tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25346856
Tiểu thuyết
18.09.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


11. CÂU CHUYỆN ĐÊM GIAO THỪA Ở CHÙA THỔ SƠN


Chợt sư thầy nhìn Sáu Thảo, ánh mắt hơi lạ:


- Sáu à, hai chị em cháu chẳng may mồ côi sớm, ở đây nương náu với bác, tình như cha con. Nhưng hôm nay bác thấy hình như có điều gì đó cháu còn giấu bác.


Rồi trỏ vào hai người khách thầy tiếp:


- Hai vị đây chắc không phải là bà con gì với chúng ta đâu…


Nghe đến đây chàng vội vã đứng dậy:


- Bạch thầy, chúng con xin lỗi.


Nhà sư già khoát tay:


- Chúng ta như người cùng cốt nhục, xin hai ông đừng trách. Tôi biết cháu tôi và hai ông đều đang làm chính trị. Nói rõ là Việt cộng. Tôi ủng hộ. Trước kia tôi cũng đi kháng chiến và từng bị Tây bắt bỏ tù, tra tấn nhưng từ ngày mượn màu nâu sồng để quên đi thế cuộc, nghiên cứu kinh điển, lòng tôi vẫn vương vấn một thắc mắc, mong có cơ duyên gặp một thiện trí thức để hỏi…


Đến đây, chẳng đặng đừng, Sáu Thảo phải đứng dậy chỉ chàng và Út giới thiệu:


- Thú thật với bác, đây là anh Mười, từng dạy trường Vạn Hạnh của Giáo hội do Thượng tọa Minh Châu làm Viện trưởng. Nay anh ấy tham gia phong trào Phật giáo, đòi hòa bình nên có việc cần liên lạc với rừng mà trên đường qua đây, ảnh xin bác cháu ta ngủ đỡ một đêm.


Nhà sư nhìn lên tượng Phật tổ, nở một nụ cười từ hòa:


- Đấy là điều làm tôi băn khoăn. Mấy ông đều là Phật tử mà mấy ông theo Cộng sản. Mai đây,  liệu Tôn giáo của chúng ta có tồn tại không? Chùa chiền có còn không? Đạo Phật có còn không?


Thật là một vấn nạn khó khăn. Chàng đứng dậy, giọng run run dè dặt như bản tính anh vẫn thế, trước một vấn đề trọng đại:


- Bạch thầy, con chưa xứng là một người cách mạng theo đúng nghĩa của nó. Nhưng con trộm nghe, Cộng sản là từ bỏ cá nhân chủ nghĩa, mà Phật giáo thì thực hành vô ngã vị tha. Vậy hai bên đồng nhất nhau về cứu cánh. Chúng ta theo đạo Phật như một cách mưu cầu sự giải thoát hay theo đạo Phật vì chính bản thân của đạo Phật.


Nhà sư nhíu cặp lông mày rậm rạp điểm bạc, tỏ ý chưa hiểu, rồi hỏi vặn lại: -  Giáo sư phân biệt hai điều đó như thế nào?


Chàng thừ người ra suy nghĩ một lát rồi chậm rãi:


- Sư thầy có nhớ sự tích vị Bồ Tát trên núi Tuyết Sơn không?


Nhà sư lắc đầu. Có lẽ ông đã thuộc lòng câu chuyện, nhưng muốn cho chàng kể lại để nghe giải đáp. Chàng ung dung thư thái, như một người hát rong châu Âu thời xưa qua các làng mạc nhắc lại những sự tích:


-  Ngày xửa, ngày xưa trên núi Tuyết Sơn quanh năm tuyết phủ, một vị Bồ Tát đang độ cho mười người môn đệ của mình. Lần lượt có chín người đã giác ngộ và vân du đi hoằng hóa khắp nơi. Còn người thứ mười là một vị trung niên, càng chú tâm vào niềm ham muốn cháy bỏng là mong sao cho chóng đạt đạo thì lửa dục càng thiêu đốt tâm hồn ông. Càng bị lún sâu vào vùng ý niệm, ông cứ vướng mắc mãi. Mùa đông năm ấy trời lạnh quá, tuyết rơi lả tả, vị sư lập cập. Bồ Tát trông thấy thương hại hỏi:


-  Có gì đốt được để sưởi không?


Vị sư thưa:


- Bạch, chỉ còn mấy tấm cửa gỗ.


Tiếng Bồ Tát:


- Hãy lấy cho vào lò.


Vâng lời thầy, nhà sư khơi cao ngọn lửa và cảm thấy ấm áp hơn, tiếp tục ngồi thiền định. Nhưng ông vẫn lúng túng. Và rồi củi cũng hết. Trời lại lạnh hơn. Có tiếng Bồ Tát:


- Còn gì có thể đốt được nữa không?


Vị sư không dám trả lời. Ông ngẩng lên nhìn pho tượng Phật lớn trên bệ thờ, vật duy nhất bằng gỗ còn lại. Tiếng Bồ Tát: - Làm đi


Vị sư trẻ lĩnh ý hì hục mãi mới khiêng được tượng Phật xuống, đang giơ búa lên bửa tượng Phật gỗ làm củi thì hoắc nhiên đốn ngộ. Ông nhẹ nhàng đặt lại tượng Phật vào chỗ cũ và đi vào hang sâu bái lạy Bồ Tát để ra đi. Trên phiến đá, nơi Bồ Tát thường ngồi, ông nhận được mảnh giấy nhỏ ghi mấy dòng chữ: Thầy biết con đã ngộ. Hãy ra đi cứu độ chúng sanh. Hẹn gặp lại ngày này năm sau.


Câu chuyện mang ý nghĩa thật sâu sắc: theo đạo Phật để giải thoát chớ không vì bức tượng gỗ. Giải phóng con người, giải phóng chúng sinh khỏi cái khổ là cứu cánh. Muốn thế phải vô ngã vị tha, tức phải từ bỏ cá nhân chủ nghĩa, thì dù là nhà sư đầu tròn xáo vuông hay người cách mạng dép râu áo vải, mục đích cũng giống nhau.


Sư thầy gật đầu tỏ vẻ nhất trí, nhưng ông nói:


- Lời giải đáp của giáo sư có chỗ tôi chưa thỏa mãn. Tôi cũng chịu rằng đạo Phật và Cộng sản có cùng một mục đích giống nhau: đều mong cầu giải thoát cho con người, đều cứu khổ.


Chàng tiếp, như hiểu ý và để bổ sung cho những gì mình chưa nói hết:


-  Bạch thầy, đúng thế. Về phạm vi tinh thần hay vật chất, về phương pháp duy tâm hay duy vật, có thể khác nhau. Nhưng mục đích thì vẫn là một.


Sư thầy nâng tách trà xuân, hỉ xả:


- Giao thừa Quí sửu này gặp hai đạo hữu thật có duyên. Mời hai ông đi nghỉ.


Rồi sư gọi:


- Minh Hiền ơi! Con chuẩn bị sớm mai đưa hai ông sang sông sớm nhớ.


Có tiếng dạ ran của chú tiểu từ bên trong vọng ra.


Sáng mồng một Tết, trời còn tối đất, một chiếc xuồng con chập choạng sang sông. Vị sư trẻ chèo đò, hai người khách đã được cải trang bằng hai bộ bà ba đen, dép râu nón lá. Chú tiểu dặn:


-  Nếu gặp giang đỉnh của mấy ổng, xin hai ông nói là chúng ta đi tìm bầy vịt nhà, tính bắt vài con về nhậu chơi ba ngày xuân nhé.


Chiếc xuồng lướt giữa những lùm cây thấp vùng bưng, có lúc phải nấp vào các tán lá rậm để tránh sự phát hiện của những chiếc phi cơ không thám nhỏ L19 xè xè bay qua, như những con chuồn chuồn kim lơ lửng trên nền trời trong vắt. Tết trong rừng, bốn bề nước loáng, bên trên nắng gắt. Từng chặp, họ vui vẻ mang bánh Tết ra ăn, uống nước bầu. Chàng cùng Minh Hiền hút thuốc nói chuyện huyên thiên về đạo Phật, về lịch sử các thiền sư Việt Nam. Mãi xế chiều xuồng mới cập vào một hốc đá, hai người lên bờ. Phước bịn rịn tiễn chú tiểu:


-  Cảm ơn chú nhiều. Tuần lễ nữa, anh em tôi sẽ về bằng con đường khác, nhưng sẽ ghé chùa.


Thế là họ đã qua vùng bưng Bến Cầu, vào mật khu Hố Bò, lại phải nghỉ đêm tại một trạm giao liên giữa rừng, bên một cây đa thật to. Từ đây, tất cả đều bịt mặt, chỉ chừa đôi mắt. Bữa cơm tối vẫn có bia, bánh chưng, thịt heo luộc nhưng món chàng rất thích không bao giờ quên được là rắn xào mặn với đọt ớt chim.


Mệt nhoài, sau khi sinh hoạt cách thức bảo mật và có biến động đột xuất, cả hai ngủ thiếp đi khi vừa đặt lưng xuống liếp. Nào ngờ tối hôm đó quân Cộng hòa bất ngờ bao vây căn cứ. Tất cả đều xuống hầm, tiếng đại bác ầm ầm trên mặt đất và như thế suốt hai ngày liền. Chàng rối ruột vì lo nỗi chuyến đi kéo dài và nhất là bà vợ nhát gan ở nhà có thể đi dò hỏi đâu đó hay xem bói linh tinh thì rách việc. May mắn thay những ngày đó vừa sau đình chiến, lại bị phái đoàn Mặt trận ở bốn bên phản kháng, đối phương phải rút quân. Chàng và Phước thở phào nhẹ nhõm khi được thông báo sẽ tiếp tục lên đường.


Ngày hôm sau, họ phải lội bộ băng qua một cánh đồng trên đất Campuchia, an toàn hơn nhưng có chặng phải lội nước đến ngang hông, dài hàng chục cây số. Gót chân chàng bị đau bởi va vào nan hoa xe Honda trong vụ đám thầy Thiện Hoa chưa lành hẳn, nay sưng húp vì đi nhiều, đau lắm nhưng chàng vẫn cố chịu đựng như muốn thử thách ý chí mình. Phước biết và thỉnh thoảng xuýt xoa. Chàng an ủi, như nói với đứa em ruột:


- Không sao đâu chú ạ. Tôi cố chịu đựng xem khả năng mình đến đâu.


Anh Năm Tới dẫn đường lắm lúc bỏ xa hai người thành phố cả đoạn thật dài. Hai anh em khát quá, gặp vũng nước trâu cũng đành khỏa bùn rác ra mà vốc mấy ngụm vào miệng, thấy ngọt vô cùng nhưng khi phát hiện thấy có phân dưới đáy, chàng cười đùa: Ngưu phẩn linh thủy[1], dễ dầu gì mà được thưởng thức nó trong dịp Tết thiêng liêng của đời người. Biết đâu nó lại không giúp làm xẹp chỗ sưng của tôi.


Thần khẩu buộc xác phàm, không hiểu sao tới chiều ngày sau, cái chân chàng xẹp thật. Được thể chàng huênh hoang cho sướng miệng: -  Đấy, tôi nói có sai đâu. Cụ Hồ dạy: Đào núi và lấp bể, có chí ắt làm nên.


Cả hai cười vui, quên hết cả cặp chân đã mỏi nhừ. Rừng bạt ngàn, lán trại mênh mông, chàng có cảm giác như đang ở trong miền núi An Lão, Bình Định thời chống Pháp, một tiểu thị trấn giữa đại ngàn. Vì mất trọn ba ngày cho qua trận càn, chương trình sinh hoạt của chàng bị rút ngắn. Một cán bộ người Nam bộ, cỡ tuổi anh Sáu Diễn, tóc quăn, da ngăm đen chào, hỏi chàng đi có vất vả không, đề nghị chích cho chàng một mũi thuốc bổ. Mặc dù thấy không cần thiết và nhát đau, rất ngại tiêm chích, nhưng chàng muốn làm vui lòng vị chủ nhân khả ái của doanh trại nên đã sẵn sàng chìa mông ra cho cô y tá trông cũng xinh tiêm một ống có lẽ là Liver Extract.


Xong, chàng và vị đó mất trọn hai ngày trao đổi tay đôi về mục tiêu phương pháp. Cũng lại là một ông anh Sáu nữa. Ở đây, cơm nước tương đối thịnh soạn, có gà xào mặn, canh chua cá lóc, cả bò tái nữa, và mỗi người một chai bia. Tết nhất mà.


Lặng nghe âm sắc trong giọng nói và cách trình bày vấn đề cùng phương pháp suy luận, chàng đoán chừng anh người Bến Tre và đã qua trung học thời Pháp. Cặp mắt tinh anh, biết cười thay cho đôi môi, anh tạo được sự dễ dàng tin cẩn cho người đối thoại. Nhân đó chàng đánh bạo hỏi kỹ về Thông cáo mười điều của Chính phủ Cách mạng lâm thời đối với những người đang phục vụ trong hàng ngũ Quốc gia, một khi cuộc chiến thực sự chấm dứt. Anh nói:


-  Chắc chắn rồi. Cách mạng bao giờ cũng có lí có tình. Và rốt cuộc, chỉ nhân dân Việt Nam, gồm cả hai bên mới thật sự là người chiến thắng.


Kẻ thật sự sung sướng trước những lời đó là chàng, một người bình thường, lâu nay chỉ mong mỏi một điều: chiến tranh sẽ chấm dứt, tất nhiên với chiến thắng của những người nằm gai nếm mật và mong rằng nó sẽ không gây đau khổ cho một ai, do những đẩy đưa của thời cuộc, đã phải đứng vào một cách miễn cưỡng trong guồng máy Mỹ Thiệu.


Mời chàng một điếu Ruby, anh tiếp: - Nghe nói anh lên, vài anh em phụ trách trí thức, cánh anh Tự Dụng và anh Bùi Thanh Khiết (những cái tên này mãi sau giải phóng chàng mới biết) muốn gặp anh. Nhưng tôi nói để bảo đảm hoàn toàn bí mật cho anh khi về dưới, các ảnh có cần gì thì ghi câu hỏi, tôi truyền đạt lại cũng được.


Một cách trang trọng như muốn tỏ lòng biết ơn đối với người chu đáo vì sự an nguy của mình, chàng nói:


- Thưa, quý anh muốn rõ thêm về điều gì?


Tằng hắng nho nhỏ một cái, anh Sáu nhìn thẳng vào mắt chàng:


- Cả tôi nữa cũng chưa rành lắm. Tại sao những người gia đình từng có nợ máu với Leroy ở Mỹ Tho thì bây giờ cũng đứng vào phong trào của các anh mà họ biết rõ là thân Cộng?


Đắn đo suy nghĩ một lát, chàng chợt nhớ tới người bạn thân Lương Bá Thận, có dạo làm cho Quốc gia ở Huế. Sau 1954, anh vô Sài Gòn dạy học hay tới nhà chàng chơi bài. Chàng mời Thận dạy Anoma, ngôi trường miễn phí chàng cùng sư Tâm Quang thành lập ở Cây Da Sà (quận 6) mà học trò phần lớn là gia đình lao động, Cộng sản.


Có lần chàng hỏi đùa anh Thận:


-  Dạy đám học trò này, nay mai Cộng sản về, anh có sợ không?


Anh đáp:


- Tao chắc với mày: bây giờ Cộng sản khác lắm rồi, đâu có như hồi bốn lăm nữa.


Chàng đem câu chuyện kể lại cho anh Sáu nghe như một lời giải đáp gián tiếp cho nạn đề trên và nói thêm:


- Hồi bốn lăm, người ta chưa thấy cảnh lính Lê dương Pháp, rồi sau này nữa lính da đen Mỹ, đốt nhà hiếp dân. Chớ bây giờ, một bên là Quốc gia tham nhũng thối nát ở sát nách và một bên là những người lính Cụ Hồ dép râu, áo vải ở mãi tận rừng sâu. Mong sao chúng ta giữ mãi được tình cảm tốt đẹp đó trong lòng đồng bào.


Anh Sáu lắng nghe và tỏ ý muốn hiểu cẩn thận hơn về từ Évolué, chàng nói:


- Đây là một thuật ngữ quan trọng trong triết học Mác mà người ta thường cho là sự tổng hợp và hệ thống hóa triết học Đức, kinh tế chính trị học Pháp về chủ thuyết Darwin (Anh) về sinh vật học. Theo đó sinh vật luôn thích nghi với môi trường sống và tiến triển qua hàng triệu năm từ những cơ thể đơn giản của con Amibe chỉ có một tế bào cho tới phức tạp như con người ngày nay. Cùng với thời gian, mọi vật phát triển, càng về sau, càng hoàn chỉnh hơn.


Anh Sáu nhíu mày như cố tìm ra một sự liên hệ mong manh nào đó giữa thuyết tiến hóa động vật của Darwin với thái độ chính trị của các nhà tri thức Sài Gòn giữa cảnh nước sôi lửa bỏng hiện tại của dân tộc mà mỗi giây trôi qua là thêm một số người mất mạng vì chiến tranh.


Chàng dừng lại thong thả hít một hơi thuốc dài như chừng để nghĩ ngợi thêm về những tư tưởng vốn đã phức tạp mà chàng có thói quen diễn đạt bằng ngôn ngữ thơ ca thường xúc tích của mình:


- Nay, qua bao nhiêu năm chiến tranh, tầng lớp trên ở miền Nam, đều thấy rằng thực dân và đế quốc chỉ dùng tay sai và lính tẩy nên ai cũng mong ước có sự thay đổi. Nhưng từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, họ đã tuyệt vọng và thấm rằng chỉ có kháng chiến mới có khả năng vực dậy nổi một đất nước trải qua bao điêu linh. Nói chung, mặc dù quá khứ ra sao, họ vẫn thấy hình ảnh mình trong một tương lai khi người Cộng sản đã chiến thắng và cầm quyền. Tôi đã có dịp chuyện vãn với nhiều người và nói mang máng cho họ hiểu rằng, những người cách mạng hiện nay không như họ từng hiểu một cách sai lầm trước đây. Tất cả, tôi đều dựa trên Thông cáo 10 điểm đó.


Anh Sáu rất tán thành quan điểm và đáp án của chàng. Anh nói thêm:


- Cách mạng đã nói gì thì sẽ làm điều ấy, quyết không có gì sai chạy.


Cuộc nói chuyện đã kết thúc một cách tốt đẹp, hào hứng. Chàng hứa sẽ đấu tranh hết mình cho hòa bình, thống nhất đất nước.


Ngày hạ nêu, cả hai trở về thành bằng một cách khác. Lần này có hai chiếc xe đạp thồ ra tận gần Mộc Bài, nên họ đỡ mỏi chân chỉ đi bộ mấy cây số là ra đến quốc lộ 13, ghé vào nhà cơ sở thay đồ tây. Lại sơ mi trắng, quần Dormeuil sang trọng, kiếng trắng chánh hiệu trí thức, mũ phớt Ăng lê, giày da Boscal tươm tất, thản nhiên và đĩnh đạc lên chiếc xe lam ba bánh ngồi vắt đốc lên như một thương gia vừa trúng mánh.


Đến dưới Tây Ninh một chặng, Phước lại xuống xe tính vào chiếc quán rách nằm ở ngã ba lối mòn dẫn vào Thổ Sơn Tự. Thoáng thấy bóng họ, Sáu Thái nháy mắt. Cả hai biết ý làm thinh. Phước còn làm bộ lớn tiếng hoạnh hoẹ kêu nước, giọng gắt bẳn như một ông khách xa lạ cực kỳ khó tánh. Đợi cho mấy người bạn hàng lao xao rời quán, Sáu Thảo tiến tới hỏi nhỏ: -  Tốt không?


Phước cũng đáp thật khẽ:


-  Tốt, anh Năm nhắn vô gấp.


Sáu Thảo rưng rưng nước mắt:


-  Không được ghé chùa nữa. Minh Hiền bị bắn chiều mồng một khi về tới khuỷu sông.


Chàng thấy đau nhói trong tim. Không còn chần chờ gì nữa, cả hai ra ngay vệ đường. Một chiếc lam xề tới, họ tót lên. Vĩnh biệt cội mai vàng chùa Thổ Sơn và đôi mắt tiểu Minh Hiền sáng rực trong tim chàng cho tới già. Hỡi những tấm lòng lành, hãy cư ngụ mãi trong ta - Chàng thầm nhủ.


Về tới nhà trời tối sẫm. Lại một cái Tết chiến tranh trôi qua, quả nhiên gia đình chàng đang trong cơn hoang mang. Vợ chàng cố trấn an các con bằng cách nói dối là ba chúng ăn Tết ở quê. Nhưng riêng nàng, không khỏi lo lắng khi thấy cùng lúc với chàng, Phước cũng biệt tăm. Còn việc tìm đất khẩn hoang, nàng nghĩ, nào gấp gáp gì mà phải đi ngay ngày đầu năm. Sang ông thầy canh xin một quẻ gia sự lành dữ thế nào thì Thánh dạy: - Hãy yên tâm, giữa năm mới vướng khẩu thiệt do tiểu nhân muốn hại nhưng ông nhà có quí nhân phù trợ, chúng không làm gì được, chỉ suy sút chút uy tín thôi.


Nàng an tâm về nhà thì thấy chồng đã tắm rửa xong, mày râu nhẵn nhụi đang ngồi coi báo tỉnh khô. Nàng cũng hơi ấm ức:


-  Chàng đéc ơi, thời buổi tên bay đạn lạc mà anh nói chỉ đi ba bữa, nay đã mồng bảy rồi, lại vô rừng tìm đất khai hoang, tưởng anh bị Việt cộng bắt rồi chứ. Tối nay mà không về, em đã định bụng ngày mai cho thằng Văn nghỉ học xuống báo với ông Chủ tịch Hạ nghị viện Nguyễn Bá Cẩn.


Hú vía. Chàng lại phải bịa, đùa cho qua chuyện:


- Lên miệt Bảo Lộc, mùa này hoa anh đào đang nở rộ gặp lại cô Radhé ngực căng của hai quả núi Chúa, mê quá quên cả ngày về. May mà còn nhớ vợ không thì tính ở trển luôn.


Nàng lại nguýt cho một cái dài bằng ba nhịp cầu Sài Gòn.


Tối lại, tất nhiên, theo cẩm nang của Bình cho thằng nhỏ làm công tác ngoại giao. Nàng rên lên trong lạc thú, quên hết mọi chuyện, coi như không có gì xảy ra.


Kinh nghiệm cho chàng thấy rằng muốn làm chính trị thì đừng có vợ con gì cho khỏi thê thằng tử phược. Nếu có gia đình thì phải đánh đuốc mà tìm cho ra một người như vợ chàng, hoàn toàn tin vào anh chồng lẻo mép, lời nói dối của hắn ta đi kèm với nụ hôn thật ngọt và cơn làm tình nảy lửa là xí xóa được hết.


 


12. TIN TỪ TRUNG TƯỚNG PHÓ TỔNG THAM MƯU


VIỆT NAM CỘNG HOÀ.


Chàng nhớ lại ba mươi Tết rồi, do yêu cầu của Phước, chàng hứa giúp. Đang phân vân chưa biết tính sao cho câu trả lời thật chính xác thì may quá , Thượng tọa Thiện Nhơn từ Pleiku vào chơi.


Ông này người Bình Định, chín năm trước làm trụ trì chùa Tỉnh Hội Phật giáo Quảng Ngãi, nhằm thuở lên đường xuống phố như cơm bữa của thanh niên, sinh viên, học sinh thuộc Mặt trận Nhân dân Cứu quốc chống quân phiệt ở miền Trung. Hằng ngày ông cùng chàng và Huệ toan tính những cuộc biểu tình chống chính phủ, nhưng tối đến, do thân tình cá nhân với viên Tỉnh trưởng Lê Khắc Lý vốn là một trung tá Phật tử năng cúng dường chùa, Thiện Nhơn đem bao nhiêu mưu kế chống chính quyền của bọn chàng nói hết. Trước khi rời Quảng Ngãi, tỉnh trưởng mời cơm chàng và Huệ, Lê Khắc Lý đã kể lại chuyện Thiện Nhơn. Huệ đùa:


- Đức Khổng dạy người quân tử nên dữ thiện nhơn giao[2]


Thiện Nhơn bấy giờ đã đi sỹ quan tuyên úy Phật giáo, mang quân hàm thiếu tá. Chàng vẫn như không hề nhớ chuyện cũ, mừng rỡ:


- Tết nhất, thầy không cùng đón giao thừa với anh em binh sĩ sao?


Nhà sư trong bộ áo đà, đang mang bông mai trắng trên ve áo, thở dài:


- Còn vui nỗi gì. Hiệp định đình chiến ký rồi, lũ tui sắp chệ[3].


Thầy phát âm rặt giọng Bình Định. Chàng ra lời an ủi:


- Chắc Mỹ cùng có cách giúp miền Nam đứng vững trước tình hình mới chứ!


- Thôi đi, anh mà tin Mỹ thì có nước bán thóc giống mà ăn.


Chàng tính bật cười nghĩ Mười Thắng và thầy Thiện Nhơn, cả hai đều xài một thuật ngữ như nhau.


- Chẳng tin, anh đi với tôi lên thăm tướng Ngô Dzu- Thầy tiếp.


Lại đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Chàng không bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng, liền hỏi: -  Thầy quen biết gì với ổng mà lên thăm?


Mắt thầy sáng lên, như kiêu hãnh bày tỏ mối vinh dự được bắt quàng làm họ với một nhân vật quyền thế làm đến Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội miền Nam bấy giờ:


- Cha ổng người Huế, thời Pháp làm thông nhà thương ở Qui Nhơn và sinh ổng tại đây. Gia đình Ngô Dzu, Phật tử thuần thành. Biết tôi đồng hương, ổng hết lòng nâng đỡ tôi trong ngành Tuyên úy.


Chàng nhảy tót lên chiếc xe Jeep quân đội vào Tổng Tham mưu, men lối đi rải sỏi trắng sang trọng trong cư xá Trần Hưng Đạo. Ông trung tướng này tuy võ biền nhưng nhà cửa trang hoàng ra vẻ trí thức với bức tranh lớn của họa sư Lê Văn Đệ trên vách và một giàn Piano phủ khăn trắng trong phòng khách. Tại đây còn có cả một thanh trường kiếm độc nạm ngọc, rõ cái phong thái Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo của vị anh hùng trong Truyện Kiều. Chủ nhân có vẻ không phân biệt quân giai gì với Thiện Nhơn mà rất vồn vã, chạy ra bắt tay nhà sư:


- Năm mới, chúc thầy mạnh giỏi. Tháng Chạp rồi, là tuần giáp năm của ông già tôi, cũng muốn phiền thầy một tiếng kinh, nhưng biết thầy đang xa xôi, ở Pleiku.


Chực nhìn thấy chàng, ông dừng lại. Sau màn giới thiệu, Thiện Nhơn hỏi thăm tình thế, ra vẻ lo lắng. Ngô Du đáp:


-  Thật sự là như Hiệp định Paris đã qui định. Người Mỹ đã nói trắng ra với Tổng thống Thiệu rằng, miền Nam phải đứng lên bằng đôi chân của chính mình.


Rồi nhìn chàng một cái, chờ đợi sự tán thành, ông tiếp:


-  Ông dân biểu đây chắc đã dư biết.


Chàng buộc phải gật đầu lấy lệ, nhưng hỏi thêm:


-  Thưa Trung tướng, đại khái là như vậy, nhưng cụ thể thì thế nào?


Ông chầm chậm pha trà mời khách và chìa hộp mứt ra cho mỗi người nhón lấy vài hạt dưa. Thời gian ngừng lại cho một câu trả lời xứng đáng với cái công của một vị sư phải đi trực thăng trong ngày Tết từ núi Tây nguyên về đây:


- Mỹ rút hết quân. Tiếp tế đủ súng đạn xăng nhớt trong hai năm. Hiệp định Paris cũng như bao tờ hòa ước khác trên thế gian, ai có sức thì cứ xé. Đủ lực thì giành dân, giữ đất mà tồn tại. Không thì thôi. Người Mỹ đã bỏ bao tiền, đổ bao máu ở đây rồi.


Chàng đã mang theo máy ghi âm nhỏ trong túi áo veste. Nhưng những lời đó vẫn ghim chặt vào trí nhớ chàng. Ai dè về sau chàng mới biết là lúc ấy Thiện Nhơn cũng đang công tác nắm tin cho cách mạng. Quả nhiên, Hiệp định Paris còn chưa ráo mực, việc giữ đất, giành dân đã làm cuộc chiến bùng nổ ác liệt. Rằm tháng Giêng Ất mão (1975), chàng về Quảng Ngãi.


Ngang qua làng Bồ Đề, Mộ Đức, quê cũ của Thượng công Lê Văn Duyệt và Tướng quân Trương Công Định, hai vị anh hùng được trọng vọng ở miền Nam thì thấy cách quốc lộ chừng vài trăm mét có treo một lá cờ sao vàng trên nền nửa xanh nửa đỏ thật to đang phấp phới trong gió xuân.


Chàng nhớ tới quang cảnh ở R mới rồi và đêm thức trắng cùng trao đổi với anh Sáu. Đến Thi Phổ, đứng ở cầu Ông Liếu, chàng nhìn lên ngôi nhà cũ mà bao thế hệ ông cha mình từng sinh ra, lớn lên, sống và chết tại đó thì thấy mênh mông một vùng cỏ hoang dại. Hàng chục cây số mãi tít ngọn núi Dàng cô đơn trong sương muối tháng Giêng, tất cả đều trở thành bình địa. Chỉ có những cây lúa ngây thơ tuân theo sự huyền nhiệm của trời đất, dưới tia nắng ấm gọi mùa lên xanh.


Trên thảm điêu tàn ấy, đột ngột một bóng dừa vươn lên như đang xõa tóc chờ ai. Bồi hồi xúc động, nhớ nhung quá khứ thanh bình xưa kia, chàng nín thở, dùng máy ảnh thu thần bấm một pô hình và viết vài bức tranh đó hai câu:       Quê ta núi vẫn ngày xưa


Cỏ hoang phủ lối bóng dừa chờ trông.


Về phía đông, trời cũng một màu mây trắng. Chàng biết sau rặng tre đen ấy, đi thêm một dặm đường nữa là đến biển cả, biển cả của sự bao dung như tấm lòng của người cô ruột nghèo của mình sống trong vạn chài thuở bé. Cô mất lâu rồi nhưng cứ mỗi lần trông về hướng mặt trời mọc, bao giờ chàng cũng thấy hiện lên rõ mồm một hình ảnh của cô, với búi tóc củ hành, khuôn mặt dài, hàm răng hô, nổi bật trên hình bóng quê hương, bàu cát dài, dài tới tận bờ đại dương, nơi những con sóng ngàn năm ì ầm sủi bọt vỗ vào, xóa nhanh dấu chân những con dã tràng se cát bể Đông, nhọc mình mà chẳng nên công cán gì theo lời ca dao.


Đang trong cái tâm trạng không mấy vui, chàng quay đầu xe trở ra chợ Thi Phổ thì thấy có đám đông tụ nhau. Hỏi ra mới biết trong cuộc đi tuần hành đêm qua, cháu chàng, thằng Tộ đã bị vướng mìn chết. Nó con anh xã Thọ, người nghệ sĩ đồ tể nghiệp dư từng được mọi người bái phục vì món tiết canh. Than ôi! Cả đời nó chỉ biết đi chăn vịt, cuộc chiến đã được chấm dứt trên giấy tờ nhưng vẫn còn tổn thất nhân mạng.


Như vậy, những đứa con mang tên các đồ đựng món nhậu mà anh xã Thọ đã chí thú đem cả đời mình tận tâm nấu nướng, đám Tộ, Tiềm, Chén… thì nay đã khuyết đi một.


Vợ nó trong mảnh khăn tang và vẫn bộ áo quần vải ủ đen rách bươm đưa chồng ra Đồng Găng, giữa nhấp nhô hỗn độn của bao nhiêu mả mồ ông cha, anh em dòng họ nhà chàng. Tiếng khóc tuyệt vọng nghe thấu trời xanh. Trời không có tai và cũng không bao giờ trả lời. Tiếng tỉ tê của nó non nỉ làm não lòng người dân Thi Phổ đến tận hai hôm sau. Cho hay, mỗi một chỗ trống trong cõi nhân sinh, dù tăm tối thấp hèn đến đâu, thì cũng không gì bù lấp được.


Chàng lên Thiên Ấn thì hay thầy Trừng Cảnh trưởng đệ tử của sư Hồng Ân, cũng vừa làm mồi cho lửa đạn. Hai bên vừa tranh thủ khạc vào nhau ở phủ cũ Mộ Đức. Giữa bao đổ nát, ngôi mả mới còn tươi màu đất, chiếm một góc vườn chùa. Nhìn viên đá thô sơ đặt làm bia tạm ở đầu mộ, sư Hồng Ân như đang thấy rõ từng sợi buồn trong ánh mắt người học trò thân thương của mình nằm dưới đất. Và nhà sư già, cái kẻ đã ly gia cát ái hàng sáu chục năm qua đó, bỗng phải lấy mảnh khăn tay, cũng bạc màu nâu cũ như vạt áo mình, mà lau dòng lệ khô khốc, tưởng không bao giờ còn có thể chảy ra. Lần đầu tiên chàng thấy thầy khóc. Những giọt lệ từ đôi khóe mắt nhăn nheo đã làm chàng cảm thấy gắn bó với quê hương mình hơn bao giờ hết.


Hồi còn nhỏ đi học, chàng chưa có ý niệm gì về chốn chôn nhau cắt rốn. Rồi từ tuổi hai mươi đã phải lo kiếm sống, xê dịch trên một bán kính vài chục cây số, sớm qua chợ sớm chiều qua chợ chiều, những cánh đồng ven quốc lộ cỏn con thay màu theo mùa, như rừng cây ôn đới: mùa xuân lúa lên xanh mịt rợn chân trời, mùa hạ đất cuốc ải xám xịt khô nứt nẻ dưới nắng gắt tháng Năm, mùa thu mây bạc trên đầu núi, mùa đông mênh mông một vùng nước bạc từ nguồn xa đổ về sau những ngày đêm mưa nối nhau tưởng chừng bất tận.


Bão loạn đã xảy ra trên đất nước non ba chục năm nay. Và hiện tại đâu đó, những người dân quê vẫn chỉ cảm nhận quê hương như một cái gì thật thân thiết, như con thia lia trong vũng nước bằng bàn tay quanh gốc lúa, như con cua đồng nhỏ trong chiếc hang bé tí bên bờ ruộng bùn.


Lòng lưu luyến của chàng đối với hơi gió heo may bắt đầu se ngọn cỏ tháng Mười bên sông Trà càng trở nên sâu đậm sau những ngày biệt xứ. Ta lại trở về đây, chàng tự nhủ thầm trên chiếc xe Honda mượn của chú Út, xem mình như một kẻ phiêu bồng bao năm trở lại cố hương.


Tỉnh Quảng Ngãi hình chữ nhật mà cạnh dài phía đông là bờ biển làm một góc ba mươi độ với trục bắc nam. Trên bản đồ nhỏ trong sách địa lý lớp ba của quan Đốc học Nguyễn Đóa có những nét mực màu xanh gần như cách đều nhau, không mấy cong queo, đó là những dòng sông từ rừng già đổ ra bể: Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu.


Sông Trà Bồng thơm ngát mùi cây quế, trùng trùng điệp điệp. Nó cắt quốc lộ ở Châu Ổ, một thị trấn mới phát đạt lên từ khi tướng Nguyễn Văn Toàn theo lệnh Ngô Đình Cẩn, chuyên đi cướp món đặc sản này của người Thượng mà bán ra nước ngoài. Quế Trà Bồng chuyên chở bằng thuyền phải cập bến nơi đây. Vậy nên khi có hơi hướm thị thành, đất Châu Ổ như cô gái quê ra tỉnh, mang một cái tên mới: Châu Giang, khiến ta liên tưởng tới hơn ngàn năm trước, một đêm trăng ướt đẫm tiếng đàn tì bà cho một vị Tư Mã trên bến Tầm Dương[4]. Châu Ổ có câu hát:


Bên dưới có sông, bên trên có chợ,


Ta lấy mình làm vợ nên chăng[5]


Nên quá đi chứ. Câu hỏi gọi tình nào mà không hái được một cái gật đầu?


Còn Trà Khúc thì luôn luôn ở trong tâm tưởng của chàng, cùng với Thiên Ấn, hai biểu tượng của Quảng Ngãi. Thời chín năm đó, có lần đi dân công, gánh gạo chống Pháp, chàng đã lên đến nơi nó vừa từ rừng thẳm chui ra, giữa những khe núi hiểm trở, đường đi quanh co, khúc khuỷu như đường vào đất Thục mà cha chàng thường ngâm thơ Lý Bạch, mô tả cái hùng vĩ của thiên nhiên:


Y, hu, hy…!


Thục đại chi nan hề


Nan vu thượng thanh niên!


Ba Thục của Quảng Ngãi chính là Ba Tơ, cái nôi của lòng yêu nước miền Trung. Nhưng nếu không có một Ba Thục của mối tình Đường Minh Hoàng bằng tất cả tài hoa của Bạch Cư Dị:


Đất Ba Thục non xanh nước biếc


Lòng quân vương thương tiếc hôm mai.


Thì chàng sẽ không thấy thượng nguồn Trà Khúc (sông Re theo tiếng địa phương) đẹp đến thế. Sau khi vẽ lên giữa cánh đồng xanh mướt màu lá cây Sơn Tịnh, Tư Nghĩa những nét lượn hùng tráng, ánh bạc màu mây trắng chứa trong lòng, Trà Khúc gặp sông Vệ để tuôn ra bể, hào phóng thênh thang, tiếp nhận những đợt sóng bạc đầu nhiều khi to bằng quả núi đánh long trời lở đất những đêm vần vũ gió mưa. Như để nói rằng: Hỡi cái loài người nhỏ bé kia! Ta đây, giang thần, hải chúa từng gây nên những cơn đại hồng thủy khởi nguyên trong Kinh Thánh. Chớ kiêu căng!


Lần nào ngồi bên ngôi mả cụ Huỳnh Thúc Kháng trên đỉnh đầu Thiên Ấn nhìn ra Cửa Đại chàng cũng có cảm giác đất trời to rộng Thiên cao địa huýnh, giác vũ trụ chi vô cùng, lời Vương Bột[6]: Trời cao đất rộng, biết vũ trụ là vô cùng.


Còn sông Vệ chỉ là dòng sông nhỏ. Có lẽ vì thế nó không được mang họ Trà, quốc tích Chiêm Thành hùng cứ một thời như những chi lớn Trà Khúc, Trà Bồng và Trà Câu của nó. Nhưng hai bên bờ sông Vệ cũng bạt ngàn những vườn dâu xanh đã tạo được cả một cõi nhân sinh xóm Ươm:


Một nong tằm là năm nong kén


Một nong kén là chín nén tơ


Lòng anh chín đợi mười chờ


Bao giờ kén chín se tơ chỉ vàng?


Rồi Trà Câu, khi về tới gần quê nhà nàng Thụy của người yêu tuổi nhỏ, nó đủ phù sa nuôi bao quân tướng của quan nghè, Quận công Nguyễn Trọng Nghĩa đã tùng chinh theo vua Lê Thánh Tông vào đóng ở đây từ 1471 mà tới nay còn mấy vườn tre cũ rậm rạp cho họ hàng nhà quạ, đời đời kiếp kiếp bay về làm tổ vào vụ lúa tháng Ba.


Nhưng bầy ô thước làm biếng, không bắc nổi một cây cầu sông Ngân lênh khênh trong bão loạn hộ chàng, khiến cho mối tình đầu sớm tan như chiếc bong bóng nước đã để lại vết thương trong tiềm thức chàng mà hàng chục năm về sau, vẫn thỉnh thoảng trở lại trong giấc mơ với bao xót xa tiếc nuối.


Chàng đứng đấy, trầm ngâm, một chiều tỉnh lẻ miền Trung, hơn một tháng sau tiếng súng ngưng trên trang giấy. Ấm ức nhưng không sao khóc được, phải chi lệ cứ tuôn tràn ra đi, đầm đìa cho cái thân phận, cái thế hệ lưu lạc của chàng.


Đang ngẩn ngơ thì Lê Xuân Diệu, một trung tá người Quảng Nam, học xong tú tài thì bị bắt lính, sống lâu lên lão làng, đang là một vị quan Năm bất mãn đến chơi. Anh ta đang rầu rầu. Chàng hỏi: - Có gì vui không?


Diệu đáp: - Lại múa tối ngày. Hạt cơm chúa cứng lắm.


- Có bài thơ nào mới không?


Bấy giờ nụ cười mới nở trên môi Diệu: - Đầu năm khai bút. À, nhớ ra rồi, tôi với thầy cùng tuổi. Thầy được ăn, được nói, tôi phải ngoan ngoãn vâng lời một lũ ngu. Nhìn cái quán ăn, phương tiện kiếm sống của bà vợ, nhìn mấy bông mai bạc hoen ố trên ve áo, tôi muốn thét to một tiếng, đâm thanh kiếm vào bụng mình cho tan cái bất bình. Nhưng cái vợ con nó trói buộc, giống con voi của Trần Hưng Đạo chân lún vào bùn, chỉ còn có thể chảy nước mắt mà chết.


Rồi anh ta ngâm bài thơ Tự Vịnh của mình:


Bốn tư, đường thế trải bao dài


Đối bóng ra mình chẳng giống ai


Sự nghiệp: vợ phiền lem lọ quán


Công danh: thân lụy ố màu mai


Chữ tính: tim nhỏ không hơn một


Nợ nước: vai gầy ước quá hai


Há phải hoài xuân riêng đỗ vũ


Lệ buồn nếm cũng tủi thân trai.


Da Diệu ngăm đen miệt biển và giọng nói cứng Quảng Nam như tâm hồn Diệu, như đa số trí thức lớn tuổi hồi đó, bị số phận cài phải vào cái vòng cương tỏa của cuộc chiến phi lý, khi nhận thức ra thì tóc đã điểm sương không còn cách nào khác hơn là than thở cho qua ngày.


Hai năm sau, mặc kệ Thông cáo mười điểm, anh vẫn mang gói đi học tập mười ngày kéo dài ra mười năm. Về, chả trách ai, anh cày sâu cuốc bẫm ở vùng quê, rồi cũng một cách thật bất ngờ, lại như một nổi trôi khác theo số phận, anh đi H.O qua Mỹ.


Tha hồ cho anh ngâm bài Xử thế nhược đại mộng[7] của Lý Bạch. Nhưng như bao người yêu Lý Bạch, chúng ta không bao giờ có thể hồ vi lao lỳ sinh. Chúng ta phải chấp nhận lao khổ, lao khổ triền miên như bản chất cuộc sống. Chàng đem câu chuyện Diệu kể với Phước.


Phước cho là Diệu còn thì giờ làm khác hơn, như Vũ Chinh. Chinh người Bắc, đang dở dang đại học thì bị lôi đi lính. Vào Thủ Đức, cũng ra đường với chiếc lon chuẩn úy cẩn thận và được bổ về tiểu khu Quảng Nam. Nhưng khi đi nhận công tác, Chinh ngang qua Quảng Ngãi gặp hai người học trò cũ của chàng là Lê Văn Diêu và Huỳnh Ngọc Hiếu tại Văn phòng Dân biểu. Hai người học trò này đã kín đáo đón Chinh lên chiến khu và sau đó đưa ra Bắc theo trường Sĩ quan An ninh . Chàng biết Hiệp định Paris sẽ dẫn tới một cục diện mới trong đó tôn giáo có một vai trò khác trước nên phải tìm cách đi sâu hơn.


Tôn giáo trong ruột họ, không bao giờ thích cách mạng. Phước nói: - Nhưng cách mạng phải thích họ.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Nghĩa là: Nước cứt trâu linh thiêng.




[2] Phải giao thiệp với người tốt. Huệ giải nghĩa kiểu đùa cợt câu ấy: Phải giao thiệp với ông Thiện Nhơn.




[3] Chệ: chạy, tiếng giọng Bình Định.




[4] Kết thúc Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị, Giang Châu Tư Mã thanh y thấp.




[5] Cao dao.




[6] Vương Bột: Đằng Vương Các Tự.




[7] Câu thơ của Lý Bạch: cuộc đời như giấc mộng lớn. Thì tại sao làm cho nhọc mình.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 22.12.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 22.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
xem thêm »