tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24959122
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
01.10.2018
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (16)


Hinbát và các khách khứa cáo từ ra về. Ngày hôm sau, khi đã tề tựu đông đủ, họ lại ngồi vào bàn ăn. Bữa ăn kéo dài không kém các bữa ăn trước. Đến cuối bữa, Xinbát lại bắt đầu kể về chuyến đi thứ năm của mình như sau:


Chuyến đi thứ 5 của Xinbat Người đi biển


Các niềm lạc thú có đủ sức hấp dẫn để xóa nhòa khỏi ký ức tôi tất cả những nỗi vất vả gian lao mà tôi đã chịu đựng. Nhưng nó không thể làm cho tôi bỏ được lòng say mê những chuyến đi mới. Bởi vậy tôi mua hàng hóa, cho đóng gói và chất lên rồi tự mình đưa đến hải cảng gần nhất. đấy, để khỏi phụ thuộc vào một viên thuyền trưởng và để có một chiếc tàu do chính mình chỉ huy, tôi dành thời giờ cho đóng một chiếc tàu và trang bị nó bằng tiền riêng của mình. Tàu đóng xong, tôi cho bốc hàng hóa lên. Nhưng vì vẫn chưa hết trọng tải của nó, tôi nhận chở kèm nhiều nhà buôn thuộc nhiều nước khác nhau cùng với hàng hóa của họ.


Vừa bắt đầu có gió thuận, chúng tôi cho kéo buồm ra khơi. Sau một chuyến đi dài, nơi đầu tiên tàu cập bến là một hoang đảo. Chúng tôi thấy ở đấy trứng một con chim đại bàng to bằng cái mà các vị từng nghe tôi kể. Trong trứng có một con đại bàng con gần nở. Cái mỏ của nó đã bắt đầu thò ra ngoài.


Các nhà buôn cùng đi một chuyến tàu và cùng lên bộ với tôi, vác rìu bổ vỡ quả trứng, khoét một lỗ lôi con chim con ra xẻ thành nhiều mảnh đưa lên bếp quay chín. Tôi đã nghiêm túc cảnh cáo họ chớ có đụng vào cái trứng, song họ chẳng chịu nghe.


Họ vừa ăn xong bữa tiệc tự tay làm thì ở trên trời, cách chúng tôi khá xa, hiện ra hai đám mây lớn. Viên thuyền trưởng tôi thuê để chỉ huy con tàu, vốn có kinh nghiệm, liền kêu lên rằng, đấy chính là chim bố và chim mẹ con đại bàng con. Ông ta thúc chúng tôi xuống tàu thật nhanh để tránh tai họa mà ông thấy trước. Chúng tôi vội vã nghe theo lời khuyên của ông, gấp rút giương buồm tháo chạy.


Trong lúc đó, hai con đại bàng đã đến gần, vừa bay vừa kêu lên những tiếng dữ tợn. Khi trông thấy quả trứng bị đập vỡ, không còn con của chúng trong đó nữa, chúng bay trở lại hướng cũ và biến mất. Đột nhiên, một lát sau, hai con chim quay trở lại. Chúng tôi nhận thấy mỗi con chim quặp ở chân một hòn đá hết sức to. Khi bay đúng bên trên con tàu chúng tôi, một con buông đá xuống, nhưng nhờ người lái khéo kéo quặt chiếc tàu sang một bên, hòn đá không trúng đích mà rơi xuống biển, làm xô mặt nước biển. Rủi cho chúng tôi, con chim kia ném hòn đá trúng vào giữa chiếc tàu, làm tàu vỡ tan thành hàng nghìn mảnh. Các thủy thủ và nhà buôn đều bị dập nát ngay hoặc chìm nghỉm. Chính tôi cũng bị chìm, nhưng khi nhoi lên mặt nước, tôi may mắn bám được một mảnh tàu vỡ. Như vậy, bám chắc vào mảnh gỗ, khi thì bơi bằng tay này, khi bằng tay kia, tôi lựa theo luồng gió và dòng nước, may sao dòng nước cũng thuận lợi cho tôi. Cuối cùng tôi đến được một hòn đảo, bờ biển hiểm trở. Tuy nhiên, tôi vẫn vượt qua được khó khăn này, lên được đất và thoát chết. Tôi ngồi lên bãi cỏ nghỉ một chốc cho đỡ mệt, sau đó đứng dậy đi sâu vào đảo xem xét địa hình. Tưởng chừng như đây là một cái vườn tuyệt diệu. Đâu đâu cũng thấy cây cối, cây thì trĩu quả, cây thì nở hoa. Các con suối nước ngọt trong veo uốn khúc rất đẹp mắt. Quả ăn rất ngon và nước thì càng uống càng thấy thích.


Đêm đến, tôi ngủ trên bãi cỏ, ở một nơi khá thoải mái. Nhưng không ngủ yên giấc được một giờ. Giấc ngủ chập chờn bởi nỗi lo sợ thấy chỉ có mỗi một mình ở nơi hoang vắng quá. Thế là tôi để cả phần lớn đêm ấy đau buồn cho thân phận. Tôi tự trách mình quá dại dột, sao không chịu ở nhà mà lao vào chuyến đi cuối cùng này. Những suy nghĩ đen tối đến nỗi tôi bắt đầu nảy ra ý muốn hủy hoại thể xác. Nhưng may sao trời cũng vừa sáng. ÁNh sáng ban ngày làm tiêu tan nỗi tuyệt vọng. Tôi đứng lên đi giữa hàng cây, lòng vẫn bồn chồn.


Đi khá sâu vào trong đảo, tôi gặp một lão già có vẻ rất hom hem. Lão ta ngồi bên bờ một con suối. Thoạt tiên, tôi nghĩ đấy chắc là một người cũng bị đắm tàu như tôi. Tôi đến gần chào, lão ta chỉ gật đầu không đáp mà chỉ ra hiệu bảo tôi cõng lão lên vai đưa sang bên kia suối, đưa tay làm hiệu cho tôi rõ, sang bên ấy để hái trái cây.


Tôi ngỡ lão ta cần tôi giúp đỡ thật. Bởi vậy tôi cõng lão lên lưng và lội qua suối. Đến nơi, tôi bảo: "Cụ xuống đi" và cúi người để cho lão dễ xuống. Nhưng lão già mà tôi ngỡ là kiệt lực, không tụt xuống đất (mỗi lần nghĩ lại chuyện này tôi vẫn còn bật cười) lại nhẹ nhàng đưa hai chân kẹp lấy cổ tôi - da chân lão ta giống hệt da bò cái - rồi cứ vậy ngồi vắt vẻo trên vai tôi. Chân lão kẹp cổ tôi chặt đến nỗi tôi tưởng như bị bóp nghẹt. Lúc ấy tôi khiếp quá, liền ngã xuống và ngất đi.


Mặc cho tôi bất tỉnh nhân sự, lão già quái ác ấy vẫn bám riết lấy cổ tôi. Lão chỉ hơi nới chân ra một ít để cho tôi hồi tỉnh lại rồi, lão ta tì một chân vào bụng tôi, chân kia đập mạnh vào mạng mỡ, buộc tôi phải đứng lên. Tôi đứng được lên, lão bắt tôi đi dưới các cây. Mỗi lần gặp quả, lão ra hiệu đứng lại cho lão hái ăn. Suốt ngày, lão không rời tôi ra. Đến lúc tôi muốn ngủ, lão nằm cùng, nhưng hai chân vẫn ghì riết lấy cổ tôi. Sáng nào lão cũng không quên đánh thức tôi dậy và đưa chân thúc vào người tôi, bắt kiệu lão đi. Các vị thử tưởng tượng nỗi cực nhục của tôi phải mang cái gánh nặng ấy trên vai mà không tài nào gỡ ra được.


Một hôm tôi bắt gặp trên đường nhiều quả bầu khô rụng từ cây xuống. Tôi nhặt một quả khá to, rồi sau khi lau rửa sạch sẽ, tôi vắt vào trong đó nước nhiều chùm nho, loại quả sẵn có trên đảo, đi đến đâu cũng gặp. Khi đã vắt đầy quả bầu rồi, tôi để ở một nơi. Nhiều ngày sau tôi khéo léo dẫn lão già đến đó. Đến nơi, tôi bê quả bầu đưa lên miệng uống thứ rượu nho rất ngon, nó cũng làm cho tôi tạm khuây khoả được một chốc nỗi buồn chết người. Rượu làm cho tôi phấn chấn hẳn lên.


Tôi còn thấy hứng thú đến nỗi cất tiếng hát và nhảy nhót trong khi đi.


Lão già nhận thấy hiệu quả của thứ nước ấy đối với tôi. Lão cũng thấy tôi cõng lão có vẻ nhẹ nhõm hơn thường lệ liền ra hiệu bảo tôi đưa cho lão uống. Tôi đưa quả bầu cho lão. Lão đón lấy và bởi vì thứ nước ngọt đựng trong bầu có vẻ ngon, lão nốc một hơi cạn đến giọt cuối cùng. Cũng còn khá nhiều, đủ làm cho lão say. Và lão say thật. Chẳng mấy chốc hơi rượu bốc lên đầu, lão bắt đầu hát ê a theo lối của lão và lảo đảo trên vai tôi. Vì lắc lư quá mạnh, lão nôn thốc nôn tháo những thứ trong dạ dày ra. Đôi chân lão doãi ra dần dần. Đến khi thấy lão không ghì chặt được nữa, tôi hất lão xuống đất. Lão nằm thẳng cẳng, không cựa quậy. Thế là tôi vác một hòn đá rất to đập vỡ đầu lão.


Tôi cảm thấy rất vui mừng được giải thoát vĩnh viễn khỏi lão già chết tiệt ấy, rồi đi về phía bờ biển. đây tôi gặp nhiều người từ một con tàu vừa ghé vào lấy nước ngọt và kiếm chất tươi. Họ cực kỳ ngạc nhiên lúc gặp tôi và được nghe đầu đuôi câu chuyện. Họ bảo tôi: "Bạn đã sa vào tay lão già người biển. Bạn là người đầu tiên không bị lão chẹt chết. Lão không bao giờ bỏ những người lão bắt được mà không bóp chết đâu. Lão đã làm cho hòn đảo này nổi tiếng về số người chết về tay lão. Các thủy thủ và nhà buôn xuống đảo này chỉ dám đi sâu vào lúc đã họp thành đoàn đông người cùng đi".


Sau khi cho biết những điều đó, họ cho tôi đi theo về tàu. Thuyền trưởng cũng vui lòng nhận tôi khi nghe thuật tất cả những điều đã xảy ra. Tàu lại giương buồm. Sau mấy ngày đường, chúng tôi cập bến một thành phố lớn, nhà cửa xây bằng đá tốt.


Một nhà buôn trên tàu có cảm tình với tôi, cho đi theo đến một nơi dành làm chỗ nghỉ cho nhà buôn nước ngoài. Ông ta đưa cho tôi một cái bị lớn, sau đó ông gửi tôi cho một vài người trong thành phố cũng mang một cái bị như tôi, và yêu cầu họ cho tôi cùng đi theo lấy quả dừa: "Bác hãy đi đi - Ông bảo tôi - hãy đi theo họ, thấy họ làm thế nào cứ làm theo thế ấy. Nhớ chớ có rời xa họ mà nguy hiểm đến tính mạng đấy".


Ông ta cho tôi thức ăn trong ngày, rồi tôi đi cùng với những người ấy.


Chúng tôi đến một rừng lớn có những cây cực cao và rất thẳng, thân cây thì nhẵn nhụi đến mức không thể nào bám vào để leo lên hái quả ở trên ngọn được. Đấy là những cây dừa. Chúng tôi muốn hái quả dừa cho vào bị. Vừa vào đến rừng, chúng tôi trông thấy khá nhiều những con khỉ to và khỉ nhỏ. Chúng bỏ chạy khi thấy có người rồi leo tót lên tận các ngọn cây một cách nhanh nhẹn lạ kỳ. Những người buôn cùng đi với tôi nhặt đá và ráng hết sức ném lên lũ khỉ trên các ngọn cây. Tôi làm theo họ. Các con khỉ bị lừa bởi cái mẹo của chúng tôi. Chúng hùng hổ hái các quả dừa và ném trở lại. Cử chỉ của chúng biểu thị sự giận dữ và thù địch rõ rệt. Chúng tôi nhặt các quả dừa cho vào bị và thỉnh thoảng lại ném đá khiêu khích khỉ. Bằng cái mẹo đó, chúng tôi nhặt dừa đầy bị. Ngoài ra thì không thể có cách nào hái được.


Khi đã nhặt đầy bị rồi, chúng tôi trở về thành phố. Nhà buôn ban sáng bảo tôi vào rừng trả tôi tiền mua toàn bộ số dừa tôi mang về. Ông bảo tôi: "Bác cứ tiếp tục ngày nào cũng đi làm như vậy cho đến lúc nào kiếm đủ tiền để trở về nhà". Tôi cảm ơn ông ta về lời khuyên nhủ tốt lành. Chẳng bao lâu tôi thu nhặt được một đống dừa lớn, nhờ đó cũng thu được một số tiền đáng kể.


Chiếc tàu đưa tôi đến đây lên đường cùng với các nhà buôn, chở đầy những quả dừa họ mua được. Tôi chờ một chiếc tàu khác đến, chiếc này cũng cập bến cảng của thành phố để mua cùng loại hàng ấy. Tôi cho chuyển xuống tàu tất cả dừa thuộc về tôi. Khi con tàu chuẩn bị khởi hành, tôi đến cáo từ nhà buôn mà tôi rất chịu ơn. Ông ta chưa thể xuống tàu cùng với tôi bởi vì còn nhiều công việc chưa thu xếp xong.


Chúng tôi giương buồm, lên đường đi về một hòn đảo có rất nhiều cây hồ tiêu. Từ đó chúng tôi sang đảo Cômari[1] ở đấy có loại gỗ trầm hương tốt nhất. Dân cư có luật lệ khắt khe là cấm uống rượu; họ không dung thứ một nơi trác táng nào. Tôi đổi dừa lấy hồ tiêu và trầm hương ở hai đảo ấy, rồi cùng với các nhà buôn khác đến nơi mò ngọc trai. Tôi thuê thợ lặn mò ngọc. Họ lấy được cho tôi một số lớn những viên ngọc trai rất to và rất hoàn chỉnh. Tôi vui vẻ lên đường, tiếp tục ra khơi trên một chiếc tàu đưa tôi thuận buồm xuôi gió đến Banxôra. Từ đấy tôi trở về Bátđa, bán hồ tiêu, trầm hương và ngọc được rất nhiều tiền. Tôi dùng một phần mười số tiền thu được làm của làm phúc. Rồi cũng như sau các chuyến đi trước, tôi tìm đủ mọi thứ vui chơi giải trí cho bõ những nỗi nhọc nhằn trải qua.


Nói đến đây, Xinbát sai đưa biếu Hinbát một trăm đồng xơcanh. Lão cùng khách khứa ra về. Ngày hôm sau, vẫn những vị khách đó đến nhà ông Xinbát giàu có. Sau khi thết đãi họ y như những lần trước, ông yêu cầu mọi người chú ý nghe ông kể về chuyến đi thứ sáu của ông, mà tôi xin thuật lại như sau:


 


CHUYẾN ĐI THỨ SÁU CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN


Thưa các vị, chắc các vị khó hiểu vì sao sau năm lần đắm tàu và trải qua biết bao nhiêu nguy hiểm, tôi chưa chịu thôi mà vẫn cứ dấn thân vào nơi gian khổ để tìm kiếm những điều bất hạnh mới. Chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên mỗi lần nghĩ đến điều đó. Có lẽ tại ngôi sao chiếu mệnh của tôi nó cứ lôi cuốn tôi vào con đường ấy. Dù sao đi nữa, sau một năm nghỉ ngơi, tôi chuẩn bị làm một chuyến đi thứ sáu, bất chấp những lời khẩn cầu của bà con, bè bạn, họ tìm đủ mọi cách để giữ chân tôi ở nhà.  Không đi đường biển qua vịnh Ba Tư, một lần nữa tôi lại đi đường bộ qua nhiều tỉnh của nước này và của nước n Độ[2] (l) đến một hải cảng. Từ đây, tôi xuống một chiếc tàu tốt, mà viên thuyền trưởng quyết tâm làm một chuyến đi dài. Trên thực tế, chuyến đi ấy dài thật, đồng thời cũng rất không may. Thuyền trưởng và hoa tiêu đều lạc đường. Cuối cùng họ cũng nhận ra được tàu đang ở đâu. Nhưng hành khách chúng tôi chẳng có gì để mà vui mừng về chuyện ấy.


1. Người A Rập quen gọi tất cả những đất đai ở phương Đông bằng một cái tên chung: ấn Độ.


Một hôm, chúng tôi cực kỳ ngạc nhiên thấy viên thuyền trưởng kêu thét lên và rời bỏ vị trí của mình. Ông ta giật khăn đội đầu ném xuống đất, bứt râu và đập đầu như thể một con người mất trí vì tuyệt vọng.


Chúng tôi hỏi vì sao ông buồn bực như vậy. Ông ta đáp: "Tôi xin báo tin với các bạn rằng chúng ta đang ở vào một nơi nguy hiểm nhất giữa biển cả. Một dòng nước rất mạnh đang cuốn con tàu đi, và tất cả chúng ta sẽ bỏ mạng trong vòng một khắc nữa. Các bạn hãy cầu Thượng đế giải thoát cho chúng ta khỏi tai ương. Chúng ta không có cách nào thoát khỏi chết đâu, trừ khi được Thượng đế đoái thương".


Nói xong, ông ra lệnh cuốn buồm. Nhưng các dây đứt trong khi vận hành. Con tàu bị luồng nước cuốn, không có cách nào tránh được, đến chân một hòn núi không có lối lên. Tàu xô vào đá vỡ tan. Tuy vậy chúng tôi vẫn kịp thoát thân và có đủ thời giờ để chuyển một tí thực phẩm và những hàng hóa quý nhất lên bờ.


Làm xong những công việc đó, viên thuyền trưởng bảo chúng tôi: "Thượng đế vừa làm điều Người muốn. Mỗi chúng ta có thể đào huyệt chôn mình ở đây. Hãy nói lời vĩnh biệt nhau, bởi vì chúng ta đang ở vào một nơi tử địa. Không một ai trước chúng ta bị dạt vào đây có thể về được tới nhà". Câu nói của ông làm tất cả chúng tôi buồn bã đến chết người. Chúng tôi ôm hôn nhau, nước mắt ròng ròng. Ai nấy đều than vãn cho số phận khốn khổ của mình. Dãy núi mà chúng tôi đang đứng ở dưới chân ấy làm thành bờ của một hòn đảo rất dài và rộng. Đoạn bờ biển ấy phủ đầy những mảnh vỡ của các con tàu đắm. Nhìn vô số những bộ xương người nằm rải rác khắp nơi đến kinh tởm, chúng tôi biết nơi đây đã làm bỏ mạng không biết bao nhiêu người. Và cũng thật khó tin được cái số lượng nhiều không kể xiết hàng hóa và của cải phơi ra trước mắt chúng tôi kia. Tất cả những vật ấy chỉ làm càng tăng thêm vẻ hoang vắng của chốn này. Khác với tất cả mọi nơi khác, sông đổ về biển. đây thì ngược lại, một con sông nước ngọt lớn từ biển chảy sâu vào bờ qua một cái hang tối tăm, miệng hang cực kỳ cao và rộng. Điều đáng chú ý nhất ở nơi này là đá ở hòn núi đều là thạch anh, hồng ngọc hoặc các loại đá quý khác. Một con suối tuôn ra biển một loại nhựa thông hay dầu gì đấy, mà cá ăn vào thì nhả ra hổ phách.


Hổ phách bị sóng đánh dạt vào bờ la liệt đầy bãi biển. Cây mọc ở đây phần lớn là cây gỗ trầm hương; chất lượng của nó không hề thua kém loại trầm hương nổi tiếng ở đảo Cômari.


Còn một chi tiết cuối cùng về cái chốn ấy, mà người ta có thể gọi là một cái vực không đáy, là không bao giờ một vật gì đã rơi vào đấy có thể trở ra, không bao giờ tàu bè có thể nào thoát ra được, tàu nào bị gió đẩy vào, thì sức gió và luồng nước sẽ đẩy nó xô vào đá. Còn nếu chiếc tàu nào lọt vào nơi đó khi gió từ đất liền thổi ra, và lẽ ra nhờ vậy đáng ra có thể giúp cho nó rời xa chốn này, thì ngọn núi cao đã cản hết gió và tạo nên cơn lặng, để cho luồng nước lại cuốn nó vào bờ rồi xô vào đá, khiến nó vỡ tan như chiếc tàu của chúng tôi vừa lâm nạn. Tệ hại hơn nữa, là không có cách gì trèo lên đỉnh núi và ra thoát đi nơi khác bằng bất cứ một lối nào.


Chúng tôi ở lại trên bờ biển như những con người mất trí và chờ đợi cái chết từng ngày. Chúng tôi bắt đầu chia đều lương thực. Như vậy kẻ nào sẽ sống lâu hơn những kẻ khác ít nhiều là tùy thuộc vào tính tình và cách sử dụng thức ăn của người đó.


Những kẻ chết đầu tiên được những người khác chôn cất. Riêng về tôi, tôi dự lễ tống táng tất cả bạn đường. Xin các vị chớ lấy làm ngạc nhiên, bởi vì ngoài việc sử dụng dè sẻn hơn họ khẩu phần được chia, tôi còn giữ riêng được một ít thức ăn nữa mà không cho bạn bè biết. Tuy nhiên, khi chôn người bạn cuối cùng, tôi còn quá ít lương thực đến nỗi tôi biết rằng mình cũng chẳng còn được sống bao lâu nữa. Tôi tự đào sẵn lấy huyệt của mình, định bụng sẽ nằm vào đấy, bởi vì chẳng có ai còn sống để chôn tôi nữa. Xin thú thật với các vị rằng trong khi làm công việc này, tôi không khỏi ân hận rằng chính mình đã gây nên cái chết của mình. Tôi không khỏi hối tiếc là đã thực hiện chuyến đi này. Không chỉ có hối hận suông, tôi còn cắn tay đến chảy cả máu và thiếu chút nữa thì đã tự sát để được chết sớm hơn.


Nhưng Thượng đế còn thương đến tôi, dun dủi tôi đi đến gần con sông, nơi nước chảy mất hút vào cửa hang. Đến đây, sau khi hết sức chăm chú xem xét con sông tôi tự bảo: "Con sông này chui vào đất ở chỗ này, tất phải thoát ra ở một nơi nào đó. Nếu ra làm một chiếc bè, ngồi lên trên và thử cho trôi theo dòng nước, ta sẽ đến một nơi có người ở, hoặc là ta sẽ chết. Nếu ta chết, ta làm cái việc là đổi thay cách chết mà thôi. Ngược lại, nếu ta thoát khỏi cái nơi tai họa này, không những ta tránh được số phận đáng buồn của các bạn ta, mà biết đâu chẳng tìm được một cơ hội mới để làm giàu. Biết đâu vận may chẳng chờ ta qua khỏi cơn vận hạn thật khủng khiếp này, để đền bù xứng đáng cho những thiệt hại do nạn đắm tàu gây nên?".


Sau khi luận lý như vậy, tôi không ngần ngại bắt tay ngay vào việc làm bè. Tôi làm một chiếc bè bằng những tấm gỗ tốt và các sợi dây thừng to ở đây tha hồ mà chọn. Tôi buộc chặt kết thành một chiếc tàu con khá vững chắc. Làm xong, tôi xếp lên đấy mấy kiện hồng ngọc, bích ngọc, hổ phách, đá thạch anh và vải vóc quý. Xếp cho cân bằng và buộc chặt lại những thứ đó xong xuôi đâu đấy, tôi lên bè cùng hai chiếc chèo con mà tôi không quên làm sẵn rồi để mặc cho dòng nước cuốn đi, phó thác thân phận mình cho Thượng đế.


Vừa lọt vào hang, tôi không còn thấy tí ánh sáng nào nữa, và cứ để cho dòng nước cuốn đi mà chẳng rõ sẽ về đâu. Tôi lênh đênh mấy ngày trong cảnh mịt mùng ấy, chẳng bao giờ thấy được một tia ánh sáng. Một lần, vòm hang quá thấp đến nỗi đầu tôi chạm phải suýt bị thương. Tôi phải hết sức chú ý để tránh vấp lại điều nguy hiểm đó. Trong thời gian ấy, tôi ăn những thức ăn còn lại đương nhiên với lượng chỉ đủ cầm hơi. Nhưng dù sống thanh đạm đến bao nhiêu, cuối cùng rồi lương thực cũng cạn. Thế là không thể cưỡng được nữa, một giấc ngủ nhẹ nhàng xâm chiếm lấy người tôi. Tôi không thể nói với các vị tôi ngủ bao lâu. Nhưng khi tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình đang ở giữa một đồng bằng rộng, bên bờ một con sông. Một đám những người da đen xúm xít chung quanh. Chiếc bè của tôi đã được buộc vào bờ. Vừa trông thấy người, tôi cố đứng lên chào. Họ đáp lời tôi, nhưng tôi không hiểu được tiếng của họ. Lúc ấy tôi cảm thấy vui mừng quá sức, đến nỗi không rõ có nên tin thật là mình đang thức hay không. Biết chắc không phải là đang mơ, tôi thốt lên lời và đọc mấy vần thơ A Rập: "Hãy cầu khẩn Đấng tối thiêng liêng. Người sẽ đến cứu giúp mi. Chẳng cần phải chăm lo việc gì khác. Hãy nhắm mắt lại. Trong khi mi ngủ, Thượng đế sẽ đổi số phận mi từ khốn khó trở thành hạnh phúc".


Một người da đen hiểu được tiếng A Rập, nghe tôi đọc như vậy, liền tiến lên và nói: "Người anh em ơi, bạn chớ ngạc nhiên là đã gặp chúng tôi. Chúng tôi sống trong cánh đồng mà bạn thấy đấy. Hôm nay chúng tôi đến dẫn nước con sông chảy từ quả núi kia vào mương để tưới cho đồng ruộng. Nhận thấy dòng nước cuốn theo một vật gì, chúng tôi vội chạy lại xem thì ra chiếc bè này. Một người trong bọn chúng tôi bơi ra kéo vào bờ. Chúng tôi giữ lại và buộc vào như bạn thấy đấy, chờ cho bạn tỉnh giấc Xin bạn hãy kể cho nghe câu chuyện của bạn chắc là kỳ lạ lắm. Xin hãy cho chúng tôi biết tại sao bạn lại lênh đênh trên dòng nước này, bạn từ đâu đến".


Tôi bảo họ trước hết xin cho tôi ăn, rồi tôi sẽ thỏa mãn sự hiếu kỳ của họ.


Họ đưa cho tôi nhiều món ăn. Khi đỡ đói rồi, tôi thuật lại đầy đủ tất cả những việc xảy ra. Họ nghe và có vẻ thán phục. Tôi vừa thuật xong, họ đã nói thông qua người phiên dịch. "Thật là một câu chuyện diệu kỳ nhất. Bạn nên thân hành đến tâu để nhà vua rõ. Câu chuyện kỳ lạ thế đấy, không nên để cho người khác trình với nhà vua ngoài chính người đã sống trong cuộc". Tôi đáp tôi sẵn sàng làm tất cả những gì họ muốn.


Những người da đen liền đi tìm ngựa. Lát sau một con ngựa được dẫn đến. Họ cho tôi cười lên. Một số đi trước dẫn đường. Những người khác khỏe mạnh hơn, khiêng nguyên cả chiếc bè cùng với các kiện hàng đi theo sau.


Chúng tôi cùng đi cho tới thành phố Xêrenđíp. Hóa ra tôi đang ở trên hòn đảo này. Những người da đen trình tôi lên quốc vương của họ. Tôi tiến đến gần chiếc ngai nhà vua đang ngồi, và làm lễ chào theo tục lệ người ta vẫn chào các ông vua ẤN Độ, tức là phủ phục xuống chân vua và hôn đất dưới chân Người.


Nhà vua cho đỡ tôi đứng lên, tiếp đón rất lịch sự, lại còn mời tôi đến ngồi bên cạnh. Trước tiên vua hỏi tôi tên họ là gì. Tôi đáp tôi tên là Xinbát, biệt hiệu Người đi biển, bởi vì tôi đi lại nhiều chuyến trên các biển. Tôi nói thêm tôi là công dân thành phố Bátđa. Nhà vua lại hỏi: "Nhưng làm sao ông đến được đất nước của ta. Ông đến bằng đường nào?".


Không giấu giếm chút gì, tôi thuật lại với nhà vua câu chuyện mà các vị vừa nghe. Nhà vua vừa ngạc nhiên vừa thú vị, liền truyền cho chép lại câu chuyện ấy bằng chữ vàng để giữ lại trong lưu trữ quốc gia. Sau đó người ta mang cái bè và mở các kiện hàng ra trước mắt nhà vua. Vua ngắm nghía số gỗ trầm hương và hổ phách, đặc biệt là các viên hồng ngọc và bích ngọc, bởi vì trong kho tàng của Người, không có viên nào đẹp bằng.


Trông thấy nhà vua thích thú ngắm nghía những viên ngọc đó, thấy vua xem xét kỹ từng viên đặc biệt nhất, tôi quỳ xuống và mạo muội nói: "Tâu bệ hạ, không riêng gì cá nhân tôi thuộc quyền bệ hạ, mà tất cả hàng hóa trên chiếc bè này đều thuộc quyền Người. Tôi kính xin bệ hạ tùy ý sử dụng tài sản của Người".


Nhà vua mỉm cười đáp: "Xinbát ạ, ta hoàn toàn không ham muốn cũng không lấy của ông một chút gì trong các thứ Thượng đế đã ban cho ông. Không những thế, ta còn muốn tặng thêm của cải cho ông. Ta không muốn ông từ giã nước ta mà không mang theo những vật biểu hiện sự hào phóng của nước này".


Tôi chỉ còn biết đáp lại những lời đó bằng cách chúc tụng nhà vua phồn vinh và ca ngợi lòng nhân từ độ lượng của Người. Vua giao cho một ông quan săn sóc tôi và cử người hầu hạ tôi, chi phí do nhà vua trả. Viên quan thực hiện đúng đắn mọi mệnh lệnh. Ông dẫn tôi về nơi ở và cho chuyển đến đấy tất cả các kiện hàng trên cái bè của tôi.


Ngày nào cũng vậy, đến một giờ nhất định, tôi vào chầu vua. Thời gian còn lại tôi đi xem phố xá, và tất cả những gì hợp với tính hiếu kỳ của mình.


Đảo Xêrenđíp nằm ngay dưới đường hoàng đạo, bởi vậy ngày và đêm ở đây bao giờ cũng dài đúng mười hai giờ. Đảo rộng tám mươi paraxăng[3] chiều dài và tám mươi paraxăng chiều rộng. Thủ đô nằm vào cuối một thung lũng đẹp hình thành bởi một ngọn núi ở chính giữa đảo, và có lẽ đây cũng là ngọn núi cao nhất thế giới. Quả vậy, đi ngoài biển cách ba ngày đường đã có thể trông thấy nó. Trong núi có hồng ngọc, nhiều loại khoáng sản. Phần lớn đá ở đây thuộc loại sa thạch, tức là một thứ đá có chứa kim loại, hiếm nhất là cây bá hương và cây dừa. Dọc bờ biển và ở các cửa sông, dân làm nghề mò ngọc trai. Một vài thung lũng có cả kim cương.


Vì sùng tín, tôi cũng có làm một chuyến đi chơi lên núi, thăm nơi tương truyền Ađam ngày xưa bị đày ải sau khi bị đuổi khỏi thiên đường xuống hạ giới. Tôi còn tò mò leo lên đến tận đỉnh núi.


Trở lại thành phố, tôi xin vua cho phép trở về xứ sở. Nhà vua chuẩn y với thái độ rất lịch sự và rất đáng kính. Vua buộc tôi phải nhận một tặng phẩm đắt tiền lấy từ kho tàng của Người. Và khi tôi đến chào từ biệt, vua còn giao thêm một tặng phẩm có giá trị hơn nhiều, kèm một bức thư gửi Đấng thống lĩnh các tín đồ, Hoàng đế của chúng ta. Vua nói: "Ta nhờ ông dâng món quà mọn và bức thư này của ta lên Hoàng đế Harun An-Rasít, và chuyển đến Người tình hữu nghị của ta". Tôi kính cẩn nhận tặng phẩm và bức thư, và hứa với nhà vua là sẽ thực hiện đầy đủ các mệnh lệnh mà Người hạ cố giao phó. Trước khi tôi xuống tàu, nhà vua cho triệu viên thuyền trưởng và các nhà buôn cùng đi chuyến ấy, truyền cho họ phải hết sức quan tâm đến tôi. 


Bức thư của vua Xêrenđíp viết trên một tấm da của một con thú gì đó rất quí và rất hiếm, màu của nó hơi ngả sang màu vàng. Chữ viết màu xanh da trời. Nội dung bằng tiếng Ấn Độ như sau:


"Quốc vương ẤN Độ người có nghìn thớt voi đi trước mặt, sống trong cung mái lợp bằng mười vạn viên hồng ngọc, và có trong kho tàng hai vạn vòng hoa nạm kim cương, kính gửi Hoàng đế Harun An-Rasít: "Mặc dù tặng phẩm chúng tôi gửi đến bệ hạ không đáng bao nhiêu, mong bệ hạ lấy tư cách anh em bè bạn mà vui lòng nhận lấy, để chiếu cố tình hữu nghị xuất phát từ đáy lòng tôi đối với ngài, mà món quà này là một biểu hiện. Tôi mong ngài cho phép tôi được hưởng tình hữu nghị của ngài. Tôi tự xét mình xứng đáng với điều đó bởi vì tôi cùng ngang địa vị với ngài. Với tư cách là người anh em, tôi cầu xin bệ hạ chấp thuận. Kính chào ".


Tặng phẩm bao gồm: thứ nhất, một chiếc lọ làm bằng nguyên một viên hồng ngọc, được khoét rỗng và được chạm trổ, cao nửa bộ và dày bằng một ngón tay, đựng đầy những viên ngọc rất tròn, viên nào cũng nặng đúng nửa đrasmdl). Thứ hai, một tấm da rắn vảy to bằng những đồng tiền vàng bình thường, nó có đặc tính là ai ngủ trên đó thì tránh được bệnh tật. Thứ ba, năm vạn đrasmơ gỗ trầm hương loại tốt nhất cùng ba mươi viên long não to bằng củ lạc. Và cuối cùng, những vật đó được gửi kèm một nữ nô lệ có sắc đẹp quyến rũ, mặc áo quần kết đầy châu báu.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info







[1] Đây là bán đảo bên kia sông Hằng, nơi tận cùng là mũi Cômaranh (chú thích của Ăngtoan Galăng).




[2] Người A Rập quen gọi tất cả những đất đai ở phương Đông bằng một cái tên chung: Ấn Độ.


 [3]  Đơn vị đo đường dài của người Ba Tư cổ, một paraxăng dài khoảng hơn một dặm.




 




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (15) - Antoine Galland 29.09.2018
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 28.08.2018
Sự tích cây nhãn (Em bé và Rồng con) - Phạm Hổ 28.08.2017
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 06.07.2017
xem thêm »