tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24958902
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
28.08.2018
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (14)


Chuyến đi thứ tư của Ximbat người đi biển


Những cuộc vui chơi giải trí sau chuyến đi thứ ba không có đủ sức hấp dẫn để ngăn tôi thôi không đi xa nữa. Tôi lại để mình bị cuốn hút vào sự say mê buôn bán và ngắm nhìn những điều mới lạ. Tôi sắp xếp công việc gia đình, rồi cho mua những thứ hàng hóa liệu có thể bán được ở những nơi mình sẽ đến, và lên đường.


Tôi sang Ba Tư, đi qua nhiều tỉnh của nước này, đến một hải cảng, rồi từ đây đáp xuống tàu bể. Tàu giương buồm, trên đường đi ghé qua nhiều cảng thuộc đất liền và một số đảo phương Đông. Bỗng một hôm, trong một chặng đi dài, một cơn gió xoáy nổi lên buộc thuyền trưởng phải cho hạ buồm và ra những mệnh lệnh cần thiết để đề phòng bất trắc. Nhưng mọi sự thận trọng đều vô ích. Hệ thống thừng chão, bánh lái đã trục trặc. Các cánh buồm đã bị cuồng phong xé tả tơi. Con tàu không điều khiển được nữa, xô vào đá ngầm và vỡ tan, làm một số đông nhà buôn cùng thủy thủ chết đuối, hàng hóa mất sạch.


Cùng với nhiều thủy thủ và nhà buôn khác, tôi may mắn bám được vào một tấm ván. Một dòng nước đẩy chúng tôi dạt vào một hòn đảo. Chúng tôi tìm được quả dại và nước ngọt ăn uống cho lại sức. Đêm đến, chúng tôi nghỉ ngay tại nơi sóng vừa dạt lên. Chưa ai quyết định được là cần phải làm gì vì chưa hoàn hồn, sau những điều bất hạnh vừa xảy ra.


Ngày hôm sau, mặt trời vừa mọc, chúng tôi đã rời bờ biển đi sâu vào trong đảo. Thấy có nhà cửa, chúng tôi tìm đến. Bọn người da đen, rất đông, vây quanh chúng tôi. Và làm như thể chia phần với nhau, chúng phân chúng tôi ra thành những toán nhỏ đưa về nhà.


Tôi và năm người bạn được dẫn về cùng một nơi. Thoạt tiên, chúng bảo chúng tôi ngồi xuống và ra hiệu mời chúng tôi ăn một thứ rau. Các bạn tôi không suy nghĩ về việc những người mời không cùng ăn với mình, chỉ biết nghe theo cơn đói đang thôi thúc, liền ăn ngấu nghiến ngay. Về phần tôi, linh cảm thấy có một sự lừa bịp nào đó, tôi không động đến thức ăn. Như vậy thật may cho tôi, vì chỉ một lát sau, tôi nhận thấy tâm trí các bạn tôi rối loạn. Họ trò chuyện với tôi mà tôi không hiểu được họ đang nói những gì.


Sau đó, bọn da đen cho chúng tôi ăn cơm nấu với dầu dừa. Các bạn tôi, giờ đây không còn lý trí nữa, ăn rất nhiều. Tôi cùng ăn nhưng rất ít thôi. Thì ra bọn da đen trước hết cho bọn chúng tôi ăn thứ lá ấy để làm rối loạn trí khôn và do đó để khỏi buồn phiền vì biết trước số phận đáng thương của mình, rồi sau đấy mới cho chúng tôi ăn cơm để vỗ béo. Bọn này là những tên ăn thịt người. Í đồ của chúng là vỗ cho chúng tôi béo lên để ăn thịt. Các bạn tôi đã mất hết trí khôn, họ không rõ số phận của mình rồi sẽ ra sao, cho nên quả có béo lên thật.


Vì tôi còn giữ được đầu óc minh mẫn, chắc các vị có thể hiểu được là không những tôi không béo lên mà còn gầy đi so với lúc trước. Cái chết luôn luôn ám ảnh làm cho mọi thức ăn vào người tôi đều trở thành thuốc độc Tôi đâm ra đờ đẫn, cái chứng bệnh này đã cứu sống tôi bởi những tên da đen sau khi đã đập chết và ăn thịt hết các bạn tôi thì ngừng lại. Thấy tôi khô khan, gầy đét đau yếu, chúng hoãn việc giết thịt tôi vào một dịp khác.


Trong thời gian ấy, tôi được tự do hơn. Hầu như chúng không còn chú ý đến hành động của tôi. Nhờ vậy một hôm, tôi có cơ hội rời xa chỗ ở của bọn da đen và tìm cách chạy trốn. Một lão già trông thấy tôi đi xa, nghi ngờ ý định của tôi, ráng hết sức gọi tôi quay trở lại. Nhưng tôi vờ không nghe và đi nhanh hơn, chẳng mấy chốc khuất tầm mắt nhìn của lão. Những tên da đen khác đều đã đi vắng, thông thường đến tối chúng mới về.


Bởi vậy tin rằng là khi chúng biết tôi bỏ trốn chúng cũng không có thì giờ đuổi theo, tôi đi một mạch cho đến tối chỉ dừng lại để nghỉ ngơi chút ít và kịp ăn mấy miếng thức ăn mang theo, rồi lại lên đường ngay. Tôi đi liền bảy ngày qua những nơi không có người ở. Tôi sống nhờ những quả dừa, vừa làm thức ăn vừa làm nước uống.


Ngày thứ tám, tôi đến gần bờ biển, và đột nhiên trông thấy nhiều người da trắng như mình. Họ đang mải mê hái hồ tiêu là loại cây mọc rất nhiều ở vùng này. Tôi thấy việc của họ có vẻ là điềm lành, nên chẳng ngần ngại gì mà không đến gần và tìm cách bắt chuyện. Những người hái hồ tiêu đi về phía tôi. Vừa trông thấy tôi, họ hỏi bằng tiếng A Rập tôi là ai, từ đâu đến. Sung sướng được nghe tiếng nói giống mình, tôi vui lòng thỏa mãn hiếu kỳ của họ. Tôi thuật lại cho họ nghe đầu đuôi câu chuyện tôi đắm tàu và trôi dạt đến đảo này, rồi sa vào tay bọn người da đen ra sao. Họ hỏi: "Nhưng những tên da đen ấy ăn thịt người kia mà. Nhờ sự thần kỳ nào mà bạn thoát được?". Tôi kể cho họ đúng như các vị vừa nghe, và họ kinh ngạc vô cùng.


Tôi ở lại với họ, chờ cho đến khi họ hái đủ số hồ tiêu cần thiết. Sau đó họ cho cùng xuống chiếc tàu đã đưa họ đến đây, về đảo của họ. Họ giới thiệu tôi với quốc vương họ, một nhà vua tốt. Nhà vua lắng nghe câu chuyện phiêu lưu của tôi từ đầu đến cuối và rất lấy làm lạ. Sau đó, vua sai ban cho tôi áo quần và truyền cho triều đình và dân chúng phải chăm sóc tôi.


Hòn đảo tôi ở rất đông dân và có nhiều sản vật. Việc buôn bán ở kinh đô khá thịnh vượng. Nơi trú ngụ dễ chịu ấy bắt đầu an ủi niềm bất hạnh của tôi. Lòng tốt của nhà vua hào hiệp làm cho tôi hài lòng. Quả vậy, đối với nhà vua, thì không có ai hơn tôi. Nhờ vậy trong triều đình cũng như ngoài phố xá không một người nào không tìm dịp để làm vui lòng tôi. Chẳng bao lâu, tôi được xem như một người sinh trưởng ở thành phố này chứ không phải một người xứ khác đến ngụ cư.


Tôi nhận xét một điều mà tôi cho là kỳ lạ. Mọi người kể cả nhà vua, đi ngựa đều không có yên cương. Một hôm tôi mạo muội hỏi nhà vua vì sao không dùng những thứ tiện nghi đó. Nhà vua đáp ở nước ông chưa hề biết dùng những thứ tôi vừa nói tới bao giờ.


Tôi liền đến nhà một người thợ, vẽ kiểu và đặt làm một cái cốt yên ngựa bằng gỗ. Xong xuôi, tôi tự tay nhồi đệm và bọc ra rồi trang trí bằng một tấm vải thêu kim tuyến. Sau đó, tôi lại đến nhà một người thợ sắt ra kiểu cho anh ta làm cho một cái hàm thiếc đóng ngựa, cùng một đôi bàn đạp đặt chân nữa.


Khi mọi việc đã hoàn hảo, tôi mang tất cả đến dâng nhà vua và thắng thử vào một con ngựa của ông. Nhà vua cưỡi lên, rất vừa ý về sáng chế ấy. Vua ban thưởng cho tôi nhiều của cải để biểu lộ sự hài lòng. Tôi cũng không khước từ mà còn nhận làm nhiều bộ yên cương khác cho các vị thượng thư và quan chức chính trong triều. Họ biếu lại tôi nhiều tặng phẩm, làm cho tôi chẳng mấy chốc mà giàu có. Tôi cũng làm giúp yên cho cả một số người có danh vọng trong thành phố, khiến tôi nổi tiếng và được tất cả mọi người trọng thị.


Tôi đến chầu nhà vua rất đều đặn. Bởi vậy một hôm nhà vua bảo tôi: "Xinbát à, ta mến ông, và ta biết tất cả những người dân của ta quen biết ông đều noi gương ta. Ta có một điều muốn nói với ông và ông phải thuận theo điều ta sắp nói đó".


- Tâu bệ hạ, không có điều gì mà tôi không sẵn sàng làm để vừa lòng bệ hạ, người có uy quyền tuyệt đối - tôi đáp


- Ta muốn cưới vợ cho ông - nhà vua nói tiếp - để cho cuộc hôn nhân ấy giữ chân ông ở lại nước ta, để cho ông không nghĩ tới chuyện trở về đất nước mình nữa.


Tôi không dám cưỡng lại ý muốn của nhà vua. Ông gả cho tôi một công nương cao quý, xinh đẹp, khôn ngoan và giàu có. Sau lễ cưới tôi đến ở nhà nàng. Hai chúng tôi cùng sống với nhau một thời gian hoàn toàn hòa thuận. Tuy nhiên, tôi không quá hài lòng về hoàn cảnh mới của mình. Í định của tôi vẫn là hễ có dịp là sẽ thoát về Bátđa, ở đấy cơ ngơi của tôi rất to lớn, không thể bỗng chốc tôi quên lãng được.


Tôi đang nuôi những ý nghĩ đó, thì vợ một người láng giềng tôi rất thân, lâm bệnh và qua đời. Tôi đến nhà an ủi, thấy ông ta hết sức buồn bã. Tôi đến gần và nói: "Cầu Thượng đế giữ gìn cho bác được sống lâu".


- Than ôi! Làm sao tôi có thể hưởng điều phúc bác chúc mừng? Tôi chỉ còn sống được một giờ đồng hồ nữa thôi.


- Ồ, xin bác chớ có suy nghĩ bi thương như vậy. Tôi mong điều đó không xảy ra. Tôi tin bác còn sống với tôi lâu dài.


- Tôi xin chúc bác sống lâu - Ông ta nói. Còn về phần tôi, thế là hết, tôi xin báo để bác biết người ta sẽ chôn tôi cùng với nhà tôi trong ngày hôm nay. Tục lệ của ông cha chúng tôi đặt ra từ xa xưa và truyền lại trên đảo này là như vậy, nhất thiết không ai được làm sai. Vợ chết thì chôn sống chồng, chồng chết chôn sống vợ. Không còn có gì có thể cứu sống tôi, tất cả mọi người đều phải tuân theo luật pháp.


Trong lúc ông nói cho tôi biết cái phong tục dã man lạ lùng làm cho tôi kinh hoảng, thì bà con, bạn bè và hàng xóm lũ lượt đến dự lễ tang. Người ta liệm cho thi hài người đàn bà những quần áo sang trọng nhất như trong ngày cưới và tô điểm cho bà đủ mọi đồ trang sức. Tiếp đó, người ta đặt thi hài vào một chiếc quan tài mở nắp, rồi cả đám tang lên đường. Người chồng đi theo ngay sau thi hài vợ, dẫn đầu đám tang. Người ta lên ngọn một núi cao, và khi đến nơi, nâng tảng đá lớn che khuất một cái giếng sâu, rồi hạ thi hài xuống cùng với quần áo và đồ trang sức. Sau đó người chồng ôm hôn bà con bạn bè, rồi để yên cho người ta đặt vào một chiếc quan tài khác, cùng một vò nước và bảy chiếc bánh nhỏ ở bên cạnh. Người ta lại hạ ông ta xuống giếng, đúng như cách thức vừa hạ huyệt người vợ. Ngọn núi chạy dài, làm thành bờ của biển, và cái giếng thì rất sâu. Buổi lễ kết thúc, tảng đá lại được lấp lên miệng giếng như cũ.


Thưa các vị, không cần nói các vị cũng hiểu rằng tôi hết sức buồn rầu khi chứng kiến đám ma ấy. Tất cả những người khác dự lễ hầu như không tỏ vẻ gì xúc động, bởi lẽ họ đã quá quen nhìn thấy cảnh tượng ấy rồi. Tôi không cầm được, phải tâu với nhà vua điều suy nghĩ của mình: "Tâu bệ hạ, tôi hết sức ngạc nhiên về phong tục lạ lùng ở quý quốc là đi chôn người sống cùng với người chết. Tôi đã đi nhiều nơi, đã giao du với đủ hạng người ở vô số nước khác nhau, thế mà chưa bao giờ nghe nói đến một luật pháp khắt khe như vậy".


- Biết làm sao được, ông Xinbát - nhà vua đáp - đó là luật pháp chung, bản thân ta cũng phải tuân theo. Nếu hoàng hậu của ta qua đời trước thì ta cũng bị chôn sống theo nàng.


- Nhưng, tâu bệ hạ, tôi có được phép hỏi bệ hạ rằng người nước ngoài có bắt buộc phải tuân theo tục lệ ấy không


- Có chứ - vua trả lời và mỉm cười, hiểu ý vì sao tôi lại hỏi câu đó - nếu họ lấy vợ ở đảo này thì vẫn không được ngoại trừ.


Tôi buồn bã trở về nhà với câu trả lời đó. Sự lo sợ về nỗi sợ vợ tôi sẽ chết trước và người ta sẽ chôn sông tôi cùng với nàng, gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ vừa xót xa vừa tủi nhục. Tuy nhiên, có cách nào tránh được? Thôi đành phải kiên nhẫn và phó thác thân phận mình vào ý muốn của Thượng đế. Tôi run lên mỗi lần nhà tôi hơi se mình. Và than ôi! Chẳng mấy chốc tôi lâm vào cơn khủng khiếp thật sự: nàng ốm nặng và qua đời sau mấy ngày lâm bệnh.


Các vị thử tưởng tượng nỗi đau khổ của tôi. Bị chôn sống thì có gì kém thảm khốc hơn bị kẻ ăn thịt người nuốt chửng! Ấy thế mà vẫn phải chịu cảnh ấy thôi. Nhà vua cùng với tất cả triều đình muốn tham gia đưa đám cho thêm phần trọng thể. Những người danh giá nhất trong thành phố cũng cho tôi vinh dự được họ đến dự lễ chôn tôi.


Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, người ta đặt thi hài vợ tôi vào một chiếc quan tài cùng với tất cả đồ trang sức và những áo quần đẹp nhất của nàng. Cuộc đưa tang bắt đầu. Là diễn viên thứ hai của tấn bi kịch thảm thương, tôi bước đi ngay sau quan tài vợ tôi, đầm đìa nước mắt, xót xa cho số phận khốn khổ của mình. Trước khi đến ngọn núi, tôi thử tác động vào tinh thần những người đến dự xem sao. Trước hết tôi tâu với nhà vua, rồi sau đó nói với tất cả mọi người chung quanh. Tôi cúi rạp người xuống tận đất trước mặt họ để hôn gấu áo của họ, tôi van họ đoái thương. "Xin các ngài hãy xét cho tôi là người nước ngoài, tôi không đáng chịu một luật pháp khắt khe như vậy. Tôi còn có một vợ nữa và con cái ở nước tôi".


Tôi nói những lời ấy với vẻ xúc động. Nhưng vô ích, không một ai mủi lòng. Ngược lại người ta còn vội vã hạ thi hài vợ tôi xuống giếng, rồi lát sau ròng tôi xuống trong một chiếc quan tài mở nắp khác cùng một vò nước và bảy chiếc bánh. Cuối cùng cái buổi lễ tai hại cho tôi ấy kết thúc. Người ta xếp lại tảng đá lấp lên miệng giếng, bất chấp sự đau đớn cùng cực và những tiếng kêu gào thảm thiết của tôi.


Trong lúc từ từ ròng xuống, nhờ có chút ánh sáng từ bên trên chiếu rọi, tôi nhận được hình thể các nơi dưới đáy mộ. Đó là một cái hang rất rộng và có thể sâu khoảng năm mươi cánh tay. Một mùi hôi thối không thể nào chịu nổi xông lên từ cơ man xác chết. Hình như tôi còn nghe được tiếng một vài người trong số mới bị chôn sống gần đây thở những hơi cuối cùng. Khi xuống tới nơi tôi mau chóng bước ra khỏi quan tài, tay bịt mũi. Tôi nằm dài ra đất, và cứ như vậy mà khóc một hồi lâu. Rồi suy nghĩ về số phận của mình, tôi nói: "Đúng là Thượng đế định đoạt chúng ta theo ý của Người. Song, hỡi Xinbát đáng thương, phải chăng tại lỗi ở mày, cho nên mày mới phải lâm vào cái chết kỳ quặc thế này? Giá mà trời cho mày chết quách đi trong trận đắm tàu mà mày đã sống sót thì mày đã không phải lìa đời một cách chậm chạp và ghê gớm thế này. Nhưng chính mày đã gây nên cái chết do sự bủn xỉn đáng nguyền rủa của mày. A, khốn nạn, tại sao mày không ở lại nhà, để mà hưởng thụ một cách bình yên thành quả những công việc lao động của mày từ trước?".


Đấy là những lòi than vãn vô vọng tôi làm vang động cả hang. Tôi đập đầu đấm bụng vì tức giận và tuyệt vọng. Tôi hoàn toàn mê mẩn trong những ý nghĩ bi thương.


Tuy nhiên, có nên nói với quý vị chăng? Là dù khốn khổ đến đâu, lòng yêu cuộc sống vẫn còn ở trong tôi. Nó vẫn thôi thúc tôi cố kéo dài ngày sống chứ không tìm cách chết ngay đi cho nhẹ tội. Vừa đưa tay bịt mũi, tôi vừa dò dẫm bước đi tìm lấy bánh mì và nước để trong quan tài mà ăn cho qua cơn đói khát.


Mặc dù trong hang tối như bưng đến mức không phân biệt được ngày đêm, tôi vẫn trở lại được chiếc quan tài của mình. Hình như cái hang rộng hơn và chứa nhiều xác chết hơn tôi tưởng lúc đầu. Tôi sống mấy ngày bằng bánh mỳ và nước của mình, nhưng cuối cùng ăn uống hết, tôi đành chờ chết.


Tôi chỉ còn chờ đợi cái chết nữa thôi, thì chợt nghe có tiếng nâng tảng đá. Người ta hạ xuống một xác chết và một người sống. Người chết là một người đàn ông. Có những quyết định tuyệt cùng vào những lúc tuyệt cùng nhất, cũng là điều tự nhiên thôi. Trong lúc người ta hạ người đàn bà xuống, tôi đến bên cạnh quan tài bà ta, và khi nhận thấy ở trên đã lấp kín miệng giếng rồi tôi cầm một ống xương to và quật hai ba cái thật mạnh vào đầu người đàn bà tội nghiệp. Bà ta ngất đi, hay đúng hơn là bị tôi giết chết. Nhờ có hành động vô nhân đạo ấy mà tôi chiếm được bánh mì và nước trong quan tài của bà, cho nên có đủ thức ăn để sống thêm mấy ngày nữa. Cuối thời gian đó, người ta lại hạ xuống một phụ nữ chết và một người đàn ông sống. Tôi lại giết người đàn ông bằng cách ấy, và may mắn cho tôi dạo ấy trong thành phố có nhiều người chết, tôi không phải thiếu hụt lương thực nhờ thực hiện cái phương sách nói trên.


Một hôm tôi vừa giết chết một người đàn bà, thì nghe có tiếng thở và bước chân. Tôi tiến đến phía phát ra tiếng động. Nghe tiếng thở mạnh hơn, rồi hình như trông thấy một vật gì đang chạy trốn. Tôi đi theo cái thứ bóng ấy, thỉnh thoảng nó đứng lại rồi vừa thở vừa chạy trốn mỗi khi tôi tiến đến gần. Tôi theo nó rất lâu và đi rất xa, cuối cùng trông thấy một đốm sáng như ngôi sao. Tôi tiếp tục đi về ánh sáng ấy, lúc ẩn lúc hiện, do có những vật cản che. Nhưng lần nào tôi cũng tìm lại được, và cuối cùng tôi phát hiện ra ánh sáng ấy lọt qua từ một lỗ trống trong núi đá. Lỗ khá rộng, con người có thể chui lọt.


Phát hiện ra chỗ đó rồi, tôi đứng lại một lúc chờ lắng dịu bớt nỗi xúc động rồi tiến tới chỗ lỗ trống. Tôi chui qua và thấy mình đứng trên bờ biển. Các vị thử tưởng tượng nỗi vui mừng tột độ của tôi. Phải khó khăn lắm, tôi mới tin được rằng không phải là cõi mộng. Khi đã biết chắc đây là cuộc đời thực khi mọi giác quan đã trở lại bình thường, tôi hiểu ra cái vật tôi nghe thở phì phò mà tôi đã đi theo, là một con vật từ dưới biển lên. Nó có thói quen chui vào hang để ăn thịt xác chết.


Tôi quan sát ngọn núi và nhận thấy nó nằm ở giữa thành phố và biển, không có một con đường nào thông thương từ biển vào thành, bởi vì núi hiểm trở để nỗi thiên nhiên cũng không tạo nổi thành đường. Tôi quỳ xuống bờ biển cảm tạ Thượng đế. Sau đó tôi quay vào hang lấy bánh mỳ và mang ra ăn dưới ánh sáng ban ngày. Bữa ăn ngon lành nhất kể từ khi tôi bị chôn sống trong chốn tối tăm đến nay.


Tôi còn quay vào hang lần nữa, mò mẫm thu nhặt trong các quan tài tất cả các loại kim cương, châu báu, vòng tay bằng vàng và tất cả các loại vải vóc đẹp tìm thấy được. Tôi mang tất cả những thứ đó ra bờ biển. Tôi gói thành nhiều kiện và buộc cẩn thận bằng những sợi dây thừng người ta dùng để ròng quan tài xuống, thứ ấy trong hang có rất nhiều. Tôi để những kiện đó trên bờ biển, chờ dịp tốt, không sợ mưa làm hỏng, bởi vì dạo ấy không phải là mùa mưa.


Hai ba ngày sau tôi trông thấy một chiếc tàu vừa ra khỏi cảng và đi qua khá gần nơi tôi đang đứng. Tôi lột chiếc khăn đội đầu làm hiệu và ráng hết sức gọi to cho người trên tàu nghe được, cho thả xuồng vào đón. Các thủy thủ hỏi vì sao không may ở chốn này. Tôi đáp tôi vừa thoát một trận đắm tàu hai hôm trước cùng với các hàng hóa họ trông thấy kia. May mắn cho tôi, họ không để ý nơi tôi đang đứng, bằng lòng với câu trả lời ấy và cho tôi đi theo cùng với các kiện hàng.


Khi tôi lên được trên tàu, viên thuyền trưởng rất vui vì việc cứu giúp được tôi, ông đang bận chỉ huy con tàu cho nên cũng bằng lòng với câu chuyện đắm tàu của tôi bịa đặt. Tôi đưa biếu ông một vài viên ngọc nhưng ông không nhận.


Chúng tôi đi ngang qua trước nhiều hòn đảo, trong số đó có đảo Chuông, cách đảo Xêrenđíp[1] mười ngày tàu buồm với sức gió đều đặn bình thường. Ở đây cũng cách đảo Kêla đúng mười ngày đường biển. Chúng tôi ghé vào đảo này. đây có những mỏ chì, mía[2] và long não rất tốt.


Chúa đảo Kêla là một ông vua giàu có và hùng cường. Uy quyền ông lan tới toàn đảo Chuông. Đảo này rộng đến hai ngày đường tàu biển, dân cư thì còn dã man đến mức vẫn ăn thịt người. Sau khi mua bán nhiều hàng hóa, chúng tôi lại lên đường và cập bến nhiều hòn đảo khác.


Cuối cùng tôi yên lành về đến Bátđa với không biết bao nhiêu là của cải, xin không kể chi tiết làm nhàm tai quý vị. Để tạ ơn Thượng đế và bao nhiêu ân huệ Người ban cho tôi, tôi làm nhiều điều phúc. Nào là sửa sang đền chùa, nào là giúp đỡ những người nghèo khó. Tôi hoàn toàn sống với họ hàng bè bạn, cùng với họ vui chơi, chè chén thoả thuê.


Đến đây, Xinbát kết thúc câu chuyện về chuyến đi thứ tư của ông. Những người nghe càng thấy thú vị hơn cả ba chuyến đi đầu. Ông lại biếu Hinbát một trăm đồng xơcanh nữa, và mời lão cùng tất cả mọi người ngày hôm sau, cũng vào giờ này, đến nhà ông dùng bữa và nghe kể chi tiết về chuyến đi thứ năm của ông.


Hinbát và các khách khứa cáo từ ra về. Ngày hôm sau, khi đã tề tựu đông đủ, họ lại ngồi vào bàn ăn. Bữa ăn kéo dài không kém các bữa ăn trước. Đến cuối bữa, Xinbát lại bắt đầu kể về chuyến đi thứ năm của mình như sau:


 


CHUYếN ĐI THứ NĂM CủA XINBáT NGUờI Đi BIểN


Các niềm lạc thú có đủ sức hấp dẫn để xóa nhòa khỏi ký ức tôi tất cả những nỗi vất vả gian lao mà tôi đã chịu đựng. Nhưng nó không thể làm cho tôi bỏ được lòng say mê những chuyến đi mới. Bởi vậy tôi mua hàng hóa, cho đóng gói và chất lên rồi tự mình đưa đến hải cảng gần nhất. đấy, để khỏi phụ thuộc vào một viên thuyền trưởng và để có một chiếc tàu do chính mình chỉ huy, tôi dành thời giờ cho đóng một chiếc tàu và trang bị nó bằng tiền riêng của mình. Tàu đóng xong, tôi cho bốc hàng hóa lên. Nhưng vì vẫn chưa hết trọng tải của nó, tôi nhận chở kèm nhiều nhà buôn thuộc nhiều nước khác nhau cùng với hàng hóa của họ.


Vừa bắt đầu có gió thuận, chúng tôi cho kéo buồm ra khơi. Sau một chuyến đi dài, nơi đầu tiên tàu cập bến là một hoang đảo. Chúng tôi thấy ở đấy trứng một con chim đại bàng to bằng cái mà các vị từng nghe tôi kể. Trong trứng có một con đại bàng con gần nở. Cái mỏ của nó đã bắt đầu thò ra ngoài.


Các nhà buôn cùng đi một chuyến tàu và cùng lên bộ với tôi, vác rìu bổ vỡ quả trứng, khoét một lỗ lôi con chim con ra xẻ thành nhiều mảnh đưa lên bếp quay chín. Tôi đã nghiêm túc cảnh cáo họ chớ có đụng vào cái trứng, song họ chẳng chịu nghe.


Họ vừa ăn xong bữa tiệc tự tay làm thì ở trên trời, cách chúng tôi khá xa, hiện ra hai đám mây lớn. Viên thuyền trưởng tôi thuê để chỉ huy con tàu, vốn có kinh nghiệm, liền kêu lên rằng, đấy chính là chim bố và chim mẹ con đại bàng con. Ông ta thúc chúng tôi xuống tàu thật nhanh để tránh tai họa mà ông thấy trước. Chúng tôi vội vã nghe theo lời khuyên của ông, gấp rút giương buồm tháo chạy.


Trong lúc đó, hai con đại bàng đã đến gần, vừa bay vừa kêu lên những tiếng dữ tợn. Khi trông thấy quả trứng bị đập vỡ, không còn con của chúng trong đó nữa, chúng bay trở lại hướng cũ và biến mất. Đột nhiên, một lát sau, hai con chim quay trở lại. Chúng tôi nhận thấy mỗi con chim quặp ở chân một hòn đá hết sức to. Khi bay đúng bên trên con tàu chúng tôi, một con buông đá xuống, nhưng nhờ người lái khéo kéo quặt chiếc tàu sang một bên, hòn đá không trúng đích mà rơi xuống biển, làm xô mặt nước biển. Rủi cho chúng tôi, con chim kia ném hòn đá trúng vào giữa chiếc tàu, làm tàu vỡ tan thành hàng nghìn mảnh. Các thủy thủ và nhà buôn đều bị dập nát ngay hoặc chìm nghỉm. Chính tôi cũng bị chìm, nhưng khi nhoi lên mặt nước, tôi may mắn bám được một mảnh tàu vỡ. Như vậy, bám chắc vào mảnh gỗ, khi thì bơi bằng tay này, khi bằng tay kia, tôi lựa theo luồng gió và dòng nước, may sao dòng nước cũng thuận lợi cho tôi. Cuối cùng tôi đến được một hòn đảo, bờ biển hiểm trở. Tuy nhiên, tôi vẫn vượt qua được khó khăn này, lên được đất và thoát chết. Tôi ngồi lên bãi cỏ nghỉ một chốc cho đỡ mệt, sau đó đứng dậy đi sâu vào đảo xem xét địa hình. Tưởng chừng như đây là một cái vườn tuyệt diệu. Đâu đâu cũng thấy cây cối, cây thì trĩu quả, cây thì nở hoa. Các con suối nước ngọt trong veo uốn khúc rất đẹp mắt. Quả ăn rất ngon và nước thì càng uống càng thấy thích.


Đêm đến, tôi ngủ trên bãi cỏ, ở một nơi khá thoải mái. Nhưng không ngủ yên giấc được một giờ. Giấc ngủ chập chờn bởi nỗi lo sợ thấy chỉ có mỗi một mình ở nơi hoang vắng quá. Thế là tôi để cả phần lớn đêm ấy đau buồn cho thân phận. Tôi tự trách mình quá dại dột, sao không chịu ở nhà mà lao vào chuyến đi cuối cùng này. Những suy nghĩ đen tối đến nỗi tôi bắt đầu nảy ra ý muốn hủy hoại thể xác. Nhưng may sao trời cũng vừa sáng. ÁNh sáng ban ngày làm tiêu tan nỗi tuyệt vọng. Tôi đứng lên đi giữa hàng cây, lòng vẫn bồn chồn.


Đi khá sâu vào trong đảo, tôi gặp một lão già có vẻ rất hom hem. Lão ta ngồi bên bờ một con suối. Thoạt tiên, tôi nghĩ đấy chắc là một người cũng bị đắm tàu như tôi. Tôi đến gần chào, lão ta chỉ gật đầu không đáp mà chỉ ra hiệu bảo tôi cõng lão lên vai đưa sang bên kia suối, đưa tay làm hiệu cho tôi rõ, sang bên ấy để hái trái cây.


Tôi ngỡ lão ta cần tôi giúp đỡ thật. Bởi vậy tôi cõng lão lên lưng và lội qua suối. Đến nơi, tôi bảo: "Cụ xuống đi" và cúi người để cho lão dễ xuống. Nhưng lão già mà tôi ngỡ là kiệt lực, không tụt xuống đất (mỗi lần nghĩ lại chuyện này tôi vẫn còn bật cười) lại nhẹ nhàng đưa hai chân kẹp lấy cổ tôi - da chân lão ta giống hệt da bò cái - rồi cứ vậy ngồi vắt vẻo trên vai tôi. Chân lão kẹp cổ tôi chặt đến nỗi tôi tưởng như bị bóp nghẹt. Lúc ấy tôi khiếp quá, liền ngã xuống và ngất đi.


Mặc cho tôi bất tỉnh nhân sự, lão già quái ác ấy vẫn bám riết lấy cổ tôi. Lão chỉ hơi nới chân ra một ít để cho tôi hồi tỉnh lại rồi, lão ta tì một chân vào bụng tôi, chân kia đập mạnh vào mạng mỡ, buộc tôi phải đứng lên. Tôi đứng được lên, lão bắt tôi đi dưới các cây. Mỗi lần gặp quả, lão ra hiệu đứng lại cho lão hái ăn. Suốt ngày, lão không rời tôi ra. Đến lúc tôi muốn ngủ, lão nằm cùng, nhưng hai chân vẫn ghì riết lấy cổ tôi. Sáng nào lão cũng không quên đánh thức tôi dậy và đưa chân thúc vào người tôi, bắt kiệu lão đi. Các vị thử tưởng tượng nỗi cực nhục của tôi phải mang cái gánh nặng ấy trên vai mà không tài nào gỡ ra được.


Một hôm tôi bắt gặp trên đường nhiều quả bầu khô rụng từ cây xuống. Tôi nhặt một quả khá to, rồi sau khi lau rửa sạch sẽ, tôi vắt vào trong đó nước nhiều chùm nho, loại quả sẵn có trên đảo, đi đến đâu cũng gặp. Khi đã vắt đầy quả bầu rồi, tôi để ở một nơi. Nhiều ngày sau tôi khéo léo dẫn lão già đến đó. Đến nơi, tôi bê quả bầu đưa lên miệng uống thứ rượu nho rất ngon, nó cũng làm cho tôi tạm khuây khoả được một chốc nỗi buồn chết người. Rượu làm cho tôi phấn chấn hẳn lên.


Tôi còn thấy hứng thú đến nỗi cất tiếng hát và nhảy nhót trong khi đi.


Lão già nhận thấy hiệu quả của thứ nước ấy đối với tôi. Lão cũng thấy tôi cõng lão có vẻ nhẹ nhõm hơn thường lệ liền ra hiệu bảo tôi đưa cho lão uống. Tôi đưa quả bầu cho lão. Lão đón lấy và bởi vì thứ nước ngọt đựng trong bầu có vẻ ngon, lão nốc một hơi cạn đến giọt cuối cùng. Cũng còn khá nhiều, đủ làm cho lão say. Và lão say thật. Chẳng mấy chốc hơi rượu bốc lên đầu, lão bắt đầu hát ê a theo lối của lão và lảo đảo trên vai tôi. Vì lắc lư quá mạnh, lão nôn thốc nôn tháo những thứ trong dạ dày ra. Đôi chân lão doãi ra dần dần. Đến khi thấy lão không ghì chặt được nữa, tôi hất lão xuống đất. Lão nằm thẳng cẳng, không cựa quậy. Thế là tôi vác một hòn đá rất to đập vỡ đầu lão.


Tôi cảm thấy rất vui mừng được giải thoát vĩnh viễn khỏi lão già chết tiệt ấy, rồi đi về phía bờ biển. đây tôi gặp nhiều người từ một con tàu vừa ghé vào lấy nước ngọt và kiếm chất tươi. Họ cực kỳ ngạc nhiên lúc gặp tôi và được nghe đầu đuôi câu chuyện. Họ bảo tôi: "Bạn đã sa vào tay lão già người biển. Bạn là người đầu tiên không bị lão chẹt chết. Lão không bao giờ bỏ những người lão bắt được mà không bóp chết đâu. Lão đã làm cho hòn đảo này nổi tiếng về số người chết về tay lão. Các thủy thủ và nhà buôn xuống đảo này chỉ dám đi sâu vào lúc đã họp thành đoàn đông người cùng đi".


Sau khi cho biết những điều đó, họ cho tôi đi theo về tàu. Thuyền trưởng cũng vui lòng nhận tôi khi nghe thuật tất cả những điều đã xảy ra. Tàu lại giương buồm. Sau mấy ngày đường, chúng tôi cập bến một thành phố lớn, nhà cửa xây bằng đá tốt.


Một nhà buôn trên tàu có cảm tình với tôi, cho đi theo đến một nơi dành làm chỗ nghỉ cho nhà buôn nước ngoài. Ông ta đưa cho tôi một cái bị lớn, sau đó ông gửi tôi cho một vài người trong thành phố cũng mang một cái bị như tôi, và yêu cầu họ cho tôi cùng đi theo lấy quả dừa: "Bác hãy đi đi - Ông bảo tôi - hãy đi theo họ, thấy họ làm thế nào cứ làm theo thế ấy. Nhớ chớ có rời xa họ mà nguy hiểm đến tính mạng đấy".


Ông ta cho tôi thức ăn trong ngày, rồi tôi đi cùng với những người ấy.


Chúng tôi đến một rừng lớn có những cây cực cao và rất thẳng, thân cây thì nhẵn nhụi đến mức không thể nào bám vào để leo lên hái quả ở trên ngọn được. Đấy là những cây dừa. Chúng tôi muốn hái quả dừa cho vào bị. Vừa vào đến rừng, chúng tôi trông thấy khá nhiều những con khỉ to và khỉ nhỏ. Chúng bỏ chạy khi thấy có người rồi leo tót lên tận các ngọn cây một cách nhanh nhẹn lạ kỳ. Những người buôn cùng đi với tôi nhặt đá và ráng hết sức ném lên lũ khỉ trên các ngọn cây. Tôi làm theo họ. Các con khỉ bị lừa bởi cái mẹo của chúng tôi. Chúng hùng hổ hái các quả dừa và ném trở lại. Cử chỉ của chúng biểu thị sự giận dữ và thù địch rõ rệt. Chúng tôi nhặt các quả dừa cho vào bị và thỉnh thoảng lại ném đá khiêu khích khỉ. Bằng cái mẹo đó, chúng tôi nhặt dừa đầy bị. Ngoài ra thì không thể có cách nào hái được.


Khi đã nhặt đầy bị rồi, chúng tôi trở về thành phố. Nhà buôn ban sáng bảo tôi vào rừng trả tôi tiền mua toàn bộ số dừa tôi mang về. Ông bảo tôi: "Bác cứ tiếp tục ngày nào cũng đi làm như vậy cho đến lúc nào kiếm đủ tiền để trở về nhà". Tôi cảm ơn ông ta về lời khuyên nhủ tốt lành. Chẳng bao lâu tôi thu nhặt được một đống dừa lớn, nhờ đó cũng thu được một số tiền đáng kể.


Chiếc tàu đưa tôi đến đây lên đường cùng với các nhà buôn, chở đầy những quả dừa họ mua được. Tôi chờ một chiếc tàu khác đến, chiếc này cũng cập bến cảng của thành phố để mua cùng loại hàng ấy. Tôi cho chuyển xuống tàu tất cả dừa thuộc về tôi. Khi con tàu chuẩn bị khởi hành, tôi đến cáo từ nhà buôn mà tôi rất chịu ơn. Ông ta chưa thể xuống tàu cùng với tôi bởi vì còn nhiều công việc chưa thu xếp xong.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info








[1] Tên người A Rập gọi đảo xâylan (nay là Sri Lanca).




[2] Tên nguyên bản là “mía n Độ” được đưa từ n Độ vào các nước Arập từ thế kỷ thứ 8, sau đó mới lan sang nhiều nước.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (15) - Antoine Galland 29.09.2018
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 28.08.2018
Sự tích cây nhãn (Em bé và Rồng con) - Phạm Hổ 28.08.2017
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 06.07.2017
xem thêm »