tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28949512
Tiểu thuyết
24.08.2018
Trần Thư
Tử tù tự xử lý nội bộ

 


  Đối với tôi, và có lẽ cũng là đối với tuyệt đại đa số những người cộng sản Việt Nam thì bản báo cáo của Khơrútsôp chỉ là nói lên những lỗi lầm của cá nhân Stalin mà thôi, và khắc phục được những sai lầm đó, chủ nghĩa xã hội sẽ trở lại trong sáng hơn xưa. Niềm tin của tôi vào chủ nghĩa xã hội không những không bị lung lay mà còn vững chắc hơn. Và quả thật Đại Hội 20 không chỉ phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin, mà còn đưa ra một loạt luận điểm nó đem lại một bộ mặt mới cho chủ nghĩa xã hội.


    Hòn đá tảng của Đại Hội 20 là tinh thần hòa bình. Hòa hoãn, hòa dịu, chung sống hòa bình, thi đua hòa bình, hợp tác và học tập lẫn nhau giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, giải quyết các cuộc tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, chấm dứt chạy đua vũ trang, giải trừ quân bị... Rồi bản thân cách mạng vô sản cũng được dự kiến một con đường mới, con đường quá độ hòa bình. Về chính sách đối nội là tinh thần dân chủ hóa. Dân chủ hóa sinh hoạt xã hội, sinh hoạt Đảng, nhấn mạnh pháp chế xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa quản lý kinh tế...


    Bây giờ đây ta thấy những điều đó là chuyện đương nhiên, được thực hiện khắp nơi, và còn làm quá thế nhiều. Nhưng chính những điều đó hồi ấy đã bị coi là chủ nghĩa xét lại hiện đại. Một thí dụ: bây giờ các vị lãnh tụ của ta đi thăm các nước tư bản tấp nập để tìm kiếm sự hợp tác giúp đỡ. Người đầu tiên thực hiện cái chính sách ngoại giao cởi mở ấy chính là Khơrútsốp (và đi đến đâu, kể cả đến Mỹ, tư thế còn hách hơn các vị lãnh tụ của ta nhiều) nhưng lại không được các nhà macxit lêninnit hồi ấy hoan nghênh. ở một buổi họp trong quân đội tôi được nghe ông Nguyễn Chí Thanh phê phán Khơrútsốp như sau: Việc gì phải cắp cặp chạy long tóc gáy như thế? Trông cụ đây này (cụ tức là Mao Trạch Đông), cụ không đi đâu cả, cứ ngồi nhà, anh nào muốn yết kiến thì đến mà gõ cửa xin gặp, cụ sẽ cho gặp. Nếu ông Thanh còn sống đến bây giờ thì chắc phải là tổng bí thư... Và nếu như vậy, không rõ ông sẽ chọn phương án nào: chạy long tóc gáy hay là cứ ngồi nhà?


    Hồi ấy có một chuyện nhỏ nhưng đã làm tôi nhớ lâu: ngôi sao balê của Liên xô, Plisetxcaia, được mời đi Luân Đôn biểu diễn, nhưng không được các nhà lãnh đạo cho đi, vì sợ cô bùng. Plisetxcaia đã viết thư khiếu nại lên Khơrútsốp. Ông đã chấp nhận đề nghị của cô, và giải thích chủ trương ấy của mình như sau: Ta không thể xây dựng một thiên đường, lùa người ta vào đó như một đàn cừu, rồi khóa trái cửa nhốt tịt họ lại được. Plisetxcaia đã ra đi, và biểu diễn xong đã trở về.


    Câu chuyện đó tôi nhớ lâu là vì, đối với tôi lúc bấy giờ, Đại Hội 20 trước nhất không phải những vấn đề chính trị toàn cầu, mà là niềm hy vọng vào một cuộc sống trong đó không còn lo tái diễn những cuộc bắt bớ oan uổng, những cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, một cuộc sống trong đó không còn đủ mọi sự cấm đoán mà trước kia tôi thấy là tự nhiên và bây giờ mới thấy là vô lý; một cuộc sống trong đó phẩm giá con người được tôn trọng, trong đó không còn những câu lẩy Kiều như:


    Bắt phanh trần phải phanh trần


    Cho may ô mới được phần may ô.


    Bây giờ tư duy và thực tiễn đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến những bước bỏ xa những phát kiến của Đại Hội 20. Nhưng cái gì cũng phải có bước mở đầu. Đại Hội 20 chính là cuộc thử nghiệm đổi mới đầu tiên của chủ nghĩa xã hội trên bình diện thế giới. Bước mở đầu ấy so với bây giờ là bảo thủ lắm, và không nhất quán. Nhưng thế mới gọi là bước mở đầu.


    Nếu sau Đại Hội 20 tình hình thông đồng bén giọt, tư tưởng đổi mới không bị đánh bại, thì có thể tin chắc rằng bộ mặt thế giới ngày nay sẽ khác.


  Vài câu chuyện về sự tồn tại trước Nghị Quyết 9 của hai khuynh hướng ở trong Đảng cộng sản Việt nam.


    Năm 1963, Chủ tịch Đảng cộng sản kiêm Chủ Tịch nước Tiệp Khắc sang thăm Việt nam, và đã ký với Chủ Tịch Hồ Chí Minh một bản tuyên bố chung. Bản tuyên bố chung Hồ Chí Minh Nôvôtny (Novotny) ấy hoàn toàn đứng trên lập trường của 81 đảng. Điều đó làm ông Lê Duẩn rất tức giận. Ông Ung Văn Khiêm bị cách chức bộ trưởng Bộ Ngoại Giao. Đó là trước mắt, còn sau này thì một số phận tồi tệ hơn sẽ được dành cho ông. Ông Lê Quang Đạo giải thích cho chúng tôi:


    - Bác tin đồng chí Ung Văn Khiêm nên Bác cứ ký, không xem lại. Thật kỳ lạ Hồ Chí Minh mà lại nhắm mắt ký bừa vào một văn kiện quan trọng như vậy, nhất là trong tình thế rất phức tạp của phe xã hội chủ nghĩa nói chung và của Việt Nam nói riêng. Đó không có tí gì là cái tác phong Hồ Chí Minh vẫn được nêu lên cho toàn Đảng học tập. Ai cũng biết câu châm ngôn phân cấp: chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chí Minh.


    Vụ Caribê (Caribe) còn rắc rối hơn. Cả thế giới nín thở theo dõi sự diễn biến tình hình thay đổi từng giờ từng phút. Không khí một cuộc chiến tranh thế giới đã lơ lửng trên đầu nhân loại. ở Mỹ người ta đã đổ xô đi mua hầm tránh bom nguyên tử. Tình hình ở Mátxcơva cũng căng thẳng không kém. Chắc chắn là hàng nghìn đầu đạn hạt nhân của cả hai phía đã chĩa sang nhau, sẵn sàng chờ một hiệu lệnh. Trong khi đó thì những người đứng đầu hai nước Mỹ và Liên xô liên tục trao đổi với nhau trực tiếp qua điện thoại, tìm kiếm một cách khó khăn một phương án thỏa hiệp mà hai bên đều có thể chấp nhận.


    Nhưng Trung quốc thì lại muốn đẩy Liên xô vào cuộc đối đầu quyết liệt với Mỹ. Có thể là họ nghĩ:


    Mỹ là con hổ giấy, chỉ già dái non hột, ta cứ làm tới thì nó phải nhượng bộ? Hoặc họ muốn thế giới đại loạn, vì theo quan niệm của họ thì thế giới đại loạn là môi trường thuận lợi cho cách mạng thế giới nổ ra? Hoặc họ muốn tọa sơn quan hổ đấu, ngồi trên núi mà xem hai con hổ đánh nhau? Không rõ.


    Đứng trước hai lập trường đối lập nhau như vậy, các nhà lãnh đạo Việt Nam khá bối rối, mỗi người nói một phách, mỗi ngày nói một phách. Có một vị đã nói, tôi không nhớ là ai: Liên xô đưa tên lửa vào Cuba là phiêu lưu, rút tên lửa ra là đầu hàng. Tôi không hiểu nổi cái lôgích ấy. Vậy, nếu trót phiêu lưu rồi thì phải phiêu lưu đến cùng chăng? Còn chúng tôi thì muốn viết theo cách hiểu của mình. Nhưng phải có cái gì bảo đảm an toàn cho mình về sau, vì chúng tôi biết rằng cuối cùng lập trường chống Liên xô sẽ thắng. May mắn sao có hai bài báo nhận định hòa bình thế giới đang treo trên sợi tóc và tán thành chủ trương của Liên xô hòa giải với Mỹ.


    Bài thứ nhất đăng trên báo Nhân Dân, ký tên T. L. Ai cũng biết T. L là chữ viết tắt của Trần Lực, và Trần Lực không phải ai khác mà chính là Hồ Chí Minh. Sau này tôi lại được nghe anh Lê Liêm lúc bấy giờ là ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, kể lại rằng cuộc tranh luận trong cơ quan lãnh đạo Đảng rất găng và ông Hồ có phát biểu: cần thì đưa tên lửa vào, cần thì lại rút ra, có gì là lạ?


    Bài thứ hai là bài xã luận của báo Học Tập, tạp chí lý luận của Ban Chấp Hành Trung ương. Về sau này tôi mới biết bài ấy là do anh Kỳ Vân, phó tổng biên tập báo Học Tập viết. Anh Kỳ Vân về sau cũng bị bắt trong cùng vụ chúng tôi. Vào tù mấy năm thì anh bị ốm nặng, đến lúc nguy kịch thì được thả ra cho về chết ở gia đình, đỡ tai tiếng. Gọi là chết ở gia đình, nhưng gia đình anh đã tan đàn xẻ nghé. Vợ anh, một cô giáo đi sơ tán cùng học trò, đã chết đuối trong một lần đi tắm sông, ngay trước mắt anh, trông thấy mà chịu. Một đứa con gái của anh đã hy sinh trên Trường Sơn, trong đội ngũ những người thanh niên xung phong chống Mỹ đầu tiên. Nay anh chết nốt để lại thằng con nhỏ cho chị nó nuôi. Rồi ít lâu sau cô chị cũng lâm bệnh chết, và thằng bé được họ hàng cưu mang. Cháu bé ấy tên là Phạm Kỳ Tân. Năm 1981, tôi được đọc một lá thư của cháu Tân lúc này đã 19 tuổi, gửi lên các bác lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, thống thiết xin các bác trả lời cho cháu biết bố cháu có tội tình gì? Các bác đã không trả lời.


    Anh Kỳ Vân là một đảng viên kỳ cựu từ thời Mặt Trận Bình Dân năm 1936, xứ ủy viên xứ ủy Bắc Kỳ, và đã được thực dân Pháp tặng cho hai án tù, vào tù, vượt ngục, rồi lại vào tù.


    Vấn đề mấu chốt chia rẽ Việt Nam với Liên xô là vấn đề chiến tranh và hòa bình. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không quan tâm lắm đến lý luận, cái mà họ quan tâm là một vấn đề thực tiễn: Việt Nam muốn đánh giải phóng miền Nam, còn Liên xô thì không muốn bị lôi kéo vào một cuộc đối đầu nguyên tử với Mỹ. Vụ Caribê đã để lại cho họ một bài học.


    Thực ra khi đặt bút ký Hiệp Định Giơnevơ 1954 (Genève) lập lại hòa bình ở Việt nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam thực lòng mong muốn việc thống nhất đất nước sẽ được thực hiện một cách hòa bình thông qua tổng tuyển cử trên cả hai miền. Nhưng Pháp đã rút chân khỏi miền Nam, trốn tránh trách nhiệm thi hành hiệp nghị. Còn Diệm thì kiên quyết cự tuyệt hiệp thương, một mực hô vượt sông Bến Hải và kéo lê máy chém khắp miền Nam.


    Mỹ nhảy vào đã tiếp quản luôn cái vai trò thực dân không lấy gì làm vẻ vang của Pháp, cho nên cuộc chiến tranh ở miền Nam được coi là tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc. Nhưng ngay từ hồi ấy, trong giới nghiên cứu đã có ý kiến cho rằng sự đối đầu giữa hai miền đã dần dần trở thành một thứ nội chiến Quốc-Cộng có sự can thiệp của bên ngoài, một cuộc chiến tranh ý thức hệ không khoan nhượng nằm trong sự đối đầu ý thức hệ đang phân chia thế giới. Diệm thì quyết chống cộng đến cùng, còn cộng thì quyết làm chủ cả nước để đưa cả nước đi lên chủ nghĩa cộng sản. Các nhà lãnh đạo miền Bắc có tán thành tổng tuyển cử hòa bình thì chẳng qua cũng chỉ là vì họ chắc chắn tổng tuyển cử thì họ sẽ thắng. Niềm tin ấy hoàn toàn có cơ sở. Thanh thế của lực lượng kháng chiến đang lừng lẫy năm châu. Diệm cũng biết thế và chính vì thế mà Diệm kiên quyết cự tuyệt tổng tuyển cử.


    Xét theo mục tiêu và sự không khoan nhượng của cả hai bên thì cuộc chiến tranh giữa hai miền là không tránh khỏi.


    Lúc ấy tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc. Tôi đã nghe ông Nguyễn Chí Thanh phát biểu trong một buổi nói chuyện:


    Có đồng chí thắc mắc mới được hưởng hòa bình có mười năm. Đáng ra là phải nói: thế ra là ta đã được hưởng hòa bình những mười năm rồi cơ à! Vì đối với người cộng sản thì mười năm hòa bình là quá nhiều. Cho nên phải xốc balô lên vai, nắm chắc tay súng. Đánh đời ta không xong thì đánh đến đời con, đời con không xong thì đánh đến đời cháu.


    Cũng vào hồi ấy, ở Việt Nam có cuộc thi đấu hữu nghị giữa các đội bóng quân đội các nước xã hội chủ nghĩa. Trận chung kết là trận giữa hai đội Anbani và Liên xô. Khán giả sân Hàng Đẫy xưa nay vẫn được tiếng là vô tư và hiếu khách, hôm ấy đã hò reo ủng hộ đội Anbani và la ó đội Liên xô. Gần chỗ tôi ngồi, có một vị sĩ quan quân đội hăng máu nhảy chồm lên giơ nắm đấm:


    - Oánh bỏ mẹ bọn xét lại đi!


    Oánh bỏ mẹ bọn xét lại, vì bọn xét lại đầu hàng sợ Mỹ, còn ủng hộ Anbani vì Anbani kiên cường chống xét lại. Tất nhiên không phải ai cũng nghĩ thế. Nhiều người nghĩ khác, nhưng họ là cái thiểu số im lặng.


    Trước cái tâm lý xã hội như thế, nếu có ai chủ trương chung sống hòa bình và thi đua hòa bình giữa hai miền thì cũng chẳng dám nói ra. Bây giờ nhìn ngược trở lại ta có thể nói nếu thi đua hòa bình thì cầm chắc miền Bắc sẽ thua. Hồi ấy bản tin tham khảo đặc biệt của Việt Nam Thông Tấn Xã có trích đăng một lời phát biểu của ông Xihanuc (Shihanouk) mà đến bây giờ tôi mới thấy là có lý: Việt Cộng sống trong hòa bình như con voi sống trong một cửa hiệu bán đồ thủy tinh. Con voi là chúa tể rừng xanh, nhưng trong một cửa hàng thủy tinh thì nó không biết làm thế nào cho khỏi đổ vỡ. Suy rộng ra thì là: để làm chiến tranh cách mạng thì chủ nghĩa Mác Lênin là một vũ khí tuyệt diệu, nhưng để xây dựng trong hòa bình thì đó là một cái không dùng được.


    Lúc ấy, trung thành với lý tưởng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa, tôi cũng nghĩ là phải đánh, chẳng có con đường nào khác. Vấn đề còn lại là đánh như thế nào?


    Trung quốc bảo ta là muốn chống chủ nghĩa đế quốc thì phải chống chủ nghĩa xét lại, tức là chống Liên xô và những người đồng tình với Liên xô. Anh em chúng tôi thì lại nghĩ rằng nếu trong xây dựng xã hội chủ nghĩa ta không thể thiếu được sự giúp đỡ của Liên xô thì trong cuộc chiến tranh chống Mỹ lại càng như thế. Muốn Liên xô giúp đỡ mà lại chống Liên xô là một điều vô nghĩa. Chính vì thế mà chúng tôi đã không thông với Nghị Quyết 9.


    Mặt khác, khi còn là chiến tranh đặc biệt tức là giữa một bên là chính quyền miền Nam được sự hỗ trợ của Mỹ và một bên là nhân dân miền Nam được sự giúp đỡ của miền Bắc thì không có chuyện gì. Vấn đề nảy sinh khi trước những thất bại của chính quyền miền Nam, Mỹ đe dọa đổ quân vào miền Nam mở rộng cuộc chiến thành chiến tranh cục bộ. Vậy Việt Nam lựa chọn như thế nào?


    Trong khi làm việc với anh Đinh Chân, cán bộ báo Quân Đội Nhân Dân, được ban biên tập cử vào giúp ông biên tập một số văn kiện, ông Giáp có giải thích cho Đinh Chân:


    - Nếu Mỹ đưa vào miền Nam năm vạn quân thì đã khó (cho ta), nếu họ đưa vào 10 vạn thì rất khó, và nếu họ đưa vào 15 vạn trở lên thì cực khó.


    Tôi được đọc như thế trong cuốn sổ ghi chép của Đinh Chân. Như vậy rõ ràng là ông Giáp cân nhắc rất thận trọng. Và vấn đề quả là rất đáng phải thận trọng. Tiện đây tôi cũng xin kể là về sau Đinh Chân cũng bị bắt sau tôi ít tháng.


    Trên đây là một nhận định của ông Giáp. Còn ông Duẩn thì phát biểu trong một buổi nói chuyện với cán bộ:


    - Nếu Mỹ đánh ta bằng chiến tranh đặc biệt thì ta sẽ thắng nó trong chiến tranh đặc biệt, còn nếu nó đánh ta bằng chiến tranh cục bộ ta sẽ thắng nó trong chiến tranh cục bộ.


    Đại để có thể hiểu là: Việt Nam để cho Mỹ chọn, tùy, kiểu nào cũng ô-kê. Trong khi nghị quyết của Trung ương thì nói là phải kìm Mỹ trong chiến tranh đặc biệt mà đánh.


    Còn ông Kôxưghin (Kossigyn), chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Liên xô sang thăm Việt Nam đầu năm 1965 thì phát biểu: Nếu Việt Nam chủ trương đánh thì Liên xô ủng hộ Việt Nam đánh, nếu Việt Nam chủ trương đàm thì Liên xô ủng hộ Việt Nam đàm. Chuyện này do chính ông Duẩn kể lại trong một cuộc nói chuyện với cán bộ. Như vậy là ngay từ 1965, Liên xô đã trông thấy có hai khả năng giải quyết vấn đề, đàm và đánh, chọn cách nào là chủ quyền của Việt nam.


    Hòa hay chiến? Đó là một câu hỏi mà tìm được lời giải không phải dễ. Tôi tự đánh giá mình hiểu biết còn quá ít cho nên không dám phê phán điều gì. Tôi chỉ căn cứ vào chút ít hiểu biết của mình để có một ý nghĩ cho riêng mình mà thôi.


    Trong lịch sử chiến tranh của ta, đã có một lần Mỹ định nhảy vào Việt nam. Đó là sau khi ta thắng trận Điện Biên Phủ. Trước nguy cơ mở rộng chiến tranh, ta đã không thừa thắng xông lên, mà đã dừng lại, ký kết hiệp định Giơ ne vơ, chặn đứng Mỹ lại đã, rồi sẽ tính sau. Cho tới nay chưa ai bảo việc làm đó là sai lầm. Trong cuộc chiến tranh ở Miền Nam, rốt cuộc ta cũng phải ngồi vào đàm phán với Mỹ, ký hiệp định Pari (Paris), gạt Mỹ ra, để người Việt Nam xử sự riêng với nhau. Tôi nghĩ rằng chặn Mỹ lại khi họ chưa nhảy vào có lẽ dễ hơn là để họ đưa mấy chục vạn quân vào rồi mới tìm cách đẩy họ ra. Để làm được việc đó, ta đã phải mất tám năm, với bao nhiêu triệu sinh mạng con người và bao nhiêu tổn thất khác đến tận bây giờ vẫn chưa khắc phục được.


    Tôi nghe nói trong một lần tiếp một vị khách Thái Lan (thủ tướng hay bộ trưởng gì đó), ông Đỗ Mười đã nói: Nhân dân Việt Nam chúng tôi đã phải trải qua ba cuộc chiến tranh... Để nói Việt Nam là anh hùng? Hay là để nói Việt Nam đang có nhiều khó khăn do ba cuộc chiến tranh để lại?


    Không rõ. Và trong lời đáp từ, vị khách Thái Lan đã nói: Nhân dân Thái Lan chúng tôi đã may mắn tránh được ba cuộc chiến tranh...


    Nếu chuyện đó là có thật thì vị khách Thái Lan quả là đã nói một câu thâm thúy.


     Lần đầu tiên tôi được biết ông Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị, là năm 1953 khi tôi dự lớp chỉnh quân cải cách ruộng đất ở Việt Bắc. Trước khi chúng tôi bước vào kiểm thảo, ông Thanh đã đến động viên anh em chúng tôi. Là một người lính chiến đấu ở vùng sau lưng địch quen với những tình huống khẩn trương đòi hỏi những mệnh lệnh ngắn gọn và những lời động viên mộc mạc, lần đầu tiên nghe ông Thanh nói, tôi đã có một ấn tượng rất sâu sắc. Tôi nhớ đã đọc thấy ở đâu rằng để giành giật quần chúng với giai cấp thống trị, người cộng sản chỉ có hai vũ khí: nói và viết (cho nên người cộng sản phải là người diễn thuyết giỏi và viết báo giỏi). Ông Thanh có cái vũ khí thứ nhất.


    Và có lẽ cũng chỉ cần thế thôi.


    Trước khởi nghĩa ông làm công việc vận động nông dân, mà nông dân thì đa số mù chữ, không đọc được. Bây giờ nắm chính quyền rồi, nếu cần viết đã có người chấp bút, viết hộ.


    Phải thừa nhận là ông có tài hùng biện. Khi cần chế riễu ông biết sâu cay, khi cần khuấy động tâm can người nghe thì biết tìm ra những lời thống thiết. Mà không cần lý luận dài dòng gì, chỉ bằng những câu nôm na bắn trúng điểm đen, với một cách nói sôi nổi, đầy nhiệt tình. Đúng là một agitateur thượng đẳng.


    Động viên chúng tôi ông nói về trách nhiệm của người cộng sản đối với giai cấp nông dân về tình thương yêu của Đảng đối với chúng tôi, chỉ mong chúng tôi nhận ra khuyết điểm để làm tròn sứ mệnh cao cả của mình mà thôi.


    Lời lẽ của ông cứ thấm vào ruột gan tôi. Không cần phải nói là trong lần kiểm thảo ấy tôi đã tự sỉ vả, bôi nhọ mình bằng thích.


    Sang năm sau, trung đoàn tôi được lệnh làm thí điểm chỉnh quân cải cách ruộng đất. Trước đó, bộ đội địch hậu không làm chỉnh quân sợ xảy ra tình huống phức tạp: trước đấu tranh giai cấp quyết liệt, có thể có những người nhảy sang phía địch chỉ cách ta có gang tấc. Và lần này cũng chỉ làm thí điểm một tiểu đoàn, cộng thêm một bộ phận trung đoàn bộ và quân khu bộ. Và cũng không dám làm tại chỗ, phải dắt díu nhau ra tận vùng tự do Thanh Hóa, cách mấy trăm cây số để quần nhau.


    Tôi lúc ấy là phó chính ủy trung đoàn được giao phụ trách lớp ấy dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Lê Tự, phó chính ủy quân khu. Anh Tự đi Việt Bắc nhận chỉ thị chỉnh quân về phổ biến lại cho ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi:


    - Yêu cầu chính của chỉnh quân là phải phát động quần chúng đấu tranh vạch mặt được những tên phản động, gián điệp chui vào hàng ngũ ta phá hoại, và phải làm kiên quyết, không được để lọt lưới.


    Tôi thắc mắc lắm và phát biểu lại:


    - Theo như tôi được nghe anh Thanh nói ở lớp học của chúng tôi thì chỉnh quân là để nâng cao giác ngộ cho quần chúng ngang tầm với nhiệm vụ mới của cách mạng, chứ đâu phải để đấu tố nội bộ?


    Trung đoàn trưởng Nguyễn Tiệp cũng băn khoăn lắm, nghe tôi nói thì tán thành ngay:


    - Anh Thư nói tôi nghe có lý hơn.


    Anh Lê Tự hơi bị lúng túng, rồi giải thích:


    - Đó là sau cuộc hội nghị phổ biến kế hoạch, anh Thanh có giữ mình lại dặn riêng như vậy.


    Đây là lần đầu tiên tôi có cái cảm giác về sự không đi đôi giữa lời nói và việc làm của các nhà lãnh đạo, về sự khác biệt giữa cái chủ trương công khai và cái chỉ đạo ngầm. Nhưng cũng chỉ là thoáng qua. Tôi còn bao công việc phải lo.


    Xin nói thêm là trong cuộc chỉnh quân thí điểm ấy, chúng tôi đã không đấu tố được tên phản động hay gián điệp nào. Đấu quá yếu chăng? Nhưng nếu phản động và gián điệp chui vào hàng ngũ ta nhiều như thế thì làm sao mà chúng tôi lại đánh thắng tới được như thế, làm sao chúng tôi không xơi no bom địch, làm sao chúng tôi tồn tại được giữa cái nơi nhìn xung quanh đâu cũng là đồn bót địch? May mắn là đang chỉnh quân dở dang thì diễn ra Điện Biên Phủ, cấp trên còn bận bao nhiêu việc khác, chẳng ai nghĩ đến chuyện tổng kết kinh nghiệm của đơn vị thí điểm, chứ nếu không thì cũng phiền cho anh Tự và tôi. Chỉ có tôi là bị kiểm điểm vì một sự cố xảy ra trong chỉnh quân: tối học phụ, xem phim Bạch Mao Nữ, một chiến sĩ, có lẽ vì quá căm thù giai cấp và sẵn súng trong tay, đã tương luôn một phát lên màn ảnh, tiêu diệt tên địa chủ Hoàng Thế Nhân, làm náo loạn cả lên, phải bỏ dở buổi chiếu bóng. Phúc tổ cho tôi hôm ấy là phim chứ không phải là diễn kịch.


    Hòa bình lập lại, về báo Quân Đội Nhân Dân, tôi được nghe nhiều cuộc nói chuyện và lên lớp của ông Thanh vốn là chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, cơ quan chủ quản của báo. Và cũng phải mất vài năm, nhờ Đại Hội 20 tôi mới dần dần thoát ra khỏi được cái ma lực của ông, nghe ông bằng cái tai tỉnh táo hơn.


    Có một cuộc nói chuyện của ông tôi chắc rất nhiều anh em còn nhớ, cuộc nói chuyện trong đó ông kêu gọi khoác súng lên vai, chiến đấu nếu cần thì hết đời cha đến đời con. Nêu cao tinh thần chiến đấu thì tất nhiên phải chống tư tưởng hòa bình hưởng lạc. Ông diễu các bà vợ của một số ông cán bộ cao cấp ở nhà quê, đi kháng chiến vẫn nâu sồng, nay về thành phố lại đua đòi áo dài với tóc phi dê, nom như khỉ già. Ông cũng phê bình các cô văn công (thế hệ văn công hồi ấy là thế hệ các chị Thùy Chi, Kim Ngọc, Tường Vi v.v...) sao không cặp tóc như bình thường mà lại lấy mùi soa buộc vểnh ngược lên như cái đuôi ngựa. Ông gọi các bà lớn học làm sang là con gì thì tôi chẳng lấy thế làm động lòng, chỉ thương mấy cô văn công làm cái nghề đòi hỏi phải làm dáng mà lại nghèo, có cái khăn mùi soa buộc lên tóc mà cũng bị nhiếc như mẹ chồng nhiếc vậy.


    Tòa soạn chúng tôi có anh Sanh Thí, thuộc loại người ăn nói không cần giữ mồm giữ miệng. Chẳng hiểu anh đã kêu ca với ai về đời sống khó khăn và gọi nó là une chienne de vie (sống khổ như chó) mà câu ấy đã đến tai ông Thanh. Ông đã kể lại câu chuyện và phê phán Sanh Thí là sống une vie de chien (sống kiểu chó má). Ông tỏ vẻ thích thú về cách chơi chữ này của mình.


    Thoạt đầu tôi cũng chỉ nghĩ ông Thanh là người khắt khe, không thông cảm với những yêu cầu bình thường của quần chúng sau mười năm chiến tranh gian khổ. Cho đến khi tôi được nghe câu chuyện mừng hụt của ông Nguyễn Tuân. Ông Tuân kể rằng trong một lần dẫn nhà văn Pie Abraham vào thăm Vĩnh Linh, đến Đồng Hới ông đã đưa khách vào nghỉ ở nhà giao tế. Thấy trên tủ hàng có bày hai chai Môét Săngđông, ông Tuân vốn là người sành rượu, thích quá, nói với ông Yêm, phụ trách nhà giao tế:


    - Thật là châu về Hợp Phố. Tiếp khách Pháp lại có rượu Pháp.


    Bây giờ hai chai Môét Săngđông là chuyện vô nghĩa, nhưng ở cái thời xếp gạch ấy, nó quý như vàng. Nhưng ông Yêm tỏ ý tiếc. Nhà giao tế có mười chai, gia đình ông Thanh vào đây nghỉ đã dùng hết tám, còn lại hai chai này phải dành nốt cho ông. Ông Thanh qua đây bao giờ cũng chỉ uống rượu vang ấy. Sáng hôm sau, đến giờ ăn, ông Tuân dẫn khách xuống, thấy một bàn ăn bày rất thịnh soạn, nghĩ bụng:


    - Cái nhà giao tế này nó cũng chu đáo đấy chứ nhỉ!


    Nhưng một lần nữa ông lại mừng hụt. Người ta dẫn hai nhà văn đến một bàn gọn nhẹ hơn. Còn cái bàn thịnh soạn kia là bữa ăn trưa của gia đình ông Thanh lúc ấy vào rừng đi săn chưa về.


    Hóa ra cái gọi là hưởng lạc chỉ là quả cấm đối với những ai đó thôi.


    Và nhiều anh em chắc còn nhớ vụ án văn học Vào Đời, tiểu thuyết của Hà Minh Tuân. Vào Đời là câu chuyện một cô học sinh mà tuổi vào đời đã bị trắc trở do vào làm việc ở một nhà máy, gặp phải những người cán bộ đã lợi dụng sự dại dột và lòng khao khát sống của cô để làm điều nhảm nhí. Câu chuyện chỉ có thế, và viết không hay, nhiều chỗ sượng, giả sử để yên thì cuốn sách chắc cũng có ít độc giả. Nhưng báo Tiền Phong đã viết một bài phê bình. Cũng chẳng sao. Báo Tiền Phong có quyền phê bình, và ông Hà Minh Tuân, lúc ấy là giám đốc Nhà Xuất Bản Văn Học, chắc cũng chẳng kém cựa gì mà không dám trả lời.


    Nhưng ông Thanh đã nhảy vào cuộc và chuyển câu chuyện văn học sang thành một vấn đề chính trị: thế là bôi nhọ chế độ, là mất lập trường giai cấp. Ông tổ chức một buổi nói chuyện. Một khi ông Thanh đã lên tiếng thì tất cả các báo phải lần lượt lên tiếng. Và khi các báo đều lên tiếng thì tự nhiên sẽ nổi lên một phong trào quần chúng khắp nơi lên tiếng, đả kích Hà Minh Tuân dữ dội. Trong những người lên tiếng ấy, tôi tin rằng không ít người chưa đọc cuốn sách ấy, vì có sách đâu mà đọc.


    Tội nghiệp Hà Minh Tuân, thà rằng anh là Nhân Văn Giai Phẩm thì nó còn đi một nhẽ. Dẫu sao thì anh em Nhân Văn cũng đấu tranh trực diện, lớn tiếng nói lên những bất đồng với lãnh đạo, và đôi lúc khá chua cay. Nào là Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ (Trần Dần), nào là Đặt bục công an giữa trái tim người (Lê Đạt). Còn Hà Minh Tuân thì không có một tí gì như thế cả.


    Anh là một học sinh Hà Nội tham gia tự vệ chiến đấu khá sớm hồi tiền khởi nghĩa, và trong kháng chiến đã làm phó chính ủy một trung đoàn. Hòa bình lập lại, là một cán bộ tin cậy và yêu viết văn, anh đã được điều ra ngoài quân đội, làm hạt nhân lãnh đạo văn nghệ, phụ trách giám đốc Nhà Xuất Bản Văn học. Vào hồi ấy, cái chức vụ ấy là thuộc loại to. Anh đã có vài cuốn tiểu thuyết nhưng bị coi là mờ nhạt. Cho nên lần này anh định viết một cuốn có chiều sâu một tí, không tô hồng một chiều. Thế thôi. Nào ngờ! Anh đã bị treo bút, cách chức giám đốc nhà xuất bản, đưa đi làm công tác thủy sản, đánh cá nước ngọt.


    Theo Tuân nói với tôi thì Vào Đời là một câu chuyện có thật mà anh đã khai thác được trong một chuyến đi thâm nhập thực tế, chứ không phải anh bịa. Điều đó tôi không rõ, nhưng đã là tiểu thuyết thì cần gì phải là chuyện có thật? Và nếu vì quyển ấy mà Tuân bị như thế thì các nhà văn, nhà báo bây giờ viết về chống tiêu cực đáng bị như thế nào?


    Sau này gặp Hà Minh Tuân, tôi gợi lại chuyện cũ, và anh kể:


    - Hồi ấy, mỗi buổi sáng, ngồi một mình trong phòng làm việc, vì anh em cũng tránh gặp mình sợ bị vạ lây, mình giở các báo xuất bản trong ngày ra xem một lượt và có cảm tưởng mình như một đơn vị bị bao vây, ngồi cắn răng chịu đựng những đợt pháo từ tứ phía nã tới.


    Và anh cười:


    - Mình có để ý đến chữ đồng chí của các cậu.


    Câu chuyện là như thế này:


    Lúc ấy đã là những ngày cuối chiến dịch phê phán. Các báo đã lên tiếng cả, riêng báo Quân Đội Nhân Dân vẫn im hơi lặng tiếng. Như thế thật là nguy hiểm. Sau khi bàn bạc, thấy không thể trốn tránh được, chúng tôi phân công cho anh Mai Luân viết một bài. Dù muốn hay không, Luân cũng phải nhai lại vài điều các báo đã nói, và ở cuối bài, để tự xoa dịu lương tâm, thêm một câu đỡ đòn kín đáo cho Tuân và gọi anh là đồng chí Hà Minh Tuân. Chẳng là vì tất cả các bài phê phán Tuân đều dùng một giọng gay gắt, và cứ Hà Minh Tuân trống không mà réo, không một bài nào có đến một chữ anh, hoặc chữ đồng chí thường dùng. Bằng chữ đồng chí ở cuối bài, Mai Luân muốn ám chỉ rằng ta nên coi Hà Minh Tuân là đồng chí, và có thái độ đồng chí với anh. Chỉ có thế thôi mà phải đắn đo mãi. Và hai chữ đồng chí chìm khuất trong cuối bài ấy, Tuân cũng mò ra. Chứng tỏ anh đã dùng kính lúp để soi từng chữ các bài phê phán anh.


    Đang chiến dịch Vào Đời thì cuốn Phá Vây của Phù Thăng bị ông Thanh rờ tới. Phá Vây là một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh, nghiêm chỉnh từ đầu đến cuối. Nhưng để cho thêm sâu sắc (vẫn cái bệnh muốn cho sâu sắc), anh Phù Thăng đã đặt vào miệng chính ủy trung đoàn mấy câu triết lý về chiến tranh. Dài khoảng một trang in gì đó. Và thế là rắc rối. Lại chiến tranh chung chung, không phân biệt chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa! Trông gương Hà Minh Tuân, Phù Thăng hoảng quá, xin gặp ông Thanh để phân trần và nhận khuyết điểm. Và được ông ban cho một câu:


    - Không có gì, cứ yên tâm, lần sau viết thì rút kinh nghiệm. Phù Thăng mừng như bắt được của, gặp tôi hoa chân múa tay:


    - Không có gì! không có gì! Hú vía!


    Năm 1962 tôi được cử đi học ở Trường Chính Trị trung cao cấp của quân đội. Chương trình gồm ba môn: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học của Mác, và lịch sử Đảng. Thời gian học: ba tháng. Với chương trình ấy và thời gian ấy, ai cũng có thể đánh giá được chúng tôi đã học một cách đại khái như thế nào. Nhưng hôm lớp học bế mạc, ông Thanh đến huấn thị, đã phát biểu:


    - Các đồng chí học như thế là quá nhiều rồi, bây giờ về đốt sách đi, để đi vào thực tế.


    Lại thêm một vị nữa chưa làm vua mà đã muốn đốt sách.


    Về sau tôi có được nghe ông kể về chuyện đi vào thực tế của ông. Lúc ấy ông được phân công nắm thêm nông nghiệp. Ông có đặt cho một kỹ sư chăn nuôi một câu hỏi: làm thế nào để có được hai triệu con lợn? Anh kỹ sư đã trình ông cả một kế hoạch bao gồm: chuồng, trại, vốn, con giống, thức ăn, phòng chữa bệnh, chính sách giá cả v.v... Ông Thanh đã gạt đi, bảo là lý thuyết suông. Ông nói: chỉ cần phát huy tinh thần cách mạng của nông dân, mỗi nhà nuôi hai con lợn là trong vòng một năm ta sẽ có hai triệu con lợn. Đó là phương pháp cách mạng, là quan điểm quần chúng. Chỉ tiếc rằng về sau, thực tế đã chứng tỏ là phương pháp cách mạng ấy đã không đẻ ra được lợn.


    Nghe nói rằng ông Mai Quang Ca, bí thư riêng của ông Thanh, đã ca ngợi ông Thanh không cần đọc nhiều, chỉ đọc một cuốn Nhà Nước Và Cách Mạng của Lênin là đủ để lãnh đạo cách mạng. Nếu chuyện đó có thật thì cũng chẳng lấy gì làm lạ: khối vị như thế. Chỉ có điều là có thực ông Thanh đã đọc hết cuốn Nhà Nước Và Cách Mạng hay không thì tôi cũng còn hồ nghi lắm.


 Suy nghĩ thì như thế, và nói vụng ở đâu thì nói, nhưng không bao giờ tôi nghĩ đến việc tìm cách đưa những quan điểm riêng của mình công khai lên báo. Rất đơn giản: có hóa rồ thì mới làm như vậy. Ai đã làm báo dưới thời chuyên chính vô sản đang cực thịnh thì hiểu rõ điều đó. Bây giờ có anh em còn hỏi tôi: Thế hồi ấy cậu đã viết những gì? Làm như thể tôi bị bắt là vì đã viết gì vậy. Nào có viết gì đâu cho cam! Hỏi cung tôi, ông Nhuận cũng bắt tôi khai ra những bài nào tôi viết chống lại đường lối của Đảng. Tôi đã đáp:


    - Báo chí, sách vở là chuyện giấy trắng mực đen, tôi giấu làm sao được, đề nghị các anh cứ đọc lại thì rõ.


    Việc đó chắc là ông ta không đợi tôi nói, đã làm lâu rồi, cho nên ông ta không gặng thêm gì nữa, coi như chỉ hỏi chơi một câu để nắn gân thôi.


    Quả thật tôi quá hiểu rằng muốn yên ổn thì không nên đùa với kỷ luật của Đảng. Nhưng đó mới là một mặt. Còn một mặt khác. Từ lâu tôi đã được học rằng đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác Lênin là một tổ chức chiến đấu chứ không phải một câu lạc bộ tranh luận. Do đó phải có kỷ luật sắt: cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số v.v... Muốn chiến đấu thì đúng là phải như thế thật. Tôi đã chấp nhận điều đó như một tất yếu. Và đã nhận thức là tất yếu thì tốt hơn hết là nên tự giác mà thực hiện, dù đôi lúc có khó chịu đến mấy. Và cũng có thể tự an ủi rằng dẫu sao mình cũng là người tự do, vì đứng về mặt triết học, thì tự do là tất yếu được nhận thức.


    Cho nên chúng tôi luôn luôn tự kiểm duyệt mình, còn nghiêm khắc bằng mấy bất cứ cơ quan kiểm duyệt nào. Chỉ cần cấp trên bảo tuyên truyền ngang bằng giữa Liên xô và Trung quốc thì khi đăng một bài về Liên xô, tự chúng tôi phải lo ngay đến kèm theo một bài về Trung quốc. Bài này dài 2000 chữ thì bài kia cũng suýt soát, hơn kém không đáng kể. Bài này đăng trang một thì bài kia trang nhất. Cùng ở đầu trang hay cuối trang, tốt nhất là song song như hai câu đối. Và đầu đề của hai bài phải cùng một co chữ, tốt nhất là cùng một kiểu. Thực ra tất cả những cái đó đều dễ vì có thể đo đếm được. Cái khó là viết nhiệt tình như nhau. Vì nhiệt tình là cái không cân đong được. Vả lại viết về Lôi Phong mà cũng nhiệt tình như viết về Gagarin thì quả thật là khó.


    Cho nên sau khi cho tổng kiểm tra báo Quân Đội Nhân Dân, Tổng Cục cũng chỉ đưa ra được vài kết luận đại khái: nặng về mặt nọ, nhẹ về mặt kia v.v... Thực ra thì ý định của cấp trên là thanh lọc tòa soạn. Lý do đã có: tổng biên tập ở lại Liên xô, nhiều cán bộ bảo lưu quan điểm riêng trong học tập Nghị Quyết 9. Nhưng chỉ dựa vào lý do đó để thanh lọc thì không hay lắm, cần có những sai lầm cụ thể.


    Trong những năm chúng tôi sống hài hòa với Đảng, tòa soạn chúng tôi là một tập thể trẻ trung, tràn đầy nghị lực và vui nhộn. Dưới sự thúc đẩy của Văn Doãn, chúng tôi đua nhau học, đua nhau động não để làm cho tờ báo mỗi ngày một mới, một hay hơn. Hăng cải tiến như vậy nên không tránh khỏi sơ suất. Và chính vì một vài sơ suất nhỏ trong trích dịch những chuyện lạ thế giới đăng trên báo chí nước ngoài mà bị ông Thanh gọi là báo Sicagô (Chicago). Nó là như thế chứ không phải là báo Quân Đội Nhân Dân đã đăng ảnh đùi vế hoặc hoa hậu. Có ảnh phụ nữ, nhưng phải là nữ du kích, tay cầm súng hẳn hoi, còn có nhắm bắn hay không thì không nhất thiết.


    Từ sau Nghị Quyết 9, cái tòa soạn ấy đã trở thành một nhà có đám. Ngơ ngác và âm thầm, giữ mồm giữ miệng. Tệ hơn thế, chúng tôi đã bắt đầu đề phòng nhau. Chẳng biết ai thế nào. Từ đâu mà cái việc con trai Văn Doãn đến nhà tôi học đã tới tai Tổng Cục?


    Lúc ấy Hoàng Linh là quyền tổng biên tập, thay Văn Doãn. Anh gần như trở thành một cái bóng thầm lặng. Một lần, gặp Linh ở hành lang tòa soạn, tôi giữ anh lại và nói với anh một vài suy nghĩ về tình hình. Anh lẳng lặng nghe, mỉm cười buồn rầu, rồi lảng đi không đáp một câu. Lần khác, tôi lại nói, anh lại mỉm cười buồn rầu, nhưng lần này thì bảo tôi:


    - Thôi, Thư ạ, có nghị quyết rồi, đừng nói gì nữa, chết đấy!


    Ngay cả trong học tập Nghị Quyết 9. Linh cũng đã giữ mình, chỉ ngồi nghe, không phát biểu. Có anh em chê Linh nhát. Cuộc sống sau này đã chứng tỏ Hoàng Linh hiểu chuyên chính vô sản hơn chúng tôi. Mười mấy năm sau, ra tù đã khá lâu, tôi lại chơi thăm anh thì thấy anh vẫn thế: vẫn thân tình, vẫn mỉm cười buồn rầu, và vẫn lặng thinh. Tôi chịu Hoàng Linh về cái tài tự dồn nén.


    Còn tôi thì phải dần dần mới hiểu được, hay nói cho đúng hơn là mới quen được với tình thế của kẻ thiểu số. Thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, nghĩa là sống thì được để bụng, chết thì được mang theo xuống mồ. Không ai cấm, chỉ cấm không được nói ra thôi.


    Rồi chúng tôi lần lượt ra đi, người về nhà trường, người đi làm tổng kết, người đi viết sử. Anh Đào Phan thì bị đưa về Bảo Tàng Quân Đội. Anh em nói đùa là Đào Phan bị bỏ vào bảo tàng. Nói theo nghĩa là cuộc đời của Đào Phan, với chiều dầy hoạt động cách mạng từ năm 1936, với những trách nhiệm quan trọng đảm đương từ hồi còn rất trẻ (bí thư ban cán sự Hà Nội, tương tự bí thư thành ủy bây giờ, khi anh mới ngoài 20 tuổi), với những năm nằm Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, Việt Bắc, cả tù tây lẫn tù ta, tóm lại là cuộc đời lên voi xuống chó của anh cũng là một hiện vật đáng được đưa vào bảo tàng.


    Rời bỏ cái nơi chúng tôi đã sống gần chục năm của cái tuổi bắt đầu chín, rời cái nơi đã đào tạo chúng tôi thành những người làm báo, rời cái tập thể đã biết sống với nhau tử tế, mỗi người một vẻ nhưng êm ru, tôi ra đi không chút luyến tiếc. Đối với tôi đó không còn là nơi đất lành chim đậu.


    Nhưng đâu là nơi đất lành? Xung quanh tôi là một khoảng trống. Người thì nhìn tôi bằng con mắt ác cảm, người thì chẳng có ác cảm gì, hoặc có thiện cảm, nhưng không muốn dây với tôi, sợ bị vạ vịt, còn người thì khiêu khích, mở miệng ra là chửi Liên xô chan chát. Cơ quan mới của tôi có một ông cấp ủy, vốn xuất thân nông dân, có cái lối chửi chua ngoa của bà con nông dân: Khơrútsôp bán bí mật tên lửa cho Mỹ, Liên xô giúp ta ra-đa nhưng lại báo cho Mỹ biết tần số để nó tiêu diệt, dân Liên xô sống sướng thế thảo nào mà chẳng sợ chiến tranh v.v... Nghe mà buồn.


    Trong khi đó ông Lê Duẩn sang Liên xô lại thống thiết tuyên bố: Đối với người cộng sản Việt Nam thì Liên xô là tổ quốc thứ hai chẳng là vì hàng năm ông Lê Thanh Nghị lại đi một vòng các nước xã hội chủ nghĩa để xin viện trợ. Dân gian thì nói là ông Nghị vác rá đi ăn xin. Nhưng có vị lãnh đạo lại phổ biến rằng đồng chí Lê Thanh Nghị đi để bắt bọn xét lại phải trả nợ máu, làm như thể ta đánh thuê cho bọn xét lại vậy. Không phải chỉ xin những thứ thiết thực cần cho chiến đấu, mà xin cả thiết bị toàn bộ của hàng loạt nhà máy chưa biết đến bao giờ mới xây dựng. Tinh thần là lúc này ta đang đánh nhau, dễ xin thì cứ xin đại đi và cứ để đấy sau này hòa bình cần đến thì đã có sẵn, chứ chờ đến lúc ấy mới xin thì e rằng khó. Rốt cuộc là bao nhiêu thùng thiết bị quý giá, mang về không có chỗ chứa cứ vứt vạ vật dọc các đường giao thông, trên các bãi hoang, các góc rừng, dầm mưa dãi nắng, tang thương, vô chủ. Rồi người thì đến cạy để vặt linh kiện, kẻ thì chỉ để lấy các ốc vít ngoại lắp vào xe đạp, thậm chí chỉ để lấy mảnh gỗ thông về làm chuồng gà, còn lại ra sao thì mặc.


    Bốn chữ CCCP được dân gian giải nghĩa là: Các chú cứ phá, Càng cho càng phá, Còn cho còn phá, rồi rốt cuộc biến thành Chẳng cho cũng phá. Và rủ nhau đi chè chén, người ta mời mọc nhau: Các bạn cứ ăn uống thoải mái, hết bao nhiêu tiền đã có Liên xô chịu. Vậy có gì là lạ nếu bây giờ tiền chùa, tức là tiền nhà nước, người ta cứ tiêu thoải mái, bỏ túi thoải mái, xe chùa đi thoải mái, của chùa chia chác nhau thoải mái, đất chùa lấn chiếm thoải mái. Trước kia có Liên xô, bây giờ thì có chùa gánh cho hết. Sướng thật!


    Một anh trong bộ biên tập của chúng tôi phàn nàn là Văn Doãn đã phản thùng, đâm một nhát vào sau lưng chúng tôi. Ý là: chúng tôi ở trong nước đang đấu tranh để bảo vệ chân lý, Doãn ở lại Liên xô là gây khó khăn cho chúng tôi trong cuộc đấu tranh ấy. Tôi thì lại nghĩ khác. Tôi không rõ vì sao Doãn ở lại Liên xô, ở lại để làm gì và có làm gì được không. Còn tôi thì không nghĩ mình có thể làm được cái gì. Một việc đơn giản nhất là treo ấn từ quan, về nhà dạy học, vui thú điền viên, mà các cụ ta ngày xưa vẫn làm thì bây giờ một người cộng sản là tôi cũng không thể làm được. Các cụ còn có điền viên để mà vui thú, còn có thể dạy học được. Còn tôi thì đã được vô sản hóa đến mức chỉ cần cắt cái cuống nhau tiền lương nhà nước một tháng là đói. Và có trời biết đã đói thì sẽ như thế nào.


    Cho nên tôi không có ảo tưởng đấu tranh gì, tự biết mình không giơ tay chống trời được. Và nếu tôi có bảo lưu quan điểm của mình thì chẳng qua cũng chỉ là vì trời sinh ra tôi là anh cả Cò ngốc ngếch, to đầu rồi mà vẫn dại, không biết mau lẹ đổi tiền cho hợp với thời trang, đã thế lại còn không biết nghĩ một đằng, nói một nẻo, bản lĩnh loại C, không có tài che đậy ruột gan của mình.


    Thực ra thì về sau tôi cũng cố che đậy, nhưng đậy mãi thì thỉnh thoảng nó vẫn lòi ra, như cái nồi súp de quá tải áp suất thì tự động xì ra vậy. ở trên, tôi có nhắc đến ông cấp ủy xuất thân nông dân đã chửi Liên xô một cách chua ngoa. Ông ta có một cách suy nghĩ khá kỳ cục. Một hôm ông ta ngồi kéo thuốc lào sòng sọc, rung đùi đắc chí:


    - Việt Nam nhất thế giới! Việt Nam đánh thắng Mỹ xong thì không còn thằng nào để mà đánh nữa hì! Mỹ là thằng mạnh nhất rồi.


    Tôi chúa ghét cái kiểu ăn nói ấy, đáp luôn:


    - Khó quái gì, đánh Liên xô, hoặc chấp cả hai thằng.


    Sau này khi Trung quốc đánh ta, tôi không được gặp lại ông nhưng nghĩ rằng chắc ông hài lòng, ông đã có kỳ phùng địch thủ để mà đánh. La Văn Cầu ác chiến Đổng Tồn Thụy, chắc chắn phải ngoạn mục, dí bộc phá vào tận rốn nhau mà giật. Chỉ có điều hơi cấn cái: kỳ phùng địch thủ ấy lại là... bố ông ta.


   Rồi một bữa, vào khoảng nửa đầu năm 1966, trên đường đi làm, tình cờ quay lại tôi bỗng có linh tính rằng người đàn ông nom lù khù cũ kỹ đạp xe cách sau tôi một quãng là nhân viên trinh sát của Cục Bảo Vệ Quân đội đang bám sát tôi. Vốn có đôi chút kinh nghiệm về việc phát hiện đuôi và cắt đuôi mật thám Pháp trong thời kỳ hoạt động bí mật, tôi chỉ cần vài cái rẽ ngang rẽ ngửa vòng vèo trên đường phố là đã có thể chắc chắn linh tính không đánh lừa tôi.


    Hôm sau tôi không đi xe đạp nữa mà cuốc bộ ra xe điện. Vẫn lại anh chàng ấy lên xe điện cùng với tôi, tôi lên đầu toa còn anh ta cuối toa. Sắp đến nơi, tầu còn đang chạy nhanh, tôi bất ngờ nhảy xuống, cuốc bộ về cơ quan. Và thấy anh ta cũng nhảy xuống theo. Thế là rõ. Suy ra thêm một điều nữa là anh ta ắt phải có một đài quan sát gì đó, chắc là trong khu chợ Đuổi trước cửa nhà tôi, là nơi anh ta đã gởi lại cái xe đạp. Tôi vào cơ quan, mượn luôn một cái xe đạp, phóng ra phố. Đi được dăm phố thì lại xác định có một người phóng xe đạp bám riết mình. Không phải người lúc nẫy mà là một người khác trẻ hơn, nom linh lợi hơn. Vậy không phải chỉ có một người, mà một tổ ít nhất là hai người, một người lên tầu cùng với tôi, một người đạp xe đi theo tầu. Suy đoán ra thêm thì chắc là tại nhà tôi ở, thế nào cũng phải có một anh hàng xóm đáng yêu nào đó ở buồng trong được cơ quan an ninh giao nhiệm vụ ghi số xe đạp của những ai ra vào nhà tôi (hồi ấy xe đạp cũng có biển đăng ký). Điều phán đoán của tôi sau này đã được chứng minh là đúng. Còn buồng tôi ở có bị gài máy ghi âm không thì tôi nghĩ rằng mình không thể biết được.


    Tôi cảm thấy mình như một con ruồi bị sa vào lưới mạng nhện.


    Nên làm thế nào bây giờ? Có nên vào gặp thẳng ông Song Hào, lúc ấy đã thay ông Thanh làm chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, kể với ông ta đầu đuôi và đề nghị: Tôi có điều gì không phải xin anh cứ bảo cho tôi biết, tôi sẽ sửa. Nghĩ đi nghĩ lại thì thấy thế là vô ích. Ông ta sẽ trả lời: làm gì có chuyện, anh thần hồn nhát thần tính đó thôi. Rồi ông sẽ chỉ thị cho Cục bảo vệ rút kinh nghiệm, theo dõi đối tượng phải kín đáo hơn, đừng để đối tượng phát hiện.


    Đối tượng? Tôi là đối tượng, là kẻ thù của cách mạng ư? Có cái đạo lý nào lại như vậy? Càng nghĩ càng thấy vô lý, và cái sợ ban đầu tạm lắng đi, nhường chỗ cho sự bực dọc. Tôi kể chuyện cho anh Hoàng Thế Dũng, là phó tổng biên tập của chúng tôi khi còn ở báo. Anh trả lời là chính anh cũng có đuôi, có cả đuôi là đàn bà, và anh đã ghi được mấy chục cái số xe đạp của những kẻ theo dõi anh. Chẳng rõ trong bụng anh nghĩ như thế nào, nhưng ngoài miệng thì anh nói cứng:


    - Thằng Kinh Chi đấy! Kệ nó, mình cây ngay không sợ chết đứng.


    Cây ngay thì anh đúng là cây ngay rồi, nhưng có sợ chết đứng hay không thì còn phải xét. Anh là một trong ba người thanh niên gây cơ sở Việt Minh đầu tiên ở khu vực Bần Yên Nhân vào năm 1943. Ba anh em chọn ba bí danh: một người là Kỷ, một người là Luật, còn Dũng thì là Sắt, Kỷ- Luật - Sắt, nghe thật là son sắt. Tháng 3-1945, ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng lúc hỗn quân hỗn quan, Việt Minh đã giả làm Nhật, kết hợp với nhân mối, đánh úp cướp đồn Bần Yên Nhân mà không phải nổ một phát súng. Nhân mối là do Dũng tổ chức, còn người đóng giả sĩ quan Nhật là ông Nguyễn Bình sau đó làm chỉ huy trưởng Chiến Khu Đệ Tứ (Đông Triều) rồi Nam tiến trở thành ông trung tướng Nguyễn Bình nổi tiếng một thời. Bần Yên Nhân là đồn binh đầu tiên mà cách mạng đã cướp được ở đồng bằng Bắc bộ, lại ngay sát nách Hà Nội. Rồi Dũng được cử lên Việt Bắc học lớp Quân Chính Kháng Nhật khóa đầu, học xong được cử làm đội trưởng đội tuyên truyền Nước Nam mới của Việt Nam giải phóng quân. Ngay từ đầu kháng chiến anh đã là chính trị viên trung đoàn, người cán bộ trung đoàn trẻ nhất mà tôi được biết, và đã lăn lộn với Trung Đoàn 102, Đại Đoàn 308 suốt từ Phố Lu đến Pú Chạng.


    Dũng là người năng nổ, tính cương trực, hồn nhiên và rất... đẹp trai. Người như anh thì tưởng cuộc đời phơi phới. Thế mà rồi cũng lắm nỗi gian truân. Gian truân bắt đầu với anh khi anh bênh vực gia đình một đồng chí bị quy sai là địa chủ. Người đồng chí này lúc ấy đang đi học ở Liên xô, ở nhà chỉ còn mấy người đàn bà con gái, đương đầu làm sao được với đội? Gia đình ấy trước khởi nghĩa là cơ sở trú ngụ của một số chiến sĩ cách mạng. Nay các vị ấy đã thành cán bộ cao cấp và ở quanh đó mà không một vị nào dám hé răng bênh vực họ. Chi bộ đã kiểm điểm Dũng suốt nửa tháng trời là chống phá cải cách ruộng đất, nhưng anh nhất định không chịu. Cuối cùng anh bị kỷ luật, hạ cấp. Khi sửa sai, xã đã xin lỗi gia đình ấy, nhưng kỷ luật của Dũng thì không được xét lại. Ai bảo mày bướng! Dũng rất cay cái tiếng bướng ấy, nói: đã là thằng đồng chí với nhau thì chỉ có đúng với sai, làm gì có bướng với không bướng.


    Dẫu sao đó cũng mới chỉ là một cơn trúng gió cảm mạo loàng xoàng thôi, vất vả vài năm rồi cũng ngóc đầu lên được. Nhưng vừa ngóc được ít lâu thì lại dính vào vụ bất đồng quan điểm này, và cuộc đời sẽ dạy cho anh biết cái luận điểm cây ngay không sợ chết đứng của anh là hoàn toàn sai lầm. Cây ngay thì mới có thể bị sét đánh chết đứng, còn dây leo thì nó luồn lách, chui lủi, sợ gì sét đánh?


    Nghe Dũng nói, tôi cũng trấn an mình:


    - Mình chẳng làm gì nên tội mà sợ. Hoặc như thế lại càng hay, Đảng sẽ thấy rõ tôi chẳng làm gì bậy.


    Hoặc:


    - Đây không phải là chủ trương của Đảng, Đảng ta không làm như vậy, và chắc chỉ là một số phần tử Mao-ít cực đoan, bảo hoàng hơn vua, làm càn thôi.


    Hoặc:


    - Họ theo dõi mình lộ liễu thế này không phải vì họ kém, mà là cố tình cho mình biết để răn đe thôi v.v... và v.v...


    Cho tới ngày ấy, đời tôi đã trải qua hơn hai chục năm hoạt động chính trị. Con số không phải nhỏ, và cũng có thể coi tôi là một người già dặn về chính trị. Nhưng cái chính trị mà tôi đã làm cho tới đây là cái chính trị giản dị - đuổi Nhật đánh Tây, giành độc lập, xây dựng tổ quốc - trong đó mọi sự đều rõ ràng, minh bạch. Còn với cái chính trị tù mù này trong đó mọi sự đều lộn tùng phèo cả và diễn ra lắt léo trong bóng tối, tôi chỉ là một thằng nhãi ranh chưa ráo máu đầu mà thôi.


    Nhiều lúc tôi nuối tiếc cái thời mà, sau một tháng chống càn ròng rã, vài đứa cán bộ chúng tôi, mặt mũi vêu vao và cổ gầy ngẳng, rủ nhau cải trang đi ra chợ tề làm một bát phở lợn, một cốc Nestcafé, hút một điếu Cotab, rít được vài hơi thì anh nào anh nấy say lừ đừ. Tiền ăn uống lấy ở tiền bán chiếc nhẫn của một trong mấy đứa chúng tôi vừa nhận được của gia đình ở trong tề gửi ra cho làm lương khô.


    Có lần tôi lại nhớ đến cuộc họp thảo luận một văn kiện gì đó chỉ có dăm anh cán bộ chúng tôi với ông Đỗ Mười, lúc ấy là bí thư khu ủy kiêm chính ủy Bộ Tư Lệnh Quân Khu Tả Ngạn. Cuộc tranh luận hôm ấy rất hăng. Ông Mười cũng phát biểu sôi nổi, nhiều lần cướp lời anh em. Và bị một anh em phê bình:


    - Đề nghị anh Mười không nên át giọng anh em. Phải để anh em phát biểu với chứ.


    Ông Mười biết mình sai, cười, không hề tỏ vẻ khó chịu, và từ đó phát biểu rất trật tự, giơ tay xin phép hẳn hoi.


    Tôi cũng nhớ năm 1949, tôi đi học trường Nguyễn ái Quốc ở rừng Việt Bắc. Lớp học rất đông, có cả những anh em từ Bình Trị Thiên, từ Nam bộ lặn lội vượt đèo vượt suối nửa năm trời ra học. Nhiều anh em chưa biết mặt các lãnh tụ. Hôm ấy ông Võ Nguyên Giáp đến giảng về đường lối quân sự của Đảng. Trong tiếng vỗ tay chào ông bước vào, có tiếng ai nói to:


    - Đại tướng đẹp giai quá!


    Ông Giáp dừng lại cười:


    - Đẹp giai nhưng có vợ rồi!


    Cả lớp lại cười ồ. Lại có anh nào ngồi cuối lớp, nói vọng lên:


    - Đề nghị đi một vòng quanh lớp cho anh em xem rõ mặt.


    Ông Giáp đã tươi cười đi một vòng trong tiếng vỗ tay vui vẻ.


    Đến cuối khóa, lớp chúng tôi tổ chức một buổi kịch cương. Một anh bạn đóng vai ông Trịnh Đình Cửu, một sáng lập viên của Đảng và là phó hiệu trưởng. Tôi đóng vai chị Phương Mai, một nữ học viên nguyên tỉnh ủy viên Thừa Thiên. Trên sân khấu chúng tôi thả phanh nhại và trêu chọc vui những nhân vật mà chúng tôi thủ vai. Ông Cửu bị trêu về cái tính hay quan trọng hóa và hứa suông, còn chị Phương Mai thì vì cái tính... nhõng nhẽo. Và ở hàng ghế khán giả, ông Trường Chinh, lúc ấy là tổng bí thư kiêm hiệu trưởng nhà trường, ngồi cười rung bụng suốt cả buổi.


    Cái thời mà người ta chưa bị quyền lực làm cho tha hóa, tình đồng chí nó giản dị, hồn nhiên là như vậy.


    Đầu năm 1967, tôi được cử đi vào Tĩnh Gia sưu tầm tài liệu về viết sách. Đó là lần đi công tác cuối cùng của tôi. Chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc đang ngày càng khốc liệt. Ngồi trên những kiện hàng chất đầy thùng chiếc xe vận tải quân sự Môlôtôva chạy đèn gầm và nhảy chồm chồm trên các ổ gà, ổ trâu đường số 1, cổ áo kéo cao để ngăn bớt ngọn gió rét lùa ù ù vào hai tai, đứng co ro đợi hàng tiếng đồng hồ bên các bến phà mà cầu sang ngang đã bị bom Mỹ phá gục, tôi cảm thấy trong lòng vô cùng thanh thản. Nhớ lại những đêm làm xiếc cùng trên chiếc xe Môlôtôva như thế này vòng vèo đường đèo Tạ Khoa đi Cò Nòi trong chiến dịch Tây Bắc. Quên hết những buổi đi đường ở Hà Nội lúc nào cũng mắt trước mắt sau. Quên những buổi tối ở nhà Kiến Giang, hai anh em ngồi âm thầm trong ánh đèn dầu hỏa, lo âu chẳng biết nói năng gì. Và cũng quên cả không tự hỏi trong số những người cùng đi công tác với mình có ông đồng chí cớm nào không.


    Chúng tôi đến một xã ven biển ở cuối huyện Tĩnh Gia, những hầm chữ A, những em bé đội mũ rơm che mảnh bom đi học, những hố bom, cả xã hầu như chỉ còn ông bà già, phụ nữ và trẻ em. Cô xã đội trưởng người gầy xương xương, tuổi đã cứng và chưa kiếm đâu ra tấm chồng, đưa tôi đi giới thiệu với các cơ sở để lấy tài liệu. Đi sát bên tôi dọc bờ biển dài chỉ toàn cát trắng, không một bóng cây, một bóng người, bóng thuyền, cô ta cứ hỏi chuyện tôi bằng một giọng nói ấm áp: Anh Thư bao nhiêu tuổi rồi, quê ở đâu, có chị ấy chưa? Có cháu nào chưa?... Và đến chiều khi chúng tôi trở về, ông bí thư già của Đảng ủy xã lại nhìn chúng tôi bằng con mắt nghi ngờ. Mấy ngày ở Tĩnh Gia ấy, máu lính chiến bỗng lại nổi dậy trong tôi, tôi da diết mong muốn được ra mặt trận. Nhưng bây giờ thì ai giao súng, giao quân cho tôi nữa! Người ta sợ tôi sẽ quay súng bắn lại nhân dân. Bắn vào các em bé đội mũ rơm đi học kia. Bắn vào cái cô xã đội trưởng thèm một tấm chồng và có giọng nói ấm áp kia.


   Ít lâu sau, tôi đang ở nơi sơ tán bỗng được một tin sét đánh ngang tai: Anh Hoàng Thế Dũng, phó tổng biên tập cũ của báo Quân Đội Nhân Dân, anh Phạm Viết, phó tổng biên tập báo Thời Mới, anh Trần Châu, biên tập viên báo Nhân Dân và anh Hoàng Minh Chính, viện trưởng viện triết học, đã bị bắt. Ngay hôm sau, tôi kiếm cớ về Hà Nội, tìm hiểu thực hư.


    Tôi xin nói thêm là mấy năm trước tôi có được cử đặc phái sang làm việc ở báo Nhân Dân, phụ trách mục quân sự trên báo này. Trong thời gian ở đó tôi đã được anh chị em báo Nhân Dân quý mến, nhất là các bạn trẻ cùng lứa tuổi. Hôm ấy ở nơi sơ tán về, xuống xe, tôi đến thẳng tòa soạn Nhân Dân, ở đó vợ tôi làm công tác y tế. Tôi vừa bước vào phòng y tế của vợ tôi thì cô Đức Hạnh, một nữ đồng nghiệp đang có mặt ở đấy, chạy ra ôm chầm lấy tôi, đấm vào ngực tôi thùm thụp, miệng thì cười nhưng mắt lại rơm rớm:


    - Thế mà làm em tưởng bị bắt rồi!


    Tôi đứng ngay tán tàn, hai tay như thừa, không biết nói sao, chỉ cười ngượng, nhưng trong lòng thì vô cùng cảm động.


     Ngay tối hôm ấy, tôi đến nhà anh Kiến Giang, Hà Nội phòng thủ không thắp đèn đường. Phố xá tối đen như mực. Rất dễ đánh lạc người theo dõi mình. Nhưng nhà Kiến Giang thì chắc chắn bị giám sát nghiêm ngặt. Vẫn phải đến thôi. Kiến Giang trả lời:


    - Cũng chỉ nghe nói có bốn anh em bị bắt như thế, không biết gì hơn.


    Tất nhiên là anh tỏ ra lo lắng. Tôi không dám ngồi lâu, chỉ vài phút sau đã ra về. Bước xuống cầu thang tối om nhà Kiến Giang tôi cảm thấy tương lai mình cũng đen ngòm như vậy.


    Vậy là chính các ông ấy chủ trương khủng bố nội bộ chứ không phải đám mao-ít cấp dưới làm bậy. Nhưng trong thâm tâm tôi vẫn hy vọng chỉ bắt bớ thế thôi không bắt tràn lan, bài học Hát xăng vanh đơ còn đó. Vậy là cho đến lúc này tôi vẫn chưa mở mắt. Tôi sẽ còn ngu lâu, và sẽ còn nhiều lần nữa tôi phải buồn rầu thừa nhận mình đúng là anh cả Cò.


    Không cần phải nói rằng từ hôm ấy tôi không dám bén mảng đến nhà ai nữa. Tôi mong anh em đến cho tôi biết tin tức nhưng thản hoặc có anh nào xé rào đến nhà tôi, như tôi đã xé rào đến nhà Kiến Giang hôm ấy, thì thấy anh bạn đến tôi cũng nửa mừng nửa e ngại. Và cũng không cần phải nói rằng từ hôm ấy tôi bị giám sát rất chặt chẽ. Về quê thăm mộ ông bà, tôi đứng giữa cánh đồng nhìn lên đường số 5 thì thấy một anh chàng ngả xe ngồi bên vệ đường xe lửa cách một quãng xa. Hoặc tôi và chú em đạp xe đi thăm mẹ ở nơi sơ tán, cũng được một anh bạn hộ tống đến tận nơi. Suốt ngày hôm đó, anh ta ở đâu tôi cũng không rõ, nhưng đến chiều chúng tôi ra về thì đã thấy anh ta lẽo đẽo theo sau. Ngày giỗ ông nội tôi, tôi lên nhà thờ tổ thắp hương, ngồi chưa ấm chỗ đã thấy hai người lực lưỡng bước vào, đề nghị chủ nhà cho kiểm tra loa phát thanh. Mặc dù nhà không mắc loa. Và có việc phải đi qua đường Trần Phú tôi cũng tránh, đi vòng đường khác, sợ bị nghi là thăm dò tìm cách nhảy vào đại sứ quán Liên xô.


    Đến lúc này tôi mới thấy một hành động của tôi trước đây là lố bịch. Tức là một buổi tối, hai vợ chồng chúng tôi đi xem kịch ở Nhà Hát Lớn và như thường lệ bị theo dõi lẵng nhẵng. Đến cửa Nhà Hát Lớn, tôi quay lại, đi thẳng tới chỗ anh chàng kia và nói:


    - Anh cứ đi theo tôi làm gì cho mất công. Tôi đi xem kịch thôi mà.


    Anh ta bị bất ngờ, lúng búng câu gì rồi lủi mất. Nhưng vào trong nhà hát tôi liếc mắt và đã thấy anh ta đứng tựa cột ở cuối nhà hát. Cái trò ấy tôi đã làm vài ba lần. Tôi muốn làm cho người ta hiểu rằng tôi không có tật nên không giật mình. Đại loại cũng như cây ngay không sợ chết đứng vậy. Lạ một điều là cái trò ấy không phải chỉ có riêng mình tôi làm. Không ai bảo ai mà tự nhiên cũng có vài ba anh em khác hành động như thế. Toàn những nhà chính trị cứ đinh ninh rằng có Đảng lãnh đạo thì người ngay thẳng không phải sợ cái gì cả.


    Sau này ra tù, thỉnh thoảng ngồi gẫu ôn lại chuyện cũ, chúng tôi cứ thấy nực cười cho sự ngây thơ của chúng tôi. Vì hồi ấy chính là lúc chúng tôi đang vui mừng thấy Đảng điều chỉnh thái độ của mình với Liên xô, nói đúng cái câu chúng tôi vẫn dùng hồi ấy là ông Duẩn đang chuyển. Nghĩa là từ sau khi ông Kôxưghin sang thăm và tuyên bố ủng hộ Việt Nam thì hầu như không thấy ông Duẩn nhắc đến chủ nghĩa xét lại nữa. Trên báo chí cũng vậy. Những luận điểm có gì đánh nấy, súng trường bắn máy bay v.v... tức là tự lực tự cường, không cần viện trợ kỹ thuật của Liên xô, cũng biến mất trên báo chí. Rồi ông Lê Duẩn đi Liên xô thề thốt tổ quốc thứ nhất, tổ quốc thứ hai. Trong khi đó, ông Tố Hữu, ông Trần Quỳnh, cái loa của ông Duẩn, lại có những bài nói chuyện phê phán đường lối của Trung quốc khá chua cay. Ngược lại, phía Liên xô cũng ngày càng giúp đỡ Việt Nam tích cực hơn, và tặng huân chương cho Lê Duẩn. Vậy là tốt quá. Chúng tôi đang mừng, và có anh em đã đặt câu hỏi: ông Duẩn chuyển như thế là về chiến lược hay sách lược? Thậm chí còn cho là xong rồi. Thì đùng một cái, ông Duẩn chuyển luôn bốn vị vào tù. Còn các vị khác thì nơm nớp như cá nằm chốc thớt. Thật là khôi hài!


    Cũng có thể nói thêm rằng chính cái vị nhận định là chuyển biến chiến lược và xong rồi ấy lại là một trong bốn vị đã bị bắt đầu tiên.


 Và thời điểm ấy đứa con gái nhỏ của tôi mới qua tuổi lên mười. Khi còn học mẫu giáo nó thích múa hát như mọi đứa trẻ khác. Nhà tôi có một máy quay đĩa Liên xô và một ít đĩa nhạc cổ điển. Những lần tôi quay đĩa nó cũng thích ngồi nghe. Rồi một hôm, nghe xong bài Danuýp xanh, nó nói một câu làm tôi chú ý.


    - Bố ơi, cái bài hát này nó cứ làm sao ấy. Nghe tức cả ngực!


    Lúc ấy nó lên sáu, còn chưa biết phân biệt bản nhạc với bài hát.


    Xin kể thêm là các cụ nhà tôi cũng thích nhạc. Tôi từng thấy cụ ông ngồi đàn nguyệt cho cụ bà gảy đàn thập lục. Thằng em ruột tôi tốt nghiệp phổ thông đã thi đỗ vào đại học âm nhạc, khoa sáng tác. Chỉ tiếc rằng vừa ra trường, bắt đầu có tác phẩm thì bị bom B52 chết. Còn tôi thì hồi mới lớn đam mê đủ mọi thứ nghệ thuật. Một kỳ nghỉ hè tôi ngốn phải ngót nghét trăm cuốn tiểu thuyết, đa số là tiếng Pháp, vì tiểu thuyết tiếng Việt không đủ cho tôi đọc. Và mỗi lần Nhà Hát Lớn có ban kịch Thế Lữ trình diễn thì trên chuồng gà không bao giờ vắng đôi dép cao su con hổ và chiếc áo dài thâm của tôi. Từng ôm đàn theo học ông Dương Thiệu Tước, từng vác giấy bút ra ga Hàng Cỏ ngồi hàng buổi làm ký họa và đang học dở dang năm dự bị của trường Mỹ Thuật Hà Nội. Rốt cục đi theo cách mạng lại hóa ra là anh lính chiến. Và suốt cuộc đời lính chiến thỉnh thoảng vẫn cứ ngẩn ngơ. Đến mãi tận bây giờ, tròn bảy mươi tuổi đời, trong bụng ôm một khối ung thư có thể vỡ ra lúc nào không biết, mới hối hả ngồi tỉa tót câu văn giối già, trả cái nợ thời trẻ, kể chuyện về những sự đời vô lý. Cứ viết, chẳng biết có kịp không, và có nên cơm cháo gì không.


    Thế cho nên khi cảm thấy con bé nhà tôi có máu âm nhạc, tôi nộp đơn luôn cho nó thi năng khiếu vào trường Âm Nhạc Việt Nam khi nó vừa hết mẫu giáo. Thi không có chuẩn bị, một nốt nhạc bẻ đôi không biết. Cứ thi đại.


    ở trường thi ra, tôi hỏi thi như thế nào thì nó kể.


    - Có nhiều cô chú lắm, một chú bấm bấm vào cái đàn gì to bằng cái tủ và bảo con la la.


    -Có phải la la nhiều không?


    - Nhiều. Lúc đầu chú ấy bấm một tiếng thôi, xong rồi thì là hai ba tiếng, xong rồi thì là bấm dài ơi là dài.


    - Thế con làm như thế nào?


    - Con cứ nghe, xong rồi con la la.


    - Rồi sao nữa?


    - Chú ấy bảo xong rồi, đi ra.


    Tôi cười, nghĩ bụng: Khó nhằn lắm. Trẻ thì rất đông mà lấy thì rất ít. Trong số trẻ có mặt, tôi thấy một thằng bé đi thi mang theo một cây sáo trúc. Bố nó là một nghệ nhân thổi sáo, đã dầy công tu luyện cho nó từ lúc nó còn bé tí. Khi từ trong phòng thi bỗng bay ra tiếng sáo của nó, mọi người đang đứng chờ ở sân, đều chạy xô đến bên cửa sổ ngó vào. Các thầy đang chấm thi ở các phòng bên cũng chạy bổ sang, sửng sốt. Con cái nhà người ta đi thi như thế chứ! Con nhà mình thì la la như đứa dở hơi!


    Hôm trường công bố kết quả, tôi đi xem cho phải phép, không hy vọng. Không ngờ nó trúng.


    Nó được phân học ác-coóc. Con gái học ác-coóc thì hơi mệt nhưng mình không phải là con nhà nòi, cũng không phải con ông cháu cha, len chân được vào cái trường quý tộc ấy đã là khá lắm rồi. Tôi sẽ cho nó theo học đến cùng, đến đại học sẽ thi vào khoa sáng tác như chú nó.


    Rồi từ đó, tuần hai buổi bố con đèo nhau đi học, bố đạp xe, tự hào vì sau lưng mình có đứa con gái bé tí tẹo đeo chiếc ác-coóc nặng trĩu vai. Hết buổi học lại đón con về thả ở sân tòa soạn cho chơi. Về nhà, tôi huy động tất cả vốn hiểu biết của tôi về nhạc kèm cho nó tập, và tự tôi cũng tập. ít lâu sau nó đã có vài bài tủ.


    Năm ấy, nhân dịp ngày kỷ niệm thành lập quân đội, trường Trưng Vương mời tôi đến kể chuyện chiến đấu cho các em. Tôi đã lôi cả con bé đi theo để bố kể chuyện xong thì con đàn một bài cho vui. Khoe mà! Nó kéo bài Làng Tôi của Văn Cao và một bài dân ca Ba Lan, hai bài của chương trình lớp 1. Hoan hô nhiệt liệt. Cô hiệu trưởng chạy lên ôm hôn nó và tặng nó bó hoa tướng. May mắn sao không ai yêu cầu biểu diễn thêm: hết tủ rồi! Người ta hoan hô không phải vì nó đàn hay mà vì hồi ấy trẻ con chơi nhạc là của lạ, cũng như người đi xe máy ở Hà Nội lúc bấy giờ có thể đếm trên đầu ngón tay.


    Bố con đèo nhau ra về hỉ hả lắm. Lần lên sân khấu đầu tiên trong đời nó thế là đã thành công mĩ mãn.


    Rồi trường đi sơ tán tránh máy bay. Bắc Giang, Vân Đình... Đi thăm, tiếp tế. Rồi lần thì nó bị chó cắn phải tiêm mười một mũi vào bụng. Lần thì nó bị cảm cúm, chú y tá nhà trường cho uống aspirin vào lúc đói, bị chảy máu ruột phải đưa xe về Hà Nội cấp cứu. Bệnh viện ở Hà Nội lúc ấy chưa có chế độ cho người nhà vào chăm sóc bệnh nhân, kể cả bệnh viện nhi. Đến giờ nó cứ tự động vác bát đi ăn và tự đến phòng thuốc đưa tay cho cô y tá tiêm. Một lần tôi đến Bắc Giang thăm nó, được nghe nó kể bị ghẻ lở đầy người, mấy đứa rủ nhau đi tìm lá về đun nước tắm rồi lấy kim chọc mụn ghẻ cho nhau. Như bộ đội chúng tôi ngày xưa vậy. Mình nghe nó kể thì xót, còn nó thì kể như chuyện vui. Tôi chỉ còn biết bảo nó:


    - Chịu khó một tí con ạ, cố mà học.


    Rồi một hôm, vào lúc nó đang học năm thứ năm, tôi nhận được giấy báo đến gặp bà hiệu phó nhà trường tại nhà riêng của bà tại Hà Nội. Tôi đến và được bà báo cho biết trường cho con bé nhà tôi thôi học. Lý do: nó hay đọc chuyện, và đọc xong lại kể cho các bạn nghe, và nó kể rất hay nên các bạn nó sao nhãng cả học tập. Rồi dường như thấy lý do đó không vững, bà ta nói thêm: vả lại cháu nó cũng yếu, sợ không học được. Không nó khỏe, và tôi đã gặp thầy dạy nó, ông ta bảo nó học được. Khiếu nại với bà không xong, tôi nhờ một anh bạn giới thiệu đến gặp ông vụ phó Vụ Đào tạo của Bộ Văn Hóa. Nghe tôi trình bày, ông lấy làm ngạc nhiên:


    - Sao đã mất công đào tạo cháu bốn năm rồi lại cho về như thế?


    Ông sốt sắng hứa sẽ can thiệp và hẹn ngày tôi đến lại. Tới hẹn tôi đến thì bao nhiêu nhiệt tình của ông đã biến đâu mất sạch. Ông bảo: nhà trường đã quyết định như vậy rồi thì chẳng còn làm thế nào được.


(còn tiếp)


Nguồn: Tử tù tự xử lý nội bộ. Tác giả: Trần Thư.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »