là phò mã Thân Cảnh Phúc. Lý Chăm ngước mắt trông lên thấy một trang nam nhi anh tuấn ngồi trên một chiếc ghế tréo bọc da cọp vằn. Lý Chăm vội thưa:


- Bẩm phò mã thân vương, hàng Lý Chăm này sắm suốt dọc các bạc dịch trường lớn khăp miền Hoa Hạ, sang trọng đến mức mà nếu đám cưới của công chúa con vua Tống Thần Tông có mở ra ngay ở đây cũng chẳng thể nào sánh bằng đám cưới của phò mã và công chúa Thiên Thành triều Lý đâu.


Phò mã Thân Cảnh Phúc hể hả:


- Ta vừa nóng ruột vừa lo cho nhà ngươi… Thôi sai bọn gia nhân bốc hàng lên ngay bến Nam Ngạn, ta sẽ làm lễ xuất phát về kinh ngay bây giờ. Tất cả các đồ sính lễ của ta đã chọn sẵn đủ rồi, chỉ chờ có các vật sản phương bắc mà nhà ngươi mang về nữa là đủ…


Lý Chăm vội thưa:


- Bẩm lời phò mã truyền bảo tôi đã sai gia nhân làm ngay trước khi đến đây hầu phò mã… Nhân đây tôi xin tỏ lòng biết ơn sự chu đáo của phò mã, tuy ở trong nước mà lo cho kẻ bôn ba ngoài vạn dặm.


Phò mã Thân Cảnh Phúc xua tay:


- Đừng có cảm ơn ta, ta không có cái công to lớn ấy đâu, công của ta chỉ là thu xếp việc, còn người khu xử mọi việc như thần là quan Tể chấp Lý Thường Kiệt… Người đã đoán biết ngươi sẽ bị lộ, nên đã sai ta kén trạo nhi và tay chân thân tín giả làm lái buôn Vạn Hoa đến đón trước ở bạc dịch trường Giang Đông…


- Thế thì tôi phải đến trước mặt quan Tể chấp để cúi đầu tạ ơn cái ơn cứu mạng lớn lao này…


- Quan Tể chấp rất mong gặp nhà ngươi… Vừa đây Người sai đưa thư cho ta nhắn ta rằng, nếu nhà người về phải bảo nhà ngươi đến ngay dinh của Người tại Thăng Long… để hỏi chuyện… Người cũng đang muốn hỏi cả chuyện đánh sang nước Tống để lấy đồ sính lễ của ta nữa.


Lý Chăm cười hồ hởi:


- Trên đường thiên lý kẻ thương nhân này cũng được nghe tin và thấy sự rung động của quân tướng biên ải nhà Tống trước cuộc hành binh chinh phạt của phò mã… Cuộc hành binh rung động chẳng khác gì cuộc hành binh của đức ông phò mã Thân Thiệu Thái năm xưa.


Nhắc đến Thân Thiệu Thái, tức là nhắc đến võ công của cha mình, tân phò mã Thân Cảnh Phúc không khỏi cảm thấy hứng khởi, tự hào.


(còn tiếp)


Nguồn: Sừng rượu thề. Truyện lịch sử của Nghiêm Đa Văn. NXB Kim Đồng, 2012.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 15.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 10.01.2020
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.01.2020
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.01.2020
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 07.01.2020
Bắc cung Hoàng hậu - Nguyễn Vũ Tiềm 05.01.2020
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 05.01.2020
Trả giá - Triệu Xuân 02.01.2020
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 02.01.2020
xem thêm »