tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052552
Những bài báo
14.09.2018
Tư liệu
"Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ trong trong ký ức con trai


Huỳnh Văn Nghệ là nhân vật lịch sử được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng trong năm 2010, đặc biệt là trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Vào công cụ tìm kiếm google hoặc yahoo, gõ từ khóa Huỳnh Văn Nghệ, có đến gần 1.900.000 kết quả. Ông trở thành đề tài sáng tác của văn học, nghệ thuật và nghiên cứu của lịch sử, văn hóa. Cuộc đời ông như một huyền thoại, gắn liền với những trang sử vẻ vang của Chiến khu Đ trong kháng chiến chống Pháp. Ở ông hội tụ đủ mọi nhân tố của một người yêu nước, một nhà chỉ huy quân sự tài ba, một nhà thơ lớn, được nhân dân tôn vinh gọi là “Thi tướng”. Nhân dịp đón Tết Tân Mão, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã đến “xông đất” nhà ông Huỳnh Văn Nam, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV), con trai của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Những chia sẻ của ông Huỳnh Văn Nam sẽ giúp bạn đọc có thêm những góc nhìn về cuộc sống đời thường, tình cảm cha con, gia đình... của một con người huyền thoại.


“Nước mắt tướng quân”


PV: Chúng tôi đã xem bộ phim “Vó ngựa trời Nam” trên sóng truyền hình. Có một số cán bộ lão thành cách mạng từng sống, công tác với “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nhận xét rằng, nhân vật trong phim chưa lột tả hết được tính cách, phong thái và tầm vóc của “Thi tướng”?


Ông Huỳnh Văn Nam: Từ trước đến nay đã có khá nhiều đạo diễn làm phim về ba tôi, nhưng xét về phim truyện truyền hình thì có thể nói “Vó ngựa trời Nam” là bộ phim được thực hiện công phu hơn cả. Còn nếu nói đã đầy đủ hay chưa thì chắc chắn là chưa. Các nhà nghiên cứu cũng như gia đình đang tiếp tục sưu tầm, bổ sung, làm giàu thêm tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của “Thi tướng”. Riêng về phần diễn xuất của diễn viên Huỳnh Đông trong phim “Vó ngựa trời Nam”, ai cũng phải thừa nhận Huỳnh Đông đã hết sức cố gắng, nỗ lực. Tuy nhiên, cũng có những chi tiết chưa làm hài lòng khán giả, nhất là những người từng gần gũi, hiểu biết về ba tôi. Chẳng hạn như cách lên xuống ngựa, phong cách phi ngựa, cử chỉ, động tác trong chỉ huy chiến đấu... cách diễn xuất của Huỳnh Đông chưa thực sự sát với nguyên mẫu nhân vật.        


PV: Những năm tháng ở Chiến khu Đ xây dựng lực lượng kháng chiến chống Pháp chính là khoảng thời gian quan trọng nhất của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Nhưng giai đoạn này thì hình như các con của “Thi tướng” còn rất nhỏ? Những ký ức về thân phụ ở trong ông chủ yếu là do người khác kể lại?


Ông Huỳnh Văn Nam: Có những chuyện do đồng đội của ba tôi kể lại và có những chuyện do chính ba tôi kể hoặc được lưu giữ trong các tài liệu của gia đình. Thời kỳ ba tôi ở Chiến khu Đ (1945-1953), có giai đoạn chị gái đầu của tôi đã tham gia hoạt động du kích cùng chiến khu với ba tôi. Trong một lần tổ chức cho đồng đội xuống hầm trú ẩn tránh máy bay địch, chị là người xuống hầm sau cùng nên bị dính bom, hy sinh. Ba tôi lúc đó đang chỉ huy chống càn ở một địa điểm khác. Khi được chiến sĩ liên lạc báo hung tin, ông bặm môi không nói gì. Trận chống càn kết thúc, ông gọi chiến sĩ liên lạc đến và bảo đi cùng ông về nhà. Trên đường về, người chiến sĩ đã hết sức xúc động khi thấy nước mắt thủ trưởng trào ra, nhưng ông không khóc thành tiếng. Anh hiểu rằng, những dòng nước mắt ấy đã bị kìm nén ngay từ lúc thủ trưởng nhận được hung tin, nhưng vì đang chỉ huy đơn vị chiến đấu, ông đã kìm lại để không làm anh em đồng đội mủi lòng, ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu. Chuyện này về sau được các chiến sĩ của ba tôi kể lại thành giai thoại “nước mắt tướng quân” rất cảm động. Ba tôi rất ít khi nói về bản thân, ngay cả đối với con cái. Những kỷ niệm mà ba tôi kể lại chủ yếu là những bài học trong đời để nhằm giáo dục lẽ sống cho chúng tôi. Trong cuộc sống gia đình, ba tôi không bao giờ tạo ra một khoảng cách nào với những người thân, dù là nhỏ nhất. Song thân của tôi sinh nhiều lần nhưng nuôi được ít, có người thì chết do bệnh tật, người thì bị địch giết hại. Tôi là con trai duy nhất được nuôi dạy nên người. Cuộc đời tôi gắn bó sâu sắc với ba trong những năm tháng sống ở Hà Nội từ năm 1954 đến năm 1967 trước khi tôi ra nước ngoài học tập. Thời kỳ đó gia đình tôi ở cạnh nhà Tướng Nguyễn Sơn trên phố Lý Nam Đế mà người ta quen gọi là “phố nhà binh”.


PV: Ông có thể chia sẻ một vài kỷ niệm sâu sắc trong những năm tháng ở “phố nhà binh”?


Ông Huỳnh Văn Nam: Kỷ niệm thì nhiều lắm, có thể viết được cả một cuốn sách. Thời kỳ này, ba tôi công tác ở Cục Quân huấn-Bộ Tổng tham mưu và sáng tác cho nhiều tạp chí văn học ở Hà Nội. Từ nhỏ tôi đã có tính ngang bướng. Năm lên 6 tuổi, có lần vì mải chơi không trông em nên tôi bị ba đánh. Đó cũng là lần duy nhất trong đời tôi bị ba phạt đòn. Tôi bỏ nhà ra đi, đương nhiên là cũng chỉ quanh quẩn trong “phố nhà binh” thôi. Ba tôi không đi tìm mà bí mật theo dõi mọi động thái của tôi. Đến ngày thứ ba, ông đến nhà mà tôi đang “tá túc” gọi tôi về. Lúc nhìn thấy ba từ xa, tôi chỉ mong được nghe ông gọi tên mình, sau đó ba muốn đánh đập thế nào cũng được. Cái “gan” của đứa con nít trong tôi chỉ đến thế thôi. Tôi muốn về nhà lắm rồi. Nhưng ba chỉ gọi tôi về mà không đánh thêm một roi nào nữa.


Có lần tôi theo bạn trốn học đi chơi. Ba tôi biết. Ông không đánh đòn mà gọi tôi lại gần rồi nói: Hồi còn đi học như con, ba cũng đã từng trốn học. Bà nội con biết đã đánh đòn ba rất đau. Khi bà hỏi tại sao đi học lại không chịu vào lớp, ba khóc, thưa với bà: “Mẹ ơi! Áo của con rách hết rồi, thầy không cho con vào lớp chứ con có tự ý trốn học đâu?”. Bà nội con buông cây roi xuống đất rồi ôm lấy ba mà khóc.


Nghe ba kể với gương mặt đượm buồn, tự dưng hai khóe mắt tôi cay cay. Tôi hứa với ba không bao giờ trốn học nữa. Chuyện trốn học hồi nhỏ được ba tôi viết thành một bài thơ rất cảm động. Chúng tôi coi đó như những lời nhắn gửi của ba dành cho mình. Sau này gia đình tôi trở về miền Nam sinh sống nhưng “phố nhà binh” đã thực sự là quê hương thứ hai của tôi. Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi đến các gia đình trong “phố nhà binh” cứ như là vào nhà mình vậy. Mọi người sống với nhau tình cảm chan hòa, ấm cúng như là ruột thịt. Ngôi nhà gia đình tôi sinh sống ngày ấy sau này được giao lại cho gia đình một vị tướng. Ba, bốn chục năm rồi nhưng những gia đình ở “phố nhà binh” hồi ấy với gia đình tôi hiện nay vẫn coi nhau như người nhà. Tôi ra Hà Nội lần nào cũng ghé thăm những nhà hàng xóm, dù cho bây giờ nhiều người đã khuất núi, nhiều người đã là ông cụ, bà cụ nhưng tình cảm, kỷ niệm thì vẫn vẹn nguyên. Ngày giỗ ba tôi hằng năm đều có các cụ từ ngoài Hà Nội vào dự, cảm động lắm.


PV: Nghe nói “Thi tướng” có một người con nuôi. Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao song thân của ông có khá nhiều con mà lại nhận thêm con nuôi?


Ông Huỳnh Văn Nam: Đúng vậy. Người con nuôi ấy tên là Huỳnh Thanh Phong. Trong một chuyến công tác ở Cam-pu-chia, ba tôi tình cờ bắt gặp một đứa bé sắp chết đói. Ông đã đưa về nuôi nấng, dạy dỗ nên người. Anh Phong sau này tập kết ra Bắc, lấy vợ người Thanh Hóa, sinh con đều lấy họ Huỳnh. Ba tôi là người giàu tình thương. Chúng tôi cảm nhận ở ba mình là con người sinh ra là để yêu thương, sống là để yêu thương.


Tính kỷ luật và lòng nhân ái


PV: Chỉ với hai từ “Thi tướng” mà nhân dân yêu quý phong tặng cũng đã đủ nói lên Huỳnh Văn Nghệ là con người văn võ song toàn, dù trong nghiệp nhà binh, ông mới chỉ đeo cấp hàm thượng tá. Là con trai duy nhất, ông thừa hưởng được những phẩm chất gì từ thân phụ mình?


Ông Huỳnh Văn Nam: Cuộc đời của ba tôi là cuộc đời chiến trận, gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì thế, ông mang bản lĩnh, phong cách của một chiến binh, một người chỉ huy thực thụ. Bên trong màu áo lính ấy là tâm hồn của một nhà thơ. Chính vì vậy ở ba tôi có một đức tính mà tôi phải học tập, phấn đấu cả đời cũng chưa hẳn đã làm được trọn vẹn, đó là tính cương quyết, kỷ luật nhưng rất nhân văn trong lãnh đạo, chỉ huy, điều hành công việc, thực hiện nhiệm vụ. Nhiều người từng công tác với ba tôi hồi ở Chiến khu Đ kể lại với chúng tôi rằng, có những cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật chỉ mong được thủ trưởng Tám Nghệ trực tiếp xử lý. Ông xử lý rất nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng mở cho cấp dưới, chiến sĩ có cơ hội sửa chữa, khắc phục. Vụ việc xử lý xong rồi thì cảm thấy rất nên thơ, rất nhân văn. Ông ăn cùng mâm, ngủ cùng võng, tắm cùng chiến sĩ trên một dòng suối, đồng cam cộng khổ với bộ đội và nhân dân. Có một câu chuyện cảm động đến bây giờ vẫn được nhiều người nhắc, ấy là buổi đầu thực hiện phong trào “Tiêu thổ kháng chiến” trong thời kỳ chống Pháp, ông đã tự châm đuốc đốt nhà của mình trước để vận động bà con làm theo. Sự chan hòa và tính nêu gương ấy là nhân tố giúp ông có khả năng thu phục lòng người, xây dựng tinh thần đoàn kết trong kháng chiến. Điều này tôi luôn khắc cốt ghi xương, tự nhủ trong công việc cũng như cuộc sống phải luôn noi gương ba mình.


PV: Trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, bài thơ “Nhớ Bắc”, đặc biệt là hai câu được coi là “Thần thi” của dân tộc: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, được nhắc đến như là một “tuyên ngôn” của người dân Nam Bộ hướng về Thủ đô!


Ông Huỳnh Văn Nam: Hai câu thơ ấy thể hiện hào khí thiêng liêng của dân tộc. Hào khí Nam Bộ xuất phát từ hào khí Thăng Long nghìn năm. Viết được những câu thơ ấy bởi trong con người ba tôi, tình yêu lớn nhất là tình yêu đối với quê hương đất nước. Ông dung hòa được phong cách, nét văn hóa, phong tục tập quán của cả hai miền Nam-Bắc trong cuộc sống. Những năm tháng sống và làm việc ở miền Bắc, ba tôi luôn nhớ về miền Nam. Nguyện vọng lớn nhất của ông là được trở vào Nam tiếp tục chiến đấu. Sau này khi trở vào Nam, kỷ vật ông mang theo là chiếc điếu cày. Ông rít thuốc lào như một lão nông thực thụ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Chính sự hòa đồng, tình nghĩa ấy đã giúp ông có khả năng cảm hóa con người.


PV: Là người thành đạt, làm Tổng giám đốc của một đài truyền hình quy mô lớn, điều ông tâm đắc nhất trong cuộc đời mình là gì?


Ông Huỳnh Văn Nam: Đó là được làm con trai của nhà thơ - chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ!


PV: Xin cảm ơn ông đã chia sẻ với bạn đọc Báo Quân đội nhân dân. Kính chúc ông năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng!


Phan Tùng Sơn thực hiện/ báo Quân đội nhân dân, Thứ Hai, 24/01/2011.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thượng đỉnh liên Triều lần thứ ba: Tổng thống Hàn Quốc dũng cảm hay cả tin? - Tư liệu 25.09.2018
Một nền giáo dục quá đơn sơ - Vương Trí Nhàn 25.09.2018
Vũ Trọng Phụng (1912 – 13/10/1939) sống mãi trong sự nghiệp văn chương - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Nguyễn Phúc Lộc Thành: Sự trở lại của một bản ngã - Huyền Trang 18.09.2018
Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Câu hỏi thảng thốt đến đau lòng! - Vũ Viết Tuân 18.09.2018
Đọc "Tiểu luận và phê bình văn học" của Mai Quốc Liên - Nguyễn Văn Thức 18.09.2018
Người thông minh và người trí huệ khác nhau thư thế nào? - Tư liệu sưu tầm 17.09.2018
Cách mạng công nghiệp thứ tư - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
"Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ trong trong ký ức con trai - Tư liệu 14.09.2018
Đỗ Đức Dục – Nhà Chính trị “chọc trời khấy nước” - Kiều Mai Sơn 14.09.2018
xem thêm »